Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

Đặc điểm bệnh nhân thalassemia và các bệnh hemoglobin khác đang điều trị tại Bệnh viện Truyền máu - Huyết học từ 02/2014-08/2014

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (313.48 KB, 6 trang )

Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 19 * Số 4 * 2015

ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHÂN THALASSEMIA VÀ CÁC BỆNH HEMOGLOBIN
KHÁC ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN TRUYỀN MÁU – HUYẾT HỌC
TỪ 02/2014 – 08/2014
Trịnh Thùy Dương*, Lê Phương Thảo**, Nguyễn Nguyệt Vân Nga**, Phan Thị Duy An**,
Ngô Văn Tân**, Lê Vũ Hà Thanh**

TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm bệnh nhân thalassemia và các bệnh hemoglobin khác đang điều trị tại BV
TMHH TpHCM từ 02/2014 – 08/2014
Phương pháp nghiên cứu: mô tả hàng loạt ca, hồi cứu
Kết quả: Qua hồi cứu hồ sơ bệnh án, chúng tôi ghi nhận có 396 BN thỏa tiêu chuẩn và được đưa vào nghiên cứu.
Kết luận: Qua nghiên cứu này, chúng tôi ghi nhận BN chủ yếu là dân tộc Kinh. 69,4% BN phụ thuộc
truyền máu. Tỉ lệ BN lách to, cắt lách và biến dạng xương sọ ở nhóm phụ thuộc truyền máu cao hơn nhóm không
phụ thuộc. Nồng độ Hb trung bình ở nhóm phụ thuộc truyền máu thấp hơn nhóm không phụ thuộc truyền máu.
Đa số BN ứ sắt từ nhẹ đến nặng, cần dùng thải sắt, trong đó Deferriprone chiếm tỉ lệ cao nhất. Bên cạnh đó, các
BN phụ thuộc truyền máu có khoảng cách giữa 2 lần truyền máu chủ yếu từ 3 – 5 tuần.
Từ khóa: Thalassemia, bệnh Hb

ABSTRACT
THE CHARACTERISTICS OF PATIENT WITH THALASSEMIA AND OTHER HEMOGLOBIN
DISEASES TREATED AT HCM CITY BLOOD TRANSFUSION AND HEAMATOLOGY HOSPITAL
FROM 02/2014 TO 08/2014
Trinh Thuy Duong, Le Phuong Thao, Nguyen Nguyet Van Nga, Phan Thi Duy An, Ngo Van Tan,
Le Vu Ha Thanh * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Supplement of Vol. 19 - No 4 - 2015: 104 - 109
Objective: To survey the characteristics of patient with thalassemia and other hemoglobin diseases treated at
HCM City Blood Transfusion and Heamatology Hospital from 02/2014 to 08/2014
Subjects and Methods: descriptive case series, retrospective


Results: Through this retrospective medical record, we recorded that 396 patients met the inclusion criteria
and were included in the study.
Conclusion: Through this study, we noted that the majority of patients are Kinh ethnic. Patients with
transfusion dependence take 69.4%. The ratio of patients with splenomegaly, splenectomy and skull deformation
in blood transfusion dependence group are more than in blood transfusion independence group. The average
concentration of hemoglobin in blood transfusion dependence group is less than blood transfusion independence
group. The majority of patients with mild to severe iron overload need iron chelation, in which Deferriprone takes
the highest proportion. Besides, the distance between two times of blood transfusion of the patients with blood
transfusion dependence are mainly within 3-5 weeks.
Keywords: Thalassemia, Hb disease
* Bệnh viện Truyền máu – Huyết học TP. Hồ Chí Minh
** Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Tác giả liên lạc: ThS. BS. Trịnh Thùy Dương
ĐT: 0908 507 814, Email: doctorthuyduong@pnt.edu.vn

