Tải bản đầy đủ

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có và không có lao phổi cũ

Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG CỦA BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN
MẠN TÍNH CÓ VÀ KHÔNG CÓ LAO PHỔI CŨ
Nguyễn Thị Mỹ Đang*, Nguyễn Thị Nhạn**

TÓM TẮT
Mục tiêu: đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của BN bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) có
và không có lao phổi cũ.
Phương pháp: nghiên cứu cắt ngang phân tích.
Kết quả: có 180 bệnh nhân (BN) được đưa vào nghiên cứu từ 7/ 2010 đến 4/2011 tại bệnh viện Chợ Rẫy và
Bệnh viện Đại học Y Dược. Kết quả cho thấy rằng đặc điểm dân số học, triệu chứng cơ năng, tình trạng hút thuốc
lá, nghề nghiệp và chỉ số khối cơ thể khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) ở các nhóm BN BPTNMT có
và không có lao phổi cũ. Trên 70% (55/ 78) BN BPTNMT có lao phổi cũ và 46% (47/ 102) bệnh nhân BPTNMT
không có lao phổi cũ nhập viện với các giai đoạn III và IV (theo phân loại của GOLD). Có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê ở hai nhóm (p = 0,007). Về X quang phổi, có > 70% BN BPTNMT có và không có lao phổi cũ có tổn
thương xơ phổi. Giá trị trung bình chỉ số VC, FVC ở nhóm BPTNMT có lao phổi cũ giảm nhiều hơn nhóm
BPTNMT đơn thuần.
Kết luận: BN BPTNMT có lao phổi cũ có biểu hiện mức độ nặng (III và IV) và suy giảm chức năng hô hấp

nhiều hơn hơn ở BN BPTNMT đơn thuần.
Từ khóa: bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT), COPD, lao phổi cũ

ABSTRACT
CLINICAL AND PARACLINICAL CHARACTERISTICS OF COPD PATIENTS WITH AND WITHOUT
PREVIOUS LUNG TUBERCULOSIS.
Nguyen Thi My Dang, Nguyen Thi Nhan
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 - Supplement of No 1 - 2013: 100 - 107
Objective: to evaluate clinical and paraclinical characteristics of COPD patients with and without previous
lung tuberculosis (TB).
Method: analytical cross sectional study.
Results: There were 180 patients had visited at Cho Ray hospital and University Medical Center from
7/2010 to 4/2011. It showed that demographic characteristics, functional symptoms, smoking status, occupation
and body mass index were not statistically significant differences (p > 0,05) between in COPD patients with
previous lung TB and in COPD patients without previous lung TB. Over 70% (55/ 78) of COPD patients with
previous lung TB and 46% (47/ 102) of COPD patients without previous lung TB hospitalized with stage III and
IV of COPD, according to GOLD. This difference was statistically significant (p = 0,007). On the other hand,
over 70% of COPD patients with and without previous lung TB have pulmonary fibrosis lesions on chest X-rays.
Mean values of VC, FVC in COPD patients with previous lung TB were higher than in COPD patients without
previous lung TB.
Conclusion: the COPD patients with previous lung TB had showed stage III and IV of COPD and impaired
* Khoa Siêu âm - Thăm dò chức năng - BV Chợ Rẫy
Tác giả liên lạc: BS. Nguyễn Thị Mỹ Đang,
ĐT: 0918881260

100

Email: mydang76@gmail.com

Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Chợ Rẫy Năm 2012


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013

Nghiên cứu Y học

lung function more than in COPD patients without previous lung TB.
Keywords: Chronic Obstructive Pulmonary Disease (COPD), previous lung TB.

ĐẶT VẤN ĐỀ:


Lao phổi và BPTNMT là vấn đề sức khỏe
trầm trọng của toàn cầu, là hai nguyên nhân
dẫn đầu về tỷ lệ mắc và tử vong trên thế
giới(22) và cũng là hai bệnh lý phổi thường gặp
ở Việt Nam. Trong lâm sàng, sự hiện diện hai
loại bệnh này trên cùng một BN vẫn thường
gặp(7). BPTNMT và lao phổi có các yếu tố nguy
cơ chung như tình trạng kinh tế xã hội thấp và
chức năng bảo vệ của cơ thể bị suy giảm. Có
sự tác động qua lại giữa bệnh lao và BPTNMT,
bệnh lao làm gia tăng tần suất của BPTNMT
và ngược lại BPTNMT là yếu tố nguy cơ của
bệnh lao tiến triển. Ngoài ra, BPTNMT có lao
phổi cũ làm cho biểu hiện của BPTNMT nặng
nề, suy giảm chức năng hô hấp, gây khó khăn
trong điều trị và quản lý BPTNMT, tăng gánh
nặng về mặt kinh tế, xã hội bao gồm giảm chất
lượng cuộc sống, tàn phế, chi phí cho bệnh
tật(11,14,10,23,17,25). Vì chưa có nhiều nghiên cứu
làm rõ các vấn đề trên, chính vì vậy, chúng tôi
tiến hành nghiên cứu này.

