Tải bản đầy đủ (.pdf) (18 trang)

Phân tích dòng đột biến trên carcinôm tuyến ống sớm và tiến triển ở dạ dày: Biểu hiện liên tục hay không liên tục

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.13 MB, 18 trang )

Thông Tin Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011

PHÂN TÍCH DÒNG ĐỘT BIẾN TRÊN CARCINÔM TUYẾN ỐNG SỚM
VÀ TIẾN TRIỂN Ở DẠ DÀY: BIỂU HIỆN LIÊN TỤC HAY KHÔNG LIÊN TỤC?
Takahisa Nakayama*, Zhi-Qiang Ling*,**, Ken-ichi Mukaisho*, Takanori Hattori*
and Hiroyuki Sugihara*

TÓM TẮT
Tổng quan: Điều trị triệt để carcinôm dạ dày (GC) sớm được xem là góp phần làm giảm xuất độ tử
vong do carcinôm dạ dày, vì hầu hết GC dạ dày sớm diễn tiến tới GC tiến triển. Tuy nhiên, GC sớm còn
được xem là một dạng thầm lặng của GC, và không thường diễn tiến thành GC tiến triển. Mục tiêu của
nghiên cứu này là làm sáng tỏ mức độ trùng lặp ở các dòng đột biến gen giữa nhóm carcinôm tuyến ống
(TUB) sớm và tiến triển ở dạ dày.
Phương pháp: Kỹ thuật hóa mô miễn dịch trên p53 (HMMD) được thực hiện trên 28 ca phẫu thuật cắt dạ
dày trong đó 13 ca TUB trong niêm mạc và 15 ca TUB xâm lấn. Bằng phương pháp di truyền phân tử tế bào có
so sánh giữa các loại tế bào (CGH), số bản sao ADN được so sánh giữa vùng niêm mạc và vùng xâm lấn của
TUB xâm lấn và giữa các vùng niêm mạc của TUB xâm lấn và TUB trong niêm mạc, với tổng số ca lần lượt là
25 và 22. Đột biến gen TP53 phát hiện ở exon 5-8 của 20 ca TUB.
Kết quả: CGH trên NST cho thấy 4q+ và 11q+ rất thường gặp lần lượt ở TUB tiến triển và TUB sớm,
trong khi sự thay đổi số lượng bản sao ở 8q và 17p cho thấy không có sự khác biệt ý nghĩa giữa TUB sớm và TUB
tiến triển. Tuy nhiên, array CGH cho thấy, trong 13 ca TUB tại chỗ, mất đoạn gen MYC (MYC-) và thêm đoạn
gen TP53 (TP53+) được phát hiện ở 9 TUB, và MYC+ và/hoặc TP53- trong 3 TUB.
Ở vùng niêm mạc của 9 TUB xâm lấn, 7 ca cho thấy MYC-/TP53+ và không có ca nào có MYC+ và/hoặc
TP53-. Ở vùng xâm lấn của 9 TUB, 1 TUB (dưới niêm mạc) cho thấy MYC-/TP53+ và 6 ca (1 từ TUB dưới
niêm và 5 từ TUB tiến triển) cho thấy MYC+ và/hoặc TP53-. 6 TUB đề cập sau cùng thường cho thấy kiểu đột
biến (lan tỏa hoặc không biểu hiện) bằng nhuộm hóa mô miễn dịch p53, và 4/6 ca này cho thấy có đột biến khi giải
trình tự gen TP53. Kết quả thu được từ array CGH cho thấy giữa vùng niêm mạc và vùng xâm lấn, dòng gen
được tìm thấy biểu hiện không liên tục ở 5 ca TUB tiến triển và liên tục ở 3 ca TUB dưới niêm mạc.
Kết luận: Các dòng gen thường khác biệt giữa nhóm TUB sớm và tiến triển. MYC-/TP53+ và MYC+


và/hoặc TP53- có thể lần lượt là dấu hiệu chỉ điểm trong TUB thầm lặng và tiến triển ở dạ dày.

ABSTRACT
LINEAGE ANALYSIS OF EARLY AND ADVANCED TUBULAR ADENOCARCINOMAS OF THE
STOMACH: CONTINUOUS OR DISCONTINUOUS?
Takahisa Nakayama, Zhi-Qiang Ling, Ken-ichi Mukaisho, Takanori Hattori and Hiroyuki Sugihara
Background: Eradication of early gastric carcinoma (GC) is thought to contribute to reduction in the
mortality of GC, given that most of the early GCs progress to the advanced GCs. However, early GC is
alternatively considered a dormant variant of GC, and it infrequently progresses to advanced GC. The aim of this
study was to clarify the extent of overlap of genetic lineages between early and advanced tubular adenocarcinomas
(TUBs) of the stomach.
Methods: Immunohistochemical staining for p53 was performed using 28 surgically resected stomachs with
* Khoa Giải Phẫu Bệnh, Trường Đại học Y khoa Shiga, thành phố Otsu, 520-2192, Nhật Bản

Nhận và trả lời phản hồi: sugihara@belle.shiga-med.ac.jp
192

Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011

Thông Tin Y học

13 intramucosal and 15 invasive TUBs. By chromosome- and array-based comparative genomic hybridization
(CGH), genomic copy number constitution was compared between the mucosal and invasive parts of the invasive
TUBs and between the mucosal parts of the invasive and intramucosal TUBs, using 25 and 22 TUBs,
respectively. TP53 mutation in exons 5-8 was examined in 20 TUBs.
Results: Chromosomal CGH revealed that 4q+ and 11q+ were more common in advanced and early TUBs,
respectively, whereas copy number changes in 8q and 17p showed no significant differences between early and

advanced TUBs. However, array CGH revealed that, of the 13 intramucosal TUBs examined, loss of MYC
(MYC-) and gain of TP53 (TP53+) was detected in 9 TUBs and MYC+ and/or TP53- was detected in 3 TUBs. Of
the mucosal samples of 9 invasive TUBs, 7 showed MYC-/TP53+ and none showed MYC+ and/or TP53-. Of the
9 samples from the invasive parts, 1 (from submucosal cancers) showed MYC-/TP53+ and 6 (1 from submucosal
and 5 from advanced cancers) showed MYC+ and/or TP53-. The latter 6 tumours commonly showed a mutant
pattern (diffuse or null) in p53 immunohistochemistry, and 4 of the 6 tumours assessable for TP53 sequence
analysis revealed mutations. The overall array CGH pattern indicated that, between the mucosal and invasive
parts, genetic lineage was found discontinuous in 5 advanced cancers and continuous in 3 submucosal cancers.
Conclusions: Genetic lineages often differed between early and advanced TUBs. MYC-/TP53+ and MYC +
and/or TP53-may be the signatures of dormant and aggressive TUBs, respectively, in the stomach.

TỔNG QUAN

BACKGROUND

Ung thư dạ dày (GC) vẫn còn là nguyên
nhân thường gặp gây tử vong do ung thư thứ
hai trên toàn thế giới, tuy xuất độ tử vong có
giảm ở các nước phát triển gần đây. GC được
phân làm 2 loại chính dựa trên hình thái học:
týp tạo ống và týp lan tỏa và, dựa theo giai
đoạn, phân thành ung thư sớm (khu trú ở niêm
mạc và dưới niêm mạc) và ung thư tiến triển
(xâm lấn đến lớp cơ niêm hoặc sâu hơn). GC
sớm được xem là ung thư có thể điều trị được;
GC sớm được ghi nhận là sẽ chuyển qua GC
tiến triển sau nhiều giai đoạn và như là giai
đoạn sớm của GC tiến triển. Ở Nhật, GC sớm
có thể được điều trị triệt để bằng phương pháp
nội soi can thiệp cũng như phẫu thuật, dựa

trên nguyên tắc phát hiện sớm và điều trị sớm.
Mặt khác, một vài nhà bệnh học vẫn giữ quan
điểm các khối u dạng ống còn khu trú ở niêm
mạc phát triển chậm hoặc không thể xâm lấn
sâu hơn. Vì vậy mà những tổn thương loại này
được gọi là nghịch sản.