104

Chuyên Đề Truyền Máu – Huyết Học


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 19 * Số 4 * 2015
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh lý Hemoglobin nói chung và
Thalassemia nói riêng hiện tại đang là vấn đề
đáng quan tâm của cả thế giới. Theo thống kê
của WHO năm 2006 có khoảng 7% dân số thế
giới mang những rối loại về hemoglobin, mỗi
năm sẽ có khoảng 30 0000 đến 50 0000 trẻ sinh ra
mang rối loạn về hemoglobin nghiêm trọng, đa
phần trẻ bị ảnh hưởng là ở các nước chưa có

chương trình quản lý Thalassemia cấp quốc gia,
trong đó có Việt Nam(2). Ước tính có khoảng 5
triệu người mang gen và bị bệnh thalassemia ở
Việt Nam, mỗi năm có khoảng 2000 trẻ sinh ra
mắc bệnh này. Theo thống kê của Viện Huyết
học – Truyền máu trung ương, hiện cả nước chỉ
mới quản lý được khoảng 20 000 bệnh nhân, tại
Viện Huyết học – Truyền máu trung ương đang
quản lý khoảng 12 100 bệnh nhân, bệnh viện Nhi
Trung ương quản lý khoảng 1000 bệnh nhân,
bệnh viện Truyền máu Huyết học TPHCM quản
lý khoảng 4375 bệnh nhân, bệnh viện Nhi Đồng I
quản lý khoảng 2000 bệnh nhân(Error! Reference source not
found.,7). Bệnh Thalassemia hiện đang bùng nổ ở
nước ta. Ngành y tế nói chung và các bệnh viện
chuyên khoa Huyết học nói riêng đang cố gắng
giải quyết gánh nặng xã hội này. Trong số bệnh

Nghiên cứu Y học

nhân đang điều trị tại khoa khám bệnh bệnh
viện Truyền máu Huyết học TPHCM, số lượng
bệnh nhân Thalassemia chiếm tỉ lệ khá cao. Vì
vậy, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài “Đặc
điểm bệnh Thalassemia và các bệnh Hemoglobin
khác đang điều trị tại bệnh viện Truyền máu
Huyết học thành phố Hồ Chí Minh từ 02/2014
đến 08/2014” nhằm khảo sát một số đặc điểm
dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị của
các BN Thalassemia và bệnh Hb đang điều trị tại

BV TMHH.

ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNGPHÁP NGHIÊNCỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả BN chẩn đoán xác định Thalassemia
và bệnh Hb đến khám, điều trị tại BV TMHH
TpHCM từ 02/2014 đến 08/2014.

Phương pháp nghiên cứu
Mô tả hàng loạt ca, hồi cứu.

KẾT QUẢ
Qua hồi cứu các hồ sơ chẩn đoán
Thalassemia tại BV TMHH TpHCM từ 02/2014
đến 08/2014, có 396 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn
được đưa vào nghiên cứu với kết quả như sau:

Đặc điểm dịch tễ học
Bảng 1: Tỉ lệ các thể Thalassemia
Chẩn đoán
Số BN
(%)

α thala
nhẹ
26
(6,6)

α thala biểu
hiện bệnh

70
(17,7)

HbH
22
(5,6)

β thala
nhẹ
15
(3,8)

Nhận xét: Số ca chẩn đoán α thalassemia là
118 (29,9%), β thalassemia là 161 (40,6%), β thala
+ HbE là 103 (26%).
Bảng 2: Đặc điểm dịch tễ học và một số đặc điểm
chung
Đặc điểm chung
Nam
Giới tính
Nữ
TpHCM
Đông Nam Bộ
Nơi cư trú
Tây Nam Bộ
Miền Trung – Cao Nguyên
Miền Bắc

Số BN (%)
128 (32,3)

268 (67,7)
170 (42,9)
75 (18,9)
93 (23,5)
55 (13,9)
3 (0,8)

Chuyên Đề Truyền Máu – Huyết Học

β thala
trung bình
58
(14,6)

β thala β thala +
Khác
nặng
HbE
88
103
14
(22,2)
(26,0)
(3,5)
Đặc điểm chung
Kinh
Hoa
Mường
Dân tộc
Khơme

Campuchia
Pháp

Tiền sử gia đình
mang gen Hb
Không

Số ca phụ thuộc
truyền máu
Không

Bệnh mới chẩn
đoán
Không

Tổng số
(%)
396
(100)
Số BN (%)
383 (96,7)
8 (2,0)
2 (0,5)
1 (0,3)
1 (0,3)
1 (0,3)
107 (27,0)
289 (73,0)
275 (69,4)
121 (30,6)

114 (28,8)
282 (71,2)

105


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 19 * Số 4 * 2015

Nghiên cứu Y học

Nhận xét: Nghiên cứu này ghi nhận tỉ lệ
BN nữ chiếm đa số (67,7%), phần lớn các BN
đều thuộc dân tộc Kinh (96,7%) và chưa ghi
nhận tiền căn gia đình có bệnh Thalassemia
(73,0%).
Bảng 3: Tuổi chẩn đoán bệnh
Nhóm
β thala
Tổng số
α thala β thala
Khác
tuổi
+ HbE
(%)
107
≤2
10
67
28
2

(27,0)
p<
110
3 - ≤ 15
27
41
39
3
(27,8) 0,05
179
> 15
81
53
36
9
(45,2)
Tổng số 118
161
103
14
396
(%)
(29,9) (40,6) (26,0) (3,5)
(100)

Nhận xét: BN được chẩn đoán bệnh lúc > 15
tuổi chiếm đa số 45,2%. Sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê giữa nhóm tuổi và chẩn đoán bệnh.

