Tải bản đầy đủ

Bài tiểu luận: Quản trị rủi ro thanh khoản trong ngân hàng thương mại



  

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
  KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

­­­­­­­­­

BÀI TIỂU LUẬN
   ĐỀ TÀI: “QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG NGÂN HÀNG 
THƯƠNG MẠI”

Giảng viên: TS.GVC. Nguyễn Trọng Tài
Sinh viên: 
Nguyễn Thu Hà
Lớp: 
A1C
Khoa: 
Tài chính ngân hàng



Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại

Hà Nội, 20/04/2011
MỤC LỤC
Phần 1
  TỔNG   QUAN   VỀ   QUẢN   TRỊ   RỦI   RO   KINH   DOANH   VÀ   QUẢN   TRỊ 
RỦI RO THANH KHOẢN TRONG NGÂN HÀNG THUONG MẠI
I.

II.
1.
2.

   Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
1.     Khái niệm về rủi ro 
1.1.
Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
2.    Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng

   Quản trị rủi ro thanh khoản
 Khái niệm về thanh khoản và rủi ro thanh khoản
 Nội dung quản trị rủi ro thanh khoản
3.    Các nguyên nhân dẫn dến rủi ro thanh khoản

        3.1. Nhóm nguyên nhân khách quan

        3.2. Nhóm nguyên nhân chủ quan
        4.    Ðánh giá trạng thái thanh khoản
        5.    Chiến lược quản trị thanh khoản
        5.1. Ðuờng lối chung về quản trị thanh khoản
        5.2. Các chiến luợc quản trị thanh khoản
        6.    Các tiêu chuẩn đánh giá cho thanh khoản
        7.    Mục tiêu quản trị rủi ro thanh khoản

        8.    Dấu hiệu rủi ro thanh khoản

Phần 2 : THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG CÁC 
NGÂN HÀNG THUONG MẠI VIỆT NAM 
Nguyễn Thu Hà – A1C



Page 2


Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
2.1.    Tổng quan về hệ thống ngân hàng thuong mại Việt Nam: 
2.1.1. Bức tranh tổng quan về hệ thống ngân hàng thuong mại Việt Nam
2.1.2. Tác dộng của diều kiện kinh tế vi mô dến hoạt dộng của hệ  thống ngân 
hàng thuong mại Việt Nam
  2.2.   Thực trạng quản trị  rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thuong mại 
Việt Nam

Phần 3
     MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO  
THANH KHOẢN TRONG CÁC NGÂN HÀNG THUONG MẠI VIỆT NAM 
3.1.     Ðịnh huớng phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam dến nam 2010 và 
dịnh huớng chiến luợc dến nam 2020
3.1.1. Ðịnh huớng phát triển Ngân hàng Nhà nuớc Việt Nam dến nam 2010 và  
dịnh huớng chiến luợc dến nam 2020
3.1.2. Ðịnh huớng phát triển các tổ  chức tín dụng dến nam 2010 và dịnh huớng 
chiến luợc dến nam 2020
3.2.   Biện pháp nâng cao hiệu quả  quản trị  rủi ro thanh khoản trong các ngân 
hàng thuong mại Việt Nam:
3.2.1. Về phía Chính phủ: 
3.2.2. Về phía Ngân hàng Nhà nuớc
          

QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG NGÂN 
HÀNG THƯƠNG MẠI
Phần 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO KINH DOANH VÀ QUẢN TRỊ 
RỦI RO THANH KHOẢN TRONG NGÂN HÀNG THUONG MẠI

I.

Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng: 

 Khái niệm về rủi ro:  Có nhiều định nghia khác nhau về rủi ro, nhưng nhìn 
chung có thể chia làm hai quan diểm sau:  
Theo quan điểm truyền thống: 
1.

Nguyễn Thu Hà – A1C

Page 3


Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
            Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố khác liên quan  
dến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con nguời. Xã  
hội loài nguời càng phát triển, hoạt dộng của con nguời càng đa dạng, thì nhiều loại  
rủi ro mới phát sinh. 
Theo quan điểm trung hoà:
              Rủi ro là sự bất trắc có thể  đo lường duợc. Rủi ro vừa mang tính tích cực, 
vừa mang tính tiêu cực, theo nghĩa rủi ro có thể  mang đến cho con nguời những tổn  
thất, mất mát, nguy hiểm, nhung cũng có thể  mang dến những cơ hội, thời co không  
ngờ. Nếu tích cực nghiên cứu, nhận dạng rủi ro, chúng ta có thể  tìm ra được những 
biện pháp phòng ngừa, hạn chế mặt tiêu cực và tận dụng, phát huy mặt tích cực do rủi  
ro mang tới.  
.  1.1. Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng:
             Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng duợc hiểu là những biến cố không mong 
dợi mà khi xãy ra sẽ dẫn dến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận  
thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí dể có thể  hoàn thành  
duợc một nghiệp vụ tài chính nhất dịnh.  
Các loại rủi to trong kinh doanh ngân hàng:  
Có bốn loại rủi ro co bản trong kinh doanh ngân hàng: 
 Rủi ro tín dụng:  là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của 
ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả duợc nợ hoặc trả nợ 
không dúng hạn cho ngân hàng. 
   Rủi ro tỷ giá hối doái: là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay ngoại  
tệ  hoặc kinh doanh ngoại tệ khi tỷ giá biến dộng theo chiều huớng bất lợi cho ngân 
hàng. 
 Rủi ro lãi suất: là loại rủi ro xuất hiện khi có sự  thay dổi của lãi suất thị 
truờng hoặc của những yếu tố có liên quan dến lãi suất dẫn dến tổn thất về  tài sản 
hoặc làm giảm thu nhập của ngân hàng. 
 Rủi ro thanh khoản:  là loại rủi ro xuất hiện trong truờng hợp ngân hàng 
thiếu khả  nang chi trả  do không chuyển dổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc  
không thể vay muợn dể dáp ứng yêu cầu của các hợp dồng thanh toán.  
2. Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng:  Theo quan diểm của truờng 
phái mới, duợc nhiều nguời dồng thuận, cho rằng cần quản trị tất cả các loại rủi ro  
trong kinh doanh ngân hàng một cách toàn diện. Theo dó, quản trị  rủi ro là quá trình  
tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ  thống nhằm nhận dạng, kiểm 
soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những  ảnh huởng bất lợi  
Nguyễn Thu Hà – A1C

