Tải bản đầy đủ

Kinh nghiệm ứng dụng thống kê y sinh học của học viên cao học và nội trú trường Đại học Y Hà Nội

Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

KINH NGHIỆM ỨNG DỤNG THỐNG KÊ Y SINH HỌC  
CỦA HỌC VIÊN CAO HỌC VÀ NỘI TRÚ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI 
Hoàng Thị Hải Vân* 
TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Ứng dụng thống kê trong các nghiên cứu y học ngày càng được chú trọng và phát triển. Tuy 
nhiên, chất lượng của các ứng dụng này vẫn là vấn đề cần được quan tâm. Điều này liên quan với kiến thức và 
kinh nghiệm ứng dụng thống kê của các nhà nghiên cứu. 
Mục tiêu: Mô tả kinh nghiệm và khả năng ứng dụng thống kê y sinh học của học viên cao học và nội trú 
trường Đại học Y Hà Nội khóa học 2012‐2013.  
Phương  pháp  nghiên  cứu:  Nghiên cứu mô tả cắt ngang toàn bộ các học viên cao học khoá 20 và nội trú 
khoá 35 của trường Đại học Y Hà Nội. 
Kết quả: Có 270 học viên tham gia nghiên cứu, trong đó 80,7% là học viên cao học và 19,3% là học viên nội 
trú. Hơn 50% số học viên đã được đào tạo về dịch tễ và thống kê. Đa số các học viên đều cho rằng thống kê rất 
quan trọng trong việc ra quyết định, tham khảo tài liệu cũng như y học dựa vào bằng chứng với tỷ lệ trên 90%. 
Tuy nhiên, chỉ 1,1 % hoàn toàn tự tin phiên giải các kết quả thống kê mô tả; 6,0% tự tin phiên giải giá trị p, 
3,7% tự tin phiên giải test thống kê; 2,2% tự tin tự xử lý số liệu và 0,7% tự tin đánh giá đúng sai của ứng dụng 

thống kê.  
Kết luận: Khả năng ứng dụng thống kê của các học viên cao học và nội trú của trường Đại học Y Hà Nội 
còn hạn chế. Có mối liên quan giữa kinh nghiệm đọc, tham khảo các bài báo với khả năng ứng dụng thống kê của 
các học viên (p <0,05). 
Từ khóa: ứng dụng thống kê, học viên cao học và nội trú. 
ABSTRACT 

EXPERIENCE IN APPLIED BIOMEDICAL STATISTICS OF POSTGRADUATE AND RESIDENT 
STUDENTS IN HANOI MEDICAL UNIVERSITY 
Hoang Thi Hai Van * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 226 ‐ 232 
Background: The application of statistics in biomedical studies is increasing and developing. However, the 
quality of the application is still a problem that needs to pay attention. It involves knowledge and experience of 
researchers in applied biomedical statistics. 
Objectives: Describe the experience and the ability in applied biomedical statistics of graduate students and 
resident students in Hanoi Medical University school year 2012‐2013.  
Methods:  A  cross‐sectional  study  was  conducted  with  all  graduate  students  of  course  20thand  resident 
students of course 35thin Hanoi Medical University.  
Result: There were 270 students participated in the study, of whom 80.7% werepost‐graduated students and 
19.3%  were  resident  students.  Over  50%  of  students  had  been  trained  in  epidemiology  and  statistics.  The 
majority of participants agreed that statistics is important in making decisions, referencing articles as well as in 
medicine  based  on  evidences  with  over  90%.  However,  only  1.1%  was  confident  to  interpret  the  results  of 
descriptive statistics, 6.0% could interpret p value, 3.7% was able to interpret test statistics, 2.2% could analyze 
data themselves and 0.7% could evaluate the statistical results. 
* Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội 
Tác giả liên lạc:Ths. Hoàng Thị Hải Vân   
ĐT:0912693335 
Email: hoangthihaivan@hmu.edu.vn 
226 

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 

Nghiên cứu Y học

Conclusion: The ability in applied biomedical statistics of post graduated and resident students in Hanoi 
Medical  University  was  limited.  There  was  an  association  between  their  reading  experience,  reference  articles 
with the ability in applied statistics of the students (p < 0.05). 
Key words: Applied statistics, graduate students and resident students. 


