Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

Kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống HIV/AIDS của người dân 20‐39 tuổi tại tỉnh Tây Ninh, 2012

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (358.55 KB, 6 trang )

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 

Nghiên cứu Y học

 

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH VỀ PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS 
CỦA NGƯỜI DÂN 20‐39 TUỔI TẠI TỈNH TÂY NINH, 2012 
Biện Văn Tư*, Đặng Văn Chính** 

TÓM TẮT 
Đặt  vấn  đề:  Đến năm 2012, tỉnh Tây Ninh ghi nhận 6.100 người nhiễm HIV, trong đó 1.096 người tử 
vong. Đa số người dân sống ở vùng sâu, vùng biên giới, những nơi còn nhiều khó khăn trong quản lý, hỗ trợ về 
y tế, an ninh xã hội. Do vậy, nghiên cứu được thực hiện nhằm định hướng cho việc triển khai các hoạt động can 
thiệp phù hợp với nhu cầu của người dân. 
Mục  tiêu  nghiên  cứu:  Xác định tỷ lệ kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan trong phòng 
chống HIV/AIDS của người dân trong độ tuổi 20‐39.  
Phương  pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả dựa trên phỏng vấn trực tiếp 600 người. 
Kết quả: Tỷ lệ người dân có kiến thức, thái độ, thực hành tốt về phòng chống HIV/AIDS là 28,7%, 35,8% 
và 72,3%. Có mối liên quan giữa kiến thức phòng chống HIV/AIDS, thái độ khi người thân nhiễm HIV, thực 
hành phòng lây truyền HIV qua đường tình dục với nơi cư trú, giữa kiến thức, thực hành với học vấn. 
Kết luận: Tỷ lệ người dân có kiến thức, thái độ, thực hành tốt về phòng chống HIV/AIDS còn thấp. Vì thế 
cần điều chỉnh thông điệp truyền thông và định hướng can thiệp cho phù hợp với từng nhóm đối tượng ở từng 
địa phương. 
Từ khóa:Kiến thức, thái độ, thực hành, HIV/AIDS. 

ABSTRACT 
KNOWLEDGE, ATTITUDE, AND PRACTICE RELATED TO CONTROLLING HIV/AIDSAMONG 
PEOPLE AGE 20‐39 YEARS IN TAY NINH PROVINCE, 2012 
Bien Van Tu, DangVan Chinh 
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 51 – 56 


Background:  In 2012, Tay Ninh province reported6,100HIV infected people, of whom 1,096 cases died of 
AIDS. Most of people was living in remote and boder areas where had been difficult in management and support 
on medical and social security. Therefore, the study was conducted to orient the intervention activities that would 
appropriate to the needs of people. 
Objectives:  To determine the rate of knowledge, attitude, practice of residents among age20‐39 years and 
factors related to the prevention of HIV/AIDS. 
Methods: This was a cross‐sectional study of the KAP of HIV/AIDS provention among 600 residents in Tay 
Ninh province. 
Result:  The proportions of people with good KAP of HIV/AIDS  prevention  were 28.7%, 35.8%, 72.3%, 
respectively.There was a significant relationship between knowledge of HIV/AIDS prevention, attitute to people 
living with HIV, practice to prevent HIV transmission through sexual contact and residence, betweenknowledge, 
practice and education. 
Conclution: The proportions of people with good KAP of HIV/AIDS prevention were still low. Therefore, 
communication needs to be adjusted and intervention needs to be oriented to suit each group of residents.  
*

 Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh Tây Ninh 

Tác giả liên lạc: BS. CKI. Biện Văn Tư  

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 

** Viện Y tế công cộng TP. HCM 

ĐT: 0918434666 

Email: bienvantu@gmail.com 

51



Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

 
Key words: Knowledge, attitude, practice,HIV/AIDS. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 
Đến nay, HIV/AIDS vẫn là một trong những 
thách  thức  về  y  tế  nghiêm  trọng  nhất  trên  thế 
giới. Tính đến cuối năm 2011, trên thế giới đã có 
34  triệu  người  nhiễm  HIV,  2,5  triệu  ca  nhiễm 
HIV mới, 1,7 triệu người chết vì AIDS(1). 
Ở nước ta, từ trường hợp đầu tiên phát hiện 
năm 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh, đến năm 
2012, cả nước có 210.703 người nhiễm HIV/AIDS 
còn  sống;  có  61.669  bệnh  nhân  AIDS  và  63.372 
người  đã  tử  vong(1).  Những  người  nhiễm  HIV 
phân bố tại hơn 77% số xã/phường/thị trấn, gần 
98%  quận/huyện  và  63/63  tỉnh/thành  phố(1). 
Riêng  tỉnh  Tây  Ninh,  đã  phát  hiện  2.985  người 
nhiễm  HIV,  2.019  người  chuyển  sang  giai  đoạn 
AIDS và 1.096 người HIV tử vong. Sự phân bố tỷ 
lệ hiện nhiễm HIV chuyển di từ nhóm có nguy 
cơ cao như nghiện chích ma túy, mại dâm, người 
có  quan  hệ  tình  dục  (QHTD)  đồng  giới  nam 
sang nhóm đối tượng có nguy cơ thấp hơn như 
phụ nữ mang thai, thanh niên khám tuyển nghĩa 
vụ quân sự, và tập chung chủ yếu ở nhóm tuổi 

20‐39 tuổi(6). 
Tỉnh Tây Ninh có 8 huyện và 1 thị xã, trong 
đó có đến 5 huyện giáp biên giới Campuchia. Đa 
số người dân sống ở vùng nông thôn, vùng sâu, 
vùng  xa,  vùng  biên  giới(2).  Sự  phức  tạp  và  khó 
khăn trong quản lý cũng như hỗ trợ về y tế, an 
ninh xã hội ở những huyện/thị giáp biên giới là 
một vấn đề ảnh hưởng rất nhiều đến người dân 
sống ở địa bàn này. Nhằm định hướng cho việc 
triển  khai  hoạt  động  cũng  như  can  thiệp  trong 
giai đoạn sắp tới, việc đánh giá kiến thức ‐ thái 
độ  ‐  thực  hành  về  phòng  chống  HIV/AIDS  của 
người dân trong độ tuổi từ 20 đến 39 tuổi tại tỉnh 
Tây Ninh là rất cần thiết. 

Mục tiêu nghiên cứu 
Xác định tỷ lệ kiến thức ‐ thái độ‐ thực hành 
trong  việc  phòng  chống  HIV/AIDS  củangười 
dân trong độ tuổi từ 20‐39 tuổi tại tỉnh Tây Ninh. 

52

Xác  định  mối  liên  quan  giữa  tuổi,  giới  tính, 
trình độ học vấn, nơi cư trú với các tỷ lệ người 
dân trong độ tuổi từ 20‐39 tuổi tại tỉnh Tây Ninh 
có  kiến  thức,  có  thái  độ  tích  cực  và  thực  hành 
trong việc phòng chống HIV/AIDS. 

ĐỐI  TƯỢNG ‐ PHƯƠNG  PHÁP  NGHIÊN  CỨU 
Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên cỡ mẫu 600 

người  trong  độ  tuổi  20‐39  tại  tỉnh  Tây  Ninh  từ 
01/06/2012 – 31/12/2012. Chọn mẫu nhiều bậc, có 
4  địa  điểm  lấy  mẫu  bao  gồm  thị  trấn  Châu 
Thành  và  xã  Thành  Long  thuộc  huyện  Châu 
Thành (giáp biên giới Campuchia), thị trấn Hòa 
Thành  và  xã  Trường  Tây  thuộc  huyện  Hòa 
Thanh. 150 người dân của mỗi địa điểm sẽ chọn 
bằng  phương  pháp  ngẫu  nhiên  hệ  thống  để 
phỏng  vấn  trực  tiếp  dựa  trên  bảng  câu  hỏi  đã 
được  thiết kế sẵn.  Số  liệu  sau  thu thập sẽ  được 
kiểm tra tính chính xác và tính hoàn thiện nhằm 
đảm bảo chất lượng. Số liệu được nhập liệu vào 
phần  mềm  Epidata,  xử  lý  dữ  liệu  bằng  phần 
mềm Stata. Kết quả được mô tả theo tần số, tỷ lệ, 
trung bình và PR khi thích hợp. 

