Tải bản đầy đủ

Biểu hiện protein p53 trong bướu nguyên bào men

Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 2 * 2012

BIỂU HIỆN PROTEIN P53 TRONG BƯỚU NGUYÊN BÀO MEN
Đỗ Thị Thảo*, Đoàn Thị Phương Thảo**, Nguyễn Thị Hồng***

TÓM TẮT
Mở đầu: Protein p53 thường biểu hiện quá mức trong các bướu có nguồn gốc biểu mô, như trong ung thư
tế bào gai niêm mạc miệng ở người Việt Nam thường gặp với tỉ lệ cao. Tuy nhiên, biểu hiện protein p53 trong
bướu nguyên bào men (BNBM) vẫn còn chưa rõ.
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ biểu hiện quá mức protein p53 trong BNBM, và phân tích sự liên quan giữa biểu
hiện protein p53 với các dạng lâm sàng, X quang, giải phẫu bệnh của BNBM.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả và phân tích 33 ca BNBM ở xương hàm dưới
được điều trị tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương năm 2008 và 2009, và khảo sát biểu hiện protein p53
bằng nhuộm hóa mô miễn dịch.
Kết quả: Tỉ lệ biểu hiện quá mức protein p53 trong BNBM là 57,6%; đa số ở mức độ yếu và trung bình.
Biểu hiện quá mức protein p53 thường gặp ở người trên 20 tuổi (64%), ở nam (70%) nhiều hơn nữ (52,2%),
trong bướu dạng đặc (63,2%) cao hơn bướu dạng nang (50%), trong bướu thấu quang dạng nhiều hốc (57,6%)
hơn dạng một hốc (40%). Bướu dạng túi tuyến thường biểu hiện protein p53 dương tính yếu; ngược lại bướu
dạng đám rối thường biểu hiện p53 dương tính trung bình và mạnh. Tuy nhiên, phân tích thống kê không thấy

sự khác biệt có ý nghĩa về biểu hiện protein p53 giữa các dạng lâm sàng, X quang và giải phẫu bệnh của 33 ca
BNBM này (p>0,05).
Kết luận: Có sự bất thường về protein p53 trong BNBM, và biểu hiện quá mức protein p53 trong các loại
BNBM lành tính tương tự nhau.
Từ khóa: Biểu hiện quá mức protein p53, bướu nguyên bào men, dạng đặc, dạng nang, một hốc, nhiều hốc,
dạng túi tuyến và dạng đám rối.

ABSTRACT
EXPRESSION OF P53 PROTEIN IN AMELOBLASTOMA
Do Thi Thao, Doan Thi Phuong Thao, Nguyen Thi Hong
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 16 - Supplement of No 2 - 2012: 156 - 161
Background: Overexpression of p53 protein has frequently been demonstrated in human epithelial
neoplasms. In oral squamous cell carcinoma in Vietnamese patients, the high prevalence of p53 overexpression
was reported. In ameloblastoma, however, the significance of p53 overexpression is still unclear.
Objectives: To determine the prevalence of p53 protein overexpression in ameloblastoma, and to analyse the
relationship between p53 expression and clinical, radiographic and histologic subtypes of ameloblastoma.
Materials and methods: A cross-sectional study was conducted on 33 ameloblastoma cases treated in the
Ho Chi Minh city National Hospital of Odonto-Stomatology in 2008 and 2009. Immunohistochemical staining
for p53 protein was performed.

* Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Cần Thơ
** Khoa Y Đại học Y Dược Tp. Hồ Chí Minh
*** Khoa Răng Hàm Mặt - Đại học Y Dược Tp. Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: ThS Đỗ Thị Thảo ĐT: 0919258731
Email: bs_thao77@yahoo.com.vn

156

Chuyên Đề Răng Hàm Mặt


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 2 * 2012

Nghiên cứu Y học

Results: p53 overexpression was detected in 57.6% of ameloblastomas, mostly at the weak and moderate
levels. The expression of p53 was more common in patients above 20 years old (64%), in males (70%) than in
females (52.2%), in solid ameloblastomas (63.2%) than in cystic ones (50%), in multilocular radiolucency
(57.6%) than in unilocular appearance (40%). The follicular pattern often showed a weak immunostaining, while
the plexiform pattern was mainly moderately and strongly stained. Nevertheless, statistical analysis did not detect


significant differences (p>0.05) among clinical, radiographic and histologic subtypes of these 33 ameloblastomas.
Conclusion: Dysfunction of p53 protein might be implicated in tumorigenesis of ameloblastoma, and the
overexpression of this marker seems to be similar in different subtypes of ameloblastoma.
Keywords: p53 protein overexpression, ameloblastoma, solid, (uni)cystic, unilocular, multilocular, follicular
and plexiform types.

