Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

Nghiên cứu men creatine phosphokinase trong dịch não tủy trên bệnh nhân viêm màng não

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (198.3 KB, 7 trang )


p

Bảng 2: Lâm sàng nhóm VMN VTSM
VMN VTSM
Ngày rối loạn tri
giác
Ngày sốt
Ngày đau đầu
Ngày nằm viện
Ngày ói
Ngày co giật
Ngày dùng
kháng sinh

CPK DNT < CPK DNT ≥
20 U/L
20 U/L

p

4,37 ± 1,37

0,036

2,32 ± 0,39 6,31 ± 1,16
5,7 ± 0,65
12 ± 1,27
16,14 ± 1,29 19,25 ± 1,23
0,15 ± 0,15 0,5 ± 0,24
0


1,65 ± 0,91

0,004
0,0002
0,099
0,2
0,095

17,88 ± 0,96 19,93 ± 1,19

0,18

1.15 ± 0,37

Bệnh nhân VMN VTSM có CPK DNT ≥ 20
U/L biểu hiện lâm sàng nặng nề hơn nhóm CPK
DNT < 20 U/L về các mặt: rối loạn tri giác, sốt và
đau đầu. Về điều trị, nhóm CPK DNT ≥ 20 U/L
có số trường hợp phải đổi kháng sinh, do đáp
ứng kém với điều trị, nhiều hơn nhóm CPK
DNT < 20 U/L (p < 0,05)
Đánh giá tiên lượng, chúng tôi dựa trên tình
trạng bệnh nhân lúc xuất viện: bình thường, có
di chứng hoặc tử vong. Các di chứng ghi nhận
gồm có: giảm thính lực, yếu ½ người, liệt 2 chi
dưới, liệt dây thần kinh sọ. Kết quả như sau:
Bảng 3: Tình trạng lúc xuất viện
Xuất viện có di
chứng


0,0001

Nhận xét: CPK DNT nhóm VMN VTSM có
giá trị trung vị cao nhất, kế đến là VMN tăng
BCAT, các nhóm VMN: lao, nấm và virút tăng ít
hơn. Sự khác biệt CPK DNT giữa các nhóm có ý
nghĩa thống kê (p < 0,05) (Kruskal-wallis)
Khảo sát liên quan giữa CPK máu và CPK
DNT, chúng tôi lấy máu và DNT cùng thời điểm
và đo nồng độ CPK, kết quả như sau: không có
liên quan giữa CPK máu với CPK DNT.
Đánh giá liên quan giữa CPK DNT với lâm
sàng và tiên lượng bệnh VMN, chúng tôi chia
bệnh nhân làm 2 nhóm: nhóm có CPK DNT >
20 U/L và nhóm CPK DNT < 20 U/L, kết quả
như sau:

CPK DNT < 20 U/L
VMN VTSM
CPK DNT ≥ 20 U/L
VMN tăng CPK DNT < 20 U/L
BCAT
CPK DNT ≥ 20 U/L
CPK DNT < 20 U/L
VMN virút
CPK DNT ≥ 20 U/L


01
07

01
00
00
00

p

Không
19
0,012
09
23
0,444
11
31
1
01

Trong VMN VTSM, số trường hợp có di
chứng lúc xuất viện ở bệnh nhân CPK DNT ≥ 20
U/L nhiều hơn nhóm CPK DNT < 20 U/L, có ý
nghĩa ( p < 0,05).

BÀNLUẬN
CPK DNT ở người bình thường, trong
nghiên cứu của chúng tôi có giá trị trung bình:
1,72 ± 1,71 U/L (thay đổi từ 0-6 U/L). Với
Chandler W.L (3), CPK DNT có giá trị trung
bình 1U/L ( thay đổi từ 0-4 U/L). Sự khác nhau
không đáng kể về nồng độ CPK do cỡ mẫu của

chúng tôi là 59, còn Chandler khảo sát trong 17
trường hợp.