KẾT QUẢ 
Bảng1: Đặc tính của đối tượng nghiên cứu (n=600) 
Đặc tính
Nam
Giới tính
Nữ
20-29 tuổi
Nhóm tuổi
30-39 tuổi
Huyện Hòa Thành
Nơi cư trú
Huyện Châu Thành
≤ Tiểu học
Trung học cơ sở

Học vấn
Trung học phổ thông
Trung học chuyên nghiệp,
CĐ, ĐH
Đã có gia đình
Hôn nhân
Độc thân

Tần số Tỷ lệ (%)
274
45,7
326
54,3
299
49,8
301
50,2
300
50
300
50
122
20,3
240
40,0
143
23,8
95
15,8
419

172

70,9
29,1

Nữ  giới  chiếm  tỷ  lệ  cao  hơn  nam  giới  (54% 
so với 46%). Nhóm tuổi 20‐29 và 30‐39 phân bố 
gần tương đương nhau. Người dân có trình độ 
trung học cơ sở và trung học phổ thông trở lên 
chiếm tỷ lệ gần tương đương nhau khoảng 40%, 

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 

Nghiên cứu Y học

 
trình độ tiểu học ghi nhận ở 20% người dân. Tỷ 
lệ người có gia đình cao gấp 2,4 lần người chưa 
có gia đình. 
Bảng 2: Kênh thông tin tiếp cận (n=600) 
Kênh thông tin
Ti vi
Báo, tạp chí
Đài phát thanh
Cán bộ y tế
Bạn bè
Tranh, áp phích

Tờ rơi, tờ bướm, cuốn sách nhỏ
Các đoàn thể khác

Tần số
497
228
209
178
106
79
77
60

Tỷ lệ (%)
82,8
38,0
34,8
29,7
17,7
13,2
12,8
10,0

Nguồn thông tin về HIV/AIDS phổ biến nhất 
là qua ti vi (83%), cao gấp hơn hai lần qua báo, 
tạp chí (38%) và đài phát thanh (34,8%). 
Bảng 3: Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng 
chống HIV/AIDS (n=600) 
Nội dung
Tần số Tỷ lệ (%)

Kiến thức
49,7
Có kiến thức về 3 đường lây truyền của 298
HIV
172
28,7
Có kiến thức về phòng tránh lây truyền
HIV
94,2
Biết cách thức để biết 1 người có nhiễm 565
HIV hay không
Có thuốc điều trị bệnh HIV/AIDS
Biết tác dụng của thuốc điều trị HIV/AIDS
Có kiến thức về chăm sóc và điều trị
HIV/AIDS
Có kiến thức chung liên quan đến
HIV/AIDS
Thái độ
Có thái độ tích cực khi biết vợ/chồng
hoặc bạn tình nhiễm HIV
Có thái độ tích cực khi biết người thân
nhiễm HIV
Thực hành
Sử dụng BCS khi QHTD với bạn tình
trước hôn nhân (n=300)
Sử dụng BCS khi QHTD với mại dâm
trước hôn nhân (n=122)
Sử dụng BCS khi QHTD với bạn tình sau
hôn nhân (n=52)
Sử dụng BCS khi QHTD với mại dâm sau

hôn nhân (n=42)
Sử dụng BKT riêng khi tiêm chích ma túy
(n=26)

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 

354
468
234

59,0
78,0
39,4

70

11,7

136

33,2

215

35,8

217

72,3


102

83,6

39

75,0

39

92,9

25

96,2

Chỉ  có  gần  50%  người  dân  biết  cả  3  đường 
lây truyền HIV. Tỷ lệ người dân biết cách phòng 
tránh  lây  truyền  HIV  còn  thấp  hơn  (29%).  Thái 
độ  tích  cực  khá  thấp,  lần  lượt  là  33%  khi  biết 
vợ/chồng  hoặc  bạn tình nhiễm  HIV và 36%  khi 
biết người thân nhiễm HIV.  
Tỷ  lệ  người  dân  sử  dụng  bao  cao  su  (BCS) 
khi  QHTD  với  gái  mại  dâm  luôn  cao  hơn  khi 
QHTD  với  bạn  tình  đặc  biệt  là  sau  hôn  nhân. 
Trước hôn nhân tỷ lệ này lần lượt là 84% và 72%. 
Sau hôn nhân lần lượt là 93% và 75%. 