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bướu nguyên bào men (BNBM) là một loại
bướu thường gặp nhất trong các loại bướu có
nguồn gốc từ răng, mặc dù lành tính nhưng dễ
tái phát sau phẫu thuật(8). Bướu thường xảy ra ở
tuổi trẻ, điều trị triệt để chủ yếu là phẫu thuật
cắt đoạn xương hàm nên thường để lại nhiều di
chứng về thẩm mỹ và chức năng, trong khi thực
tế cho thấy không phải tất cả BNBM đều có diễn
tiến giống nhau. Vì vậy, cần phải tìm ra yếu tố
dự đoán được diễn tiến sinh học của bướu để
chọn lựa điều trị thích hợp.
Hiện nay, quyết định điều trị tùy thuộc chủ
yếu vào dạng lâm sàng của BNBM: đối với
bướu dạng đặc (hay đa nang) phải cắt đoạn
xương hàm do có tỉ lệ tái phát cao (55-90%) nếu
chỉ lấy bướu, đối với bướu dạng nang (hay đơn
nang) ít tái phát hơn (10-40%) nên thường chỉ
cần lấy bướu là đủ(8). Các dạng X quang và mô
bệnh học ít có giá trị quyết định điều trị và tiên
lượng(8).
Trong những thập niên qua, sinh học phân
tử đã góp phần làm sáng tỏ bệnh sinh, diễn tiến
bệnh và ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị
nhiều loại ung thư và bướu lành. Quá trình sinh
bướu là một tiến trình do sự tích lũy các biến đổi
di truyền không hoàn nguyên. Đặc biệt, trong
các ung thư ở người, đột biến gen p53 thường
gặp nhất, chiếm hơn 50%(6). Gen đè nén bướu
p53 nằm trên nhiễm sắc thể 17; sản xuất protein
p53 giữ nhiều chức năng quan trọng trong tế
bào, bao gồm kiểm soát chu trình tế bào, sửa
chữa DNA, thúc đẩy tế bào chết theo lập trình(6).

Chuyên Đề Răng Hàm Mặt

Đối với BNBM, đã có một số bằng chứng
cho thấy sự bất thường của gen và protein p53
trong bướu này. Năm 1999, El-Sissy và cs phát
hiện protein p53 biểu hiện quá mức trong 18 ca
BNBM với tỉ lệ 61%, đặc biệt tỉ lệ cao (75%) và
dương tính mạnh ở BNBM ác tính(3). Năm 2006,
Al-Salihi và cs phát hiện đột biến gen p53 trong
BNBM, và đề nghị sử dụng liệu pháp đích
kháng p53 để giảm bớt kích thước trước khi
phẫu thuật đối với BNBM quá lớn, và để điều trị
những bướu không thể cắt được do vị trí gần
những cấu trúc giải phẫu quan trọng(1). Với
mong muốn được góp phần trong việc chẩn
đoán, điều trị và tiên lượng các loại BNBM,
chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm các
mục tiêu sau:
- Xác định tỉ lệ biểu hiện quá mức protein
p53 trong BNBM.
- Phân tích sự liên quan giữa biểu hiện
protein p53 với các dạng lâm sàng, X quang và
giải phẫu bệnh của BNBM.

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mẫu nghiên cứu
33 trường hợp BNBM ở xương hàm dưới
được điều trị tại Bệnh Viện Răng Hàm Mặt
Trung Ương từ tháng 8/2008 đến tháng 2/2009.

Thiết kế nghiên cứu
Cắt ngang.

Các biến nghiên cứu và các bước thực hiện:
Tuổi, giới tính của bệnh nhân.
Các dạng X quang của bướu trên phim toàn
cảnh: gồm thấu quang dạng một hốc và dạng

157


Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 2 * 2012

nhiều hốc.

Đánh giá biểu hiện hóa mô miễn dịch

Các dạng lâm sàng của bướu: gồm dạng đặc
và dạng nang, dựa trên quan sát dạng đại thể
của bướu trong lúc mổ và kiểm chứng giải phẫu
bệnh.