ĐẶT VẤN ĐỀ 

Thống  kê  có  một  vai  trò  vô  cùng  quan 
trọng  trong  nghiên  cứu  khoa  học.  Theo 
Campbel  và  Machin(2),  ứng  dụng  thống  kê  có 
mặt  trong  phần  lớn  các  bài  báo  đăng  tải  trên 
các tạp chí y học: 70% các bài báo đăng tải trên 
tạp  chí  New  England  Journal  of  Medicine  và 
một tỷ lệ tương tự trên tạp chí Bristish Medical 
Journal  và  tạp  chí  Lancet(3).  Bên  cạnh  đó, 
nguyên  lý  “y  học  dựa  vào  bằng  chứng”  ngày 
càng  được  cộng  đồng  các  nhà  khoa  học  quan 
tâm và áp dụng rộng rãi do đó chất lượng các 
nghiên  cứu  y  học  đăng  tải  trên  các  tạp  chí  hy 
vọng ngày càng được  cải thiện. Nhiều tạp chí 
y  học  ở  các  chuyên  ngành  khác  nhau  đã  tiến 
hành các nghiên cứu tổng quan có hệ thống về 
các phương pháp thống kê và chất lượng ứng 
dụng thống kê trong các bài báo được đăng tải 
trên  tạp  chí  như  tạp  chí  American  Journal  of 
Tropical  Medicine,  New  England  Journal  of 
Medicine,  Infection  and  Immunity,  Journal  of 
Infectious  Diseases…(7)  từ  năm  1966  đến  nay 
và  kết  quả  cho  thấy  các  lỗi  khi  áp  dụng  các 
phương pháp thống kê vẫn còn phổ biến và là 
một  vấn  đề  đáng  quan  tâm  bất  chấp  những 
sáng kiến và nỗ lực được thực hiện trong quá 
trình  phản  biện  và  xét  duyệt  bản  thảo  các  bài 
báo(10). 
Nguyên nhân chính dẫn đến các lỗi thống kê 
trong các nghiên cứu y học là do các nhà nghiên 
cứu  thiếu  kiến  thức  hoặc  có  những  cách  hiểu 
chưa  đúng  về  các  phương  pháp  thống  kê  dẫn 
đến  những  ứng  dụng  sai  trong  các  nghiên  cứu 
của mình(1,6,8). Mặc dù thực tế ngày càng đòi hỏi 
các nhà lâm sàng phải có kiến thức về dịch tễ học 
và thống kê(9). Tuy nhiên các kiến thức về thống 
kê của các nhà lâm sàng vẫn còn nhiều hạn chế(5) 
và các số liệu nghiên cứu trong những năm gần 
đây  cho  thấy  không  có  nhiều  thay  đổi  về  kiến 