Mối liên quan giữa một số đặc tính của đối 
tượng  nghiên  cứu  với  kiến  thức,  thái  độ, 

thực hành về phòng tránh lây truyền HIV (n 
= 600) 
Có  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  giữa 
kiến  thức  phòng  tránh  HIV  với  nơi  cư  trú 
(PR=0,8; KTC 95%: 0,6‐0,9), với tỷ lệ người dân ở 
huyện Hòa Thành có kiến thức về phòng tránh 
lây truyền HIV là 35%, cao gấp 1,5 lần người dân 
ở huyện Châu Thành (23%). 
Có  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  giữa 
trình  độ  học  vấn  và  kiến  thức  liên  quan  đến 
HIV/AIDS, nhóm người dân có trình độ tiểu học 
được chọn làm nhóm so sánh và thấy có sự khác 
biệt  có  ý  nghĩa  thống  kê  về  cách  thức  phòng 
tránh  HIV/AIDS  với  nhóm  người  dân  có  trình 
độ trên phổ thông trung học (PR=0,6; KTC 95%: 
0,4‐0,8). 
Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa 
nơi cư trú và thái độ về tình trạng nhiễm HIV 
của  bạn  tình  (PR=0,4;  KTC  95%:  0,3‐0,6)  và 
người  thân  (PR=0,4;  KTC  95%:  0,3‐0,5).  Tỷ  lệ 
người dân ở huyện Châu Thành có thái độ tích 
cực khi biết vợ/chồng hoặc bạn tình hiện đang 
sống  chung bị  nhiễm  HIV  là  49%,  cao  gấp  2,9 
lần người dân ở huyện Hòa Thành (17%). Tỷ lệ 
người dân ở huyện Châu Thành có thái độ tích 
cực  khi  biết  người  thân  của  mình  bị  nhiễm 
HIV cao gấp 2,7 lần người dân ở huyện Châu 
Thành (52% so với 19%). 

53



Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

 
Bảng 4: Mối liên quan giữa một số đặc tính của đối 
tượng nghiên cứu với việc thực hành phòng tránh lây 
truyền HIV qua đường tình dục trước hôn nhân với 
đối tượng quan hệ tình dục là bạn tình (n=300) 
Đặc tính

Huyện Hòa
Thành
Huyện Châu
Thành

Quan hệ tình dục
có sử dụng BCS
PR KTC 95%

Không
n (%)
n (%)
Nơi cư trú
177 (77,0) 53 (23,0)
40 (57,1) 30 (42,9)

p


1,28 1,07-1,52 < 0,01

Trình độ học vấn
≤ Tiểu học 29 (55,8) 23 (44,2) 1
1
THCS + PTTH 153 (76,1) 48 (23,9) 0,49 0,31-0,79 < 0,01
Trên PTTH 35 (74,5) 12 (25,5) 0,69 0,48-0,99 0,05

Có  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  giữa 
việc  QHTD  có  sử  dụng  BCS  với  nơi  cư  trú  và 
trình độ học vấn (p≤0,05). 

BÀN LUẬN 
Một số đặc tính của đối tượng nghiên cứu 
Tỷ lệ nam giới và nữ giới gần tương đương 
nhau  và  tương  đương  với  nghiên  cứu  của 
Nguyễn Văn Kính(4). Tỷ lệ người dân ở 2 nhóm 
tuổi 20‐29 tuổi và 30‐39 tuổi tham gia nghiên cứu 
tương  đương  nhau,  nhưng  tỷ  lệ  đối  tượng 
nghiên cứu có độ tuổi từ 20‐29 tuổi thấp hơn so 
với nghiên cứu của Phạm Thị Đào (61,8%) ở các 
học  viên  tại  trung  tâm  05  –  06  thành  phố  Đà 
Nẵng(5).  Điều  này  cho  thấy  phần  nào  sự  khác 
biệt  về  sự  phân  bố  độ  tuổi  trong  trung  tâm  và 
cộng  đồng;  vì  học  viên  trong  trung  tâm,  phần 
lớn nằm trong độ tuổi thanh niên. 
Tỷ lệ người dân có trình độ học vấn ở mức 
trung học cơ sở chiếm tỷ lệ cao nhất (40%), điều 
này  tương  đồng  với  nhiều  nghiên  cứu  và  khảo 

sát  về  HIV/AIDS(3,7). 29%  người  dân trong tình 
trạng độc thân cho thấy có một số người dân có 
thể có quan hệ tình dục không qua hôn nhân, và 
do đó việc QHTD an toàn cần được quan tâm. 

Kênh thông tin về HIV/AIDS 
Đa số người dân có thông tin, kiến thức liên 
quan  đến  HIV/AIDS  chủ  yếu  là  qua  tivi  (83%). 