Page 4


Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
của rủi ro. Quản trị  rủi ro bao gồm nam buớc: nhận dạng rủi ro, phân tích rủi ro, do  
luờng rủi ro, kiểm soát, phòng ngừa và tài trợ rủi ro. 

II.Quản trị rủi ro thanh khoản
1.Khái niệm về thanh khoản và rủi ro thanh khoản: 
          
           Tính thanh khoản của ngân hàng thuong mại duợc xem nhu khả nang tức thời  
dể dáp ứng nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng dã cam kết. Nhu vậy,  
rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi  :
                         + Ngân hàng không có khả nang cung ứng dầy dủ luợng tiền mặt cho 
nhu cầu thanh khoản tức thời
                         + Cung  ứng dủ nhung v ới chi phí cao. Nói cách khác, dây là loại rủi ro 
xuất hiện trong truờng hợp ngân hàng thiếu khả nang chi trả do không chuyển dổi kịp  
các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay muợn dể dáp ứng yêu cầu của các hợp 
dồng thanh toán

                         + Các nguyên nhân chủa quan khác làm mất khả năng thanh toán của NHTM
Rủi ro thanh khoản có thể xảy ra từ hoạt động bên  tài sản  có hoặc tài sản nợ của NHTM

2 Nội dung quản trị rủi ro thanh khoản: 
Quản trị  rủi ro thanh khoản là việc quản lý có hiệu quả  cấu trúc tính thanh 
khoản (tính lỏng) của tài sản và quản lý tốt cấu trúc danh mục của nguồn vốn. 
Bản chất của hoạt dộng quản trị rủi ro thanh khoản trong ngân hàng có thể dúc 
kết ở hai nội dung sau: 
Một là, hiếm khi nào tại một thời diểm mà tổng cung thanh khoản bằng với  
tổng cầu thanh khoản. Do vậy, ngân hàng phải thuờng xuyên dối mặt với tình trạng  
thâm hụt hay thặng du thanh khoản. 
Hai là, thanh khoản và khả nang sinh lời là hai dại luợng tỷ lệ nghịch với nhau, 
nghia là một tài sản có tính thanh khoản càng cao thì khả nang sinh lời của tài sản dó 
càng thấp và nguợc lại; một nguồn vốn có tính thanh khoản càng cao thì thuờng có chi 
phí huy dộng càng lớn và do dó, làm giảm khả nang sinh lời khi sử dụng dể cho vay. 
Ngân hàng cần dự trữ thanh khoản dể chi trả những chi phí thuờng xuyên, nhu lãi tiền 
gửi..., và cả những cú sốc thanh khoản không mong dợi, nhu một cuộc rút tiền gửi hàng 
Nguyễn Thu Hà – A1C

Page 5


Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
loạt hay yêu cầu vay vốn lớn. Một ví dụ diển hình cho cú sốc thanh khoản là nhiều 
nguời dổ xô dến ngân hàng rút tiền ở cùng một thời diểm. Trong hoàn cảnh dó, hầu nhu 
không một ngân hàng nào có thể dáp ứng hết những yêu cầu này và dễ dẫn dến nguy co 
sụp dổ, ngay cả khi ngân hàng dó chua mất khả nang thanh toán. Tất nhiên, khả nang dự 
trữ thanh khoản kém chua hẳn sẽ dua dến sự sụp dổ của một ngân hàng, nhung chắn 
chắc, ngân hàng sẽ phải bỏ ra một khoản chi phí lớn dể ứng phó với một cú sốc thanh 
khoản không luờng truớc. Và diều dó sẽ làm giảm dáng kể lợi nhuận của ngân hàng và 
suy dến cùng khả nang sụp dổ là hoàn toàn có thể. 
Thanh khoản mang ý nghia thời diểm rất lớn, theo nghia, một số yêu cầu thanh 
khoản là tức thời hoặc gần nhu tức thời. Chẳng hạn, một khoản tiền gửi lớn dến hạn 
và khách hàng không có ý dịnh tiếp tục duy trì số vốn này tại ngân hàng; khi dó, ngân 
hàng buộc phải tìm kiếm các nguồn vốn có thể sử dụng ngay nhu vay từ TCTD khác. 
Ngoài ra, yếu tố thời vụ, chu kỳ cung rất dáng quan trọng trong việc dự kiến cầu thanh 
khoản dài hạn. Ví dụ, cầu về thanh khoản thuờng rất lớn vào mùa hè, cuối hè gắn với 
ngày tựu truờng, ngày nghỉ và các kế hoạch du lịch của khách hàng. Việc kế hoạch duợc 
những yêu cầu thanh khoản này, sẽ giúp ngân hàng hoạch dịnh duợc nhiều nguồn dáp 
ứng cầu thanh khoản dài hạn hon là trong truờng hợp dối với cầu thanh khoản ngắn 
hạn.  