*Tất cả đối tượng đều được chẩn đoán
BPTNMT theo tiêu chí của GOLD (2009):
Có triệu chứng ho và/ hoặc khạc đàm kéo
dài, hoặc khó thở kéo dài dai dẳng.
Và/ hoặc có tiền sử hút thuốc lá hoặc tiếp xúc
với bụi, khói hơi, hóa chất.
Kết quả hô hấp ký: FEV1/FVC <70% sau
nghiệm pháp giãn phế quản.
*Tiêu chuẩn chẩn đoán lao phổi cũ:
Tiền sử có điều trị lao phổi đúng phác đồ
và/hoặc có phiếu điều trị lao trước đây.
Những trường hợp có X-quang bất thường
và xét nghiệm AFB đàm âm tính.
*Phân loại X quang theo nghiên cứu Lucia
(2006)(22) về di chứng lao: tác giả chia làm 6 vùng
và đánh giá bằng 3 mức độ:
Tổn thương chỉ 1 vùng, không có hang tồn
lưu.
Tổn thương 2 hoặc 3 vùng hoặc chỉ một vùng
nhưng có hang tồn lưu

Các mục tiêu nghiên cứu

Tổn thương > 3 vùng có hoặc không có hang
tồn lưu

Mô tả đặc điểm dân số học, lâm sàng và cận
lâm sàng của BN bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
có và không có lao phổi cũ.

*Đánh giá rối loạn chức năng thông khí phổi
(TKP): dựa vào các tiêu chuẩn sau: (8)

So sánh chức năng hô hấp ở BN BPTNMT có
và không có lao phổi cũ.

ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu cắt ngang.

Đối tượng nghiên cứu
Gồm 2 nhóm đối tượng: có và không có chẩn
đoán lao phổi trước đây. Tất cả đều là những BN
BPTNMT, đang điều trị nội trú hoặc ngoại trú ổn
định tại Bệnh viện Chợ Rẫy hoặc Bệnh viện Đại
học Y Dược, trong khoảng thời gian từ tháng
7/2010 tới tháng 4/2011.

TKP bình thường: VC hoặc FVC ≥ 80%, FEV1
≥ 80%, Tiffeneau ≥ 70%, Gaensler ≥ 70%.
RLTK hạn chế: VC hoặc FVC < 80%, FEV1 ≥
80%, Tiffeneau ≥ 70%, Gaensler ≥ 70%.
RLTK tắc nghẽn: VC hoặc FVC ≥ 80%, FEV1<
80%, Tiffeneau < 70%, Gaensler < 70%.
RLTK hỗn hợp: VC hoặc FVC < 80%, FEV1<
80%, Tiffeneau <70%, Gaensler < 70%.

Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Tất cả các BN BPTNMT có và không có lao
phổi trước đây khi đến khám được:
Khai thác bệnh sử, khai thác tiền sử: tiền sử
điều trị lao, tiền căn hút thuốc lá, thời gian xuất

Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Chợ Rẫy Năm 2012

101


Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013

hiện triệu chứng đầu tiên và thời gian chẩn đoán
BPTNMT
Khám lâm sàng: đo dấu hiệu sinh tồn, khám
phổi (phát hiện các ran bệnh lý ở phổi, rì rào phế
nang giảm…) và khám các cơ quan khác một
cách toàn diện.
Tiến hành các xét nghiệm lâm sàng như: Xquang phổi thẳng, AFB đàm khi X quang có bất
thường.
Tất cả BN nghiên cứu được làm nghiệm
pháp hồi phục phế quản với salbutamol. Chức
năng hô hấp được đo trước và 15 phút sau khi
hít 400 µg salbutamol trực tiếp qua bình xịt định
liều. Trị số tham khảo dựa theo tiêu chuẩn của
người Châu Á, đo tại phòng Thăm dò chức năng
hô hấp Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Đại học Y
dược TP.HCM. Tất cả đối tượng được giải thích
và đồng ý ký bản đồng thuận trước khi tham gia
nghiên cứu.
Chúng tôi dùng phần mềm SPSS 18.0 để
nhập, quản lý và phân tích số liệu. Các đặc điểm
về dịch tễ học, lâm sàng và cận lâm sàng được
phân tích bằng các test thống kê thích hợp, kiểm
định bằng 2 với giá trị P < 0,05 được đánh giá là
có ý nghĩa thống kê.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Từ tháng 7/2010 đến 4/2011, tổng cộng có tất
cả 180 BN được tuyển chọn và đồng ý tham gia
nghiên cứu, gồm: (1) nhóm bệnh: 78 BN
BPTNMT có lao phổi cũ và (2) nhóm chứng: 102
BN BPTNMT không có lao phổi cũ.