54

Kênh  thông  tin  qua  các  báo,  đài  phát  thanh  và 
nhân  viên  y  tế  cũng  chiếm  tỷ  lệ  khá  cao  (38%, 
35%  và  30%).  Từ  đó,  ta  thấy  việc  truyền  thông 
đại chúng để cung cấp thông tin, kiến thức liên 
quan  đến  HIV/AIDS  ở  tỉnh  Tây  Ninh  phần  lớn 
tập trung ở nguồn thông tin đại chúng.  

Kiến thức liên quan đến HIV/AIDS 
Gần phân nửa người dân biết HIV có thể lây 
truyền  qua  3  đường  máu,  quan  hệ  tình  dục  và 
mẹ  nhiễm  HIV  truyền  sang  con.  Điều  này  cho 
thấy  sự  ghi  nhớ  chưa  cụ  thể  và  chắc  chắn  của 
người  dân.  Bên  cạnh  đó,  chỉ  có  59%  người  dân 
biết  bệnh  HIV/AIDS  có  thuốc  điều  trị  và  78% 
người  dân  biết  rằng  thuốc  điều  trị  HIV  là  làm 
chậm sự phát triển của vi rút HIV. Sự chênh lệch 
có  thể  được  lý  giải  do  người  dân  nghĩ  điều  trị 
HIV/AIDS  là  điều  trị  hết  bệnh  HIV/AIDS  dẫn 
đến  tỷ  lệ  người  dân  biết  bệnh  HIV/AIDS  có 

thuốc điều trị tương đối thấp. 
Người  dân  được  cho  là  có  kiến  thức  chung 
liên quan đến HIV/AIDS khi họ có kiến thức về 3 
đường  lây  truyền  của  HIV,  có  kiến  thức  về 
phòng  tránh  lây  truyền  HIV,  có  kiến  thức  về 
cách  thức nhận  biết 1 người  có nhiễm  HIV hay 
không  và  có  kiến  thức  về  chăm  sóc  điều  trị 
HIV/AIDS. Qua nghiên cứu, tỷ lệ người dân có 
kiến  thức  chung  12%,  tương  đối  thấp  so  với 
những nghiên cứu khảo sát kiến thức – thái độ ‐ 
thực  hành  liên  quan  đến  HIV/AIDS  khác(3,7,9). 
Mặc  dù  khi  khảo  sát,  tỷ  lệ  người  dân  có  kiến 
thức  về  cách  thức  để  biết  1  người  có  nhiễm  có 
HIV hay không có tỷ lệ rất cao (94%). Tuy nhiên 
tỷ lệ người dân có kiến thức về phòng tránh lây 
nhiễm HIV lại chiếm tỷ lệ thấp (29%). Điều này 
cho  thấy  hầu  hết  người  dân  đều  biết  về 
HIV/AIDS nhưng chưa được trang bị kiến thức 
toàn diện để phòng tránh HIV/AIDS. 

Thái độ liên quan đến HIV/AIDS 
Tỷ lệ người dân có thái độ tích cực với bạn 
tình  nhiễm  HIV  như  không  ly  hôn,  ly  thân  chỉ 
chiếm  33%.  Điều  này  cũng  dễ  hiểu  vì  khi 
vợ/chồng hoặc bạn tình của mình bị nhiễm HIV 
thì  gần  như  đồng  nghĩa  bản  thân  họ  cũng  bị 

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 



Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 

Nghiên cứu Y học

 
nhiễm  HIV  nên  người  dân  sẽ  không  dễ  dàng 
chấp  nhận  tình  trạng  HIV  của  bạn  thân  cũng 
như  của  vợ/chồng  hoặc  bạn  tình,  từ  đó  việc  có 
những hành động, thái độ tích cực sẽ không cao 
như việc không có những hành động tiêu cực.  

97%,  một  tỷ  lệ  tương  đối  cao  về  việc  giảm  lây 
truyền  HIV  qua  đường  tiêm  chích  ma  túy;  do 
đó, cần duy trì và cải thiện thành quả đạt được 
của  việc  giảm  lây  truyền  HIV  qua  đường  tiêm 
chích ma túy.  

Tương tự như thái độ đối với bạn tình nhiễm 
HIV, thái độ tích cực đối với người thân nhiễm 
HIV như không như xa lánh, tránh tiếp xúc, đưa 
đi ở riêng cũng chiếm tỷ lệ khá thấp 36%. Do đó 
cần tăng cường việc tuyên truyền giảm kì thị đối 
với người nhiễm HIV. 