Tế bào bướu biểu hiện p53 dương tính khi
nhân tế bào nhuộm màu nâu, bất kể cường độ
màu đậm nhạt. Mức độ biểu hiện protein p53
của bướu được đánh giá dựa trên tỉ lệ % số tế
bào bướu nhuộm dương tính trong tổng số tế
bào bướu, tỉ lệ này được tính bằng cách đếm số
tế bào bướu nhuộm dương tính và số tế bào
bướu nhuộm âm tính trong 3 vi trường x 200
dưới kính hiển vi quang học. Bướu biểu hiện
quá mức p53 khi có hơn 5% số tế bào bướu
nhuộm p53 dương tính, với các mức độ dương
tính yếu (+): 6-25%, trung bình (++): 26-50%, và
mạnh (+++): 51-100%.

Các dạng giải phẫu bệnh: gồm hai dạng
chính là dạng túi tuyến và dạng đám rối, chẩn
đoán dựa trên khảo sát vi thể mô bệnh phẩm
mổ.
Biểu hiện protein p53.

Qui trình nhuộm hóa mô miễn dịch
Theo phương pháp miễn dịch men gián tiếp
LSAB (labelled streptavidin-biotin) sử dụng kit
LSAB-HRP và kháng thể đơn dòng DO-7 kháng
p53 của nhà sản xuất Dakocytomation (Đan
Mạch). Kháng thể DO-7 phản ứng với êpitốp có
vị trí từ axít amin 35 đến axít amin 45 tại đầu
cùng N- của protein p53 nguyên thủy và protein
p53 đột biến.
Mẫu mô được cắt lát mỏng, dán lên phiến
kính có tráng silane, khử paraffin, bộc lộ kháng
nguyên bằng cách đun nóng trong dung dịch
đệm Tris-EDTA (pH 9) trong 20 phút. Tiếp theo,
rửa trong dung dịch TBS (pH 7,6), ức chế
peroxidase nội sinh bằng cách cho vào dung
dịch hydrogen peroxide 3% trong 10 phút. Sau
đó, cho ủ với Protein Block của kit LSAB, ủ với
100 µl kháng thể thứ nhất (DO-7) trong 2 giờ,
rửa trong TBS, ủ với kháng thể thứ hai có gắn
biotin của kit LSAB trong 10 phút, rửa trong
TBS, và ủ với phức hợp Streptavidin-Peroxidase
của kit LSAB trong 10 phút, rửa trong TBS. Cho
tiếp xúc với chất sinh màu Diaminobenzidine
(DAB), rửa trong TBS và nước cất. Cuối cùng
nhuộm chồng màu bằng hematoxylin, rửa nước
cất và cồn, làm trong sáng mô và dán lamelle.
Mỗi đợt nhuộm luôn có một tiêu bản chứng
dương (lát cắt mô carcinôm tuyến ở đại tràng đã
biết có biểu hiện p53 dương tính) và một tiêu
bản chứng âm (thay kháng thể thứ nhất bằng
dung dịch TBS) được nhuộm kèm theo.

158

Xử lý dữ liệu
Nhập và xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS
12.0. Phân tích sự liên quan bằng test Chi bình
phương và test chính xác Fisher. Liên quan có ý
nghĩa khi p < 0,05.

KẾT QUẢ
Protein p53 biểu hiện quá mức ở 19 ca trong
tổng số 33 ca BNBM, chiếm tỉ lệ 57,6%; bao gồm
9 ca (27,3%) dương tính yếu, 7 ca (21,2%) dương
tính trung bình và 3 ca (9,1%) dương tính mạnh.
Biểu hiện quá mức protein p53 phổ biến ở
người trên 20 tuổi (64%) hơn người trẻ dưới 20
tuổi (37,5%), ở nam (70%) nhiều hơn nữ (52,2%),
trong bướu thấu quang dạng nhiều hốc (57,6%)
hơn dạng một hốc (40%). Tuy nhiên, những
khác nhau này không có ý nghĩa thống kê (p
>0,05) (Bảng 1).
Bảng 1. Liên quan biểu hiện protein p53 với lâm
sàng, X quang của BNBM.
BNBM
Tuổi

≤ 20
> 21
Giới
Nam
Nữ
Dạng X quang
Một hốc
Nhiều hốc
Tổng

Tổng Số Biểu hiện protein p53
ca (%)
Âm tính Dương tính
8 (24,2)
25 (75,8)
10 (30,3)
23 (69,7)

5 (62,5)
9 (36,0)
3 (30,0)
11 (47,8)

3 (37,5)
16 (64,0)
7 (70,0)
12 (52,2)

