Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

Đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, cận lâm sàng bệnh viêm ruột hoại tử ở trẻ sanh rất nhẹ cân tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 12/2010 đến tháng 08/2011

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (277.41 KB, 7 trang )

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 4 * 2014

Nghiên cứu Y học

ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC, LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG
BỆNH VIÊM RUỘT HOẠI TỬ Ở TRẺ SANH RẤT NHẸ CÂN
TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 TỪ THÁNG 12/2010 ĐẾN THÁNG 08/2011
Nguyễn Quý Tỷ Dao*, Huỳnh Thị Duy Hương*

TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng bệnh viêm ruột hoại tử ở trẻ sanh rất nhẹ cân
tại Bệnh viện Nhi Đồng 1.
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng bệnh viêm ruột
hoại tử ở trẻ sanh rất nhẹ cân tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 12/2010 đến tháng 08/2011.
Kết quả: Với 18 trường hợp viêm ruột hoại tử, chúng tôi đã xác định được các đặc điểm sau: đa phần,
(16/18) trẻ có cha mẹ sống ở tỉnh ngoài TP.HCM, 12/18 trẻ được chuyển đến Bệnh viện Nhi Đồng 1 vì sanh non,
12/18 trẻ có cân nặng lúc sanh dưới 1250g và 9/18 trẻ sanh non dưới 28,5 tuần tuổi thai, 3/18 trẻ có mẹ được
dùng corticoide trước sanh. Trẻ thường được bắt đầu cho ăn sữa vào 3 ngày tuổi, ăn được nửa lượng sữa vào 7
ngày tuổi và ăn được đủ sữa lúc 10 ngày tuổi. Phần lớn trẻ được ăn sữa công thức (16/18). Tốc độ tăng sữa tối
đa là 33,6ml/kg/ngày. Trẻ thường có bệnh khác kèm theo: 15/18 bệnh màng trong, 15/18 suy hô hấp phải hỗ trợ
CPAP hay thở máy, 11/18 nhiễm trùng huyết, 6/18 trẻ có PDA trước khi khởi phát viêm ruột hoại tử. Không trẻ
nào được sử dụng probiotic. Có 9/18 trẻ khởi phát VRHT trước 12 ngày tuổi với bệnh cảnh 16/18 trẻ có chướng
bụng, 15/18 trẻ có dịch dạ dày ứ; 14/18 trẻ lừ đừ; 9/18 trẻ có hạ thân nhiệt. Về cận lâm sàng thì 11/18 trường hợp
có quai ruột dãn cố định, 3/18 có hơi trong thành ruột và không bệnh nhi nào có hơi trong tĩnh mạch cửa trên X
quang bụng không sửa soạn. 8/18 trẻ có hình ảnh viêm phúc mạc; 2/18 trẻ có hơi trong tĩnh mạch cửa và 2/18 trẻ
có hơi trong thành ruột phát hiện bằng siêu âm bụng.Trong 18 trẻ VRHT thì có 4/18 trẻ được dẫn lưu ổ bụng và
6/18 trẻ được phẫu thuật, 9/18 VRHT tử vong.
Kết luận:Viêm ruột hoại tử xảy ra tập trung ở nhóm trẻ có cân nặng lúc sanh dưới 1250g, 50% trường hợp
dưới 28,5 tuần tuổi thai. Triệu chứng thường gặp nhất là chướng bụng (16/18), dịch dạ dày ứ (14/18). Triệu
chứng thường gặp nhất trên Xquang bụng không sửa soạn là quai ruột dãn cố định (11/18) và trên siêu âm bụng
là viêm phúc mạc (8/18). Tỉ lệ tử vong đến 50%.


Từ khóa: viêm ruột hoại tử, dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng.