Một số yếu tố liên quan giữa kiến thức, thái 
độ và thực hành phòng chống HIV/AIDS 

Thực hành liên quan đến HIV/AIDS 
Trước  hôn  nhân,  tỷ  lệ  người  dân  sử  dụng 
BCS khi quan hệ tình dục với mại dâm (84%) cao 

hơn  so  với  tỷ  lệ  người  dân  sử  dụng  BCS  khi 
quan  hệ  tình  dục  với  bạn  tình  (72%).  Điều  này 
phản  ánh  nhận  thức  về  việc  an  toàn  tình  dục 
phụ thuộc vào đối tượng quan hệ tình dục, nếu 
đối  tượng  là  nguy  cơ  cao  (mại  dâm)  thì  sẽ  sử 
dụng  BCS  nhiều  hơn.  Bên  cạnh  đó,  tình  cảm 
cũng có thể là yếu tố góp phần vào việc không 
sử  dụng  BCS  khi  QHTD  với  bạn  tình.  Tỷ  lệ 
QHTD với mại dâm trước hôn nhân cao hơn so 
với  nghiên  cứu  của  Trương  Tấn  Minh  (71%)(7). 
Sự  khác  biệt  này  có  thể  do  nghiên  cứu  của 
Trương Tấn Minh tiến hành ở người dân có độ 
tuổi  từ  15  đến  49  so  với  độ  tuổi  từ  20‐39  tuổi 
trong nghiên cứu này. 
Sau hôn nhân, tỷ lệ sử dụng BCS khi QHTD 
cũng có nét tương đồng với việc có QHTD trước 
hôn nhân, đó là tỷ lệ người dân sử dụng BCS khi 
QHTD  với  mại  dâm  (93%)  cao  hơn  so  với  khi 
QHTD với bạn tình và vợ/chồng (75%).  
Sự hiểu biết của người dân về việc sử dụng 
BCS  là  tương  đối  thích  hợp,  nhưng  đại  dịch 
HIV/AIDS  có  chiều  hướng  lan  ra  cộng  đồng(1). 
Do  đó,  công  tác  truyền  thông  cần  có  những 
chuyển  biến  phù  hợp  với  sự  biến  đổi  của  dịch 
HIV/AIDS như tuyên truyền người dân sử dụng 
BCS khi quan hệ tình dục với bạn tình trước và 
sau hôn nhân.  
Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ có sử dụng 
bơm  kim  tiêm  mới  trong  tiêm  chích  ma  túy  là 


Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 

Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa 
nơi  cư  trú  với  kiến  thức  về  phòng  tránh  lây 
truyền  HIV,  thái  độ  tích  cực  khi  biết  bạn 
tình/người thân nhiễm HIV và việc sử dụng BCS 
khi  QHTD  với  bạn  tình.  Điều  này  cho  thấy  sự 
chênh  lệch  về  thông  tin  liên  quan  đến  phòng 
tránh  các  đường  lây  truyền  của  HIV  và  xét 
nghiệm HIV ở 2 nhóm người dân ở huyện Hòa 
Thành  và  huyện  Châu  Thành,  tỉnh  Tây  Ninh; 
huyện  Châu  Thành  là  huyện  giáp  biên  giới 
Campuchia,  những  chương  trình  can  thiệp  khi 
triển  khai  ở  địa  bàn  này  thực  tế  gặp  nhiều  khó 
khăn, một phần do vị trí địa lý, một phần do việc 
lưu  trú  ngắn  ngày  của  người  dân  Campuchia, 
làm cho tình hình địa phương thêm phức tạp(6). 
Đồng thời, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về 
cách  thức  phòng  tránh  HIV/AIDS  với  nhóm 
người dân có trình độ trên phổ thông trung học 
so  với  trình  độ  tiểu  học.  Từ  đó  ta  thấy,  sự  tiếp 
nhận  thông  tin,  kiến  thức  phần  nào  tỷ  lệ  thuận 
với trình độ học vấn.  