5 (17,8)
3 (60,0)
28 (82,2) 11 (42,4)
33 (100,0) 14 (42,4)

2 (40,0)
19 (57,6)
19 (57,6)

p
0,396
0,455
0,628

Chuyên Đề Răng Hàm Mặt


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 2 * 2012
Biểu hiện protein p53 trong bướu dạng
đặc và bướu dạng nang khác nhau không có ý
nghĩa (p>0,05), mặc dù biểu hiện phổ biến
trong bướu dạng đặc (63,2%) hơn bướu dạng
nang (50%), và dương tính yếu thường gặp
trong bướu dạng đặc (31,6%) hơn bướu dạng
nang (21,4%) (Bảng 2).

Nghiên cứu Y học

BNBM dạng nang gồm các dạng chính là trong
ống (14,3%) và trong vách (85,7%), không gặp
dạng ống; trong những dạng này các tế bào
bướu xếp thành dạng túi tuyến (57,2%) hoặc
dạng đám rối (42,8%). Tổng cộng, dạng túi
tuyến (60,6%) phổ biến hơn dạng đám rối
(39,4%).

Bảng 2. Biểu hiện protein p53 trong BNBM dạng
đặc và dạng nang.

Trong 19 ca BNBM dạng đặc, các tế bào biểu
hiện p53 dương tính thường phân bố ở ngoại vi

BNBM Tổng Số
ca (%)

Biểu hiện protein p53
p
Âm
Dương tính
tính (-) (+)
(++) (+++)
Dạng 14 (42,4) 7 (50,0) 3 (21,4)
3
1
0,865
nang
(21,4) (7,2)
Dạng đặc 19 (57,6) 7 (36,8) 6 (31,6)
4
2
(21,1) (10,5)
Tổng
33
14 9 (27,3)
7
3
(100,0) (42,4)
(21,2) (9,1)

của đám tế bào bướu và đôi khi ở trung tâm
đám tế bào bướu (Hình 1). Trong 14 ca BNBM
dạng nang, p53 dương tính thường gặp trong
các tế bào biểu mô lót bao nang. Mô bướu thâm
nhập thành nang (dạng trong vách) hay nhô
trong lòng nang (dạng trong ống) cũng có tế bào
nhuộm p53 dương tính (Hình 2).

BNBM dạng đặc có hai dạng chính là dạng
túi tuyến (63,2%) và dạng đám rối (36,8%).

x40

x100

x200

Hình 1. Biểu hiện quá mức protein p53 trong BNBM đặc dạng đám rối.

x40

x100

x200

Hình 2. Biểu hiện quá mức protein p53 trong BNBM dạng nang, trong vách, túi tuyến.
Biểu hiện protein p53 trong BNBM dạng

trong khi dạng túi tuyến thường biểu hiện p53

đám rối và dạng túi tuyến khác nhau không có ý

yếu (35%) (Bảng 3).

nghĩa (p > 0,05) mặc dù tỉ lệ biểu hiện quá mức

Bảng 3. Biểu hiện protein p53 trong BNBM dạng túi
tuyến và dạng đám rối.

protein p53 trong bướu đám rối (61,5%) cao hơn
trong dạng túi tuyến (55%), và bướu dạng đám
rối thường biểu hiện p53 trung bình và mạnh

Chuyên Đề Răng Hàm Mặt

BNBM

Tổng Số
ca (%)

Biểu hiện protein p53
Âm
tính (-)

p

Dương tính
(+)
(++) (+++)

159


Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 2 * 2012

Dạng túi 20 (60,6)
9
7
3 1 (5,0)
tuyến
(45,0) (35,0) (15,0)
Dạng đám 13 (39,4)
5
2
4
2
rối
(38,5) (15,4) (30,8) (15,4)
Tổng cộng
33
14
9
7 3 (9,1)
(100,0) (42,4) (27,3) (21,2)