  3.Các nguyên nhân dẫn dến rủi ro thanh khoản:   Thanh khoản có vấn dề 

của một ngân hàng có thể do các nguyên nhân co bản 
sau dây:

3.1Nhóm nguyên nhân khách quan :
**Sự mất ổn định kinh tế vĩ mô
**Ngân hàng  vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn từ các 
cá nhân và dịnh chế tài chính khác; sau dó chuyển hoá chúng thành những tài sản dầu  
tu dài hạn. Cho nên, dã xãy ra tình trạng mất cân dối về kỳ hạn giữa nguồn vốn và sử 
dụng vốn, mà thuờng gặp là dòng tiền thu về từ tài sản dầu tu nhỏ hon dòng tiền chi 
ra dể trả các khoản tiền gửi dến hạn. 
** Sự  thay dổi của lãi suất có thể  tác dộng dến cả  nguời gửi tiền và nguời vay vốn.  

Khi lãi suất giảm, một số nguời gửi tiền rút vốn khỏi ngân hàng dể dầu tu vào noi có  
tỷ suất sinh lợi cao hon; còn những nguời di vay tích cực tiếp cận các khoản tín dụng  
vì lãi suất dã thấp hon truớc. Nhu vậy, rốt cuộc lãi suất thay dổi sẽ ảnh huởng trạng  
thái thanh khoản của ngân hàng. Hon nữa, những xu huớng của sự thay dổi lãi suất còn  
ảnh huởng dến giá trị thị truờng của các tài sản mà ngân hàng có thể dem bán dể tang 
thêm nguồn cung thanh khoản và trực tiếp  ảnh huởng dến chi phí vay muợn trên thị 
Nguyễn Thu Hà – A1C

Page 6


Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
truờng tiền tệ. 
** Nhu cầu thanh khoản của khách hàng ngày càng tăng
** Do NHTM làm giảm niềm tin từ  công chúng dẫn đến giảm uy tín của ngân hàng, 
sự tín nhiệm của khách hàng và có thể dánh mất thuong hiệu của ngân hàng. Một ngân  
hàng kinh doanh bị  lỗ liên tục hoặc thuờng xuyên không dủ  khả  nang thanh khoản có 
thể dẫn dến một cuộc rút tiền quy mô lớn và con duờng phá sản là tất yếu. 
** Năng lực dự báo của các nhà chức trách tiền tệ yếu

3.2Nhóm nguyên nhân chủ quan 
 ** Tăng trưởng tín dụng quá mức so với nguồn vốn
** Sự bất cập cơ cấu kì hạn của tài sản có và tài sản nợ
**Mật độ tập trung tiền gửi cao,cấu trúc tiền gửi kém ổn định
** Khả năng tiếp cận thị trường kém
** Do ngân hàng có chiến luợc quản trị rủi ro thanh khoản không phù hợp và kém hiệu  

quả nhu: các chứng khoán dang sở hữu có tính thanh khoản thấp, dự trữ của ngân hàng 
không dủ cho nhu cầu chi trả..
4. Ðánh giá trạng thái thanh khoản: Trạng thái thanh khoản ròng NPL của một ngân 
hàng đuợc xác dịnh nhu sau : 
        NPL = Tổng cung về thanh khoản ­ Tổng cầu về thanh khoản 
Có ba khả nang có thể xãy ra sau dây: 
                                    ­ Thặng du thanh khoản: Khi cung thanh khoản vuợt quá cầu 
thanh khoản   (NPL>0), ngân hàng dang  ở trạng thái thặng du thanh khoản. Nhà quản 
trị ngân hàng phải cân nhắc dầu tu số vốn thặng du này vào dâu dể mang lại hiệu quả 
cho tới khi chúng cần duợc sử dụng dáp ứng nhu cầu thanh khoản trong tuong lai. 
                        ­Thâm hụt thanh khoản:  Khi cầu thanh khoản lớn hon cung  
thanh khoản (NPL<0), ngân hàng phải dối mặt với tình trạng thâm hụt thanh khoản.  
Nhà quản trị  phải xem xét, quyết dịnh nguồn tài trợ  thanh khoản lấy từ  dâu, bao giờ 
thì có và chi phí bao nhiêu. 
                         ­Cân bằng thanh khoản: Khi cung thanh khoản cân bằng với 
cầu thanh khoản (NPL=0),  tình trạng này duợc gọi là cân bằng thanh khoản. Tuy  
Nguyễn Thu Hà – A1C