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 

thức  thống  kê  của  các  nhà  lâm  sàng(9).  Vì  vậy 
chúng  tôi  tiến  hành  nghiên  cứu  “Kinh  nghiệm 
ứng dụng thống kê của học viên cao học và nội 
trú Trường Đại học Y Hà Nội” với mục tiêu: Mô 
tả  kinh  nghiệm  và  khả  năng  ứng  dụng  thống 
kê y sinh học của các học viên cao học, nội trú 
và một số yếu tố ảnh hưởng. 
ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu 
Học viên cao học khóa 20 và nội trú năm học 
2012 – 2013 trường Đại học Y Hà Nội. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang. 
Cỡ mẫu và cách chọn mẫu cho nghiên cứu 
Chúng  tôi  áp  dụng  kỹ  thuật  chọn  mẫu  có 
mục đích, nhằm tìm hiểu về kinh nghiệm và khả 
năng ứng dụng thống kê của học viên cao học và 
nội trú. Do đó, chúng tôi chọn toàn bộ học viên 
cao học khóa 20 (326 người) và toàn bộ học viên 
nội  trú  khóa  35  (98  người);  tổng  cộng  là:  424 
người; tuy vậy chỉ có 270 học viên phản hồi. Do 
đó, cỡ mẫu thu được là 270. 
Phương pháp thu thập số liệu 
Sử  dụng  bộ  câu  hỏi  tự  điền  thiết  kế  sẵn  để 
thu  thập  số  liệu.  Việc  thu  thập  số  liệu  được  tổ 
chức bằng cách tập trung tất cả các học viên sau 
đại học do Phòng Đào tạo Sau đại học và nghiên 
cứu  viên  trực  tiếp  tổ  chức.  Các  học  viên  được 
giải  thích  rõ  mục  đích  của  nghiên  cứu  và  tham 
gia trên tinh thần tự nguyện. Các học viên được 
hướng  dẫn  cụ  thể  cách  điền  phiếu,  sau  đó  tiến 
hành điền phiếu, phiếu được kiểm tra và thu lại 
ngay  tại  chỗ.  Mọi  thắc  mắc  liên  quan  đến  nội 
dung  và  cách  điền  phiếu  được  Phòng  Sau  đại 
học và nghiên cứu viên giải thích ngay tại chỗ.  

227


Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

Xử lý số liệu 
Thông tin chung của cá nhân được nhập vào 
Excel và phần mềm EPI Data, xử lý số liệu bằng 
phần mềm Excel và STATA 10.0. 
KẾT QUẢ 

Bảng 1: Đặc điểm đối tượng nghiên cứu (n=270) 
Đặc điểm
Giới
Tuổi

Chương trình

Nam
Nữ
24 – 29
30 – 35
36 – 41
Cao học

Tần số
134
136
101
129
40
218

Tỷ lệ %
49,6
50,4
37,4
47,7
14,9
80,7

Đặc điểm
đang theo học
Đã từng được đào tạo
về dịch tễ học
Đã từng được đào tạo
về thống kê

Nội trú

Không

Không

Tần số
52
163
107
155
115

Tỷ lệ %
19,3
60,4
39,6
57,4
42,6

Nhận xét: Không có sự khác biệt về tỷ lệ giữa 
hai  giới.  Trong  các  nhóm  tuổi  thì  chủ  yếu  tập 
trung  ở  nhóm  tuổi  từ  30  –  34  tuổi  với  129  học 
viên, chiếm 47,7%. Tỷ lệ học viên cao học chiếm 
80,7%,  học  viên  nội  trú  chiếm  19,3%.  Trên  50% 
học  viên  đã  từng  được  đào  tạo  về  dịch  tễ  học 
cũng như thống kê. 

 
Hình 1: Kinh nghiệm đọc, tham khảo các nghiên cứu 

228 

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 

Nghiên cứu Y học

Còn đối tượng nội trú, mức độ tham khảo nhiều 
Nhận  xét:  Nhóm  đối  tượng  cao  học  kinh 
hơn ở các bài báo quốc tế, tỷ lệ chưa từng đọc ở 
nghiệm  đọc  kết  quả  nghiên  cứu  chủ  yếu  là  các 
nhóm này cũng ít hơn nhóm học viên cao học. 
báo  cáo  khoa  học  hoặc  các  bài  báo  trong  nước. 
Bảng 2: Quan điểm của các học viên về các vấn đề liên quan đến thống kê 
n (%)
Câu hỏi