ABSTRACT
NECROTISING ENTEROCOLITIS IN NEWBORNS WITH VERY LOW BIRTH WEIGHT
AT CHILDREN’S HOSPITAL 1
Nguyen Quy Ty Dao, Huynh Thi Duy Huong
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 - Supplement of No 4- 2014: 217 - 223
Objective:The present study was designed to describe the epidemiological, clinical characteristics and lab
results of very low birth weight (VLBW) newborns with necrotizing enterocolitis (NEC).
Methods: A prospective case series investigation conducted in the Neonatal Intensive Care Department,
Children’s Hospital 1, Vietnam between December 2010 and August 2011. Twenty one VLBW newborns with
NEC were enrolled in the study. Of them, three individuals were excluded by having severe congenital defects.
Results: Among 18 cases, number of patients came from provinces, transferred to Children’s hospital 1 due
* Đại học Y dược TPHCM.
Tác giả liên lạc: BSCK1. Nguyễn Quý Tỷ Dao

Chuyên Đề Nhi khoa

ĐT: 0937250092

Email: hdvb2004@yahoo.com

217


Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 4 * 2014

to premature, had birth weight under 1250g, gestational age under 28.5 weeks, and their mothers injected

corticoid before delivery were 16, 12, 12, 9, and 3 respectively. Newborns were started enteral feeding at 3-day old,
got the half of enteral feeding at 7- day old and caught full feeding at 10-day old. Sixteen cases fed formula milk
with maximum volume increase was 33.6ml/kg/d. In addition, they often had co-morbidities such as severe
respiratory distress syndrome (15/18), sepsis (11/18), and patent ductus arteriosus (6/18). None of them has been
used probiotic before developing NEC; 9/18 developed NEC before 12-day old with; 16/18 abdominal distention,
15/18 gastric retention, 14/18 lethargy, 9/18 hypothermia. On abdominal radiograph, there were 11/18 patients
with persistent dilated loops of bowel, 3/18 patients with pneumatosis intestinalis, none of patients had portal
venous gas. In term of abdominal ultrasonography, we detected 8/18 cases with peritonitis, 2/18 cases with portal
venous gas, 2/18 cases with pneumotosis intestinalis. Among the 18 cases, there were 4/18 patients with
peritoneal drainage, 6/18 patients with surgical management and 9/18 died.
Conclusions: These data suggest that NEC frequently occurred in newborns under 1250g birth weight and
up to 28.5 weeks for gestational age. The most often signs were abdominal distention, gastric retention, persistent
dilated loops of bowel and peritonitis. The mortality rate is still high.
Keywords: Necrotizing enterocolitis, epidemiology, and clinical, subclinical characteristic.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tiêu chí chọn bệnh

Viêm ruột hoại tử (VRHT) là một cấp cứu
tiêu hoá thường gặp nhất ở giai đoạn sơ sinh,
tập trung 90% ở trẻ sanh rất nhẹ cân (SRNC)
và 7-14% trẻ SRNC bị VRHT, bệnh đặc trưng
bởi tình trạng thiếu máu gây hoại tử ruột, xuất
hiện hơi trong lớp cơ thành ruột và tĩnh mạch
cửa. Tỉ lệ bệnh VRHT sơ sinh vẫn không thay
đổi trong 20 năm gần đây(4) và gây tử vong
cao, 15-30% tại Mỹ(6) hoặc để lại di chứng nặng
nề, do đó, vấn đề phòng ngừa bệnh luôn được
đặt lên hàng đầu.


Tiêu chí chọn vào lô nghiên cứu
Tất cả các bệnh nhi có cân nặng lúc sanh từ
dưới 1500g, mắc VRHT từ giai đoạn II trở đi lúc
dưới 6 tuần tuổi.

Tại Việt Nam, những nghiên cứu về VRHT
sơ sinh chưa có nhiều. Hiện ở miền Nam Việt
Nam rất ít nghiên cứu về VRHT sơ sinh để cho
chúng ta một cái nhìn chung về bệnh và đặc biệt
những yếu tố nguy cơ gây VRHT tại đây.

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Mô tả hàng loạt ca.

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Dân số chọn mẫu
Tất cả các trẻ sơ sinh sanh rất nhẹ cân bị
VRHT trước 6 tuần tuổi điều trị tại Khu chuyên
sâu Sơ sinh Bệnh viện Nhi đồng 1 từ tháng
12/2010 đến tháng 08/2011.

Cỡ mẫu

Tiêu chí loại trừ
Bệnh nhi có gia đình bệnh nhi không đồng ý
tham gia nghiên cứu.
Những bệnh nhi sanh ngạt nặng (độ III), có
dị tật bẩm sinh nặng như bất thường nhiễm sắc
thể, tim bẩm sinh phức tạp (chuyển vị đại động

mạch, bất thường tĩnh mạch phổi về tim toàn
phần, bất sản thất phải, bất sản thất trái, …), dị
tật tiêu hoá (teo đường ruột bẩm sinh, hở thành
bụng, thoát vị rốn, …).