Đặc điểm dân số học, lâm sàng và cận lâm
sàng của BN trong nghiên cứu.
Bảng 1: Đặc điểm dân số học của BN trong nghiên
cứu

Tuổi

102

Phân bố
Nam
Nam: Nữ
40 – 49
50 – 59
60 – 69
>= 70

Phân bố
Tuổi trung
bình
Hút thuốc Đang hút

Đã ngưng
hút
Không hút
Số gói-năm
trung bình
Nghề
Nghề xây
nghiệp
dựng
Nghề may
dệt bụi vải
Nghề xay lúa
Phun thuốc
trừ sâu
Tiếp xúc khói
củi
Khói than đá

Nhóm bệnh Nhóm chứng p
71(91%)
91(89,2%) > 0,05
10:1
8:1
2 (2,6 %)
2 (2,0%)
> 0,05
16 (20,5 %) 26 (25,5%)
29 (37,2 %) 26 (25,5%)
31 (39,7%) 48 (47,1%)

Nhóm bệnh Nhóm chứng
67,12 ± 9,64 67,88 ± 10,00
22 (28,2%)
47 (60,2%)

p

30 (29,4 %) > 0,05
65 (63,7 %)

9 (11,6%)
7 (6,9 %)
37,3 ± 19,09 38,94 ± 20,00
0 (0%)

4 (3,9%)

2 (2,6%)

1 (1%)

1 (1,3%)
0 (0%)

3 (2,9%)
2 (2%)

6 (7,7%)

5 (4,9%)

0 (0%)

1 (1%)

> 0,05

Nhận xét: nam gặp nhiều hơn nữ, đa số có
hút thuốc lá, và tiếp xúc với bụi, khói, hóa chất.
Bảng 2: Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của BN
trong nhóm nghiên cứu
Đặc điểm

Xử lý thống kê

Đặc điểm
Giới tính

Đặc điểm

Nhóm
bệnh
2
BMI (kg/m ) BMI (kg/m2)
19,22
(3,03%)
Triệu chứng
Ho
50 (64,1%)
lâm sàng
Khạc đàm 46 (59,0%)
Khó thở 61 (78,2%)
Khò khè 29 (37,2%)
Mức độ khó
0
10 (12,8%)
thở
1
25 (32,1%)
2
25 (32,1%)

Giai đoạn
BPTNMT

Tổn thương
di chứng lao
trên X quang
phổi

Phân bố

3
4
I
II
III
IV
0
I
II
III
Xơ phổi

17 (21,8%)
1 (1,3%)
5(6,4%)
18 (23%)
41 (52,6%)
14 (17,9%)
6 (7,7%)
24 (30,8%)
16 (20,5%)
32 (41,0%)
69
(81,18%)
13
(100,0%)
8 (100,0%)

Các dạng tổn
thương
trên X-quang Xẹp phổi
phổi
Dày dính
màng phổi
Giãn phế 3 (100,0%)
quản

Nhóm
p
chứng
19,77
0,52
(3,57%)
82 (80,4%) > 0,05
80 (78,4%)
74 (72,5%)
41 (40,2%)
16 (15,7%) > 0,05
17 (16,7%)
32 (31,4%)
33 (32,4%)
4 (3,9%)
9 (8,8%)
46 (45,1%)
39 (38,2%)
8 (7,8%)
87 (85,3%)
4 (3,9%)
7 (6,9%)
4 (3,9%)
16
(18,82%)
0 (0%)

> 0,05
< 0,05
<0,001
>0,05
< 0,001

< 0,05

0 (0%)
0 (0%)

Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Chợ Rẫy Năm 2012


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013
Nhận xét: các BN nhóm BPTNMT đều có
biểu hiện triệu chứng và mức độ không có khác
biệt giữa hai nhóm. Nhóm BPTNMT có lao phổi
cũ có biểu hiện mức độ nặng II và III, và có các
tổn thương di chứng trên X quang phổi chiếm
nhiều hơn nhóm chứng và sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê (p<0,05)

So sánh chức năng hô hấp ở BN BPTNMT
có và không có lao phổi cũ
Bảng 3: Giá trị trung bình của các chỉ số thông khí
phổi sau nghiệm pháp giãn phế quản ở 2 nhóm BN
(% so với trị số dự đoán)
Chỉ số TKP
(% dự đoán)
VC
FVC
FEV1
FEV1/ FVC
FEV1 /VC
PEF
FEF 25 – 75%

Nhóm bệnh

Nhóm chứng

p

68,35 ± 13,48
67,78 ± 17,19
45,58 ± 17,65
47,54 ± 10,61
46,18 ± 9,84
42,47 ± 14,74
20,78 ± 12,95