Rất đồng ý
Rất không đồng ý/
Có thể
hoặc đồng ý
không đồng ý
93 (34,4)
Anh/ chị có thể hiểu phần lớn các thuật ngữ thống kê được đưa ra trong các 116 (43,0) 61 (22,6)
bài báo
Các kết quả thống kê trong các NC đưa ra đôi khi không đáng tin cậy
133 (49,2) 113 (41,9)
24 (8,9)
165 (61,1) 79 (29,3)
26 (9,6)
Thường sử dụng các thông tin về thống kê trong việc đưa ra các quyết định
trong công việc
15 (5,6)
4 (1,5)
Để đọc và tham khảo tài liệu rất cần thiết phải có kiến thức nhất định về thống 251 (92,9)

Thống kê là một phần rất quan trọng trong NC
267 (98,8)
3 (1,2)
0
Thống kê là một phần rất quan trọng của y học dựa vào bằng chứng
268 (99,3)
2 (0,7)
0

học  viên  hiểu  được  phần  lớn  các  thuật  ngữ 
Nhận xét: Hầu hết các học viên đều đồng ý 
thống kê trong các báo cáo là chưa cao (43%). Tỷ 
hoặc rất đồng ý với các quan điểm đưa ra về tầm 
lệ  học  viên  sử  dụng  các  thông  tin  về  thống  kê 
quan trọng của thống kê đối với nghiên cứu và y 
trong việc đưa ra các quyết định là 61,1%.  
học  dựa  vào  bằng  chứng.  Tuy  nhiên,  tỷ  lệ  các 
Bảng 3: Khả năng hiểu biết về thống kê và phương pháp NCKH của các học viên 
Câu hỏi
Có khả năng phiên giải các số liệu TK mô tả được sử
dụng trong NC
Có khả năng phiên giải giá trị p
Có khả năng phiên giải một số test TK cơ bản
Có khả năng thiết kế được một nghiên cứu hoàn chỉnh
Có khả năng tự tiến hành phân tích sử lý số liệu áp
dụng các thuật toán TK
Có khả năng đánh giá đúng sai việc ứng dụng TK vào
các NC

n (%)
Không biết Một chút Tương đối tốt Phần lớn Hoàn toàn tự tin
12 (4,4)

150 (55,6)

83 (30,7)

22 (8,2)

3 (1,1)

7 (2,6)
5 (1,9)
20 (7,4)

120 (44,4)
145 (53,7)
166 (61,5)

97 (35,9)
88 (32,6)
73 (27)

30 (11,1)
22 (8,1)
4 (1,5)

16 (6,0)
10 (3,7)
7 (2,6)

19 (7)

143 (53)

85 (31,5)

17 (6,3)

6 (2,2)

17 (6,3)

165 (61,1)

79 (29,3)

7 (2,7)

2 (0,7)

thống kê trong các nghiên cứu và phương pháp 
Nhận  xét:  Trên  50%  số  học  viên  chỉ  có  khả 
nghiên cứu khoa học; khả năng các học viên có 
năng  hiểu  biết  một  chút  và  khoảng  30%  tương 
thể 
hoàn  toàn  tự  tin  là  rất  thấp  chưa  vượt  quá 
đối  tốt  về  thống  kê  mô  tả,  phiên  giải  giá  trị  p, 
6%, trong khi các học viên không biết chiếm tỷ lệ 
phiên giải test thống kê, tự tiến hành phân tích, 
từ 1,9% đến 7,4%. 
xử  lý  số  liệu  và  đánh  giá  đúng  sai  ứng  dụng 
Bảng 4: Một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng ứng dụng thống kê của các học viên sau đại học 
Các yếu tố

Giới

Tuổi

Có khả năng phiên Có khả năng
giải các số liệu TK phiên giải giá
mô tả được sử dụng
trị p
trong NC
n (%)
p
n (%)
p
Nam 16 (61,5)
0,16
0,06
28
(60,9)
Nữ
10 (38,5)
18
(39,1)
24-29 18 (69,2)
0,35
0,52
28
(62,2)
30-35 6 (23,1)
11