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 
Tỷ  lệ  người  dân  có  kiến  thức  về  chăm  sóc 
điều trị HIV/AIDS và kiến thức chung liên quan 
đến HIV/AIDS tương đối thấp. Vì vậy, ngoài sự 
tập trung những thông tin quan trọng khi truyền 
thông,  còn  cần  đến  sự  cung  cấp  thông  tin  một 

cách  toàn  diện,  đầy  đủ  các  khía  cạnh  liên  quan 
đến HIV/AIDS. 
Người dân không có những thái độ tiêu cực 
như  xa  lánh,  cách  ly  khi  vợ/chồng  hoặc  người 
thân bị nhiễm HIV nhưng tỷ lệ người dân có thái 
độ tích cực chăm sóc và động viên, an ủi không 
cao. Do  đó, sự nâng  cao  kiến thức  về  chăm sóc 
điều trị HIV là rất cần thiết 

55


Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

 
HIV/AIDS  của  thanh  thiếu  niên  có  hoàn  cảnh  đặc  biệt  tại 
phường  19  và  22,  quận  Bình  Thạnh.  TP.  HCM.  Y  học  TP. 
HCM. 14 (2) 105‐111. 

Tỷ lệ người dân có sử dụng BCS khi QHTD 
với mại dâm cao hơn khi QHTD với bạn tình và 
với  vợ/chồng.  Điều  này  gợi  ý  sự  lan  rộng  HIV 
qua đường QHTD trong cộng đồng sẽ thuận lợi 
hơn  so  với  qua  đường  máu.  Đây  cũng  là  điểm 
cần  được  chú  trọng  trong  thông  điệp  truyền 
thông. 
Sự khác biệt về một số kiến thức, thái độ và 
thực hành liên quan đến HIV/AIDS ở người dân 

sống tại huyện Hòa Thành và Châu Thành gợi ý 
nội dung và hướng can thiệp phù hợp cho từng 
địa phương. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1.

Bộ  Y  tế  (2013).  Báo  cáo  tổng  kết  công  tác  phòng  chống 
HIV/AIDS năm 2012. Tr. 34‐45. 

2.

Cổng thông tin điện tử tỉnh Tây Ninh (2013). Tổng quan tỉnh 
Tây  Ninh.  http://www.tayninh.gov.vn/gioithieu/Pages/gioi‐
thieu‐chung.aspx. Truy cập ngày 4/5/2013. 

3.

4.

 

56

Hoàng  Huy  Phương,  Lê  Hoàng  Nam,  Tạ  Thị  Lan  Hương 
(2009).Đánh giá kiến thức. thái độ. thực hành về phòng chống 
HIV/AIDS của người dân từ 15 – 49 tuổi ở huyện Hoa Lư và 
thành phố Ninh Bình. tỉnh Ninh Bình. Công trình nghiên cứu 
khoa học về HIV/AIDS giai đoạn 2006 ‐ 2010. Tr. 124‐126. 


5.

Phạm Thị Đào (2009). Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV của 
các học viên nghiện chích ma túy tại trung tâm giáo dục dạy 
nghề 05 ‐ 06 thành phố Đà Nẵng. Công trình nghiên cứu khoa 
học về HIV/AIDS giai đoạn 2006 – 2010. Tr. 742‐743. 

6.

Trung tâm phòng chống AIDS tỉnh Tây Ninh (2013). Báo cáo 
hoạt động phòng chống HIV/AIDS tỉnh Tây Ninh. Tr. 4‐5. 

7.

Trương  Tấn  Minh,  Trần  Văn  Tín,  Nguyễn  Vũ  Quốc  Bình 
(2009). Đánh giá kiến thức, thái độ, hành vi về phòng chống 
nhiễm HIV/AIDS trên người dân 15 – 49 tuổi tại Khánh Hòa. 
Công trình nghiên cứu khoa học về HIV/AIDS giai đoạn 2006 
‐ 2010. Tr. 66‐71. 

8.

UNAIDS  (2011).Global  summary  of  the  AIDS  epidemic. 
Washington DC. Pp. 54‐67. 

9.

Viện  Pasteur  TPHCM  và  Sở  Y  tế  tỉnh  Bến  Tre  (2009).  Kiến 
thức,  thái  độ,  thực  hành  về  phòng  chống  HIV/AIDS  của 
người dân ở huyện Châu Thành và Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. 

Đề tài cấp cơ sở. Viện Pasteur TPHCM. Tr 45‐56. 

 
Ngày nhận bài báo:  

 

 

6/5/2014 

Ngày phản biện nhận xét bài báo:  

10/6/2014 

Ngày bài báo được đăng:  

14/11/2014 

 

 

Nguyễn  Văn  Kính,  Nguyễn  Văn  Lơ,  Nguyễn  Đỗ  Nguyên 
(2009).  Kiến  thức  thái  độ  và  thực  hành  về  phòng  chống 
 

 

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 




×