Phương pháp chọn mẫu
Tất cả các bệnh nhi thoả tiêu chí chọn bệnh
nói trên.

Xử lý và phân tích số liệu
Phân tích số liệu bằng phần mềm thống kê
SPSS 19.0.
Biến số rời được tính tỉ lệ phần trăm.
Biến số liên tục được tính trị số trung bình,
độ lệch chuẩn, trung vị, giá trị tối thiểu và giá trị
tối đa, tối thiểu (Min – Max).

Lấy trọn.

218

Chuyên Đề Nhi khoa


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 4 * 2014

Nghiên cứu Y học

KẾT QUẢ


16/18 bệnh nhi điều trị tại Khoa HSSS.

Trong 9 tháng thực hiện đề tài, chúng tôi có
được 21 ca VRHT CNLS dưới 1500g, giai đoạn II
trở đi, chỉ có 18 trường hợp thoả tiêu chí nhận
vào nghiên cứu, 3 trường hợp bị loại đi vì 1
trường hợp dị tật tim bẩm sinh phức tạp, 1
trường hợp dị tật không lỗ hậu môn và 1 trường
hợpRubella bẩm sinh.

Tỉ lệ nam: nữ là 0,8:1.

Tỉ lệ phân bố các đặc điểm dịch tễ học
Có 16/18 bệnh nhi có ba mẹ ở các tỉnh khác
ngoài TP.HCM và chỉ 2/18 bệnh nhi có cha mẹ ở
TP.HCM. Có 16/18 bệnh nhi được chuyển đến
BV Nhi Đồng 1 từ Khoa nhi các BV và 2/18 bệnh
nhi đến từ BV Sản.
Có 11/18 bệnh nhi chuyển viện ngay sau
sanh với chẩn đoán sanh non. Bảy trường hợp
khác chuyển viện vì: VRHT (2), nhiễm trùng
huyết (3) và mổ ROP (2).

Bảng 1: Tỉ lệ phân bố theo cân nặng
CNLS
<750 gram
751-1000 gram
1001-1250 gram
1251 – 1500 gram


Tần số (bệnh nhi)
0
5
7
6

Tỉ lệ (%)
0
27,8
38,9
33,3

CNLS (cân nặng lúc sanh) trung bình ± SD là
1206,7 ± 210 gram. 50% trẻ có CNLS dưới
1125gram. 12/18trường hợp có CNLS dưới 1250
gram.
Tuổi thai trung bình là 28,59 ± 2,36 tuần tuổi.
50% trẻ có tuổi thai dưới 28,5 tuần tuổi và dao
động trong khoảng 25 đến 33 tuần tuổi thai.
Bảng 2: Tiền căn sử dụng thuốc của mẹ
Thuốc sử dụng
Corticoide trước sanh
Cocain

Tần số(bệnh nhi)
3 bệnh nhi
0 bệnh nhi

Tỉ lệ (%)
16,7%

0%

Tỉ lệ phân bố các đặc điểm lâm sàng
Tỉ lệ phân bố các đặc điểm lâm sàng trước khi khởi phát bệnh VRHT
Bảng 3: Đặc điểm về ngày tuổi ăn sữa
Biến số
Ngày tuổi bắt đầu cho ăn (ngày)
Ngày tuổi ăn được nửa lượng sữa (ngày)
Ngày tuổi ăn được đủ sữa (ngày)

Trung bình ± SD
3,06 ± 2,01
7,11 ± 3,30
10,63 ± 4,78

Trung vị
2
9,00
10,00

Min- Max
2-9
3,00-11,00
5,00-19,00

Bảng 4: Đặc điểm phân bố loại sữa ăn mỗi tuần
Thời điểm
Tuần 1
Tuần 2
Tuần 3

Tuần 4
Tuần 5

Tổng số bệnh nhi ăn được sữa
17
4
2
2
2

Số bệnh nhi ăn sữa công thức
16 (88,9%)
2
0
0
0

Số bệnh nhi ăn sữa mẹ
1 (5,6%)
2
2
2
2

Cách tăng sữa
Bảng 5: Tốc độ tăng sữa mỗi tuần (ml/kg/ngày)
Biến số
Tốc độ tăng sữa tuần 1 (ml/kg/ngày)
Tốc độ tăng sữa tuần 2 (ml/kg/ngày)
Tốc độ tăng sữa tuần 3 (ml/kg/ngày)