CPK DNT cao nhất ở nhóm VMN VTSM và
cao hơn hẳn các nhóm khác, có ý nghĩa (p <
0,05). CPK DNT nhóm VMN VTSM cao hơn hẳn
nhóm VMN lao, điều này phù hợp với kết quả
của Sharma M và Nand N(12). Khi so sánh nhóm
VMN VTSM với các nhóm còn lại (được xếp vào
nhóm VMN vô trùng), CPK DNT nhóm VMN
VTSM cao hơn CPK DNT nhóm VMN vô trùng,
kết quả này tương tự với kết quả nghiên cứu của
Nussinovitch(7). Trong VMN cấp (gồm VMN
VTSM và VMN virút), CPK DNT nhóm VMN
VTSM cao hơn hẳn CPK DNT nhóm VMN virút.
Với VMN VTSM, CPK DNT bắt đầu tăng từ
ngày thứ nhất của bệnh, đạt đỉnh vào ngày thứ
4, sau đó giảm dần. Kết quả này tương tự với kết
luận của Sharma(12). Chúng ta biết CPK tăng rất
nhanh trong DNT sau tổn thương nhu mô não(5),
CPK DNT chủ yếu là CPK-BB(3,9).
Xác định mối liên quan giữa CPK DNT với
CPK máu: chúng tôi thấy không có liên quan
giữa CPK DNT với CPK máu. Điều này phù hợp
với nhận định của Pancewicz S.A(8), Nathan
M.J(6). Hàng rào máu não là màng bảo vệ, ngăn
cản sự nối kết tự do giữa máu với hệ thần kinh
trung ương và DNT, việc xác định không có mối
liên quan giữa CPK máu với CPK DNT, có thể

giải thích tại sao nồng độ các isoenzyme của
CPK trong máu (CPK-MM, CPK-MB) hầu như
không có trong DNT và hoạt động của CPK
trong DNT liên quan chủ yếu là CPK-BB(3,6,9),
đồng thời những tổn thương bên trong hệ thần
kinh trung ương, có thể đưa đến tăng giá trị
những sản phẩm nội bào trong DNT sớm hơn
đáng kể so với chúng được phát hiện trong máu,
điều này có thể dùng CPK DNT như là chỉ số tin
cậy đánh giá tổn thương não, nhất là trong
trường hợp cấp
CPK DNT liên quan đến mức độ tổn thương
não cấp, với CPK càng cao tổn thương càng
nặng(13,14). Sự gia tăng CPK-BB trong DNT liên
quan đến dự hậu lâm sàng ở bệnh nhân nhiễm
trùng hệ thần kinh trung ương(2).
Về tiên lượng, kết quả nghiên cứu cho thấy
bệnh nhân VMN VTSM có CPK DNT ≥ 20 U/L

thì số trường hợp di chứng cao hơn hẳn nhóm
CPK < 20 U/L (bảng 3). Theo Sharma M và Nand
N(12), CPK DNT có thể tiên lượng bệnh nhân
VMN, CPK càng cao tiên lượng càng dè dặt.
Điều này tương tự nhận định của các tác giả
trong nghiên cứu(2,8). Từ các kết quả này, chúng
tôi cho rằng CPK DNT có thể tiên lượng cho
bệnh nhân VMN VTSM.
Ở bệnh nhân VMN cấp, có gia tăng hoạt
động CPK-BB trong DNT, do sự giải phóng men
này từ mô não ra dịch ngoại bào rồi vào DNT,

điều đó liên quan đến những thay đổi cấu trúc
chức năng màng tế bào não trong VMN(13), mà
CPK-BB lại liên quan chủ yếu với CPK dịch não
tủy(7,9). Điều này cho thấy mức độ CPK DNT
phản ánh mức độ tổn thương tế bào não, tổn
thương càng nhiều CPK càng cao, tương ứng với
tiên lượng càng xấu. Mở rộng vấn đề, nhiều tác
giả kết luận không chỉ trong VMN cấp mà trong
các trường hợp tổn thương não cấp, CPK DNT
càng cao tiên lượng càng dè dặt(4,14). Do đó,
chúng tôi cho rằng CPK DNT có thể dự hậu cho
VMN cấp.
Nhóm VMN nấm: đa số bệnh nhân nhiễm
HIV hoặc bệnh AIDS diễn tiến nặng xin về,
chúng tôi chỉ ghi nhận CPK DNT, không khảo
sát lâm sàng và dự hậu.