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 

Có khả năng
Có khả năng tự tiến
Đánh giá được
phiên giải một số hành phân tích, xử lý đúng sai việc ứng
test TK cơ bản số liệu áp dụng các
dụng TK vào các
thuật toán TK
NC
n (%)
p
n (%)
p
n (%)
p
20 (64,5) 0,06
11 (63,6)
0,13
6 (66,7)
0,26
11 (35,5)
19 (63,3)
9 (30)

8 (36,4)
0,63

13 (59,1)
8 (36,4)

3 (33,3)
0,69

5 (55,6)

0,99

3 (33,3)

229


Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

Các yếu tố

Có khả năng phiên Có khả năng
giải các số liệu TK phiên giải giá
mô tả được sử dụng
trị p
trong NC
n (%)
p
n (%)
p
(31,1)
36-41
2 (7,7)
3 (6,7)
Đối tượng
0,04
17 (65,4)
0,23
Cao
34
học
(73,9)
Nội trú 9 (34,6)
12
(26,1)
14 (54)
0,51
0,58
Đã từng được Có
26
đào tạo về
(56,5)
dịch tễ học Chưa
12 (46)
20
(43,5)
15 (60)
0,74 27 (60) 0,64
Đã từng được Có
đào tạo về TK Chưa
10 (40)
18 (40)
y sinh học
0,002

108 (42,9)
Thường
143 0,007
xuyên đọc các
(56,7)
bài báo tham Chưa
0
3(6,5)
khảo
từng

Nhận xét: Không có sự khác biệt có ý nghĩa 
thống  kê  giữa  các  nhóm  yếu  tố  về  giới,  nhóm 
tuổi, thời gian công tác, việc đã từng học dịch tễ 
rồi hay chưa, đã từng học thống kê rồi hay chưa 
đối với khả năng ứng dụng thống kê của các học 
viên. Giữa nhóm ngành cao học và nội trú có sự 
khác  biệt  về  khả  năng  phiên  giải  các  số  liệu 
thống  kê  mô  tả.  Ngoài  ra,  kinh  nghiệm  đọc  tài 
liệu tham khảo có ảnh hưởng đến khả năng ứng 
dụng thống kê của các học viên. 
BÀN LUẬN 

Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 
Tỷ  lệ  đối  tượng  tham  gia  nghiên  cứu  trên 
tổng  số  mẫu  dự  kiến  chỉ  là  63,7%.  Tuy  nhiên 
trong nghiên cứu này, cỡ mẫu được chọn là toàn 
bộ học viên cao học và nội trú của một khóa chứ 
không chọn mẫu nên tỷ lệ đáp ứng này là chấp 
nhận  được.  Mặt  khác,  sau  khi  kiểm  tra  thấy  số 
lượng  mẫu  bị  mất  phân  bố  đều  ở  các  chuyên 
ngành nên không ảnh hưởng đến kết quả phân 
tích số liệu của nghiên cứu. 
Đối  tượng  cao  học  của  trường  chiếm  80,7% 
gấp  4  lần  so  với  đối  tượng  nội  trú  (19,3%),  sự 
khác biệt này là do nhu cầu đào tạo và chỉ tiêu 
tuyển  sinh  của  nhà  trường.  Không  có  sự  khác 
biệt giữa tỷ lệ giới nam và nữ (49,6% và 50,4%). 

230 

Có khả năng
Có khả năng tự tiến
Đánh giá được
phiên giải một số hành phân tích, xử lý đúng sai việc ứng
test TK cơ bản số liệu áp dụng các
dụng TK vào các
thuật toán TK
NC
n (%)
p
n (%)
p
n (%)
p
2 (6,7)
22 (71)

0,16

9 (29)
21 (65,6)

0,35

6 (27,3)
0,51

11 (34,4)
20 (62,5)
12 (37,5)

1 (4,5)
16 (72,7)

14 (63,6)

1 (11,1)
8 (88,9)

0,51

1 (11,1)
0,71

8 (36,4)

5 (62,5)

0.87

3 (37,5)

0,50

14 (60,9)
9 (39,1)