Gastric cancer remains the second most
common cause of cancer-related deaths
worldwide, despite a recent decrease in its
mortality in developed countries [1]. Gastric
carcinomas
(GCs)
are
classified
morphologically into 2 major categories:
tubular-forming type and diffuse type [2,3] and,
in staging, into early cancers (involving the
mucosa and the submucosa) and advanced
cancers (involving the muscularis propria or
deeper). Early GC is considered a curable
cancer [4]; it reportedly progresses to advanced
GC after varying durations as an early stage of
GC [5,6]. In Japan, early GCs can be actively
resected endoscopically as well as surgically
[7], based on the principles of early detection
and treatment. On the other hand, some
pathologists maintain that the tubular-forming
neoplastic lesions that are confined to the
mucosa take a long time to or are unable to

invade deeper tissues. Thereby, these lesions
are called dysplasia [4].

Gần đây, chương trình tâm soát u nguyên
bào thần kinh ở Nhật bị đình chỉ vì người ta
phát hiện thấy có một dòng phát sinh không

Recently, a mass-screening program for
neuroblastomas in Japan [8-10] was suspended
because a discontinuous genetic lineage was

Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh

193


Thông Tin Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011

liên tục giữa các khối ung thư nguyên bào thần
kinh khởi phát sớm và khởi phát trễ. U nguyên
bào thần kinh khởi phát trễ/ hay chưa thể hiện
(≥ 1 năm) cho thấy thể lưỡng bội gần mất đoạn
tận 1p, trong khi u nguyên bào thần kinh khởi
phát ở trẻ nhỏ cho thấy thể tam bội gần không
mất đoạn 1p. Nói một cách khác, phân tích dựa
trên CGH gợi ý tình trạng tăng sản tuyến
không điển hình mức độ cao ở phổi là tiền đề
thật sự trong quá trình phát triển carcinôm phế

quản – phế nang. Ở dạ dày, vấn đề được đặt ra
là dòng gen biến đổi trùng lắp như thế nào
trong GC sớm và GC tiến triển.

found between the early- and the late-presenting
neuroblastomas. Negative and late-presenting (≥
1 year) neuroblastomas showed near-diploidy
with loss of terminal 1p, whereas positive
neuroblastomas in infants showed near-triploidy
without 1p deletion [11,12]. On the other hand,
comparative genomic hybridization (CGH)-based
analysis suggested that high-grade atypical
adenomatous hyperplasia in the lung is the true
precursor of bronchioloalveolar carcinoma [13]. In
the stomach, it is a problem to what extent genetic
lineage is overlapped in early and advanced GCs.

Trong GC týp lan tỏa, chúng tôi dùng
CGH để chứng minh những thay đổi về số
lượng bản sao NST trong carcinôm tế bào
dạng nhẫn trong niêm mạc, cho thấy cấu
trúc phân lớp được di truyền một phần ở GC
biệt hóa kém trong giai đoạn tiến triển. Sự
hiện diện của tế bào dạng nhẫn theo phân
lớp gợi ý rằng carcinôm tế bào nhẫn có thể là
tiền đề thật sự của GC biệt hóa kém về sau.
Khi phân tích các dòng gen dựa trên CGH
của một nhóm GC tiến triển kém biệt hóa
khác có thành phần dạng ống nhưng không
theo cấu trúc phân lớp ở phần niêm mạc, kết

quả cho thấy GC của nhóm này có nguồn
gốc từ một thành phần biệt hóa ống của khối
u và có biểu hiện 17p- và 8q+ và bất hoạt gen
TP53 wild-type do đột biến, và mất tính dị
hợp tử (LOH). Để xác định trạng thái tương
ứng của loại GC này, chúng tôi phân tích
carcinôm tuyến ống trong niêm mạc (TUB)
bằng CGH. Những phân tích này chứng
minh TUB trong niêm mạc không chỉ cho
thấy vài biến đổi NST thường gặp trong GC
tiến triển, mà còn thường gặp 8q- và 17p+,
đó là điểm khác biệt đáng kể ở GC biệt hóa
kém và tiển triển.

In diffuse type GCs, we used CGH to
demonstrate that chromosomal copy-number
alterations in the intramucosal signet-ring cell
carcinomas that showed a layered structure [14] were
inherited in a fraction of poorly differentiated GCs at
advanced stages [15]. The presence of a layered
structure of signet ring cells in the mucosal parts of
these advanced cancers also suggested that signet
ring cell carcinomas may be a true precursor of poorly
differentiated GCs. CGH-based lineage analysis of
another subset of poorly differentiated advanced GCs
with tubular components but no layered structure in
the mucosal part revealed that GCs of this subset
were derived from a tubular component in a tumour
and were characterized by 17p- and 8q+ [16] and
inactivation of the wild-type TP53 by mutation and

loss of heterozygosity (LOH) [17]. In order to
determine the early-stage counterpart of this type of
GC,
we
analysed
intramucosal
tubular
adenocarcinomas (TUBs) using CGH. These studies
found that the intramucosal TUBs showed not only
several chromosomal changes common to advanced
GCs but also frequently showed 8q- and 17p + that
were critically different from advanced and poorly
differentiated GCs [18].

Trong nghiên cứu này, sự thay đổi số lượng
bản sao NST và gen được xác định ở vùng niêm
mạc và vùng xâm lấn trong hàng loạt phân tích
TUBs sớm và tiến triển bằng phương pháp CGH
NST và CGH bằng chip. Dựa trên dữ liệu này,
chúng tôi phân tích những ca có những dòng liên

In the present study, copy-number changes of
chromosomes and genes were examined in the
mucosal and invasive parts of another series of
early and advanced TUBs using array and
chromosomal CGH. Based on these data, we
demonstrated
cases
of
continuous

and

194

Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011

Thông Tin Y học

tục và không liên tục so sánh giữa phần ung thư
trong niêm mạc và phần ung thư xâm lấn ở
những khối u khác nhau và phát hiện ra gen TP53
và MYC có thể là chỉ điểm tốt trong đột biến theo
dòng ở TUB dạ dày.

discontinuous lineages between intramucosal and
invasive parts of individual tumours and found
that TP53 and MYC may be good lineage markers
for gastric TUBs.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

METHODS

Ủy Ban Xét Duyệt trực thuộc Tổ chức Y
khoa tại Trường Đại học Y khoa Shiga hỗ trợ
cho việc tiến hành nghiên cứu này và đảm bảo
bí mật dữ liệu bệnh nhân.


The Institutional Review Board on Medical Ethics
at Shiga University of Medical Science granted
approval for conducting this research on the condition
that the materials used must be anonymous.

Mẫu nghiên cứu

Tumour samples

Nghiên cứu này bao gồm 28 mẫu dạ dày
toàn phần (bảng 1) với 13 ca TUB trong niêm
mạc và 15 ca xâm lấn [6 ca dưới niêm và 9 ca
tiến triển xâm lấn cơ niêm và sâu hơn (thành
phần ống của mỗi khối u được xác định trên
30%)]. Mỗi mẫu dạ dày được cố định bằng
formalin và vùi trong sáp. Tất cả các mẫu được
chọn ngẫu nhiên từ dữ liệu của khoa từ 1996
đến 2008. Loại mô học và giai đoạn ung thư
được xác định lần lượt dựa trên phân loại Ung
Thư Dạ dày Nhật Bản (17) và xếp loại pTNM.
Khi mô học đồng nhất ở niêm trong ung thư
vùng xâm lấn, phần biệt hóa kém nhất ở vùng
niêm được lấy để ngăn ngừa khả năng tái xâm
lấn lớp niêm. Trong ung thư xâm lấn, mẫu
DNA được lấy từ vùng trong niêm và vùng
xâm lấn.

This study included 28 surgically resected
stomachs (Table 1) with 13 intramucosal TUBs and 15

invasive TUBs [6 submucosal and 9 advanced cancers
that invaded the muscularis propria or deeper tissues
(the tubular component of each tumour was assessed
to be more than 30%)]. Each stomach was fixed in
formalin and embedded in paraffin wax. These were
selected at random from the materials diagnosed in our
department from 1996 to 2008. Histological types and
tumour stages were determined according to the
Japanese Classification of Gastric Cancer [19] and
pTNM staging, respectively. When a mucosal
histological pattern was found to be heterogeneous in
an individual invasive tumour, the part with the lowest
grade of atypism was taken as the mucosal sample that
can prevent the possibility of reinvasion of invasive
cancer cells into the mucosa. In invasive cancers, DNA
samples were obtained from intramucosal and invasive
parts.