KẾT LUẬN
CPK DNT không có giá trị chẩn đoán, nhưng
nếu kết hợp với các thông số khác trong DNT và
biến thiên của CPK, sẽ cho thông tin quý giá,
giúp chẩn đoán phân biệt các nhóm VMN, nhất
là trường hợp cấp (VMN VTSM ,VMN virút,
VMN lao có biểu hiện cấp).
CPK DNT là yếu tố tiên lượng bệnh nhân
VMN VTSM. Bệnh nhân có CPK ≥ 20 U/L lâm
sàng biểu hiện nặng nề hơn, điều trị tốn kém và
nguy cơ có di chứng lúc xuất viện sẽ cao hơn
bệnh nhân có CPK < 20 U/L. Từ đó, giúp thầy
thuốc tiên lượng và xác định hướng điều trị

trong giai đoạn đầu.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

2.

3.

4.

5.

6.

7.

8.

9.

10.

11.
12.

13.

14.

15.

Bodvarsson A, Franzson L, Briem H (1990). Creatine
kinase isoenzyme BB in the cerebrospinal fluid of patients
with acute neurological diseases. J.Intern Med 227(1):5-9.
Briem H, Lindquist L, Lundbergh P, Sego E, Skoldenberg
B (1983). Creatine kinase isoenzyme BB in cerebrospinal
fluid from patients with meningitis and encephalitis. J
Infect Dis 148(1):180.
Chandler W.L, Clayton K.J, Longstreth W.T, Fine J.S
(1984). Creatine kinase isoenzyme in human cerebrospinal
fluid and brain. Clinical chemistry .30(11): 1804-1806
Coplin W.M (1999). Cerebrospinal fluid creatine kinase –
BB isoenzyme activity and outcome after subarachnoid
hemorrhage. Arch Neurol ;56:1348-1352.
Lutsar I, Haldre S, Topman M, Talvik T (1994). Enzymatic
changes in the cerebrospinal fluid in patients with
infections of the central nervous system. Acta Paediatr
83(11):1146-50
Nathan M.J (1967). Creatine phosphokinase in the
cerebrospinal fluid. J Neurol Neurosurg Psychiatry 30(1):5255
Nussinovitch M, Klinger G, Soen G, Magazanik A,
Volovitz B, Varsano I, Nussinovitch A (1996). Increased
creatine kinase brain isoenzyme concentration in
cerebrospinal fluid with meningitis. Clin Pediatr(Phila),
35(7):349-51.
Pancewicz SA (1996). Creatine phosphokinase activity in
cerebrospinal fluid in purulent meningitis. Przegl Lek,
53(10):731-5.
Pfeiffer F.E, Homburger H.A and Yanagihara T (1983).

Creatine kinase BB isoenzyme in CSF in neurologic
diseases. Measurement by radioimmunoassay. Archives of
Neurology 40(3): 201-5.
Ruzak-skocir B (1991). Cerebrospinal fluid CK enzyme
and CK isoenzyme in the outcome prognosis of
cerebrovasculair diseases. Neurol croat 40(4):247-57.
Scheld W.M (1998). Acute bacterial meningitis. Harrison’s
principle of internal medicine 14 edition, pp.2424
Sharma M, Nand N (2006). Evaluation of enzymes in
pyogenic and tuberculous meningitis. J Assoc Physicians
India 54:118-21.
Smirnov VV, Skorniakov VI, Popov AS, Shestakova TI,
Khot’ko LP (1989). Creatine phosphokinase in the
cerebrospinal fluid of patients with acute meningitis. Vrach
Delo (7):112-3.
Venkatesh B, Scott P, Ziegenfuss M (2000). Cerebrospinal
fluid in critical illness. Critical care and resuscitation 2:42-54
Yong yau Ong, Keng thye Woo,Han Seong NG, Patrick
TAN & Ong Teng Tang (2005). A clinical approach to
medicine .Second Edition, pp.985-986.





×