Tốc độ tăng sữa tuần 4 (ml/kg/ngày)
Tốc độ tăng sữa tuần 5 (ml/kg/ngày)
Ngày tuổi ăn được nửa lượng sữa, n=9
Ngày tuổi ăn được đủ sữa, n=8

Chuyên Đề Nhi khoa

Trung vị (Min – max)
8,8 (0,00 – 33,6)
8,0 (0,00 – 17,14)
5,7 (0,00 – 11,43)
2,9 (0,00 – 05,7)
3,4 (0,00 – 6,9)
9 (3-11)
10 (5-19)

Trung bình ± SD
9,8 ± 10,3
8,9 ± 6,4
5,7 ± 5,7
2,9 ± 4,0
3,4,8
7,1 ± 3,3
10,6 ± 4,8

219


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 4 * 2014


Nghiên cứu Y học

Bệnh kèm theo: 15/18 bệnh màng trong,
10/18 nhiễm trùng huyết kèm theo, 6/18 dị tật
tim bẩm sinh còn ống động mạch (PDA).
Bảng 6. Thuốc sử dụng trước khi bệnh VRHT khởi
phát.
Thuốc sử dụng
Probiotic
Thuốc đóng PDA
Thuốc ức chế H2

Tần số(bệnh nhi)
0
0
2

Tỉ lệ (%)
0
0
11,1

Tình trạng bệnh nhi suy hô hấp nặng phải
hỗ trợ hô hấp bằng dụng cụ cung cấp oxy lưu
lượng cao (CPAP và thở máy) là 15/18, chỉ có 1
trẻ không suy hô hấp trước khi VRHT.

Tỉ lệ phân bố các đặc điểm lâm sàng bệnh
VRHT
Tuổi khởi phát VRHT

Tuổi khởi phát VRHT trung bình: 14,56 ±
10,43 (ngày tuổi). Có 50% trẻ khởi phát VRHT
trước 12 ngày tuổi. Tuổi khởi phát sớm nhất: 4
ngày tuổi, muộn nhất: 40 ngày tuổi.
Số bệnh nhi khởi phát VRHT vào lúc 2 tuần
tuổi là cao nhất, 9 bệnh nhi (50%). Không bệnh
nhi nào khởi phát VRHT vào lúc 5 tuần tuổi.
100% bệnh nhi trong nghiên cứu của chúng
tôi (NC) khởi phát VRHT trước 5 tuần tuổi đều
ăn sữa công thức; 2 bệnh nhi khởi phát VRHT
vào lúc 6 tuần tuổi đều được ăn sữa mẹ trước đó.
VRHT giai đoạn IIIB chiếm tỉ lệ cao nhất
(7/18) và thấp nhất là IIIA (2/18).
Triệu chứng toàn thân
Bảng 7: Đặc điểm các triệu chứng toàn thân
Triệu chứng
Tỉnh táo
Lừ đừ
Hôn mê
Cơn ngưng thở làm
chậm nhịp tim
Hô hấp
Cơn ngưng thở > 20s
Không sốc
Tuần hoàn
Sốc
Nhịp tim < 100l/ph
Tim mạch Nhịp tim 100-160l/ph
Nhịp tim > 160l/ph
Thân nhiệt

Hạ thân nhiệt
Thần kinh

220

Tần số
(Bệnh nhi)
0
14
4

Tần số
(Bệnh nhi)
9
0

Triệu chứng
Thân nhiệt ổn định
Tăng thân nhiệt

Tỉ lệ (%)
50
0

Triệu chứng tiêu hoá
Bảng 8: Đặc điểm các triệu chứng tiêu hoá
Triệu chứng
Chướng bụng
Dịch dạ dày ứ
Viêm mô tế bào thành bụng

Ọc dịch
Tiêu phân xanh
Bụng chướng kèm dịch dạ dày ứ
Bụng chướng kèm viêm mô tế bào
thành bụng
Dịch dạ dày ứ đơn thuần
Bụng chướngđơn thuần