0,69

7 (77,8)
2 (22,2)

0,19

120 (47,6) 0,009

108 (42,9)

0,003

88 (34,9)

0,0002

0

0

0

Các chuyên ngành của bậc học cao học và nội trú 
chủ yếu tập trung vào các ngành Nội, Ngoại và 
chuyên khoa lẻ. Nhóm tuổi từ 30–35 tuổi chiếm 
tỷ lệ cao nhất với 47,7%. 
Thực  trạng  về  kinh  nghiệm  và  khả  năng  ứng 
dụng thống kê của các học viên 
Dịch  tễ  và  thống  kê  là  hai  môn  học  có  liên 
quan chặt chẽ với kiến thức và ứng dụng trong 
nghiên cứu khoa học, trong đó bao gồm cả thiết 
kế,  tiến  hành  nghiên  cứu,  viết  báo  cáo,  tham 
khảo  và  đánh  giá  các  bài  báo  khoa  học.  Tuy 
nhiên,  có  39,6%  và  42,6%  học  viên  chưa  được 
đào tạo về dịch tễ và thống kê. Điều này có thể 
ảnh  hưởng  đến  khả  năng  ứng  dụng  thống  kê 
của  các  học  viên.  Các  học  viên  nội  trú  có  xu 
hướng đọc và tham khảo các bài báo nhiều hơn 
và tìm hiểu nhiều các tài liệu quốc tế hơn các học 
viên  cao học,  nhưng nhìn  chung tỷ  lệ  tìm  kiếm 
tài  liệu  quốc  tế  còn  chưa  cao;  trong  khi  đó 
nghiên  cứu  của  McColl  A  và  cộng  sự  cho  thấy 
các học viên có một mức độ thấp nhận thức về 
giải thích các tạp chí, ấn phẩm đánh giá và cơ sở 
dữ  liệu  (chỉ  có  40%  biết  về  cơ  sở  dữ  liệu 
Cochrane về các tổng quan hệ thống), và ngay cả 
khi biết, nhiều người đã không sử dụng chúng(4). 
Lý do có thể là do các học viên nội trú đa số là 

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 
các bác sĩ lâm sàng và việc tham khảo tài liệu rất 
quan trọng cho công việc lâm sàng của họ trong 
việc  cập  nhật  các  phương  pháp  điều  trị  mới 
trong nước cũng như quốc tế.  
Chỉ  có  43%  các  học  viên  có  thể  hiểu  được 
phần lớn thống kê trong các nghiên cứu, tỷ lệ 
này  cao  hơn  so  với  nghiên  cứu  của  West  và 
cộng  sự  với  23,3%  số  người  được  hỏi  (70/300) 
cho  biết  họ  có  thể  xác  định  chính  xác  các 
phương pháp thống kê(9). Có đến 49,3% các học 
viên  cho  rằng  các  kết  quả  thống  kê  trong  các 
nghiên cứu đưa ra đôi khi không đáng tin cậy, 
cho thấy việc tin tưởng vào thống kê trong các 
nghiên cứu còn hạn chế. Tỷ lệ các học viên cho 
rằng thống kê là một phần rất quan trọng của 
y  học  dựa  vào  bằng  chứng  là  rất  cao  chiếm 
99,2%; tương đương với nghiên cứu của West 
(92,7%)(9); kết quả này cho thấy y học dựa vào 
bằng chứng ngày càng trở thành xu hướng tất 
yếu trong lĩnh vực y học. Tỷ lệ các học viên có 
khả  năng  tự  tiến  hành  phân  tích  xử  lý  số  liệu 
áp dụng các thuật toán thống kê hoàn toàn tự 
tin chỉ là 2,2%, so với  nghiên cứu  của West là 
14,6%  cho  thấy  kinh  nghiệm  của  các  học  viên 
Việt Nam còn quá thấp so với nước ngoài nói 
chung và nghiên cứu của West nói riêng. 
Khả năng đánh giá đúng sai trong ứng dụng 
thống kê trong các nghiên cứu là rất quan trọng 
đối với người làm công tác nghiên cứu khoa học 
mặc dù  đây  là  công  việc  rất  khó khăn. Kết  quả 
nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng chỉ có 0,7% 
các  học  viên  có  thể  hoàn  toàn  tự  tin  đánh  giá 
đúng  sai  các  ứng  dụng  thống  kê.  Khả  năng 
phiên  giải  giá  trị  p  có  được  kết  quả  khả  quan 
nhất; số học viên biết và có khả năng phiên giải 
là  khá  cao  với  44,4%,  11,1%  người  có  khả  năng 
phiên giải phần lớn giá trị p và có 5,9% người có 
thể hoàn toàn tự tin phiên giải giá trị p, trong khi 
đó  chỉ  có  2,6%  số  người  không  biết  phiên  giải. 
Việc phiên giải giá trị p cho đến nay vẫn còn là 
vấn đề đáng quan tâm trong giới khoa học. Theo 
các  nhà  nghiên  cứu  vẫn  còn  có  sự  nhầm  lẫn 
trong việc phiên giải giá trị này của những người 
làm  khoa  học.  Tỷ  lệ  các  học  viên  có  khả  năng 