0,384

BÀN LUẬN
Tỉ lệ biểu hiện quá mức protein p53 trong
BNBM khá cao 57,6%, mặc dù hơi thấp hơn so
với tỉ lệ 75,5% trong ung thư tế bào gai niêm
mạc miệng(7). Như vậy, người Việt Nam thường
có sự biến đổi của protein p53 không chỉ trong
ung thư hốc miệng mà cả trong bướu biểu mô
lành tính ở hốc miệng như BNBM. Kết quả này
cung cấp thêm bằng chứng cho nhận định
protein p53 thường biểu hiện quá mức trong các
bướu ở người có nguồn gốc biểu mô. Theo y
văn, tỉ lệ biểu hiện quá mức protein p53 trong
BNBM ở Nhật Bản là 45% (13/29 ca)(5), 76%
(26/34 ca))(9), 80% (24/30 ca)(4), ở Ai Cập là 61%
(11/18 ca)(3), ở Hà Lan là 67% (6/9 ca)(12).
Trong các tế bào bình thường, lượng
protein p53 rất thấp do thời gian tồn tại ngắn
(6-20 phút) nên không thể phát hiện được
bằng hóa mô miễn dịch(3). Đột biến gen p53
hay do sự tương tác với protein khác bị biến
đổi (như protein MDM2) có thể làm cho
protein p53 bền vững hơn, tích tụ nhiều trong
nhân tế bào, do đó có thể phát hiện được qua
nhuộm hóa mô miễn dịch(3,6).
Trong ung thư niêm mạc miệng ở người Việt
Nam, biểu hiện quá mức protein p53 thường do
đột biến gen p53 (44,4%) hơn là do bất thường
protein MDM2 (36,4%)(7). Tuy nhiên, đối với
BNBM, các nghiên cứu trên thế giới cho thấy
biểu hiện quá mức protein p53 chủ yếu do sự
bất thường của protein MDM2. Đột biến gen p53
dường như ít có vai trò trong bệnh sinh
BNBM(8). Sandra và cs (2002) phát hiện 88%
BNBM biểu hiện quá mức protein MDM2(9),
Shibata và cs (2002) phát hiện chỉ có 3 ca đột
biến gen p53 trong 12 ca BNBM(11). Kumamoto
và cs (2004) tìm thấy sự tăng biểu hiện protein
p53 và MDM2 trong 46 ca BNBM lành tính và 5
ca BNBM ác tính, khác biệt có ý nghĩa so với 16

160

biểu mô mầm răng bình thường, và không thấy
ca nào có đột biến gen p53(5). Sharifi-Sistani N
(2011)(10) tìm thấy BNBM biểu hiện quá mức p53
là 77,8% và biểu hiện quá mức MDM2 là 74,8%.
Trong các BNBM, biểu hiện p53 dương
tính chủ yếu ở mức độ dương tính yếu
(27,3%) và trung bình (21,2%), ít gặp dương
tính mạnh (9,1%). Kết quả này tương tự như
trong một khảo sát biểu hiện p53 trên 46 ca
BNBM của Kumamoto (2004) ghi nhận 20%
dương tính yếu và 43% trung bình, không có
dương tính mạnh(5). Phải chăng bướu NBM là
loại bướu lành tính nên thường biểu hiện p53
dương tính yếu và trung bình; trong khi
những bướu ác tính như ung thư niêm mạc
miệng hay BNBM ác tính có tỉ lệ p53 dương
tính mạnh cao hơn? Nghiên cứu của El-Sissy
(1999) cho thấy 75% BNBM ác tính có mức độ
dương tính mạnh(3). Ở người Việt Nam, tỉ lệ
p53 dương tính mạnh trong ung thư niêm
mạc miệng (28,2%)(7) cao hơn trong BNBM
(9,1%).
Tỉ lệ và mức độ biểu hiện p53 giữa bướu
dạng đặc và bướu dạng nang không khác biệt
nhau (p>0,05). Kết quả nhất quán với nghiên
cứu của Hirayama (2004) cho thấy tỉ lệ trung
bình của biểu hiện protein p53 trong BNBM
dạng đặc là 9,2% (± 4,9) tương tự trong bướu
dạng nang là 8,5% (± 11,1)(4). Từ những kết quả
này, có thể thấy rằng bất thường protein p53 giữ
vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và
phát triển của BNBM, cho dù là bướu có dạng
đặc hay dạng nang.
Tỉ lệ biểu hiện quá mức protein p53 trong
bướu thấu quang dạng nhiều hốc (57,6%) cao
hơn dạng một hốc (40%) nhưng không có ý
nghĩa (p>0,05), tương tự kết quả nghiên cứu của
Kumamoto(5). Tỉ lệ biểu hiện quá mức p53 trong
bướu dạng đám rối (61,5%) cao hơn dạng túi
tuyến (55%), nhưng cũng không có ý nghĩa
(p>0,05). Barboza (2005) tìm thấy tỉ lệ trung bình
biểu hiện quá mức protein p53 trong bướu dạng
đám rối là 46% (± 15,9) cao hơn tỉ lệ 42,4% (±
14,1) trong bướu dạng túi tuyến nhưng cũng