Tần số
(bệnh nhi)
16
15
5
1
1
13

Tỉ lệ
(%)
88,9
83,3
27,8
5,6
5,6
72,2

5

27,8


2
1

11,1
5,6

Tỉlệ phân bố các đặc điểm cận lâm sàng
bệnh VRHT ở trẻ sanh rất nhẹ cân.
Xét nghiệm máu
Bảng 9: Đặc điểm các xét nghiệm máu
Triệu chứng
Tần số (Bệnh nhi) Tỉ lệ (%)
Hạ Natri máu kéo dài
7
38,9
Tăng đường huyết kéo dài
0
0
Toan chuyển hoá kéo dài
12
66,7
Giảm tiểu cầu kéo dài
7
38,9
Đông máu nội mạch lan toả
5
27,8
Cấy máu dương tính
4
22,2


Bảng 10: Soi phân
Âm tính
Dương tính
Không thực hiện

6 bệnh nhi
8 bệnh nhi
4 bệnh khi

33,3%
44,4%
22,2%

X quang bụng không sửa soạn
Bảng 11: Đặc điểm X quang bụng không sửa soạn
Tỉ lệ (%)
0
77,8
22,2

8

44,4

5
15
3
1
15

2
9

27,8
83,3
16,7
5,6
83,3
11,1
50

Triệu chứng
Quai ruột dãn cố định
Hơi trong thành ruột
Hơi tĩnh mạch cửa
Không có hơi ruột
Hơi tự do trong ổ bụng
Bình thường

Tần số (Bệnh nhi)
11
3
0
3
6
0

Tỉ lệ (%)
61,1
16,7

0%
16,7
33,3
0

Siêu âm bụng
Bảng 12: Đặc điểm siêu âm bụng
Siêu âm bụng
Hình ảnh viêm phúc mạc
Hơi trong thành ruột

Tần số (Bệnh nhi) Tỉ lệ (%)
8
44,4
2
11,1

Chuyên Đề Nhi khoa


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 4 * 2014
Siêu âm bụng
Hơi trong tĩnh mạch cửa
Ruột chướng hơi
Dày thành ruột
Hơi tự do trong ổ bụng

Tần số (Bệnh nhi) Tỉ lệ (%)
2
11,1

2
11,1
2
11,1
1
5,6

Tỉ lệ phân bố kết quả điều trị bệnh VRHT
ở trẻ sanh rất nhẹ cân.
Bảng 13: Xử trí ngoại khoa
Chỉ định dẫn lưu ổ bụng
Chỉ định phẫu thuật
Dẫn lưu ổ bụng
Phẫu thuật

2 bệnh nhi
7 bệnh nhi
4 bệnh nhi
6 bệnh nhi

11,1%
38,9%
22,2%
33,3%

Tử vong
Năm mươi phần trăm (9/18) trường hợp
VRHT tử vong với 5 trường hợp là VRHT giai
đoạn IIIB, 1 trẻ VRHT giai đoạn IIIA, 2 trẻ VRHT
giai đoạn IIB và 1 trẻ VRHT giai đoạn IIA. Có 1/5

trường hợp VRHT giai đoạn IIA tử vong và 5/7
trường hợp VRHT giai đoạn IIIB tử vong.

BÀN LUẬN
Các đặc điểm dịch tễ học bệnh VRHT ở trẻ
sanh rất nhẹ cân.
Đa phần trẻ được chuyển viện ngay sau sanh
11/18 từ các Khoa nhi BV đa khoa với chẩn đoán
sanh non do những nơi này không thể điều trị
được nhóm trẻ CNLS dưới 1500 gram. Do vậy,
các BV tuyến tỉnh cần phát triển hơn để có thể
điều trị được đối tượng trẻ SRNC nhằm giảm tải
cho các BV tuyến cuối.
Nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ nam:nữ là
0,8:1. Mẫu nghiên cứu của chúng tôi nhỏ, không
phản ánh đúng được tỉ lệ chung giữa nam:nữ
của trẻ VRHT của dân số thế giới là nam nữ
tương đương nhau.
CNLS có trung vịlà 1,125g, trung bình là
1,206g, nghĩa là trẻ có CNLS thấp chiếm ưu
thế, tuy nhiên cần phải thực hiện một nghiên
cứu phân tích xác định được tỉ lệ VRHT theo
từng nhóm CNLS và mối tương quan giữa
VRHT và CNLS.
Cortiocoide trước sanh ngoài việc giảm nguy
cơ bệnh màng trong còn làm giảm nguy cơ
VRHT ở trẻ sanh non(1,5,11). Corticoide tại các
Khoa sản Bệnh viện miền Nam Việt Nam được