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 

Nghiên cứu Y học

phiên  giải  một  số  test  thống  kê  cơ  bản  cũng 
tương tự như giá trị p với 32,6% và số học viên 
không biết thấp hơn với 1,9%. 
Một  số  yếu  tố  ảnh  hưởng  đến  khả  năng  ứng 
dụng thống kê của các học viên sau đại học 
Có sự khác biệt giữa nhóm học viên cao học 
và  nội  trú  về  khả  năng  phiên  giải  các  số  liệu 
thống kê mô tả được sử dụng trong nghiên cứu, 
sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). 
Ngoài  ra  yếu  tố  thường  đọc  các  bài  báo  trong 
nước,  quốc  tế  và  các  báo  cáo  khoa  học  cũng  có 
ảnh  hưởng  đến  khả  năng  ứng  dụng  thống  kê 
của  học  viên  ở  tất  cả  các  mặt  từ  có  khả  năng 
phiên giải các kết quả thống kê mô tả, phiên giải 
giá trị p, phiên giải một số test thống kê đến khả 
năng tự tiến hành xử lý, phân tính số liệu có áp 
dụng các thuật toán thống kê và khả năng đánh 
giá kết quả thống kê trong các bài báo, báo cáo. 
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng có 
sự  khác  biệt  lớn  giữa  nhóm  thường  đọc,  tham 
khảo các bài báo và báo cáo với nhóm chưa từng 
đọc,  tham  khảo.  Nhóm  chưa  từng  đọc,  tham 
khảo các bài báo hầu như chưa có khả năng ứng 
dụng  thống  kê,  chỉ  một  số  rất  ít  có  khả  năng 
phiên  giải  giá  trị  p.  Và  sự  khác  biệt  này  có  ý 
nghĩa thống kê (bảng 4). Chưa tìm thấy mối liên 
quan  giữa  các  yếu  tố  giới,  đối  tượng  học  viên, 
tuổi, đã được đào tạo về dịch tễ hay thống kê với 
khả  năng  phiên  giải  p,  khả  năng  phiên  giải  các 
test thống kê, khả năng xử lý số liệu và khả năng 
đánh giá các thuật toán thống kê sử dụng trong 
các bài báo. Như vậy rõ ràng thông qua việc đọc, 
tham  khảo  các  bài  báo  khoa  học  trong  nước  và 
quốc tế hoặc các báo cáo khoa học, các học viên 
có  thể  tự  nâng  cao  kiến  thức  và  khả  năng  ứng 
dụng thống kê của mình dù họ đã được đào tạo 
về thống kê hay dịch tễ hay chưa được đào tạo 
về hai môn học này. 
KẾT LUẬN 