Page 7


Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
nhiên, dây là tình trạng rất khó xãy ra trên thực tế. 
 5. Chiến luợc quản trị thanh khoản: 
5.1 Ðuờng lối chung về quản trị thanh khoản:  Một số nguyên tắc mang tính 
chỉ dạo sau cần duợc tôn trọng dể quản trị thanh khoản một cách hiệu quả:
          Một là, nhà quản trị thanh khoản phải thuờng xuyên bám sát hoạt dộng của 
các bộ phận huy dộng vốn và sử  dụng vốn dể  diều phối hoạt dộng của các bộ  phận  
này sao cho an khớp với nhau. Chẳng hạn, khi một khoản tiền gửi l ớn d ến hạn trong  
vài ngày tới, thông tin này cần duợc chuyển ngay dến nhà quản trị thanh khoản, dể có 
quyết sách thích hợp chuẩn bị nguồn vốn dáp ứng nhu cầu này. 
Hai là, nhà quản trị  thanh khoản cần phải biết  ở dâu, khi nào khách hàng gửi  
tiền, xin vay dự dịnh rút vốn hoặc bổ sung tiền gửi hay trả nợ vay, nhất là các khách 
  hàng lớn. Thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ  giúp nhà quản trị  thanh khoản dự  kiến  
truớc duợc phần thặng du hay thâm hụt thanh khoản và xử lý có hiệu quả từng truờng  
hợp. 
Ba là, nhu cầu thanh khoản của ngân hàng và các quyết dịnh liên quan dến vấn  
dề  thanh khoản phải duợc phân tích trên co sở  liên tục, tránh dể  kéo dài quá lâu một  
trong hai tình trạng thặng du hay thâm hụt thanh khoản. Thặng du thanh khoản nên  
duợc dầu tu dúng lúc khi nó xãy ra nhằm tránh một sự  giảm sút trong thu nhập của 
ngân hàng; thâm hụt thanh khoản nên duợc xử lý kịp thời dể giảm bớt sự cang thẳng  
trong việc vay muợn hay bán tài sản. 
5.2 Các chiến luợc quản trị thanh khoản:  Ðể  xử  lý vấn dề thanh khoản, các ngân  
hàng có thể tiếp cận theo ba huớng sau dây: 
    ­ Tạo ra nguồn cung cấp thanh khoản từ bên trong (dựa vào tài sản “Có”).  
    ­ Vay muợn từ bên ngoài (dựa vào tài sản “Nợ”) dể dáp ứng nhu cầu thanh khoản.
    ­ Phối hợp cân bằng ở cả hai huớng nêu trên. 
A- Chiến luợc quản trị thanh khoản dựa vào tài sản “Có” (dự trữ, bán các 
chứng khoán và tài sản): 
Chiến luợc tiếp cận thanh toán thực sự  còn gọi là học thuyết cho vay thuong  
mại: Khi thực hiện chiến luợc này, ngân hàng chỉ cho vay ngắn hạn. Trong truờng hợp  
nhu cầu thanh khoản phát sinh, ngân hàng có thể  thu hồi các khoản cho vay hoặc bán  
nợ dể dáp ứng nhu cầu thanh khoản. Hạn chế của chiến luợc này là ngân hàng sẽ mất 
dần thị phần cho vay trung, dài hạn. 
Chiến luợc tiếp cận thị truờng tiền tệ còn gọi là chiến luợc tiếp cận thị  truờng vốn  
ngắn hạn:  Chiến luợc này dòi hỏi ngân hàng phải dự  trữ  thanh khoản dủ  lớn duới  
Nguyễn Thu Hà – A1C

Page 8


Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
hình thức nắm giữ những tài sản có tính thanh khoản cao, chủ yếu là tiền mặt và các  
chứng khoán ngắn hạn. Khi xuất hiện nhu cầu thanh khoản, ngân hàng sẽ bán lần luợt  
các tài sản dự trữ cho dến khi nhu cầu thanh khoản duợc dáp ứng. Chiến luợc quản trị 
thanh khoản theo huớng này thuờng duợc gọi là sự  chuyển hoá  tài sản, bởi lẽ nguồn  
cung thanh khoản duợc tài trợ  bằng cách chuyển dổi tài sản phi tiền mặt thành tiền  
mặt. 
Tài sản thanh khoản phải có các dặc diểm sau: 
 Phổ biến trên thị truờng nên có thể chuyển hoá ra tiền một cách nhanh chóng. 
 Giá cả ổn dịnh dể không ảnh huởng dến tốc dộ và doanh thu bán tài sản. 
 Nguời bán có thể mua lại dễ dàng với giá không cao hon nhiều so với giá cả dã bán  
ra
   dể khôi phục khoản dầu tu ban dầu. Những tài sản có tính thanh khoản phổ biến bao  
gồm: trái phiếu kho bạc, các 
khoản vay ngân hàng trung uong, trái phiếu dô thị, tiền gửi tại các ngân hàng khác,  
chứng khoán của các co quan chính phủ, chấp phiếu của ngân hàng khác. Nhu vậy,  
trong chiến luợc quản trị thanh khoản dựa trên tài sản “Có”, một ngân hàng duợc coi là  
quản trị  thanh khoản tốt nếu ngân hàng này có thể  tiếp cận nguồn cung thanh khoản  
với chi phí hợp lý, số luợng vừa dủ theo yêu cầu và kịp thời. 
Chiến luợc quản trị thanh khoản dựa vào tài sản “Có” có uu diểm là ngân hàng  
hoàn toàn chủ dộng trong việc tự dáp ứng nhu cầu thanh khoản cho mình mà không bị 
lệ thuộc vào các chủ thể khác. 
Tuy nhiên, chiến luợc này cung có những nhuợc diểm sau: 
 Một khi bán tài sản tức là ngân hàng mất di thu nhập mà các tài sản này tạo 
ra. Nhu vậy, ngân hàng dã chịu chi phí co hội khi bán di các tài sản dã dầu tu. 
 Phần lớn các truờng hợp khi bán tài sản dều tốn kém chi phí giao dịch nhu  
hoa hồng trả cho nguời môi giới chứng khoán. 
 Tổn thất càng lớn cho ngân hàng nếu các tài sản dem bán bị giảm giá trên thị 
truờng, hoặc bị  nguời mua  ép giá do phải gấp rút bán dể  dáp  ứng nhu cầu thanh  
khoản. 
 Ngân hàng phải dầu tu nhiều vào các tài sản có tính thanh khoản cao, lại là 
các tài sản có khả  nang sinh lợi thấp nên tất yếu  ảnh huởng dến hiệu quả  sử  dụng  
vốn của ngân hàng. 
B- Chiến luợc quản trị thanh khoản dựa vào tài sản “Nợ”: 