Chuyên Đề Nhi khoa


Nghiên cứu Y học

sử dụng trong phác đồ phòng ngừa bệnh màng
trong ở trẻ sanh non nhưng chưa được chú ý và
dùng với mục đích phòng ngừa VRHT. Vậy
chúng ta cần chú ý thêm vấn đề hiệu quả việc
dùng corticoide trước sanh trong việc phòng
ngừa VRHT ở trẻ sanh non, nghiên cứu thêm để
sử dụng tại các BV, nhằm làm giảm tối thiểu số
trường hợp bệnh VRHT.

Các đặc điểm lâm sàng bệnh VRHT ở trẻ
sanh rất nhẹ cân
Các đặc điểm lâm sàng trước khi khởi phát
bệnh VRHT
Ngày tuổi bắt đầu cho ăn dao động từ 2 đến
9 ngày tuổi sau sanh, trong đó hơn 50% trẻ được
cho ăn từ ngày tuổi thứ 2, 15/18 trẻ được bắt đầu
ăn dưới 4 ngày tuổi, chứng tỏ trẻ được cho ăn
đường tiêu hoá rất sớm. Nghiên cứu của
Cakmak và nghiên cứu của O.Flidel-Rimon đã
kết luận: Cho ăn đường tiêu hoá sớm không làm
tăng nguy cơ VRHT. Việc cho ăn sữa sớm rất có
lợi trong việc: (1) Tăng hoạt động các enzym và
hormon tiêu hoá, tăng dòng máu đến ruột và
nhu động ruột, (2) Nhanh chóng đạt được dinh
dưỡng bằng đường tiêu hoá hoàn toàn, giảm
thời gian nằm việc, giảm nguy cơ nhiễm
trùng(10,14), (3) Giúp tăng cân nhanh để đạt được

sự phát triển thể chất và tâm vận tốt hơn(3,13),nên
Khu Chuyên sâu Sơ sinh BV Nhi Đồng 1 thực
hiện cho trẻ sanh non rất nhẹ cân ăn sữa càng
sớm càng tốt, tuỳ theo tình trạng bệnh của trẻ.
Sữa mẹ làm giảm nguy cơ viêm ruột hoại tử.
Tỉ lệ trẻ dùng sữa mẹ thấp, chỉ 2/18 trường hợp,
do VRHT hầu hết (13/18) xảy ra trong vòng 2
tuần đầu sau sanh, 50% trường hợp VRHT xảy
ra dưới 12 ngày tuổi, 4/18 VRHT xảy ra trong
tuần đầu tiên, khi mà trẻ chưa được dùng sữa
mẹ do mẹ đã xuất viện nhưng còn chưa khoẻ
hẳn nên chưa có mặt tại BV Nhi Đồng 1 (77,7%)
để trẻ được hưởng nguồn sữa mẹ.
Tốc độ tăng sữa tối đa là 33,6 ml/kg/ngày,
không vượt quá ngưỡng 35 ml/kg/ngày, là
ngưỡng được chứng minh không làm tăng nguy
cơ VRHT(7), vậy thì tốc độ tăng sữa tại Bệnh viện

221


Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 4 * 2014

Nhi Đồng 1 không góp phần tăng nguy cơ
VRHT ở trẻ SRNC.

của bệnh để có xử trí phù hợp với từng giai đoạn
bệnh.


Số trẻ bệnh màng trong là 16/18 trẻ, rất cao,
là do số trẻ mà mẹ được sử dụng corticoide
trước sanh để phòng ngừa bệnh màng trong rất
ít, chỉ 3/18 trẻ.

X quang bụng không sửa soạn phát hiện chỉ
3/18 trường hợp có tiêu chuẩn vàng của VRHT,
đó là biểu hiện hơi trong thành ruột.