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

Bảng 4: Đặc điểm lâm sàng
Đặc điểm lâm sàng

Không
Hồng
Nhạt
Xạm
Hồng
Nhạt

Triệu chứng cơ năng thiếu máu

Màu da

Màu niêm

Số BN (%)
266 (67,2)
130 (32,8)
68 (17,2)
249 (62,9)
79 (19,9)
69 (17,4)
327 (82,6)

Nhận xét: Nghiên cứu này ghi nhận có 130
BN (32,8%) không có triệu chứng cơ năng
thiếu máu, nhưng có khoảng 17% BN có màu
da, niêm hồng.
Bảng 5: Tình trạng gan, lách, biến dạng xương theo

tình trạng phụ thuộc truyền máu
Tình trạng gan,
lách, biến dạng
xương

Gan to

Lách

106

Phụ thuộc
truyền máu

Không
59
3

Không

216

118

Không to

98

102


Độ I
Độ II
Độ III
Độ IV
Đã cắt

31
38
31
40
37

7
8
1
1
2

Tổng số
(%)
62 (15,7)
334
(84,3)
200
(50,5)
38 (9,6)
46 (11,6)
32 (8,1)
41 (10,4)
39 (9,8)


p<
0,05

p<
0,05

Tình trạng gan,
lách, biến dạng
xương
Biến dạng
xương

Phụ thuộc
truyền máu

Không



133

10

Không

142

111


Tổng số
(%)
143
(36,1)
253
(63,9)

p<
0,05

Nhận xét: Ở nhóm BN phụ thuộc truyền
máu, có 59 BN (21,5%) có tình trạng gan to; 51%
trường hợp có lách to; 13,5% đã cắt lách; 48,4%
BN có biểu hiện biến dạng xương.
Bảng 6: Đặc điểm cận lâm sàng
Đặc điểm cận lâm sàng
8,2 ± 1,7 (3,4 –
Tất cả
14,3)
Hb trung
bình (g/dl) Nhóm phụ thuộc
7,5 ± 1,1
(mean ±
truyền máu
p < 0,05
Công
SD)
Nhóm không phụ
9,7 ± 1,7
thức

thuộc truyền máu
máu
Hồng cầu nhỏ nhược sắc
349 (88,1)
(n,%)
Hồng cầu nhỏ (n,%)
5 (1,3)
Hồng cầu nhược sắc (n,%)
42 (10,6)
≤ 1000
164 (41,4)
Ferritin
(ng/ml)
1000 - 2500
105 (26,5)
(n,%)
> 2500
127 (32,1)

Nhận xét: Hb trung bình của nhóm không
phụ thuộc truyền máu cao hơn nhóm phụ thuộc,
sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê. Trong
nghiên cứu này cũng ghi nhận 11,9% BN có
hồng cầu nhỏ hay nhược sắc. 58,6% BN có tình
trạng ứ sắt từ nhẹ, trung bình đến nặng.
Bảng 7: Tỉ lệ các loại đột biến
Chẩn đoán

Kiểu đột biến


Tổng số
(%)
25 (73,8)
1 (2,9)
1 (2,9)
1 (2,9)

--SEA
-α3.7
α thala
--SEA + -α3.7
--SEA + -α4.2
C52 A→T, C92 +1G G→T intron
1 (2,9)
1 gen HBB
β thala
c.124-127 del TTCT gen HbB
1 (2,9)
β thala + đb CD 26 (HbE) dạng dị hợp + đb
3 (8,8)
HbE
CD 71/72 dạng dị hợp
Khác
--SEA + C52 A→T
1 (2,9)
Tổng số (%)
34 (100)

Nhận xét: Có 34 trường hợp làm đột biến
gen khi điện di Hb bình thường, ghi nhận đột

biến --SEA chiếm tỉ lệ cao nhất.