Chuyên Đề Răng Hàm Mặt


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 2 * 2012
không có ý nghĩa (p>0,05)(2). Kết quả nghiên cứu
này phù hợp với y văn, cho thấy các dạng X
quang và giữa các dạng mô bệnh học của BNBM
đều có biểu hiện protein p53 tương tự nhau.
Bước đầu tìm hiểu sinh học phân tử của
BNBM, nghiên cứu này đã phát hiện sự bất
thường của protein p53. Tuy nhiên, số ca chưa
phải là nhiều, thời gian theo dõi tái phát chưa
đủ dài để đánh giá giá trị của p53 trong dự đoán
diễn tiến và tiên lượng tái phát bướu, chưa so
sánh với BNBM ác tính, nên không thể phân tích
sâu ý nghĩa và ứng dụng lâm sàng của các kết
quả tìm thấy được về biểu hiện protein p53 giữa
các loại BNBM, cũng như chưa thể kết luận
nguyên nhân gây ra sự biến đổi của protein p53
và sự liên quan với những gen và protein khác.

KẾT LUẬN
Có sự bất thường về protein p53 trong
BNBM, với tỉ lệ biểu hiện quá mức là 57,6%; chủ
yếu dương tính yếu và trung bình. Biểu hiện
protein p53 trong BNBM không liên quan với
tuổi, giới tính, cũng như không có sự khác biệt
có ý nghĩa giữa các dạng lâm sàng, các dạng X
quang và các dạng giải phẫu bệnh của BNBM.

2.

3.

4.

5.

6.

7.

8.
9.

10.

11.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Al-Salihi KA (2006). p53 gene mutation and protein expression
in ameloblastoma. Braz J Oral Sci, 5: 1034-1040.

Chuyên Đề Răng Hàm Mặt

12.

Nghiên cứu Y học

Barboza CAG, Pinto LP, Freitas RA, Costa ALL, Souza LB
(2005). Proliferating cellular nuclear antigen (PCNA) and p53
protein expression in ameloblastoma and adenomatoid
odontogenic tumor. Braz Dent J, 16(1): 56-61.
El-Sissy NA (1999). Immunohistochemical detection of p53
protein in ameloblastoma types. Eastern Mediterranean
Health J, 5(3): 478-489.
Hirayama T, Hamada T, Hasui K, Semba I, Murata F, Sugihara
K (2004). Immunohistochemical analysis of cell proliferation
and suppression of ameloblastoma with special reference to
plexiform and follicular ameloblastoma. Acta Histochem
Cytochem, 37(6): 391-398.
Kumamoto H, Izutsu T, Ohki K, Takahashi N, Ooya K (2004).
p53 gene status and expression of p53, MDM2, and p14ARF
proteins in ameloblastomas. J Oral Pathol Med, 33(5): 292-299.
May P, May E (1999). Twenty years of p53 research: Structural
and functional aspects of the p53 protein”. Oncogene, 18(53):
7621-7636.
Nguyễn Thị Hồng và c.s. (2006). Đột biến gen p53 và biểu hiện
protein p53, MDM2, Ki67, MMP9 trong ung thư niêm mạc
miệng ở người Việt Nam. Tạp chí Y học TP.HCM, 3(4): 167176.
Regezi JA, Seiubba JJ, Jordan RCK (2008). Oral pathology:
Clinical pathologic correlation, 4th edition. Saunders, 267-274.
Sandra F, Nakamura N, Kanematsu T, Hirata M, Ohishi M
(2002). The role of MDM2 in the proliferative activity of
ameloblastoma. Oral Oncol, 38(2): 153-157.
Sharifi-Sistani N, Zartab H, Babakoohi S, Saghravanian N,
Jamshidi S, Esmaili H, et al. (2011). Immunohistochemical
comparison of the expression of p53 and MDM2 proteins in
ameloblastomas and keratocystic odontogenic tumors. J
Craniofacial Surgery, 22(5): 1652-1656.
Shibata T, Nakata D, Chiba I, Yamashita T, Abiko Y, Tada M,
Moriuchi T (2002). Detection of TP53 mutation in
ameloblastoma by the use of a yeast functional assay. J Oral
Pathol Med, 31(9): 534-538.
Slootweg PJ (1995). p53 protein and Ki-67 reactivity in
epithelial odontogenic lesions. An immunohistochemical
study. J Oral Pathol Med, 24: 393-397.

161



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×