Nguyễn Thu Hà – A1C

Page 9


Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
  Ðây là chiến luợc quản trị  thanh khoản phổ  biến duợc các ngân hàng lớn sử 

dụng vào những nam 60 và 70 của thế kỷ truớc. Trong chiến luợc này, nhu cầu thanh  
khoản duợc dáp ứng bằng cách vay muợn trên thị truờng tiền tệ. Việc vay muợn chủ 
yếu là dể dáp ứng nhu cầu thanh khoản tức thời và chỉ thực hiện khi có  nhu cầu thanh  
khoản phát sinh. 
Nguồn tài trợ cho chiến luợc này thuờng bao gồm: vay qua dêm, vay ngân hàng 
trung uong, bán các hợp dồng mua lại, phát hành chứng chỉ  tiền gửi có thể  chuyển  
nhuợng mệnh giá lớn, ...Chiến luợc quản trị thanh khoản dựa trên tài sản “Nợ” duợc  
các ngân hàng lớn sử dụng rộng rãi và có thể lên dến 100% nhu cầu thanh khoản. 
Nhuợc diểm của chiến luợc này là ngân hàng bị  phụ  thuộc vào thị  truờng tiền  
tệ  khi dáp  ứng nhu cầu thanh khoản (nhung dồng thời cung dem lại lợi nhuận cao  
nhất) do sự  biến dộng về  khả  nang cho vay và lãi suất trên thị  truờng tiền tệ. Hon  
nữa, một ngân hàng vay muợn quá nhiều thuờng bị  dánh giá là có khó khan về  tài  
chính, khi thông tin này lan rộng ra, những khách hàng gửi tiền sẽ  rút vốn hàng loạt  
hoặc ngân hàng phải huy dộng vốn với chi phí cao gấp nhiều lần. Cùng lúc dó, các 
dịnh chế  tài chính khác, dể  tránh rủi ro có thể  gặp phải, sẽ  thận trọng, dè dặt hon 
trong việc tài trợ vốn cho ngân hàng này dể giải quyết khó khan về thanh khoản. 
C- Chiến luợc cân dối giữa tài sản “Có” và tài sản “Nợ” (quản trị  thanh 
khoản cân bằng): 
Nhu phân tích  ở  trên, cả  hai chiến luợc quản trị  thanh khoản dựa vào tài sản 
“Có” và dựa vào tài sản “Nợ” dều có hạn chế: chịu chi phí co hội khi bán các tài sản 
dự  trữ  hoặc bị  phụ  thuộc quá nhiều vào thị  truờng tiền tệ. Do dó, phần lớn các ngân  
hàng thuờng dung hoà và kết hợp cả hai chiến luợc trên dể tạo ra chiến luợc quản trị 
thanh khoản cân bằng. 
Ðịnh huớng của chiến luợc này là: các nhu cầu thanh khoản thuờng xuyên, hàng  
ngày sẽ  duợc dáp  ứng bằng tài sản dự  trữ  nhu tiền mặt, chứng khoán khả  mại, tiền  
gửi tại các ngân hàng khác ...; các nhu cầu thanh khoản không thuờng xuyên nhung có 
thể dự doán truớc nhu nhu cầu thanh khoản theo thời vụ, chu kỳ, xu 
huớng ... sẽ duợc dáp ứng bằng các thoả thuận truớc về hạn mức tín dụng từ các ngân  
hàng dại lý hoặc nhà cung ứng vốn khác; các nhu cầu thanh khoản dột xuất không thể 
dự  báo duợc dáp  ứng từ  việc vay muợn trên thị  truờng tiền tệ; các nhu cầu thanh  
khoản dài hạn duợc hoạch dịnh và nguồn tài trợ  là các khoản vay ngắn và trung hạn,  
chứng khoán có thể chuyển hoá thành tiền. 
Các yếu tố ảnh huởng dến việc lựa chọn các nguồn dự trữ khác nhau khi 
vận dụng chiến luợc quản trị thanh khoản cân bằng: 
Tính cấp thiết của nhu cầu thanh khoản:  Một nhu cầu thanh khoản tức thời  
Nguyễn Thu Hà – A1C