Nhuộm hóa mô miễn dịch

Immunohistochemistry

Nhuộm hóa mô miễn dịch được thực hiện
với các kháng thể đơn dòng của protein p53
(DO-7, 1:100; Dako, Glostrup, Đan Mạch). Sau
khi bộc lộ kháng nguyên trong các lát mô trong
nước cất 121oC trong vòng 5 phút, phức hợp
miễn dịch được phát hiện bằng phương pháp
biotin-streptavidin-peroxidase gián tiếp dùng
Histofine kit (Nichirei, Tokyo, Nhật Bản) và

phản ứng màu diaminobenzidine. Các lát mô
được nhuộm tương phản với hematoxylin. Các
lam chứng âm không có kháng thể thứ nhất và
lam chứng dương được thực hiện đồng thời.

Immunohistochemical
staining
was
performed with monoclonal antibodies to p53
protein (DO-7, 1:100; Dako, Glostrup, Denmark).
After antigen retrieval of tissue sections in
distilled water at 121°C for 5 min,
immunoreactivity was detected by an indirect
biotinstreptavidin- peroxidase method using the
Histofine Kit (Nichirei, Tokyo, Japan) and
diaminobenzidine reaction. The sections were
counterstained with haematoxylin. Slides of the
negative control without the primary antibody
and those of the positive control were processed
in parallel.

Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh

195


Thông Tin Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011


Vi phẫu tích bằng lazer và chuẩn bị DNA

Laser microdissection and DNA preparation

Các tế bào u được ly trích từ lát cắt 5µm
dùng hệ thống lazer LMD6000 (Leica
Microsystems, Wetzlar, Đức). Với mỗi khối u,
tế bào ung thư được lấy từ vùng có diện tích
>3mm2, ở nơi tế bào ung thư có mật độ >90%.
Các tế bào này được phá hủy bằng proteinase
K 200µl/ml trong 70 giờ ở 37oC, tiếp theo là ly
trích DNA bằng phương pháp sử dụng
phenol/chloroform.

Tumour cells were obtained from 5- μ m-thick
tissue sections using a LMD6000 laser microdissection
system (Leica Microsystems, Wetzlar, Germany). For
individual tumours, cancer cells were obtained from
areas >3 mm2, where cancer cells accounted for ≥90%
of the total cell count. These cancer cells were digested
in 200 μl of proteinase K solution at a concentration of
200 μg/ml for approximately 70 h at 37°C, followed by
phenol/chloroform DNA extraction.

Khuếch đại toàn bộ gen

Whole genome amplification

DNA mẫu được khuếch đại bằng phản
ứng chuỗi bằng đoạn mồi polymerase

oligonucleotide thoái hóa (DOP-PCR) qua 2
pha, như mô tả ở trên, cho sản phẩm PCR có
kích thước trên 2kb, thích hợp để đánh dấu
bằng phương pháp nick-translation trong
phân tích CGH. Để chuẩn bị cho array CGH,
DNA mẫu được khuếch đại bằng cách dùng
bộ kit GenomePlex Tissue Whole Genome
Amplification (WGA2 Kit; Sigma, St. Louis,
USA). Với những mẫu DNA không đủ để
khuếch đại, chúng tôi thay bằng WGA5 Kit
(Sigma).

Sample DNA was amplified using degenerate
oligonucleotide- primed polymerase chain
reaction (DOP-PCR) in 2 phases, as described
previously [20], which resulted in PCR products
more than 2 kb in size, suitable for nicktranslation
labelling for CGH. For array CGH, sample DNA
was amplified using the GenomePlex Tissue
Whole Genome Amplification Kit (WGA2 Kit;
Sigma, St. Louis, USA) [21]. For some DNA
samples that could not be sufficiently amplified,
the WGA5 Kit (Sigma) was employed.

CGH (lai, đánh dấu DNA bằng đoạn dò
và phân tích hình ảnh kỹ thuật số)

CGH (hybridization, probe DNA labelling
and digital image analysis)


DNA của tế bào ung thư và DNA của tế
bào bình thường được khuếch đại nhờ DOPPCR được đánh dấu lần lượt bằng
fluorescein-12-dUTP

tetramethylrhodamine-5-dUTP
(Roche,
Mannheim, Đức), bằng phương pháp nick
translation. Phương pháp lai và phân tích
hình ảnh được thực hiện như đã mô tả trước
đây. Thêm và mất số lượng bản sao DNA
được xác định lần lượt qua tỉ số xanh/đỏ
tương ứng >1.2 và <0.8. Các NST ở 1p32-pter,
16p, 19, 22 và Y không được phân tích trong
nghiên cứu này.

DOP-PCR-amplified tumour and normal
DNA was labelled using fluorescein-12-dUTP and
tetramethylrhodamine-5-dUTP
(Roche,
Mannheim, Germany), respec tively, by nick
translation [15]. Hybridization and image analyses
were performed as described previously [22].
Gains and losses in DNA copy numbers were
defined by green to red ratios >1.2 and <0.8,
respectively. Chromosomes 1p32-pter, 16p, 19, 22
and Y were excluded from these analyses.

Array CGH

Array CGH


Kỹ thuật Oligo CGH microarray (60K, 60mer) (Agilent, Santa Clara, USA) được dùng

Oligo CGH microarray (60 K, 60-mer) (Agilent,
Santa Clara, USA) was used in this study,

196

Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011

Thông Tin Y học

trong nghiên cứu này theo hướng dẫn của
nhà sản xuất. Một cách tóm tắt, DNA của
khối u và DNA chứng được đánh dấu lần
lượt với Cy5 và Cy3, dùng kit Genome DNA
ULS Labelling Kit (Aligent) và được cho lai
cạnh tranh lên microarray. Dùng phần mềm
Feature Extraction Ver.9.5.3 (Agilent), mật độ
huỳnh quang của khối u và của chứng được
tính toán từ các hình ảnh lai bắt giữ được
trên chip từ máy quét DNA chip (Agilent).
Số lượng bản sao tăng hay giảm được xác
định bằng tỉ số giữa logarithm (theo hệ nhị
phân) của mật độ tín hiệu u và của mật độ
tín hiệu chứng có giá trị lần lượt >0.3219
hoặc <-0.3219.


according to the manufacturer's instructions. In
brief, tumour and control DNA was nonenzymatically labelled with Cy5 and Cy3,
respectively, using the Genome DNA ULS
Labelling Kit (Agilent) and competitively
hybridized to the microarray. Using Feature
Extraction Ver.9.5.3 (Agilent), the fluorescence
intensity of the tumours and controls was
calculated from the hybridized array images
captured using a DNA microarray scanner
(Agilent). Copy-number gains and losses were
defined as base 2 logarithm of the tumour signal
intensity to the reference signal intensity ratio
more than 0.3219 and less than -0.3219,
respectively.

Phân tích đột biến gen TP53

Mutation analysis for TP53

Nhiều cặp mồi PCR được dùng để khuếch
đại vùng exon 5–8 của gen TP53. Xem thêm file
1 về trình tự các đoạn mồi. Dung dịch PCR đầu
tiên chứa một dung dịch đệm, 200µM dNTPs,
1.5mM MgCl2, 0.8µM mồi, 1ng/ µl DNA mẫu
và 0.5U Platinum Taq (Invitrogen, California,
USA), thể tích cuối cùng là 25 µl. Sau giai đoạn
biến tính đầu tiên 94oC trong 2 phút, 40 chu kỳ
PCR được thiết lập với mỗi chu kỳ là 94oC
trong 30 giây, 54oC trong 1 phút và 72oC trong

10 giây, và cuối cùng là 72oC trong 10 phút. Sau
khi xác định sản phẩm của PCR bằng điện di
gel agarose, PCR giải trình tự bằng bộ Kit
BigDye Terminators v1.1 Cycle Sequencing
(Applied Biosystems, California, USA). Phản
ứng gồm 1 dung dịch đệm, 2µ của sản phẩm
PCR đầu tiên, 0.15µM mồi và 0.5µl BigDye
Terminator v1.1 trong 10µl thể tích dung dịch
cuối cùng. Sau giai đoạn biến tính đầu tiên
96oC trong 1 phút, 25 chu kỳ PCR được thực
hiện với mỗi chu kỳ là 96 oC trong 10 giây, 50oC
trong 5 giây và 60oC trong 4 phút. Giải trình tự
theo đầu xuối và đầu ngược được thực hiện
bằng máy giải trình tự ABI PRISM 3100 Genetic
Analyser (Applied Biosystems). Các đột biến
được phát hiện bằng cách so sánh giữa các
mẫu với trình tự chuẩn (GenBank accession
number: HSU94788). Trạng thái alen được xác

Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh

PCR primer sets were prepared for exons 5-8 of
TP53, which hybridize to the flanking introns of each
exon. See additional file 1 for primer sequences. The
first PCR mixture consisted of a buffer, 200 μM
dNTPs, 1.5 mM MgCl2, 0.8 μM primer, 1 ng/μl
sample DNA and 0.5 U Platinum Taq (Invitrogen,
California, USA) in a 25-μl final volume. After initial
denaturation at 94°C for 2 min, 40 cycles of PCR were
performed at 94°C for 30 sec, 54°C for 1 min and 72°C

for 1 min, followed by the final extension step at 72°C
for 10 min. After confirmation of PCR products by
agarose gel electrophoresis, sequence PCR was
performed using the BigDye Terminators v1.1 Cycle
Sequencing Kit (Applied Biosystems, California,
USA). The reaction mixture consisted of a buffer, 2 μ
l of the first PCR product, 0.15 μM primer and 0.5 μl
BigDye Terminator V 1.1 in a 10-μl final volume.
After initial denaturation at 96°C for 1 min, 25 cycles
of PCR were performed at 96°C for 10 sec, 50°C for 5
sec and 60°C for 4 min. The forward and reverse
sequences were determined using the ABI PRISM
3100

Genetic

Analyser

(Applied

Biosystems).

Mutations were detected by comparing these
samples to the reference DNA sequence (GenBank
accession number: HSU94788). Allelic status was
determined using the ratio of mutant to wild-type

197



Thông Tin Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011

định bằng tỉ số giữa độ cao của đỉnh đột biến
với dạng wild-type trong bản về trình tự gen.

peak levels in sequencing profiles.

Phân tích thống kê

Statistical analyses

Các số liệu được phân tích bằng test
Fisher’s exact và Cochran-Armitage. Sự khác
biệt giữa 2 test này được xem là có ý nghĩa về
mặt thống kê (p<0,05).

Contingency tables were analysed by Fisher's
exact test and Cochran-Armitage tests. Differences
of 2-sided tests with P < 0.05 were considered to be
statistically significant.

KẾT QUẢ

RESULTS

Hóa mô miễn dịch với p53

Immunohistochemistry for p53


Các kết quả nhuộm được xem là biểu hiện
quá mức khi ≥70% nhân tế bào u dương tính
xem ở độ phóng đại thấp. 8/13 ung thư trong
niêm, 6 ung thư dưới niêm và 4/9 ung thư tiến
triển cho thấy kết quả nhuộm p53 là dương
tính lan tỏa trên nhân tế bào (Bảng 1). Kiểu
dương tính khu trú có ở ca#A7. Kiểu âm tính
(gen TP53 wild-type) khi nhân tế bào dương
tính yếu, lác đát và thưa thớt chỉ có ở <5% số
nhân tế bào. Mẫu nhuộm ở ca #A1, #A4 và A8
không thể hiện rõ, gợi ý có thể có đột biến vô
nghĩa ở gen TP53(21).

Staining patterns were considered overexpressed
only when ≥ 70% tumour cells showed positively
stained nuclei when viewed in a low-power field. Eight
of the 13 intramucosal cancers, all the 6 submucosal
cancers and 4 of the 9 advanced cancers showed
diffusely positive nuclear staining for p53 (Table 1). A
focal staining pattern was observed in case #A7. A
pattern was considered negative (representing the
wild-type TP53) when the presence of sparse, sporadic
and weak nuclear staining was observed in <5% of the
nuclei. A null staining pattern was observed in cases
#A1, #A4 and #A8, suggesting a non-sense mutation of
TP53 [23].

Phương pháp CGH NST
25 mẫu từ 25 ca (10 ca niêm mạc, 6 ca dưới

niêm và 9 ca tiến triển) được phân tích bằng
CGH NST. Tất cả các mẫu này thu được từ tổn
thương trong niêm mạc với mức độ không
điển hình thấp nhất.

Chromosomal CGH

Trong khi 4q+ xảy ra trong đa số trường
hợp (6/9 ca) của ung thư tiến triển, nhưng lại
không thấy ở 16 ca TUBs sớm (P=0.0005). Sự
biến đổi khác biệt đáng kể về NST giữa ung
thư sớm và ung thư tiến triển là biểu hiện 11q+,
phát hiện trong 11/16 ca ung thư sớm và 2/9 ca
ung thư tiến triển (P= 0.0414). Trong 10 ca TUBs
trong niêm, 3 ca mất 8q (8q-) và/hoặc thêm 17p
(17p+), trong khi 7ca 8q+ và 2 ca 17p-. Trong 15
mẫu niêm mạc ở TUBs xâm lấn, 3 ca có 8q- và 4
ca có 17p+, trong khi đó 7 ca có 8q+ và 6 ca có
17p-.

While 4q+ occurred in the majority (6/9 cases) of
advanced TUBs, it was not detected in the 16 early
TUBs (P = 0.0005). Another significantly different
chromosomal change between early and advanced
cancers was 11q+, which was detected in 11 of the 16
early cancers and 2 of the 9 advanced cancers (P =
0.0414). Of the 10 intramucosal TUBs examined, 3
showed loss of 8q (8q-) and/or gain of 17p (17p+),
while 7 and 2 showed 8q+ and 17p-, respectively. Of
the 15 mucosal samples of invasive TUBs examined,

3 and 4 showed 8q- and 17p+, respectively, while 7
and 6 showed 8q+ and 17p-, respectively.

198

Twenty-five samples from 25 cases (10 mucosal, 6
submucosal and 9 advanced cancers) were used for
chromosomal CGH. All these samples were obtained
from intramucosal lesions that showed the lowest
grade of atypism.

Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011

Thông Tin Y học

Bảng 1: Dữ liệu lâm sàng, mô bệnh học và di truyền phân tử của 25 carcinôm tuyến ống của dạ dày

Array CGH

Array CGH

21 mẫu từ 22 ca (13 ung thư niêm mạc, 3
ung thư dưới niêm mạc và 6 ung thư tiến triển)
được đánh giá bằng array CGH (Hình 1). Mẫu
DNA được lấy từ vùng ung thư trong niêm
mạc và/hoặc vùng xâm lấn.


Thirty-one samples from 22 cases (13 mucosal,
3 submucosal and 6 advanced cancers) were
assessed using array CGH (Figure 1). DNA
samples were obtained from intramucosal and/or
invasive lesions.

Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh

199


Thông Tin Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011

Như trong Hình 1 và Bảng 2, mất MYC
(MYC-) và tăng TP53 (TP53+) đồng thời phát
hiện trong 9/13 TUB trong niêm, 7/9 mẫu
niêm mạc của TUB xâm lấn, 1/3 mẫu dưới
niêm của TUB xâm lấn và 0/6 mẫu xâm lấn
của TUB tiến triển. Kiểu MYC+ và/ hoặc
TP53- được phát hiện 3/13 ca ung thư trong
niêm, 0/9 mẫu niêm mạc của ung thư xâm
lấn, 1/3 mẫu xâm lấn của ung thư dưới niêm
và 5/6 mẫu xâm lấn của ung thư tiến triển.

As shown in Figure 1 and Table 2, concomitant
loss of MYC (MYC-) and gain of TP53 (TP53+) were
detected in 9 of the 13 intramucosal TUBs, 7 of the 9
mucosal samples of invasive TUBs, 1 of the 3

invasive samples of submucosal cancers and none
of the 6 invasive samples of advanced cancers. A
pattern of MYC+ and/or TP53- was detected in 3 of
the 13 intramucosal cancers, none of the 9 mucosal
samples of invasive TUBs, 1 of the 3 invasive
samples of 3 submucosal cancers and 5 of the 6
invasive samples of 6 advanced cancers.