85,31 ± 13,70
84,22 ± 15,10
53,50 ± 18,76
43,95 ± 11,36
42,98 ± 11,30
51,03 ± 20,08
21,24 ± 12,05

P=0,000
P=0,000
P=0,04
P=0,032
P=0,156
P=0,002
P=0,809

Nhận xét: nhóm bệnh có chỉ số VC, FVC,
FEV1, PEF giảm rất nhiều so với nhóm chứng và
sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Bảng 4: Phân loại RLTK phổi ở hai nhóm BPTNMT
có và không có lao cũ
Rối loạn thông
khí
RLTK tắc nghẽn

Nhóm bệnh

RLTK hỗn hợp

64 (82,1%)

Cộng

78 (100,0%)

14 (17,9%)

Nhóm
p
chứng
67
< 0,001
(65,7%)
35
(34,3%)
102
(100,0%)

Nhận xét: nhóm bệnh có biểu hiện rối loạn
thông khí hỗn hợp nhiều hơn nhóm chứng.

BÀN LUẬN
Đặc điểm dân số học, lâm sàng và cận lâm
sàng của BN BPTNMT có và không có lao
phổi cũ
Về tuổi và giới tính
Trong nhóm BPTNMT có lao cũ tỉ lệ nam: nữ
là 10:1, và trong nhóm BPTNMT đơn thuần tỉ lệ
này là 8:1. Như vậy tỉ lệ nam trong nhóm nghiên
cứu rất cao. Đặc điểm này phù hợp với tỉ lệ mắc

Nghiên cứu Y học

bệnh ở nam cao hơn nữ(8). Tuy nhiên không có sự
khác biệt về giới ở cả hai nhóm. Hơn 70% bệnh
nhân trong hai nhóm nghiên cứu có lứa tuổi từ
60 trở lên (p = 0,65). Theo Trương Nhuận
Xương(24), bệnh nhân BPTNMT có hoặc không có
lao phổi cũ đến khám chủ yếu là nam, tuổi trên
60, có hút thuốc lá và không khác biệt về tuổi và
giới ở hai nhóm.

Về triệu chứng lâm sàng
Trong 4 triệu chứng, triệu chứng khó thở
chiếm tỉ lệ cao nhất (75,0%), kế tiếp là triệu
chứng ho dai dẳng (73%) và khạc đàm chiếm
(70%), thấp nhất là triệu chứng thở khò khè
chiếm (38,9%). Đặc điểm này cũng phù hợp với
nghiên cứu của Cao Thị Mỹ Thúy (2003)(4) triệu
chứng khó thở chiếm tỉ lệ cao nhất (81,4%)
nhưng triệu chứng thở khò khè trong nghiên
cứu này cũng chiếm tỉ lệ rất cao sau triệu chứng
khó thở (72,5%) có sự khác biệt so với nghiên
cứu của chúng tôi (38,9%). Sở dĩ như vậy là do
trong nghiên cứu của Cao Thị Mỹ Thúy(4) bao
gồm các bệnh nhân có tiền sử hen phế quản kéo
dài nên triệu chứng khò khè cao hơn. Trong
nghiên cứu của chúng tôi, nếu xét riêng cho từng
nhóm bệnh nhân không có sự khác biệt về đặc
điểm các triệu chứng
Theo y văn, triệu chứng khó thở thường là lý do
để bệnh nhân đi đến cơ sở y tế tức là khi khó thở
ảnh hưởng đến hoạt động hàng ngày. Tuy nhiên
triệu chứng khó thở xuất hiện ở bệnh nhân
BPTNMT ở mức độ trung bình và nặng(8). Phân
độ khó thở theo hội đồng nghiên cứu Y khoa
(MRC) có liên quan tốt với các đo lường khác về
sức khỏe và được sử dụng trong hướng dẫn của
GOLD. Trong nghiên cứu này trên 50% bệnh
nhân ở hai nhóm có khó thở từ độ 2 trở lên. Ở
nhóm bệnh nhân BPTNMT lao phổi cũ khó thở
thường gặp là độ 1 và 2 cùng chiếm (32,1%) và
nhóm bệnh nhân BPTNMT đơn thuần khó thở
thường gặp là độ 3 chiếm (32,4%). Như vậy độ
khó thở theo MRC có sự khác biệt giữa hai nhóm
nhưng không có ý nghĩa thống kê.

Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Chợ Rẫy Năm 2012

103


Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013

Về hút thuốc lá
Tỉ lệ hút thuốc lá là 91%, gồm 158 nam
(96,34%) và 6 nữ (3,65%) hút thuốc lá. Tỷ lệ
nam hút thuốc lá nhiều hơn nữ, phù hợp với
tình hình hút lá chung ở Việt Nam. Ở nhóm
bệnh nhân BPTNMT + lao phổi cũ, tỉ lệ bệnh
nhân hút thuốc lá là 88,4%. Số gói năm trung
bình ở nhóm này là 37,3 ± 19,09 gói – năm.
Trong nhóm bệnh nhân BPTNMT đơn thuần,
tỷ lệ bệnh nhân hút thuốc lá là 93,1%, số gói
năm trung bình là 38,94 ± 20,00 gói – năm. Sự
khác biệt về thói quen hút thuốc lá và số lượng
thuốc hút ở hai nhóm không có ý nghĩa thống
kê. Y văn cũng ghi nhận 80 -90% bệnh nhân
BPTNMT là những người hút thuốc lá(8,26) và
hầu hết các bệnh nhân BPTNMT có tiền sử hút
thuốc lá ít nhất 20 gói năm(8) và số gói năm
càng lớn nguy cơ phát triển BPTNMT càng
cao. Hút thuốc lá cũng liên quan đến tần suất
mắc lao phổi, hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ
của lao phổi và làm tăng nguy cơ bệnh lao lên
gấp 1,5 – 2 lần(22,10). Tốc độ giảm FEV1 ở bệnh
nhân hút thuốc lá nhanh hơn bệnh nhân
không hút thuốc lá(16,20). Ở bệnh nhân
BPTNMT có lao phổi trước tốc độ giảm FEV1
nhanh hơn bệnh nhân BPTNMT không lao
phổi trước(9).
Về nghề nghiệp
Ở nhóm bệnh nhân BPTNMT + lao phổi cũ
có 9 bệnh nhân (11,5%), nhóm bệnh nhân
BPTNMT đơn thuần có 16 bệnh nhân (15,7%)
làm các nghề có tiếp xúc với bụi, khói hơi hóa
chất. Trong các nhóm nghề có tiếp xúc với bụi,
khói hơi, hóa chất thì nhóm nghề tiếp xúc
thường xuyên với khói củi gặp nhiều nhất
(44%), thời gian tiếp xúc trung bình với các
nghề kể trên là 32,16 ± 16,42 năm. Sự phân bố
giữa các nhóm nghề cũng không có sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm. Theo
WHO ước tính rằng, khoảng 400.000 người
chết mỗi năm xảy ra từ phơi nhiễm với các
chất sinh khói(11). Phơi nhiễm với bụi, khói hơi,
hóa chất cũng làm gia tăng yếu tố nguy cơ của
bệnh lao(8,11) và những người làm việc trong

104

môi trường tiếp xúc với bụi, khói hơi, hóa chất
bị lao phổi trước thì sự mất chức năng phổi
vượt quá mức như gây mất 40,3ml / năm ở
FEV1 và 42,7ml/ năm ở FVC(23).

Về phân loại giai đoạn bệnh phổi tắc
nghẽn mạn tính
180 bệnh nhân trong nghiên cứu của
chúng tôi ở giai đoạn II trở lên. Riêng giai
đoạn III và IV chiếm 56,6 % tương tự như Mai
Xuân Khẩn(19) là 61,2 %. Kết quả của chúng tôi
cũng phù hợp với nhận xét của GOLD (2009):
bệnh nhân BPTNMT đi khám bệnh và nhập
viện điều trị thường ở giai đoạn trung bình và
nặng. Ở nhóm BPTNMT + lao phổi cũ gặp
nhiều nhất là giai đoạn III (52,6%) và hơn 70%
số bệnh nhân ở giai đoạn III và IV tương ứng
với mức độ nặng và rất nặng. Ở nhóm bệnh
nhân BPTNMT đơn thuần khoảng 46% BN vào
viện giai đoạn III, IV gặp nhiều nhất là giai
đoạn II (45,1%) tương ứng với mức độ trung
bình. Sự khác biệt ở từng giai đoạn ở hai nhóm
có ý nghĩa thống kê với p =0,007.

Về BMI
Đối với bệnh nhân BPTNMT chỉ số khối cơ
thể rất quan trọng vì đó là một trong những chỉ
số tiên lượng tử vong, chỉ số khối giảm thấp khi
căn bệnh tiến triển đến các giai đoạn nặng của
bệnh(5,8,13). Bên cạnh đó, chỉ số khối có mối tương
quan giữa bệnh nhân BPTNMT và lao phổi như
ở bệnh nhân BPTNMT, chỉ số khối thấp làm tăng
nguy cơ của bệnh lao hoạt động(10). Theo Celli,
chỉ số khối cơ thể là một trong 4 yếu tố của chỉ số
BODE có giá trị tiên lượng khả năng tử vong do
nguyên nhân hô hấp của BPTNMT(5). Trong
nghiên cứu của chúng tôi ở nhóm bệnh nhân
BPTNMT có lao phổi cũ BMI trung bình là 19,22
thấp hơn nhóm bệnh nhân BPTNMT một chút.
Tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống
kê. Kết quả này cũng phù hợp theo nghiên cứu
của Trương Nhuận Xương(24).