Page 10


Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
sẽ duợc tài trợ bằng ngân quỹ dự trữ, vay qua dêm hoặc tái chiết khấu tại ngân hàng  
trung uong. 
Thời hạn nhu cầu thanh khoản:  Một nhu cầu thanh khoản kéo dài vài ngày,  
vài tuần hoặc vài tháng có thể  duợc tài trợ bằng nguồn bán tài sản “Có” hay vay trên  
thị truờng tiền tệ. 
Khả nang thâm nhập thị truờng tài sản “Nợ”: Thuờng chỉ có các ngân hàng 
lớn mới có thể tham gia thị truờng tài sản “Nợ”; cho nên nhà quản trị  ngân hàng phải  
giới hạn phạm vi lựa chọn các thị truờng tài sản “Nợ” mà ngân hàng muốn tham gia. 
Chi phí và rủi ro: Lãi suất các nguồn vốn trên thị truờng thay dổi hàng ngày; do 
dó, các ngân hàng phải thuờng xuyên theo dõi thị truờng dể nắm bắt duợc các thông tin  
về lãi suất và các diều kiện cho vay di kèm. 
Dự  báo tỷ  lệ  lãi suất: Khi lập kế  hoạch dể  xử  lý tình trạng thâm hụt thanh  
khoản dự kiến, nhà quản trị phải dua ra các nguồn vốn có thể dáp ứng nhu cầu thanh 
khoản với lãi suất mong dợi thấp nhất. 
Triển vọng chính sách của ngân hàng trung uong và các khoản vay muợn của kho 
bạc: Nhà quản trị cung cần nghiên cứu dộng thái của ngân hàng trung uong, tình hình  
ngân sách nhà nuớc dể  dịnh huớng diều kiện tín dụng và dự  doán lãi suất trên thị 
truờng tiền tệ  sẽ  thay dổi ra sao. Chẳng hạn, một kế  hoạch huy dộng vốn lớn c ủa  
chính phủ, hoặc việc thực thi chính sách tiền tệ  thắt chặt sẽ  làm  giảm hạn mức tín  
dụng và gia tang lãi suất. Khi dó, quản trị thanh khoản gặp khó khan hon và chi phí lãi  
vay của ngân hàng cung tang tuong ứng. 
Các quy dịnh liên quan dến nguồn vốn thanh khoản:  Các quy dịnh của các 
co quan quản lý ngân hàng ngày càng có xu huớng quốc tế  hoá nên ngân hàng trong 
nuớc phải vận dụng một cách sáng tạo và phù hợp với thông lệ chung. 
6.Các tiêu chuẩn đánh giá cho thanh khoản
6.1­Trên thực tế, không một ngân hàng nào có thể khẳng dịnh dự trữ thanh khoản của  
ngân hàng mình dã hợp lý hay không, nếu nhu chua vuợt qua thử thách của thị truờng. 
Do vậy, các nhà quản trị cần chú ý dến các tín hiệu sau dây của thị truờng tài chính: 
- Lòng tin của công chúng:  Các cá nhân và tổ  chức có lo ngại về  khả  nang  
thanh khoản của ngân hàng? 
- Sự vận dộng trong giá cả cổ phiếu: Giá cổ phiếu của ngân hàng dang giảm 
sút có phải do nhà dầu tu lo ngại về một cuộc khủng hoảng thanh khoản có thể xãy ra 
dối với ngân hàng? 
- Phần bù rủi ro trên chứng chỉ  tiền gửi và các khoản cho vay khác: Phần 
bù rủi ro này có cao hon mức bình quân trên thị truờng; diều dó thể hiện nhà dầu tu có 
Nguyễn Thu Hà – A1C

Page 11


Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
những lo ngại về tuong lai phát triển của ngân hàng? 
- Tổn thất trong việc bán tài sản:  Ngân hàng có phải thuờng xuyên bán tài 
sản với tổn thất dáng kể nhằm dáp ứng nhu cầu thanh khoản? 
- Khả nang dáp ứng yêu cầu tín dụng của khách hàng:  Với khoản tín dụng 
chất luợng cao, ngân hàng luôn có khả nang dáp ứng hay từ chối? 
- Vay vốn từ ngân hàng trung uong: Ngân hàng có phải nằm trong tình huống 
bắt buộc phải vay những khoản lớn từ ngân hàng trung uong dể  dảm bảo khả  nang  
thanh toán? 
Nếu câu trả lời là có cho bất kỳ tín hiệu nào trên dây, nhà quản trị cần xem xét  
lại chiến luợc quản trị và thực tế khả nang thanh khoản dể có các quyết dịnh thay dổi  
phù hợp nhằm mang lại một kết quả tốt hon cho trạng thái thanh khoản.  
6.1.2­ Hệ thống chỉ tiêu định lượng
*Chỉ số trạng thái tiền mặt 
               =(Tiền mặt +TG ở các TCTD khác)/TTS có
*Chỉ số dự trữ thanh toán
              =Dự trữ thanh toán/TTS có
*Chỉ số cơ cấu tiền gửi 
          =Dư  nợ  cho vay khách hàng trước dự  phòng rủi ro/TG của khách  
hàng
 *Chỉ số cơ cấu tiền gửi 
               = TG không kì hạn/TG có kỳ hạn
*Chỉ số nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung,dài hạn
               =(Dư nợ trung,dài hạn ­ NV trung,dài hạn)/NV ngắn hạn
            *Tỷ lệ khả năng chi trả
                        = TTS có có thể thanh toán ngay/TTS nợ sẽ đến hạn thanh toán
7. Mục tiêu quản trị rủi ro thanh khoản
­Cảnh báo các nguy cơ và những nguy cơ và tổn thất khi rủi to thanh khoản xảy ra
­Đảm bảo khả năng chi trả kịp thời của các NHTM với các chi phí hợp lý
8.Dấu hiệu rủi ro thanh khoản
­Sự gia tăng tập trung của tài sản có hoặc tài sản nợ
Nguyễn Thu Hà – A1C

Page 12


Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
­Tốc độ tăng các khoản vay lớn hơn tốc độ tăng của các khoản tiền gửi
­Các xu hướng bất lợi hoặc rủi ro gia tăng lien quan tới 1 dòng sản phẩm cụ thể
­Dư luận xấu trên thị trường
­Chỉ số tín dụng,tín nhiệm giảm
­Chi phí tài trợ vốn trên thị trường bán lẻ,bán buôn tăng
­Tập trung của nguồn tiền cung cấp cho ngân hàng trên thị trương bán buôn
­Suy giảm của nguồn tiền cung cấp cho ngân hàng trên thị trường bán buôn
­Tiền gửi có kìhạn bị rút trước hạn gia tăng
                 Nhu vậy, thanh khoản và quản trị  rủi ro thanh khoản là vấn dề  thuờng  
xuyên, then chốt quyết dịnh dến sự tồn tại của các ngân hàng. Về lý thuyết, có ba  
chiến luợc, sáu phuong pháp quản trị  rủi ro thanh khoản. Tùy vào dặc diểm về  
phạm vi, quy mô hoạt dộng, nang lực quản lý và môi truờng kinh tế vi mô mà ngân  
hàng lựa chọn chiến luợc, phuong pháp quản trị  thanh khoản tuong  ứng. Các  
ngân hàng thuong mại Việt Nam nếu mong muốn nâng cao nang lực cạnh tranh và  
hiệu quả, an toàn trong hoạt dộng, nhất là trong diều kiện hội nhập hiện nay,  
vấn dề thanh khoản, quản trị rủi ro thanh khoản không thể  xem nhẹ. Trong thời  
gian qua, khi Ngân hàng Nhà nuớc thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt, tính thanh  
khoản của các ngân hàng thuong mại Việt Nam dã gặp khó khan nhất dịnh. Chúng  
ta sẽ tìm hiểu vấn dề này ở Chuong 2; qua dó, một số kiến nghị và gợi ý sẽ duợc  
dua ra ở Chuong 3, với mong muốn nhỏ góp phần nâng cao hiệu quả quản trị rủi  
ro thanh khoản của các ngân hàng thuong mại Việt Nam trong thời gian tới. 