Hình 1:
Bảng 2:

Dựa trên phân tích toàn bộ kiểu gen dựa
trên array CGH, các dòng phát sinh được tìm
thấy liên tục và không liên tục giữa các vùng
niêm mạc và xâm lấn trong 5 ung thư tiến triển
và 3 ung thư dưới niêm. Như Hình 2, mẫu từ

200

Based on the overall array CGH patterns,
genetic lineages were found to be discontinuous
and continuous between the mucosal and invasive
parts in 5 advanced and 3 submucosal cancers,
respectively. As shown in Figure 2, the sample

Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011


Thông Tin Y học

niêm của ca #S3 cho thấy 4p-. 4q-, 8q+, 9p-,
13q+, 15q-, 18q-, 20q+ và Y-, trong khi mẫu từ
vùng xâm lấn của #S3 thừa hưởng sự thay đổi
giống như từ vùng niêm mạc, cho thấy sự thay
đổi bổ sung thêm (2q-, 7p+, 8p-, 10p+, 14q+và
20q+) và mất 4p- và 22q+, Trong #S1, nhận
thêm 1q, 14q, 19 và 20 và mất 18q thường gặp ở
mẫu niêm mạc và dưới niêm, mặc dù thêm 1q,
14q, 19q và 20 trong vùng dưới niêm nhẹ hơn
mức độ đáng kể. Trong #S2, thay đổi thường
gặp ở cả mẫu niêm mạc và dưới niêm là thêm
20p. Mẫu dưới niêm còn cho thấy thêm đoạn
10p, 12 và 13q và mất 3q, 4, 5, 8p, 9p, 9q, 10q,
12p, 14q, 16 và 19p. Mẫu niêm mạc cho thấy
mất 18q, nhưng lại bảo tồn ở vùng dưới niêm
của mẫu đó, có thể do lưỡng bội từ cha hoặc
mẹ (22,23). Trong mẫu #A1, A3, A4 và A9, sự khác
thường trong các mẫu ở niêm mạc không thể
thấy được như ở vùng xâm lấn. Trong #A2,
biểu hiện liên tục của các dòng gen không thể
đánh giá được vì sự không có sự thay đổi đáng
kể số lượng bản copy trong vùng niêm.

from the mucosal part of #S3 showed 4p-, 4q-, 8q+,
9p-, 13q+, 15q-, 18q-, 20q+ and Y- , while the
sample from the invasive part of #S3 inherited the
same aberrations from the mucosal part, showed
additional aberrations (2q-, 7p+, 8p-, 10p+, 14q+

and 20q+) and lost 4p- and 22q+. In #S1, gains of
1q, 14q, 19 and 20, and loss of 18q was common in
mucosal and submucosal samples, though the
gains of 1q, 14q, 19q and 20 in the submucosa
were slightly less than the significant level. In #S2,
a common change in both the mucosal and
submucosal parts was a gain of 20p. The
submucosal sample showed additional gains in
10p, 12 and 13q and losses in 3q, 4, 5, 8p, 9p, 9q,
10q, 12p, 14q, 16 and 19p. The mucosal sample
showed loss of 18q, which was restored in the
submucosal sample, possibly by uniparental
disomy [24,25]. In #A1, #A3, #A4, #A8 and #A9,
aberrations in the samples from the mucosal parts
were not detected in those of the invasive parts. In
#A2, the continuity of genetic lineages could not be
assessed because of the absence of significant
copy-number alterations in the mucosal part.

Phân tích đột biến TP53

TP53 mutation analysis

Những đột biến được tìm thấy trong 7
khối u xác định bằng phương pháp giải trình
tự chuỗi của exon từ 5-8 trên gen TP53 (Hình
1, Bảng 3): 1/10 ung thư trong niêm, 2/3 ung
thư trong niêm và toàn bộ 4 ca ung thư tiến
triển (chỉ trên vùng xâm lấn). Trong 7 ca này,
allele của TP53 với kiểu bán hợp tử trừ 1 ca

ung thư trong niêm (#M12) với kiểu dị hợp
tử đột biến exon 8 (Hình 3) và kiểu không
biểu hiện hoặc biểu hiện lan tỏa của p53
trong nhuộm HMMD. Không có đột biến
TP53 nào được phát hiện ở mẫu p53 (-), như
trong Hình 4. Trong các mẫu p53+/không
biểu hiện, 2/15 ở vùng niêm mạc có đột biến
TP53, trong khi 6/7 mẫu ở vùng xâm lấn có
đột biến này (P=0,0023). Trong 1 ca ung thư
dưới niêm có TP53+ và đột biến bán hợp tử
(vùng xâm lấn ở ca #S2), TP53+ có thể phản
ánh thể đa bội từ cha hoặc mẹ.

Mutations were detected in 7 of the tumours
that were examined for sequence analysis of exons
5-8 of TP53 (Figure 1, Table 3): 1 of the 10
intramucosal cancers, 2 of the 3 submucosal
cancers and all 4 advanced cancers (only the
invasive parts). In all these 7 tumours, the TP53
allele was hemizygous except in 1 intramucosal
cancer (#M12) with a heterozygous pattern for an
exon-8 mutation (Figure 3) and a diffuse or a null
pattern
for
p53,
as
indicated
by
immunohistochemistry. No TP53 mutation was
detected in p53- samples, as shown in Figure 4. In

p53+/null sam- ples, 2 of the 15 samples of the
mucosal part showed TP53 mutation, whereas 6 of
the 7 samples of invasive part showed TP53
mutation (P = 0.0023). In 1 of the submucosal
cancers showing TP53+ and a hemizygous
mutation (the invasive part of #S2), TP53+ may
reflect uniparental polysomy [24,25].

Nói một cách khác, trong mẫu niêm, kiểu
lan tỏa/không biểu hiện thường liên quan

On the other hand, in the mucosal samples,
the diffuse/ null pattern was often associated

Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh

201


Thông Tin Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011

đến thể TP53 wild-type. Để giải thích kết quả
này, số bản sao MDM2 được đánh giá bằng
dữ liệu từ phương pháp array CGH. Trong
tổng số 22 ca tìm đột biến TP53, MDM2 cho
thấy mất số lượng bản sao trong 10/14 ca ở
dòng TP53 wild-type và 1/8 ca ở dòng đột
biến TP53 (P=0,0237) .


with wild-type TP53. In order to explain this
finding, the MDM2 copy number was
examined using array CGH data. Of a total of
22 samples assessed for TP53 mutation
analysis, MDM2 showed copy-number loss in
10 of the 14 samples with wild-type TP53 and 1
of the 8 samples with TP53 mutation (P =
0.0237).

Hình 2:

BÀN LUẬN
Trong TUBs trong niêm, CGH NST cho

202

DISCUSSION
In intramucosal TUBs, chromosomal CGH

Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011

Thông Tin Y học

thấy 8q và/hoặc 17p+ có tần suất với 3/10 khối
u được phân tích; biến đổi này thường gặp hơn
ở một nghiên cứu trước đây sử dụng phương

pháp đánh dấu đoạn mồi ngẫu nhiên(16). Trong
nghiên cứu này, 8q+ thường được phát hiện
trong cả ung thư trong niêm (7/10) và ung thư
xâm lấn (7/15); tuy nhiên, dữ liệu trước đây
được đề cập ở trên hiếm khi cho thấy có 8q+.
Sự không thống nhất này có thể phản ánh do
dùng phương pháp đánh dấu khác nhau; kết
quả CGH với phương pháp đánh dấu nicktranslation hoặc đánh dấu mồi ngẫu nhiên so
với tín hiệu FISH, cho thấy nick- translation
không thường gặp phải tình huống dương tính
giả (24). Tuy nhiên, khi dùng một cách đánh
dấu, sự khác biệt giữa xuất độ 4q+ và 11q+
trong ung thư sớm và ung thư tiến triển là
đáng kể, có thể phản ánh sự khác biệt về dòng
gen giữa 2 nhóm. Dữ liệu từ CGH NST trong
ung thư tiến triển trong nghiên cứu này phù
hợp với dự liệu CGH NST trước đó với
phương pháp đánh dấu nick-translation trong
ung thư tiến triển (ví dụ 17p- và 8q+ khá
thường gặp).

revealed 8q and/or 17p+ at a frequency of 3 out
of 10 tumours examined;these changes were
more common in a previous study that used
random priming labelling [18]. In the present
study, 8q+ was frequently detected both in
intramucosal cancers (7/10) and in invasive
cancers (7/15); however, the above-mentioned
previous data rarely showed 8q+. These
discrepancies may reflect differences in the

labelling methods used; CGH results with nick
translation labelling or random priming
labelling were compared to FISH signals, and it
was found that nick translation labelling not
infrequently showed false-positive gains [26].
However, using the same labelling conditions,
significant differences in the incidence of 4q+
and 11q+ were detected between early and
advanced
cancers,
possibly
reflecting
differences in genetic lineages between them.
Chromosomal CGH data of advanced cancers
in this study were consistent with previous
chromosomal CGH data obtained with nick
translation labelling for advanced GCs (i.e. 17pand 8q+ were quite common) [27-30].