Về tổn thương trên X quang phổi
Tổn thương phổi hay gặp là tổn thương xơ
phổi. Điều này cũng phù hợp với di chứng của

Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Chợ Rẫy Năm 2012


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013
bệnh lao phổi(1,15). Các tổn thương như xẹp, giãn
phế quản, dầy dính màng phổi chiếm tỉ lệ ít và
chỉ có ở nhóm bệnh nhân BPTNMT + lao phổi
cũ. Theo nghiên cứu của Banu Rekha(1) những
bệnh nhân lao phổi sau điều trị, tỉ lệ bất thường
trên X quang phổi chiếm tỉ lệ rất cao (86%) chủ
yếu là tổn thương xơ phổi và mức độ tổn thương
thường gặp là  3 vùng. Trong nghiên cứu của
chúng tôi ở nhóm bệnh nhân BPTNMT + lao
phổi cũ tổn thương trên X quang phổi thường
gặp nhất là từ 3 vùng trở lên, còn ở nhóm bệnh
nhân BPTNMT đơn thuần có một tỉ lệ nhỏ X
quang phổi bất thường và tổn thương thường
gặp < 3 vùng.

So sánh chức năng hô hấp ở BN BPTNMT
có và không có di chứng lao phổi
Ở nhóm bệnh nhân BPTNMT/ lao phổi cũ, có
sự sụt giảm đáng kể các chỉ số FEV1 (45,58 ±
17,65 %) tương ứng với mức độ nặng. Phần trăm
FVC và VC giảm < 80 % so với dự đoán, chỉ số
FVC thấp hơn VC. Phần trăm FEF 25 -75 % và
PEF so với giá trị dự đoán cũng giảm thấp. Theo
ghi nhận của nhiều tài liệu hai chỉ số này giảm
trong BPTNMT. Tuy nhiên, nó không được dùng
để đánh giá mức độ tắc nghẽn luồng khí trong
BPTNMT vì tương quan kém với FEV1(8).
Ở nhóm bệnh nhân BPTNMT đơn thuần tương
tự như vậy, phần trăm FEV1 so với giá trị dự
đoán trung bình là 53,50 ± 18,76%. Riêng chỉ số
VC, FVC vẫn còn bình thường. Điều này được
giải thích là do ở bệnh nhân BPTNMT đơn thuần
vào viện gặp nhiều nhất là ở giai đoạn II tương
ứng với mức độ trung bình và ở giai đoạn này
chưa có sự sụt giảm VC, FVC(8). Theo Beers
(1999) khi đánh giá mức độ biến đổi chức năng
hô hấp trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính từ
mức độ nhẹ đến mức độ rất nặng thì ở mức độ
trung bình VC > 80%(2).
Tuy nhiên so sánh từng giá trị trung bình
trong hai nhóm BPTNMT + lao phổi cũ và
BPTNMT đơn thuần, chúng tôi nhận thấy rằng ở
nhóm bệnh nhân BPTNMT + lao phổi cũ % giá

Nghiên cứu Y học

trị VC, FVC, FEV1 giảm nhiều hơn nhóm
BPTNMT đơn thuần. Sự khác biệt này có ý nghĩa
thống kê. Sỡ dĩ như vậy là do ở nhóm bệnh nhân
BPTNMT + lao phổi cũ ngoài BPTNMT bệnh
nhân còn có tổn thương phổi trên X quang do di
chứng của lao phổi như xơ xẹp làm hạn chế hô
hấp, tắc nghẽn đường dẫn khí mạn tính. Điều
này cũng phù hợp theo nghiên cứu của Lee J. H,
Chang J.H (2003). Nếu so sánh với nghiên cứu
của Trương Nhuận Xương (2010) có sự không
phù hợp. Giải thích điều này có thể do tiêu
chuẩn chọn bệnh của tác giả đa số là bệnh nặng,
có ít nhất hai đợt kịch phát trong năm mới đưa
vào nghiên cứu và trong BPTNMT ở giai đoạn
nặng và nhất là rất nặng VC, FVC giảm rõ(8,20).
Khi so sánh từng giai đoạn BPTNMT ở hai nhóm
thì chỉ số VC, FVC ở nhóm bệnh nhân BPTNMT
+ lao phổi cũ qua các giai đoạn thấp hơn nhóm
BPTNMT đơn thuần, đặc biệt ở giai đoạn II, III
giảm có ý nghĩa thống kê. Còn ở giai đoạn I, IV
có sự khác biệt nhưng không có ý nghĩa thống
kê. Điều này cũng phù hợp theo GOLD (2009).
Các chỉ số FEV1, PEF, FEF 25-75 ở hai nhóm có
sự khác biệt nhưng không có ý nghĩa thống kê.
Ở nhóm bệnh nhân BPTNMT + lao phổi cũ,
RLTK hỗn hợp chiếm đa số (82,1%), bắt đầu biểu
hiện ở giai đoạn II và tăng lên nhiều ở giai đoạn
III và IV (95,1% - 92,9 %). RLTK tắc nghẽn chỉ có
17,9%. Theo nghiên cứu của Lucia (2006) những
bệnh nhân có di chứng lao phổi, rối loạn thông
khí hỗn hợp chiếm đa số(22). Ở nhóm bệnh nhân
BPTNMT đơn thuần, RLTK hỗn hợp bắt đầu
tăng ở giai đoạn III và tăng rất nhiều ở giai đoạn
IV. Sự khác biệt về rối loạn thông khí phổi ở hai
nhóm bệnh nhân có ý nghĩa thống kê với p <
0,001. Kết quả của chúng tôi cũng tương tự như
kết quả của Mai Xuân Khẩn (2005)(19).Tỷ lệ rối
loạn thông khí hỗn hợp là 76,1 % gặp nhiều nhất
ở giai đoạn III, IV. Theo chúng tôi, sỡ dĩ RLTK
hỗn hợp gặp đa số vì các bệnh nhân BPTNMT có
và không có lao phổi cũ của chúng tôi có 56,67%
ở giai đoạn nặng và rất nặng.

Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Chợ Rẫy Năm 2012

105


Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013

KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng, cận
lâm sàng bệnh nhân BPTNMT có và không có
lao phổi cũ chúng tôi có những kết luận sau:

Đặc điểm dân số học, lâm sàng, cận lâm
sàng BN bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có
và không có lao phổi cũ
BN BPTNMT có lao phổi cũ có tỷ lệ nam: nữ
là 10: 1. Trên 90% là nam; > 70% có độ tuổi mắc
bệnh > 60, không có sự khác biệt so với nhóm
BPTNMT không có lao phổi cũ (p > 0,05)
Triệu chứng cơ năng, tình trạng hút thuốc lá,
nghề nghiệp, chỉ số khối cơ thể khác nhau không
có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) ở các nhóm BN
BPTNMT có và không có lao cũ.
Trên 70% (55/ 78) BN BPTNMT có lao phổi
cũ và 46% (47/102) bệnh nhân BPTNMT nhập
viện với các giai đoạn III và IV theo GOLD. Khác
biệt có ý nghĩa thống kê ở hai nhóm (p = 0,007)

Rối loạn thông khí hỗn hợp ở nhóm
BPTNMT lao cũ gặp nhiều hơn nhóm BPTNMT
đơn thuần có ý nghĩa thống kê (p < 0,001).

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

2.

3.

4.

5.

6.

X quang phổi
Các tổn thương gặp trên X quang là xơ, xẹp
phổi, dày dính màng phổi và giãn phế quản. >
70% BN BPTNMT có và không có lao phổi cũ có
tổn thương xơ phổi. Có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê ở hai nhóm (p < 0,001)
41,1% tổn thương mức độ III trên X quang
phổi theo Lucia ở nhóm có lao cũ và 3,9% ở
nhóm không có lao cũ. Sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê (p < 0,001).

So sánh CNHH ở BN BPTNMT có và
không có lao phổi cũ
Hầu hết các giá trị trung bình chỉ số thông
khí ở nhóm BPTNMT có lao phổi cũ giảm nhiều
hơn nhóm BPTNMT đơn thuần.
Trong giai đoạn II, III: chỉ số VC, FVC ở
nhóm BPTNMT + lao cũ thấp hơn nhóm
BPTNMT đơn thuần có ý nghĩa thống kê (p <
0,05). Giai đoạn I, IV không có sự khác biệt giữa
hai nhóm (p > 0,05).

7.

8.

9.

10.

11.

12.

13.

14.