Chuyên Đề Truyền Máu – Huyết Học


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 19 * Số 4 * 2015
Điều trị
Trong 396 BN được chẩn đoán Thalassemia,
có 308 (77,8%) trường hợp cần truyền máu định
kỳ.
Bảng 8: Tuổi bắt đầu truyền máu
Nhóm
tuổi
≤2

α thala β thala
10

57

3 - ≤ 15

26

36

> 15

59


18

β thala
Tổng số
Khác
+ HbE
(%)
24
2 94 (23,8)
103
39
2
(26,0)
p<
111
24
1
0,05
(28,0)

Không
truyền
23
41
16
9 88 (22,2)
máu
Tổng số 118
161
103

14
396
(%)
(29,9) (40,6) (26,0) (3,5) (100)

Nhận xét: Nghiên cứu này ghi nhận có 23,8%
BN truyền máu từ ≤ 2 tuổi, trong đó, BN chẩn
đoán β thalassemia chiếm tỉ lệ cao.
Bảng 9: Khoảng cách giữa 2 lần truyền máu
Phụ thuộc truyền
Tổng số
máu
(%)

Không
≤2
4
0
4 (1,3)
Khoảng
3–≤
276
cách truyền
269
7
p < 0,05
5
(89,6)
máu (tuần)
>5

2
26
28 (9,1)
308
Tổng số (%)
275
33
(100)

Nhận xét: Tỉ lệ BN phụ thuộc truyền máu có
khoảng cách giữa 2 lần truyền là 3 – 5 tuần
chiếm tỉ lệ cao 97,8% (269/275)
Bảng 10: Một số đặc điểm điều trị
Đặc điểm điều trị
Lượng máu truyền
mỗi năm (ml/kg)
Số ca có chỉ định thải
sắt

< 200
≥ 200

Không
Deferaxirox
Deferiprone

Thuốc thải sắt

Deferiprone +
Deferoxamine

Deferoxamine
Không dùng

Số BN (%)
265/308
(86,0)
43/308 (14,0)
240/396
(60,6)
156/396
(39,4)
24/240 (10)
129/240
(53,7)
56/240 (23,3)
21/240 (8,8)
10/240 (4,2)

Chuyên Đề Truyền Máu – Huyết Học

Nghiên cứu Y học

Nhận xét: Nghiên cứu ghi nhận tỉ lệ BN
dùng Deferiprone chiếm tỉ lệ cao nhất 53,7%.

BÀN LUẬN
Qua khảo sát 396 bệnh nhân chẩn đoán
Thalassemia tại BV TMHH Tp.HCM từ 03/2014
đến 09/2014, chúng tôi ghi nhận BN chẩn đoán β
thalassemia chiếm tỉ lệ cao 40,6%. Bên cạnh đó,

BN còn có thể có các chẩn đoán khác như: α β
thalassemia, α thalassemia + HbC, β thalassemia
+ HbC, HPFH.

Đặc điểm dịch tễ học
Chúng tôi ghi nhận tỉ lệ nữ chiếm ưu thế
67,7%. Kết quả này khác với ghi nhận của tác giả
Nguyễn Công Khanh(5), tác giả Nguyễn Ngọc
Quang(6) và tương đồng với nghiên cứu của tác
giả Lê Vũ Hà Thanh(Error! Reference source not found.). Điều
này có thể do phần lớn ngoài BN tái khám định
kỳ, chúng tôi tiếp nhận rất nhiều BN mới chẩn
đoán, là phụ nữ khám tiền sản, khám thai phát
hiện hồng cầu nhỏ nhược sắc.
Kết quả nghiên cứu ghi nhận BN cư trú rải
rác khắp nơi từ TpHCM đến một số tỉnh thuộc
miền Bắc, miền Trung. Dân tộc chủ yếu là dân
tộc Kinh. So sánh với nghiên cứu của tác giả
Nguyễn Công Khanh(5) và Nguyễn Ngọc
Quang(6) thì khác biệt vì BV chúng tôi tiếp nhận
điều trị cho đối tượng TPHCM và các tỉnh lân
cận mà dân tộc phổ biến là dân tộc Kinh.
73% chưa ghi nhận tiền căn gia đình có
người thân bị bệnh Thalassemia. Kết quả này
tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Ngọc
Quang(6). Tỉ lệ này cao có thể do Việt Nam thiếu
chương trình quản lý Thalassemia cấp quốc gia
nên công tác tư vấn, giáo dục sức khỏe chưa tốt,
người bệnh chưa có ý thức tầm soát bệnh trong
gia đình.