Phần 2 : THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG CÁC 
NGÂN HÀNG THUONG MẠI VIỆT NAM 
2.1 Tổng quan về hệ thống ngân hàng thuong mại Việt Nam: 
2.1.1 Bức tranh tổng quan về hệ thống ngân hàng thuong mại Việt Nam: 
Nam 1989, hệ thống ngân hàng Việt Nam duợc chuyển dổi từ hệ thống ngân 
hàng một cấp, trong dó Ngân hàng Nhà nuớc Việt Nam là ngân hàng thực hiện cả chức 
nang của ngân hàng thuong mại và ngân hàng trung uong, sang hệ thống ngân hàng hai  
cấp có dịnh huớng thị truờng hon. Các chi nhánh ngân hàng nuớc ngoài duợc phép tham  
gia vào thị truờng từ nam 1994. 
Nguyễn Thu Hà – A1C

Page 13


Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
Ở  cấp dộ  ngân hàng thuong mại, các ngân hàng thuong mại nhà nuớc duợc  
khuyến khích hoạt dộng theo huớng thuong mại hon. Các khoản nợ xấu có nguồn gốc 
từ truớc dã duợc phân loại và xử lý thông qua một số chuong trình xử lý nợ trên phạm  
vi cả nuớc 
Ngân hàng Nhà nuớc dã thực hiện quá trình cải cách. Co chế quản lý tín dụng, 
ngoại hối và lãi suất duợc nới lỏng dể phù hợp hon với co chế thị truờng. Những hạn  
chế  dối với hoạt dộng của các ngân hàng nuớc ngoài dã duợc xoá bỏ  dần. Ðã có sự 
minh bạch hon trong quá trình xây dựng các quy dịnh và trong giám sát ngân hàng. 
Khuôn khổ pháp lý tiếp tục duợc cải cách. 
Ðiểm cốt lõi trong các nỗ lực cải cách dối với các ngân hàng thuong mại là tang 
vốn cho các ngân hàng này, bao gồm tang vốn diều lệ, tiến tới dạt duợc hệ số an toàn  
vốn theo tiêu chuẩn quốc tế là 8% và giải quyết vấn dề nợ xấu. Quá trình co cấu lại 
dã dạt duợc một số  tiến bộ. Khoảng gần 5 nghìn tỷ  dồng trong vốn diều lệ  của 5  
ngân hàng thuong mại nhà nuớc là do chính phủ  cấp. Các ngân hàng thuong mại nhà 
nuớc dã duợc kiểm toán bởi các tổ  chức kiểm toán quốc tế, phù hợp với các tiêu  
chuẩn kế toán quốc tế. Phần lớn các ngân hàng thuong mại cổ phần dã tang vốn diều  
lệ tối thiểu dể dạt mức vốn pháp dịnh. 
Về mặt thể chế, các ngân hàng thuong mại dã duợc tổ  chức lại dể tang cuờng  
chất luợng quản trị  và hợp lý hoá co cấu tổ  chức của ngân hàng. Co sở hạ  tầng công 
nghệ thông tin cung dã duợc hiện dại hoá hon, tạo diều kiện cho các ngân hàng có thể 
cung cấp các dịch vụ  mới cho thị truờng. Các quy trình và thủ  tục kinh doanh mới dã  
duợc dua vào áp dụng trong linh vực tín dụng, quản lý tài sản “Nợ”, tài sản “Có”,  
kiểm toán nội bộ và quản trị rủi ro. 
Ðiểm yếu lớn nhất của hệ  thống ngân hàng Việt Nam là sự  chi phối của các ngân  
hàng thuong mại nhà nuớc. Về mặt truyền thống, trên thế giới, các ngân hàng thuong  
mại nhà nuớc dã có những nguời chủ  yếu kém, không có khả  nang dem lại một kết  
quả  kinh doanh bền vững hoặc thực hiện các quy dịnh an toàn tuong tự  nhu duợc dặt 
ra cho các ngân hàng tu nhân. 
Chính phủ  Việt Nam dã nhìn thấy và dề  ra lộ trình cổ  phần hoá các ngân hàng  
thuong mại nhà nuớc. Nhung duờng nhu tiến dộ thực hiện dã quá thận trọng hon mức  
cần thiết. Một số chuyên gia nuớc ngoài còn cho rằng các ngân hàng thuong mại nhà  
nuớc có thể  làm suy yếu lẫn nhau nếu thực thi những chiến luợc giống nhau và trở 
thành những ngân hàng da nang. Duờng nhu khuyến cáo trên dang duợc chính các ngân  
hàng này hiện thực hoá bằng những buớc di tuong tự nhu việc bán cổ phần cho những 
nhà dầu tu chiến luợc, liên kết với các tổng công ty lớn và kinh doanh da linh vực.  
Có thể  nói, nếu mong muốn nâng cao nang lực cạnh tranh của các ngân hàng thuong  
mại Việt Nam trong cuộc dua duờng dài với tiến trình hội nhập, không còn lựa chọn  
Nguyễn Thu Hà – A1C