106

Banu RVV, Rajeswari R, Kuppu RKV et al (2009) “Assessment
of long term Status of Sputum positive pulmonary TB patients
successfully treated with short course chemotherapy”, Indian J
Tuberc; 56: 132-140
Beers MH, Berkow R (1999), “Chronic obstructive pulmonary
disease”, The Merck manual of diagnosis and therapy, Meck
research laboratories, 17th edition, volume 1, Merck and Co.
INC, Whitehouse station. N.J. USA, pp. 521-532.
Biswajit C, Calverley PMA, and Davies PDO (2007),
“Tuberculosis and its incidence, special nature, and
relationship with chronic obstructive pulmonary disease”,
International Journal of BPTNMT, 2(3), 263-272.
Cao Thị Mỹ Thúy (2003), “Chẩn đóan, điều trị và theo dõi BN
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ngoại trú theo chiến lược tòan
cầu đối với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (GOLD-2001)”,
Luận văn thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí
Minh.
Celli BR, Cote CG, Marin JM (2004) “ The Body- Mass Index,
Airflow Obstruction, Dyspnea, and Exercise Capacity Index in
Chronic Obstructive Pulmonary Disease”, The New England
Jounal of Medicine.
Gajalakhmi V et al (2003), “Smoking and mortality, from
tuberculosis and other diseases in India: Retrospective study
of 43000 adult male deaths and 35000 controls”, The lancet
London, Vol. 362, Iss. 9383, pg. 507
Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease
(2001),”Global Strategy for the dianosis,management and
Prevention of Chronic Obstructive pulmonary disease”,
NHLBI/WHO
workshop
report,
http://
www.goldBPTNMT.com
Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease (2009),
“Global Strategy for the dianosis, management and
Prevention of Chronic Obstructive pulmonary disease”,
NHLBI/WHO
workshop
report
updated,
http://www.goldBPTNMT.com
Hnizdo E., Singh T., Churchyard GJ (2000), “Chronic
pulmonary function impairment caused by initial and
recurrent pulmonary tuberculosis following treatment. Thorax
55:32-38.
Inghammar M, Ekbom A et al (2010), “ BPTNMT and the Risk
of Tuberculosis – A Population – Based Cohort Study”, Plos
one/ www. Plosone.org
Jick SS., Lieberman ES., Rahman MU., and Choi HK.(2006),
“Glucocorticoid Use, Other Associated Factors, and the Risk of
Tuberculosis”, Original Article, pp 19-26.
Jordan TS, Elspeth M. Spencer and Peter Davies (2010) “
Tuberculosis, bronchiectasis and chronic airflow obstruction”,
Respiratory 15, 623-628
Lainscak M., Von Haehling S., Doehner W (2011), “ Body
mass index and prognosis in patients hospitalized with acute
exacerbation of chronic obstructive pulmonary disease”, J.
Cachex Sarcopenia Muscle, 2(2): 81-86
Lam KB, Jiang CQ, Jordan RE (2010), ”Prior TB, Smoking, and
airflow obstruction”, Chest Vol. 137.No. 3.593 – 600

Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Chợ Rẫy Năm 2012


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013
15.

16.

17.

18.

19.

20.

Lee JH, Chang J.H (2003), “ Lung function in patients with
chronic airflow obstruction due to tuberculous destroyed
lung”, Respiratory Medicine, 1237-1242
Lee PN, Fry JS (2010), “ Systematic review of the evidence
relating FEV1 decline to giving up smoking”, BMC Medicine,
8: 84
Lee SW, Kim YS, Kim DS (2011), “The Risk of Obstructive
Lung Disease by Previous Pulmonary Tuberculosis in a
Country with Intermerdiate Burden of Tuberculosis”, J Korean
Med, 26, 268-273.
Lindstrom M, Jonsson E, Larsson K (2001), “Underdiagnosis
of chronic obstructive pulmonary disease in Northern
Sweden”, Int J Tuberc lung dis 6(1): 76-84
Mai Xuân Khẩn (2005), “Một số đặc điểm lâm sàng, chức
năng hô hấp, nội soi và tế bào dịch rửa phế quản của bệnh
phổi tắc nghẽn mạn tính”, Luận án Tiến sĩ Y học, Học viện
quân Y, Hà Nội.
McNee W (2004), “chronic obstructive Pulmonary disease:
Epidemiology, Physiology, and Clinical Evaluation”, second
edition, Clinical Respiratory Medicine, chapter 34, pages 415435

21.

22.

23.

24.

25.

26.

Nghiên cứu Y học

Nguyễn Ngọc Phương Thư (2004), “Khảo sát sự tương quan
giữa mức độ khó thở và FEV1 với chất lượng cuộc sống ở BN
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính”, Luận văn thạc sĩ Y học, Đại
học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.
Ramos LMM, Sulmonett N, Ferreira CS (2006), “Functional
profile of patients with tuberculosis sequelae in a university
hospital”, J Bras Pneumol, 32(1): 43-7
Ross J, Ehrlich RI, Hnizdo E (2010), “ Excess lung function
decline in gold miners following pulmonary tuberculosis”,
Thorax 65: 1010 – 1015
Trương Nhuận Xương (2010), “ So sánh hiệu quả điều trị
BPTNMT giai đoạn ổn định ở hai nhóm bệnh nhân BPTNMT
đơn thuần và BPTNMT kèm di chứng phổi sau lao”, Luận
văn thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.
Van Zyl Smit RN, Pai M et al (2010), “ Global lung health:The
colliding epidemics of tuberculosis, tobacco, smoking, HIV
and BPTNMT, Eur Respir J 35: 27-33
World Health Organization. Tobacco or Health. A global
status report 2002.

Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Chợ Rẫy Năm 2012

107



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×