Về tuổi chẩn đoán bệnh, 45,2% BN được
chẩn đoán ở độ tuổi > 15, nhưng có đến 69,4%
BN phụ thuộc truyền máu. Điều này có thể do
BN thuộc thể nhẹ, xét nghiệm tình cờ phát hiện.
Tuy nhiên cũng có những BN đến khám trễ, chỉ
khi mệt, diễn tiến nặng mới đến khám và phát

107


Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 19 * Số 4 * 2015

hiện bệnh. Điều này chứng tỏ Việt Nam cần
những chương trình tầm soát Thalassemia.

còn có nhiều loại đột biến khác và một người có
thể mang nhiều hơn một loại đột biến.

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

Điều trị

Nghiên cứu chúng tôi ghi nhận có khoảng
17% BN có màu da, niêm hồng nhưng có 33,8%
BN không có triệu chứng cơ năng của thiếu máu.
Có sự khác biệt như vậy có thể do đây là tình
trạng thiếu máu mạn nên khi thiếu máu nhẹ đến
trung bình, có thể BN vẫn chưa thấy mệt, và đây

là một trong những lý do khiến BN đến khám
trễ. Tỉ lệ BN lách to, cắt lách và biến dạng xương
sọ trong nghiên cứu của chúng tôi lần lượt là
39,7%; 9,8% và 36,1%, thấp hơn trong nghiên cứu
của tác giả Nguyễn Ngọc Quang(6) có thể do khác
nhau về quần thể nghiên cứu. Nghiên cứu của
chúng tôi tiến hành trên các BN chẩn đoán
Thalassemia, còn nghiên cứu của Nguyễn Ngọc
Quang thực hiện trên các BN Thalassemia có tổn
thương lách và biến dạng xương sọ. Bên cạnh
đó, tình trạng BN phụ thuộc truyền máu có ảnh
hưởng đến tình trạng gan to, lách to hay cắt lách,
biến dạng xương. Sự khác biệt này có ý nghĩa
thống kê. Trong y văn ghi nhận các BN được
điều trị truyền máu hợp lý thì các biểu hiện lâm
sàng như gan lách to, biến dạng xương sẽ giảm.

Trong số các BN được khảo sát, có 77,8%
trường hợp có truyền máu và 60,6% BN có chỉ
định thải sắt.

Qua khảo sát huyết đồ, chúng tôi nhận thấy
nồng độ Hb trung bình ở nhóm BN phụ thuộc
truyền máu thấp hơn nhóm không phụ thuộc
truyền máu, sự khác biệt này có ý nghĩa thống
kê. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cho thấy không
phải tất cả BN chẩn đoán Thalassemia đều vừa
có hồng cầu nhỏ vừa nhược sắc vì có khoảng
19% BN chỉ biểu hiện hồng cầu nhỏ hay nhược
sắc trên công thức máu.

Về chỉ số Ferritin, chúng tôi ghi nhận tỉ lệ BN
ứ sắt mức độ nhẹ - trung bình là 26,5%, ứ sắt nặng
chiếm 32,1%. Như vậy, trên 50% BN cần dùng
thải sắt, trong đó có 32,1% cần thải sắt tích cực.
Các BN điện di Hb bình thường, chúng tôi
tiến hành làm đột biến gen. trong đó, tỉ lệ BN
mang đột biến --SEA cao nhất chiếm 73,8%. Kết
quả này tương đồng với nghiên cứu của tác giả
Lê Vũ Hà Thanh(Error! Reference source not found.). Ngoài ra,

108

Nghiên cứu chúng tôi ghi nhận 27% BN
được chẩn đoán bệnh lúc ≤ 2 tuổi nhưng chỉ có
23,8% BN bắt đầu truyền máu ≤ 2 tuổi. Điều này
cũng phù hợp vì không phải tất cả BN chẩn đoán
bệnh lúc ≤ 2 tuổi đều là thể nặng cần truyền máu
mà tuổi bắt đầu truyền máu mới là một trong
những yếu tố xác định thể nặng nhẹ ở BN. Điều
này cũng phù hợp với ghi nhận của Antonio(1)
cho rằng BN thể nặng biểu hiện triệu chứng lúc 6
– 24 tuổi và phụ thuộc truyền máu.
Đa số BN phụ thuộc truyền máu có khoảng
cách giữa 2 lần truyền ≤ 5 tuần, sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê giữa 2 nhóm bệnh phụ thuộc và
không phụ thuộc truyền máu với khoảng cách
giữa 2 lần truyền máu.
Trong các thuốc thải sắt hiện có, BN dùng
thải sắt với Deferiprone chiếm tỉ lệ cao nhất
(53,7%). Điều này có thể do đây là thuốc thải sắt

uống, giá thành rẻ nên BN có độ tuân thủ điều
trị cao và vì vậy được dùng nhiều. Ngoài ra, còn
có 23,3% BN dùng thải sắt kết hợp ở những BN
bị ứ sắt nặng.