Kinh  nghiệm  và  khả  năng  ứng  dụng  thống 
kê trong nghiên cứu khoa học của học viên nội 
trú và cao học trường Đại học Y Hà Nội vẫn còn 
hạn chế.Tỷ lệ các học viên có thể hoàn toàn tự tin 

231


Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

trong phiên giải giá trị; trong khả năng tự tin tiến 
hành  phân  tích  xử  lý  số  liệu  áp  dụng  các  thuật 
toán thống kê; trong khả năng phiên giải một số 
test thống kê cơ bản và trong khả năng đánh giá 
đúng  sai  việc  ứng  dụng  thống  kê  trong  các 
nghiên cứu rất thấp (tất cả đều dưới 10%). 
Một số yếu tố ảnh hưởng đến quan điểm liên 
quan đến thống kê và khả năng hiểu về thống 
kê của các học viên sau đại học 
Có mối liên quan giữa đối tượng học viên 
cao học và nội trú với khả năng phiên giải các 
kết quả thống kê mô tả (p < 0,05); Những học 
viên có đọc, tham khảo các bài báo trong nước 
và  quốc  tế  và  các  báo  cáo  khoa  học  có  khả 
năng  ứng  dụng  thống  kê  tốt  hơn  những  học 
viên  chưa  từng  đọc,  tham  khảo.  Sự  khác  biệt 
này  có  ý  nghĩa  thống  kê  (p  <  0,01);  Chưa  tìm 
thấy  mối  liên  quan  giữa  các  yếu  tố  tuổi,  giới, 
đối  tượng  (cao  học  hay  nội  trú),  đã  được  đào 
tạo về thống kê hay dịch tễ đến khả năng ứng 
dụng thống kê của các học viên. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1.

Altman  DG  (1998).  Statistical  reviewing  for  medical  journals. 
Statistics in Medicine..17. 2661‐2674. 

2.

Campbel  MJ,  Machin  D  (1999).  Medical  Statistics  ‐  A 
commonsense approach.  Third  ed.  West  Sussex,  England.  John 
Wiley & Sons. Ltd. Pp.3‐5. 

3.

Emeson JD (1983). Use of statistical analysis in the New England 
Journal of Medicine. New England Journal of Medicine. 309(12). 
709‐713. 

4.

McColl  A.  et  al  (1998).General  practitionerʹs  perceptions  of  the 
route to evidence based medicine: a questionnaire survey. BMJ. 316. 
361‐365. 

5.

O’Donnell  CA  (2004).  Attitudes  and  knowledge  of  primary  care 
professionals  towards  evidence‐based  practice:  a  postal  survey. 
Journal Eval Clinical Practice.10. 197‐205. 

6.

Okeh.  UM  (2008).  Statistical  problems  in  medical  research. 
African Journal of Biotechnology. 7(25). 4819‐4826. 

7.

Olsen  CH  (2003).  Review  of  use  of  statistics  in  infection  and 
immunity. Infection and Immunity. 71. (12) 6689‐6692. 

8.

Viện Đào tạo Y học dự phòng và Trường Đại học Y Hà Nội 
(2011).Một  số  bất  cập  khi  ứng  dụng  thống  kê  và  tin  học  trong 
nghiên cứu y học. Nhà xuất bản Y học. Hà Nội. Tr. 134‐143. 

9.

West  CP.  Ficalora  RD  (2007).  Clinician  attitudes  towards 
biostatistics. Mayo Clinic Proceeding. 82 (8) 939‐943. 

10.

Young  J  (2007).  Statistical  errors  in  medical  reseach  ‐  a  chronic 
disease? Swiss Medical Weekly. 137. 41‐43. 

 
Ngày nhận bài báo:  

 

 

7/5/2014 

Ngày phản biện nhận xét bài báo:  

14/6/2014 

Ngày bài báo được đăng:  
 

14/11/2014 

 

 

232 

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×