Mặc dù về mặt lâm sàng, có thể nhận thấy
ung thư sớm là tiền đề diễn tiến đến ung thư
tiến triển, vùng trong niêm và vùng xâm lấn
của TUBs tiến triển thường hay cho thấy số
lượng bản sao trái ngược ở MYC và TP53 trong
nghiên cứu này: MYC- và TP53+ trong 5/6 mẫu
niêm mạc, cũng thường gặp như là mẫu ung
thư trong niêm được khảo sát, và MYC+
và/hoặc TP53- trong 5/6 mẫu vùng xâm lấn.
Hơn nữa, dựa trên toàn bộ kiểu array CGH ở
vùng niêm mạc và xâm lấn, dòng đột biến gen
không liên tục được tìm thấy trong 5/6 ung thư

tiến triển. Vì vậy, nghiên cứu cho thấy rằng các
dòng u trong vùng niêm của ung thư tiến triển
không phải là tiền đề của vùng xâm lấn, mà là
của ung thư trong niêm tối thiểu mà có thể
cùng kết hợp với ung thư xâm lấn. Nhiều loại
ung thư tối thiểu đã được ghi nhận là thường
gặp hơn trong TUB so với GC không biệt hóa.
Trong TUB tiến triển, tiền đề của thành phần
xâm lấn trong vùng niêm có thể bị mất đi do

Although clinically discernible early cancers
are generally considered the precursors of
advanced cancers [5,6], the intramucosal and
invasive parts of advanced TUBs often showed
discordant copy numbers of MYC and TP53 in
this study: MYC- and TP53+ in 5 of the 6 sam- ples
of the mucosal parts, as commonly as in the
intramucosal cancers examined, and MYC+
and/or TP53- in 5 of the 6 samples of the invasive
parts. In addition, based on the overall array CGH
pattern of the mucosal and invasive parts of
tumours, a discontinuous genetic lineage was
found in 5 of the 6 advanced cancers. Therefore, it
appears that the tumour clones in the mucosal
parts of the advanced cancers were not precursors
of the invasive part, but minute intramucosal
cancers that probably coexisted with the invasive
cancers. It has been reported that multiple minute
cancers are more common in TUBs than in
undifferentiated-type GCs [31]. In advanced

TUBs, the intramucosal precursor of an invasive
component might have been lost due to ulceration

Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh

203


Thông Tin Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011

hiện tượng loét tróc trong khối, hoặc tiền đề
của ung thư không được khảo sát do vùng này
không đồng thời có cùng độ mô học với vùng
không điển hình thấp nhất, so với vùng niêm
của GC xâm lấn được đánh giá ở trong nghiên
cứu này.

in the tumour, or the precursor was not examined
because it did not coincide with the part of the
lowest grade of atypism, to which the examination
of the mucosal part of invasive GCs was confined
in the present study.

Bảng 3

204

Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh



Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011

Thông Tin Y học

Hình 3: Các kiểu đột biến TP53

Hình 4: Liên quan giữa nhuộm hóa mô miễn dịch, số lượng copy của TP53 và độ biến điểm của TP53.
Nói một cách khác, trong ung thư dưới
niêm, dòng đột biến gen biểu hiện liên tục
được tìm thấy ở cả 3 trường hợp ung thư
dưới niêm được khảo sát. Nguyên nhân có
thể vì phần niêm mạc vẫn còn lại trong GC
sớm và vì tiền đề của thành phần xâm lấn
trong niêm mạc cho thấy mức không điển
hình thấp nhất và không bị loại trừ khỏi
trong phân tích bằng chip. Những vùng niêm
mạc và xâm lấn có những vùng chung có số
bản sao thay đổi với những điểm gãy phù
hợp, và hầu hết những thay đổi trong vùng
niêm bao hàm cả thay đổi trong vùng xâm
lấn. Ở mức độ gen, số lượng bản sao của
MYC và TP53 phù hợp giữa vùng niêm và
dưới niêm trong 2/3 ung thư dưới niêm.
Kiểu TP53- và/hoặc MYC+ không chỉ phát
hiện trong vùng xâm lấn của 1 trong những
loại ung thư dưới niêm và hầu hết ung thư tiến

Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh


On the other hand, in submucosal cancers, a
continuous genetic lineage was found in all the 3
submucosal tumours examined. It may be
because the mucosal part is basically retained in
early GCs and because the mucosal precursor of
an invasive component showed the lowest grade
of atypism and was not excluded from the
present array analyses. The mucosal and invasive
parts had common regions of copy number
aberrations with concordant breakpoints, and
most of the changes in the mucosal part were
included in those of the invasive part. At the gene
level, the copy numbers of MYC and TP53 were
consistent between the mucosal and submucosal
parts in 2 of the 3 submucosal cancers.

The TP53- and/or MYC+ pattern was detected
not only in the invasive parts of 1 of the
submucosal cancers and most of the advanced

205


Thông Tin Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011

triển, mà còn trong 3/13 ung thư trong niêm.
Trong những trường hợp này, nhuộm HMMD

p53 cho thấy kiều biểu hiện lan tỏa hoặc không
biểu hiện (đột biến) (Bảng 1 và 3), gợi ý rằng
TP53- có thể phản ánh LOH và là hệ lụy là
TP53 wild-type bị bất hoạt. Phân tích giải trình
tự tìm các đột biến thường gặp của gen TP53
cho thấy đột biến bán hợp tử (ví dụ đột biến và
LOH) được phát hiện trong mẫu niêm của 1/3
ca ung thư trong niêm và 1 ca dưới niêm với
kiểu TP53-, cũng như vùng xâm lấn của 4 ca
ung thư tiến triển có ý nghĩa khi phân tích đột
biến TP53. Dạng TP53 wild-type không hoạt
động này, có thể gây nên tình trạng không bền
vững của gen, thường được báo cáo trong GC
tiến triển(13,15). Locus của gen MYC cũng được
biết thường cho thấy số lượng bản sao tăng
hoặc khuếch đại trong các ung thư tiến triển
khác (31). MYC+/TP53- có thể được coi là dấu
hiệu của GC tiến triển.

cancers but also in 3 of the 13 intramucosal
cancers.
In
these
tumours,
p53
immunohistochemistry showed a diffuse or null
(mutation) pattern (Tables 1 and 3), suggesting
that the TP53- may reflect LOH and the resultant
inactivation of wild-type TP53. Sequencing
analyses of the mutation hot spots of TP53 have

demonstrated that hemizygous mutations (i.e.
mutation and LOH) were detected in the mucosal
samples of 1 of the 3 intramucosal cancers and 1
submucosal cancer with a TP53- pattern, as well as
the invasive parts of the 4 advanced cancers that
were informative for TP53 mutation analysis. Such
inactivation of wild-type TP53, which may cause
further genomic instability, has been frequently
reported in advanced GCs [15,17]. The MYC gene
locus is also known to frequently show copy-number gains or amplifications in various advanced
cancers [32]. MYC+/TP53- may thus be justified as
the signature of aggressive GC.

Nghiên cứu cũng cho thấy rằng LOH cũng
như đột biến của TP53 thường gặp hơn trong GC
tiến triển so với GC sớm(15,32) và tương tự như vậy
với GC sớm, đột biến TP53 thường gặp hơn trong
TUB dưới niêm so với TUB trong niêm(33,34).
Khuynh hướng này cũng tìm thấy trong nghiên
cứu, nhưng phân tích đột biến chỉ ra những các
đột biến thường gặp không tìm thấy ở vùng niêm
mạc của u, trừ trường hợp 1 ca ung thư trong
niêm (#M12). Hơn nữa, số bản sao MDM2 mất đi
có vai trò trong thoái hóa p53 (35), liên quan đến
biểu hiện quá mức p53 dạng lan tỏa trong trường
hợp không có đột biến TP53. Hiện tượng này ít
khi được ghi nhận, nhưng có thể là một trong
những cơ chế biểu hiện quá mức của p53 trong
GC sớm.


It has been reported that LOH as well as
mutations of TP53 are more frequently detected in
advanced GCs than in early GCs [17,33], and that,
within early GCs, TP53 mutations are more
frequently detected in submucosal TUBs than in
intramucosal TUBs [34,35]. This tendency was
also observed in the present study, but mutation
analyses indicated that hot spot mutations were
not detected in the mucosal part of the tumours,
except in 1 intramucosal cancer (#M12). In
addition, copy-number loss of MDM2, which
plays a role in p53 degradation [36], correlated
with diffuse p53 overexpression in the absence of
a TP53 mutation. This phenomenon is scarcely
reported, but could be one of the mechanisms of
p53 overexpression in early GCs.