KẾT LUẬN
Cho đến nay, Thalassemia và bệnh Hb vẫn là
một trong những bệnh lý di truyền đang được
qua tâm trên toàn thế giới. Qua nghiên cứu này,
chúng tôi ghi nhận tỉ lệ BN chẩn đoán α
thalassemia là 29,9%, β thalassemia là 40,6%, β
thalassemia + HbE là 26%. BN chủ yếu là dân tộc
Kinh. 69,4% BN phụ thuộc truyền máu, trong đó,
21,5% có tình trạng gan to; 51% trường hợp có
lách to; 13,5% đã cắt lách; 48,4% BN có biểu hiện
biến dạng xương. Nồng độ Hb trung bình ở
nhóm phụ thuộc truyền máu là 7,5 ± 1,1 g/dl,
nhóm không phụ thuộc truyền máu là 9,7 ± 1,7
g/dl. 58,6% BN có tình trạng ứ sắt từ nhẹ đến

Chuyên Đề Truyền Máu – Huyết Học


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 19 * Số 4 * 2015
nặng, cần dùng thải sắt, trong đó, tỉ lệ BN dùng
thải sắt uống Deferriprone chiếm tỉ lệ cao nhất là
53,7%. Bên cạnh đó, các BN phụ thuộc truyền
máu có khoảng cách giữa 2 lần truyền máu chủ
yếu từ 3 – 5 tuần. Hơn nữa, chúng tôi thấy cần có
chương trình tầm soát, quản lý bệnh

Thalassemia và Hb cấp quốc gia.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.

3.

Cao A, Galanello R (2010), Beta-thalassemia, Genet Med, Vol.
12 (2), pp 61-76.
Federation Thalassemia International (2006), “Beta
Thalassaemia

Epidemiology”,
http://www.thalassaemia.org.cy/about-haemoglobindisorders/beta-thalassaemia/epidemiology.shtml
Lâm Thị Mỹ, Lê Bích Liên, Bùi Mai Phương (2003), Tình hình
chẩn đoán và điều trị bệnh Thalassemia tại Bệnh viện Nhi
Đồng I, Tạp chí Y Học TPHCM, tập 7 (1): 38-43.

4.

5.
6.

7.

Lê Vũ Hà Thanh, Huỳnh Văn Mẫn, Nguyễn Thị Mỹ Hòa
(2014), Chẩn đoán bệnh Alpha và Beta Thalassemia thể nhẹ
trên người hồng cầu nhỏ, nhược sắc tại Bệnh viện Truyền
Máu - Huyết Học TPHCM, Tạp chí Y Học Việt Nam, tập 423:

339-344.
Nguyễn Công Khanh (1993), Tần số bệnh Hemoglobin ở Việt
Nam, Tạp chí Y Học Việt Nam, tập 174 (8): 11-13.
Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Duy Thanh, Nguyễn Thị
Hồng Hạnh (2014), Đánh giá một số đặc điểm lâm sàng và
truyền máu của bệnh nhân Thalassemia điều trị tại Bệnh viện
Trung Ương Huế, Tạp chí Y Học Việt Nam, tập 423: 295-303.
Viện Truyền Máu - Huyết Học Trung Ương (2014), Ở Việt
Nam hiện có khoảng 5 triệu người đang mang gen và mắc
bệnh Thalassemia, http://www.nihbt.org.vn/tin-hoat-dong/oviet-nam-hien-co-khoang-5-trieu-nguoi-dang-mang-gen-vamac-benh-thalassemia/p114i6957.html

Ngày nhận bài báo:

2/7/2015

Ngày phản biện nhận xét bài báo:

10/7/2015

Ngày bài báo được đăng:

Chuyên Đề Truyền Máu – Huyết Học

Nghiên cứu Y học

03/08/2015

109




×