Suy hô hấp là một yếu tố làm giảm oxy nuôi
ruột dẫn đến VRHT(9). Trẻ suy hô hấp phải được
hỗ trợ thở CPAP và thở máy là 15/18, suy hô hấp
này là do bệnh màng trong. Do đó, nếu giảm
được tỉ lệ bệnh màng trong, ta sẽ giảm được tỉ lệ
và mức độ suy hô hấp do bệnh màng trong, một
yếu tố nguy cơ gây VRHT.

Các đặc điểm lâm sàng khi khởi phát bệnh
VRHT
Chướng bụng là triệu chứng tiêu hoá thường
gặp nhất (16/18) tiếp theo là dịch dạ dày ứ
(15/18).Trẻ thường có hơn một triệu chứng tiêu
hoá khi khởi phát bệnh, nhiều nhất là 13/18 trẻ
có cả chướng bụng và dịch dạ dày ứ lúc khởi
phát VRHT, phù hợp với y văn là hai triệu
chứng tiêu hoá thường gặp nhất trong viêm ruột
hoại tử là chướng bụng (72,2%-90%) và dịch dạ
dày ứ 90,9%(2,8,12), nên trong thực hành lâm sàng,
nếu một trẻ có dấu hiệu dịch dạ dày ứ và bụng

chướng tăng dần, ta cần cảnh giác bệnh VRHT
bên cạnh những nguyên nhân ngoại khoa, đặc
biệt là ở trẻ SRNC.
Các đặc điểm cận lâm sàng bệnh VRHT ở trẻ
sanh rất nhẹ cân
Theo y văn, giảm tiểu cầu kéo dài là yếu tố
chỉ điểm ruột đang bị hoại tử và xấu dần, trong
khi tiểu cầu tăng dần chứng tỏ bệnh cải thiện.
Hạ Natri máu kéo dài là một chỉ điểm của hoại
tử ruột hay nhiễm trùng huyết. Theo nghiên cứu
của chúng tôi, hầu hết trẻ VRHT giai đoạn IIIB
đều có giảm tiểu cầu và hạ Natri máu kéo dài, có
kết quả phù hợp với y văn thế giới, do đó, trong
thực hành lâm sàng, khi theo dõi một trẻ VRHT,
ngoài chụp X quang bụng không sửa soạn, siêu
âm bụng kiểm tra thì xét nghiệm máu mỗi 12h
cũng là một phương thức để theo dõi diễn tiến

222

Siêu âm bụng chỉ ưu thế để phát hiện hơi
trong tĩnh mạch cửa, hình ảnh viêm phúc mạc,
còn X quang bụng lại tốt hơn để phát hiện hơi tự
do trong ổ bụng. Nếu chỉ siêu âm thì phát hiện
được 8/18 ca viêm phúc mạc, 2/18 trường hợp
hơi trong tĩnh mạch cửa, 1 trường hợp hơi tự do
trong ổ bụng, trong khi X quang bụng phát hiện
được tới 6/18 trường hợp. Do vậy, ta cần phải
phối hợp chúng để chẩn đoán sớm và tăng độ
chính xác của chẩn đoán trước mổ, nhằm điều trị

đúng và kịp thời.

Kết quả điều trị bệnh VRHT ở trẻ sanh rất
nhẹ cân
Tỉ lệ tử vong ở những trẻ VRHT của chúng
tôi cao, 50%, cao hơn tỉ lệ tử vong do VRHT theo
y văn thế giới là 15-30%(6), đó là do bệnh VRHT
trong nghiên cứu của chúng tôi nặng hơn. Do đó
việc phòng ngừa VRHT là một vấn đề cấp thiết,
chúng ta cần thực hiện thêm các nghiên cứu
khác để tìm những yếu tố nguy cơ gây VRHT
cũng như điều chỉnh phác đồ điều trị phù hợp
nhằm hạn chế tối đa yếu tố nguy cơ gây VRHT
xuất hiện.
Trong 9 trường hợp VRHT còn sống, có duy
nhất 1 trường hợp VRHT giai đoạn IIIB còn
sống, sau khi phẫu thuật cắt 30cm hồi tràng hoại
tử. Đây là trường hợp bệnh cảnh nặng nề với
bệnh màng trong, nhiễm trùng huyết, PDA
trước khi khởi phát bệnh VRHT, được cho ăn
sữa vào ngày tuổi thứ 2 và khởi phát VRHT vào
ngày tuổi thứ 12, là trường hợp nặng còn sống
sót, nhưng dù được cứu sống, chất lượng cuộc
sống của trẻ có khả năng bị ảnh hưởng. Tuy
nhiên, do thời gian và điều kiện nghiên cứu có
hạn, nghiên cứu của chúng tôi chỉ dừng lại ở kết
quả sống hoặc tử vong, Chúng ta cần thực hiện
những nghiên cứu khác nếu muốn biết về
những di chứng như chít hẹp lòng ruột, hội