Trong ung thư sớm, có thể có những thành
phần xâm lấn và tiến triển âm thầm cũng như
thành phần tiền đề thật sự cho ung thư tiến
triển. Trong những ung thư sớm được khảo sát
ở nghiên cứu này, vùng xâm lấn của một u
(#S3) và 3 ung thư trong niêm (#M11, #M12 và
#M13) cho thấy dấu hiệu ung thư xâm lấn
(MYC+ và/hoặc TP53-) và những đột biến

In early cancers, there may be dormant and
invasive components as well as true precursors
of advanced cancers. Among the early cancers
examined in the present study, an invasive part

of 1 tumour (#S3) and 3 intramucosal cancers
(#M11, #M12 and #M13) showed the signature
of aggressive cancer (MYC+ and/or TP53-) and
frequent mutations of TP53; however, in 1

206

Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011

Thông Tin Y học

thường gặp của TP53; tuy nhiên, trong 1 ca
ung thư dưới niêm (#S1), vùng xâm lấn cho
thây dấu hiệu tiến triển âm thầm (MYC/TP53+). Ung thư dưới niêm với dấu hiệu tiến
triển âm thầm có thể khu trú ở niêm mạc trong
một thời gian dài, và vì vậy, ung thư sẽ dễ
được phát hiện sớm trên lâm sàng ở thể ung
thư dưới niêm. Tuy nhiên, để tận gốc điều trị
ung thư tiến triển, ung thư sớm với dấu hiệu
ung thư tiến triển phải được phát hiện, như u
#S3 và #M11 - #M13. Nếu giả thuyết về những
chỉ điểm cho ung thư tiến triển và âm thầm
được khảo sát them bằng nghiên cứu số lượng
lớn, sự khác biệt giữa 2 dấu hiệu có thể được
ứng dụng trên cả các mẫu sinh thiết dạ dày.

submucosal cancer (#S1), the invasive parts

showed the signature of dormant cancer
(MYC-/TP53+). Submucosal cancers with the
signature of dormant cancer may be in the
submucosa for a long time, and therefore, they
provide a greater opportunity for clinical
detection as submucosal cancers. However, in
order to eradicate advanced cancers, early
cancers with the signature of aggressive cancer
must be detected, such as tumours #S3 and
#M11-#M13. If this hypothesis of dormant and
aggressive signatures is confirmed by studies
with a larger number of cases, the
differentiation between the 2 signatures can be
applied to gastric biopsy specimens.

KẾT LUẬN

CONCLUSIONS

Phương pháp phân tích dựa trên array
CGH đã chứng minh về số lượng các bản sao
gen MYC và TP53 có khả năng rõ rệt trong việc
phân biệt giữa các dòng gen trong từng TUB
dạ dày. Nghiên cứu này cho thấy các dòng đột
biến thường khác nhau giữa TUB sớm và tiến
triển, và MYC-/TP53+ và MYC+ và/hoặc TP53có thể là dấu hiệu chỉ điểm tương ứng cho TUB
âm thầm và tiến triển ở dạ dày.

These array CGH-based analyses have
demonstrated that the copy numbers of MYC and

TP53 have high discriminative power for
differentiation between genetic lineages in
individual gastric TUBs. This study has shown
that genetic lineages are often different between
early and advanced TUBs and that MYC-/TP53+
and MYC+ and/ or TP53- may be signatures of
dormant and aggressive TUBs, respectively, in the
stomach.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.

3.

4.
5.

6.

7.

Crew KD, Neugut AI: Epidemiology of gastric cancer. World J
Gastroenterol 2006, 12:354-362.
Lauren P: The two histological main types of gastric carcinoma:
diffuse and so-called intestinal-type carcinoma. An attempt at a
histo-clinical classification. Acta Pathol Microbiol Scand 1965,
64:31-49.
Carneiro F: Classification of gastric carcinomas. Curr Diagn
Pathol 1997, 4:51-59. Jass JR: Tumour of the stomach. In Oxford

Textbook of Pathology Edited by: McGee JO'D, Isaacson PG,
Wright NA. Oxford: Oxford University Press; 1992:1165-1173.
Tsukuma H, Mishima T, Oshima A: Prospective study of "early"
gastric cancer. Int J Cancer 1983, 31:421-426.
Tsukuma H, Oshima A, Narahara H, Morii T: Natural history of
early gastric cancer: a non-concurrent, long term, follow up
study. Gut 2000, 47:618-621.
Hirota T, Ming SC, Itabashi M: Pathology of early gastric cancer.
In Gastric Cancer Edited by: Nishi M, Ichikawa H, Nakajima T,
Maruyama K, Tahara E. Tokyo: Springer-Verlag; 1993:66-87.
Sawada T, Nakata T, Takasugi N, Maeda K, Hanawa Y, Shimizu
K, Hirayama M, Takeda T, Mori T, Koide R, Tsunoda A,
Nagahara N, Yamamoto K: Mass screening for neuroblastoma in
infants in Japan. Interim report of a mass screening study group.
Lancet 1984, 2(8397):271-273.

Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh

8.

9.

10.

11.

12.

13.


Sawada T, Sugimoto T, Tanaka T, Kawakatsu H, Ishii T,
Matsumura T, Horii Y: Number and cure rate of neuroblastoma
cases detected by the mass screening program in Japan: future
aspects. Med Pediatr Oncol 1987, 15:14-17.
Murphy SB, Cohn SL, Craft AW, Woods WG, Sawada T,
Castleberry RP, Levy HL, Prorok PC, Hammond GD: Do
children benefit from mass screening for neuroblastoma?
Consensus Statement from the American Cancer Society
Workshop on Neuroblastoma Screening. Lancet 1991,
337(8737):344-6.
Kaneko Y, Kanda N, Maseki N, Sakurai M, Tsuchida Y, Takeda
T, Okabe I, Sakurai M: Different karyotypic patterns in early and
advanced stage neuroblastomas. Cancer Res 1987, 47:311-318.
Kaneko Y, Kobayashi H, Watanabe N, Tomioka N, Nakagawara
A: Biology of neuroblastomas that were found by mass
screening at 6 months of age in Japan. Pediatr Blood Cancer 2006,
46:285-291.
Ullmann R, Bongiovanni M, Halbwedl I, Fraire AE, Cagle PT,
Mori M, Papotti M, Popper HH: Is high-grade adenomatous
hyperplasia an early bronchioloalveolar adenocarcinoma? J
Pathol 2003, 201:371-376.
Sugihara H, Hattori T, Fukuda M, Fujita S: Cell proliferation and
differentiation in intramucosal and advanced signet ring cell
carcinomas of the human stomach. Virchows Arch A Pathol Anat
Histopathol 1987, 411:117-127.

207


Thông Tin Y học

14.

15.

16.

17.

18.

19.

20.

21.

22.

23.

24.

25.

26.

208

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011


Peng DF, Sugihara H, Mukaisho K, Tsubosa Y, Hattori T:
Alterations of chromosomal copy number during progression of
diffuse-type gastric carcinomas: metaphase- and array-based
comparative genomic hybridization analyses of multiple samples
from individual tumours. J Pathol 2003, 201:439-450.
Peng DF, Sugihara H, Mukaisho K, Ling ZQ, Hattori T: Genetic
lineage of poorly differentiated gastric carcinoma with a tubular
component analysed by comparative genomic hybridization. J
Pathol 2004, 203:884-895.
Yoshimura A, Sugihara H, Ling ZQ, Peng DF, Mukaisho K,
Fujiyama Y, Hattori T: How wild-type TP53 is inactivated in
undifferentiated-type gastric carcinomas: analyses of
intratumoral heterogeneity in deletion and mutation of TP53.
Pathobiology 2006, 73:40-49.
Kushima R, Mukaisho K, Tshukashita S, Peng D, Sugihara H,
Vieth M, Stolte M, Hattori T: Molecular biological characteristics
of early stomach adenocarcinomas of the completely gastric
phenotype revealed by laser capture microdissection and
comparative genomic hybridization. Stomach and Intestine
(Tokyo) 38:707-721.
Japanese Gastric Cancer Association: Japanese Classification of
Gastric Carcinoma - 2nd English Edition -. Gastric Cancer 1998,
1:10-24.
Kamitani S, Sugihara H, Shiomi H, Tani T, Hattori T:
Intratumoral regional variations in copy number of the
chromosomal part revealed by microdissection and combined
ploidy and comparative genomic hybridization analyses in
esophageal squamous cell carcinoma. Cancer Genet Cytogenet
2002, 132:30-35.
Little SE, Vuononvirta R, Reis-Filho JS, Natrajan R, Iravani M,