Chuyên Đề Nhi khoa


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 4 * 2014
chứng ruột ngắn, … vì đây là những di chứng
mạn tính, cần có thời gian theo dõi sau xuất viện.

HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI
Do thời gian thực hiện nghiên cứu ngắn (9
tháng, từ tháng 12/2010 đến tháng 08/2011) trên
một bệnh hiếm, nên mẫu của chúng tôi chỉ có 18
bệnh nhi.

KIẾN NGHỊ
Thực hiện nghiên cứu với qui mô lớn, mẫu
đủ để có thể xác định được các yếu tố nguy cơ
gây viêm ruột hoại tử ở trẻ sanh non rất nhẹ cân.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

2.

3.

4.

Bauer C, Morrisson, JC, Poole, WK, et al. (1984). "A decreased
incidence of necrotizing enterocolitis after prenatal
glucocorticoid therapy".Pediatrics, 73, pp 682.

Debora DM, MS, Leslie AK (2010). "Risk Factors for Intestinal
Failure in Infants with Necrotizing Enterocolitis: A Glaser
Pediatric Research Network Study".The Journal of Pediatrics,
157 (2), pp 203-208.
Ehrenkranz RA DA, Vohr BR, Wright LL, Wrage LA,
PooleWK. (2006). "Growth in the neonatal intensive care unit
influences neurodevelopmental and growth outcomes of
extremely low birth weight infants".Pediatrics117, pp 12531261.
Fanaroff AAHM, Walsh MC. (2003). "The NICHD Neonatal
Research Network: changes in practice and outcomes during
the first 15 years".Semin Perinatol, 27 (4), pp 281-287.

Chuyên Đề Nhi khoa

5.

6.
7.

8.

9.
10.
11.

12.

13.

14.


Nghiên cứu Y học

Halac E, Halac, J, Begue, EF, et al. (1990). "Prenatal and
postnatal corticosteroid therapy to prevent neonatal
necrotizing enterocolitis: A controlled trial".J Pediatr, 117, pp
132.
Lin P, Stoll, BJ.(2006). "Necrotizing enterocolitis".Lancet, 368
(9543), pp 1271-1283.
McGuire W, and Bombell (2008). "Slow advancement of
enteral feed volumes to prevent necrotising enterocolitis in
very low birth weight infants".Cochrane Database of
Systematic Reviews, 4.
Moss R, LA Kalish, C Duggan. (2008). "Clinical parameters do
not adequately predict outcome in necrotizing enterocolitis: a
multi-institutional study".Journal of Perinatology28, pp 665674.
Richard J Schanler M (2011). "Pathology and pathogenesis of
necrotizing enterocolitis in newborns ". Uptodate, 19.2.
RJ M. (2001). "Trophic feeding of the preterm infant.".Acta
Paediatr Suppl90 (19-21).
Roberts DDS (2006). "Antenatal corticosteroids for
accelerating fetal lung maturation for women at risk of
preterm birth".The Cochrane Collaboration.
Zamora SA (1997). "Plasma L-arginine concentrations in
premature infants with necrotizing enterocolitis". J Pediatr 131,
pp 226-232.
Tyson JEKK, Lucke JF, Pedroza C (2007). "Dilemmas initiating
enteral feedings in high risk infants: how can they be
resolved? ".Semin Perinatol31 (61-73).
Ziegler EETP, Carlson SJ (2002). "Aggressive nutrition of the

very low birth weight infant".Clin Perinatol, 29 (224-225).

Ngày nhận bài báo:

25/6/2014

Ngày phản biện nhận xét bài báo:

30/6/2014

Ngày bài báo được đăng:

20/8/2014

223



×