Fenwick K, Mackay A, Ashworth A, Pritchard-Jones K, Jones C:
Array CGH using whole genome amplification of fresh-frozen
and formalin-fixed, paraffin-embedded tumor DNA. Genomics
2006, 87:298-306.
Okada K, Sugihara H, Bamba M, Bamba T, Hattori T: Sequential
numerical changes of chromosomes 7 and 18 in diffuse-type
stomach cancer cell lines: combined comparative genomic
hybridization, fluorescence in situ hybridization, and ploidy
analyses. Cancer Genet Cytogenetl 2000, 118:99-107.
Ohue M, Tomita N, Monden T, Fujita M, Fukunaga M, Takami
K, Yana I, Ohnishi T, Enomoto T, Inoue M, Shimano T, Mori T:
A frequent alteration of p53 gene in carcinoma in adenoma of
colon. Cancer Res 1994, 54:4798-4804.
Zhou X, Mok SC, Chen Z, Li Y, Wong DTW: Concurrent
analysis of loss of heterozygosity (LOH) and copy number
abnormality (CAN) for oral premalignancy progression using
the Affymetrix 10K SNP mapping array. Hum Genet 2004,
115:327-330.
Melcher R, Al-Taie O, Kudlich T, Hartmann E, Maisch S,
Steinlein C, Schmid M, Rosenwald A, Menzel T, Scheppach W,
Luhrs H: SNP-Array genotyping and spectral karyotyping
reveal uniparental disomy as early mutational event in MSS- and
MSI-colorectal cancer cell lines. Cytogenet Genome Res 2007,
118:214-221.
Tsubosa Y, Sugihara H, Mukaisho K, Kamitani S, Peng DF, Ling
ZQ, Tani T, Hattori T: Effects of degenerate oligonucleotideprimed polymerase chain reaction amplification and labeling
methods on the sensitivity and specificity of metaphase- and
array-based comparat.
Sakakura C, Mori T, Sakabe T, Ariyama Y, Shinomiya T, Date K,
Hagiwara A, Yamaguchi T, Takahashi T, Nakamura Y, Abe T,


27.

28.

29.

30.

31.

32.

33.

34.

35.

36.

Inazawa J: Gains, losses, and amplifications of genomic materials
in primary gastric cancers analyzed by comparative genomic
hybridization. Genes Chromosomes Cancer 1999, 24:299-305.
Guan XY, Fu SB, Xia JC, Fang Y, Sham JS, Du BD, Zhou H, Lu S,
Wang BQ, Lin YZ, Liang Q, Li XM, Du B, Ning XM, Du JR, Li P,
Trent JM: Recurrent chromosome changes in 62 primary gastric
carcinomas detected by comparative genomic hybridization.
Cancer Genet Cytogenetl 2000, 123:27-34.
Kamitani S, Sugihara H, Shiomi H, Tani T, Hattori T:

Intratumoral regional variations in copy number of the
chromosomal part revealed by microdissection and combined
ploidy and comparative genomic hybridization analyses in
esophageal squamous cell carcinoma. Cancer Genet Cytogenet
2002, 132:30-35.
Koo SH, Kwon KC, Shin SY, Jeon YM, Park JW, Kim SH, Noh
SM: Genetic alterations of gastric cancer: comparative genomic
hybridization and fluorescence In situ hybridization studies.
Cancer Genet Cytogenet 2000, 117:97-103.
Kong G, Oga A, Park CK, Kawauchi S, Furuya T, Sasaki K: DNA
sequence copy number aberrations associated with histological
subtypes and DNA ploidy in gastric carcinoma. Jpn J Cancer Res
2001, 92:740-747.
Hirota T, Itabashi M, Suzuki K, Yoshida S: Clinicopathologic
study of minute and small early gastric cancer. Histogenesis of
gastric cancer. Pathol Annu 1980, 15(Pt 2):1-19.
Knuutila S, Björkqvist AM, Autio K, Tarkkanen M, Wolf M,
Monni O, Szymanska J, Larramendy ML, Tapper J, Pere H, ElRifai W, Hemmer S, Wasenius VM, Vidgren V, Zhu Y: DNA
copy number amplifications in human neoplasms: review of
comparative genomic hybridization studies. Am J Pathol 1998,
152:1107-1123.
Chung YJ, Choi JR, Park SW, Kim KM, Rhyu MG: Evidence for
two modes of allelic loss: multifocal analysis on both early and
advanced gastric carcinomas. Virchows Arch 2001, 438:31-38.
Sugai T, Habano W, Uesugi N, Jao YF, Nakamura S, Abe K,
Takagane A, Terashima M: Three independent genetic profiles
based on mucin expression in early differentiated-type gastric
cancers--a new concept of genetic carcinogenesis of early
differentiated-type adenocarcinomas. Mod Pathol 2004, 17:12231234.
Tajima Y, Yamazaki K, Makino R, Nishino N, Aoki S, Kato M,

Morohara K, Kaetsu T, Kusano M: Gastric and intestinal
phenotypic marker xpression in early differentiated-type tumors
of the stomach: clinicopathologic significance and genetic
background. Clin Cancer Res 2006, 12:6469-6479.
Moll UM, Petrenko O: The MDM2-p53 interaction. Mol Cancer
Res 2003, 1:1001-1008.

Dịch từ http://www.biomedcentral.com/14712407/10/311: Nakayama et al. BMC Cancer 2010,
10:311.
Người dịch: BS Võ Thị Ngọc Diễm
Hiệu đính:

TS. Đỗ Thị Thanh Thủy
TS. Hoànng Anh Vũ

Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011

Thông Tin Y học

STUDYING SOME MORPHOPATHOLOGICAL CHARACTERISTICS OF MAXILLARY- PARANASAL SINUS
CANCERS................................................................................................................. Error! Bookmark not defined.
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 15 - Supplement of No 2 - 2011: 8 - 13 .................. Error! Bookmark not defined.
ANALYSIS OF H-RAS GENE MUTATION, P53, MDM2 AND KI-67 IN ORAL CANCER...... Error! Bookmark not
defined.
Nguyen Thi Hong....................................................................................................... Error! Bookmark not defined.
EXPRESSION OF HER2 PROTEIN IN GASTRIC ADENOCARCINOMAS............ Error! Bookmark not defined.
Nguyen Van Thanh, Lam Thanh Cam ...................................................................... Error! Bookmark not defined.

EVALUATION OF HER-2/NEU OVEREXPRESSION IN GASTRIC CANCER PATIENTS... Error! Bookmark not
defined.
Le Viet Nho, Tran Van Huy, Dang Cong Thuan, Ta Van To..................................... Error! Bookmark not defined.
EXPRESSION OF KI-67 IN COLORECTAL ADENOCARCINOMA........................ Error! Bookmark not defined.
Phan Dang Anh Thu, Hua Thi Ngoc Ha, Nguyen Sao Trung.................................... Error! Bookmark not defined.
EXPRESSION OF EGFR AND CORRELATION WITH Ki-67 EXPRESSTION IN COLORECTAL
ADENOCARCINOMA ............................................................................................... Error! Bookmark not defined.
Phan Dang Anh Thu*, Hua Thi Ngoc Ha*, Nguyen Sao Trung* ................................. Error! Bookmark not defined.
DETECTION OF KIT MUTATIONS IN GASTROINTESTINAL STROMAL TUMORS BY DNA SEQUENCING
................................................................................................................................... Error! Bookmark not defined.
Hoàng Anh Vũ, Hoàng Đức Trình, Ngô Quốc Đạt, Hứa Thị Ngọc Hà........................ Error! Bookmark not defined.
LINEAGE ANALYSIS OF EARLY AND ADVANCED TUBULAR ADENOCARCINOMAS OF THE STOMACH:
CONTINUOUS OR DISCONTINUOUS?...............................................................................................................192
Takahisa Nakayama1, Zhi-Qiang Ling1,2, Ken-ichi Mukaisho1, Takanori Hattori1 and Hiroyuki Sugihara*1.......192

Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh

209



×