Page 14


Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
nào khác là phải tiếp tục cải cách hệ  thống ngân hàng Việt Nam và tất nhiên con 
duờng dó không bằng phẳng. 
2.1.2 Tác dộng của diều kiện kinh tế vi mô dến hoạt dộng của hệ  thống  
ngân hàng thuong mại Việt Nam: 
Giai   doạn   1998­2001,   tốc   dộ   tang   truởng   kinh   tế   Việt   Nam   dạt   thấp   duới  
7%/nam. Chính phủ dã thực hiện nhiều giải pháp kích cầu nhằm dua nền kinh tế thoát 
khỏi thời kỳ suy giảm. Không thể phủ nhận những thành công duợc mang lại từ chính 
sách dó. Nhung nguyên nhân của mức tang giá “chóng mặt” nam 2004 là do cầu kéo, có  
thể duợc giải thích một phần từ việc thực thi chính sách duợc dề cập trên dây. 
Tuy nhiên, nam 2007 lại chứng kiến áp lực tang giá tuong tự  nam 2004. Tình  
hình có vẻ phức tạp hon khi nền kinh tế Việt Nam dã thực sự  buớc vào sân choi lớn 
WTO. Theo Bộ  Kế  hoạch và Ðầu tu, dầu tu trực tiếp nuớc ngoài nam 2007 lên dến 
20,3 tỷ  USD, tang 69,3% so với nam 2006. Cùng với vốn dầu tu trực tiếp, dòng vốn 
gián tiếp cung dang dổ vào thị truờng chứng khoán, thị truờng bất dộng sản thông qua 
các quỹ dầu tu nuớc ngoài. 
  Cuộc khủng hoảng bắt dầu từ nền kinh tế Mỹ từ cu ối nam 2007 và nam 2008 

dã khiến hàng tram tỷ USD dã tiêu tan và sự lây lan này vẫn chua chấm dứt. Việt Nam  
cung chịu  ảnh huởng nhất dịnh từ  cuộc khủng hoảng trên, khi mà nền kinh tế  trong 
nuớc ngày càng hội nhập dầy dủ  và sâu rộng hon vào kinh tế  khu vực và thế  giới. 
Chính sách thắt chặt tiền tệ duợc thực thi khi lạm phát gia tang cùng với tác dộng từ 
cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu dã làm cho hoạt dộng sản xuất kinh doanh của các  
doanh nghiệp nội dịa trở  nên hết sức khó khan, dặc biệt doanh nghiệp nhỏ  và vừa. 
Nguy co hàng loạt doanh nghiệp bên vực phá sản dần hiện hữu. 
            Chính phủ  dã nhận ra vấn dề cấp thiết dó, kịp thời ban hành Nghị  quyết số 
30/2008/NQ­CP ngày 11/12/2008 về  những giải pháp cấp bách nhằm ngan chặn suy  
giảm kinh tế, duy trì tang truởng kinh tế, bảo dảm an sinh xã hội. Triển khai Nghị 
quyết nêu trên của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nuớc có Chỉ  thị  số  06/2008/CTNHNN  
ngày 31/12/2008. Tinh thần chủ dạo của chỉ thị này là diều hành chính sách tiền tệ linh 
hoạt, hiệu quả, vừa ngan ngừa lạm phát trở lại, vừa ngan chặn suy giảm kinh tế. Các  
giải pháp áp dụng trong tình huống này là diều chỉnh giảm lãi suất co bản và tỷ  lệ 
DTBB. Ðến cuối nam 2008, lãi suất co bản bằng dồng Việt Nam từ 14%/nam xuống  
còn 8,5%/nam; tỷ  lệ  DTBB giảm hon một nửa, từ  mức 11% xuống còn 5%. Với sự 
diều hành quyết liệt của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nuớc, lạm phát dã duợc kiềm  
chế, kinh tế vi mô co bản duợc giữ ổn dịnh, an sinh xã hội duợc bảo dảm, tốc dộ tang  
truởng GDP nam 2008 dạt 6,23%, tỷ lệ lạm phát ở mức 19,89%.  
     
Nguyễn Thu Hà – A1C

Page 15


Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
    2.2 Thực trạng quản trị  rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thuong mại  
Việt Nam: 
Với chuong trình cải cách duợc thiết lập toàn diện và những kết quả dạt duợc  
tuởng chừng nhu hệ thống ngân hàng thuong mại Việt Nam vững vàng truớc mọi thử 
thách. Tuy nhiên, những gì diễn ra cuối nam 2007 và những tháng dầu nam 2008 dã  
chứng tỏ  diều nguợc lại. Truớc các biện pháp mạnh của Ngân hàng Nhà nuớc nhằm  
kiềm chế  lạm phát, diểm yếu thanh khoản của các ngân hàng thuong mại dần lộ  rõ.  
Ðể dảm bảo khả nang thanh khoản, các ngân hàng dã tang lãi suất thu hút tiền gửi của 
khách hàng. Ðiều này dẫn dến cuộc chạy dua lãi suất vào giữa tháng 2 nam 2008 và có  
lẽ không có diểm dừng nếu Ngân hàng Nhà nuớc không “tuýt còi” bằng Công diện số 
02/CЭNHNN ngày 26/02/2008 khống chế trần lãi suất huy dộng là 12%/nam. Lãi suất  
vay qua dêm trên thị  truờng liên ngân hàng có lúc vuợt qua con số  40%/nam, là mức 
tang cao nhất chua từng có trong lịch sử thị truờng liên ngân hàng Việt Nam. Mặc dù,  
các ngân hàng dều khẳng dịnh khả  nang thanh khoản của ngân hàng mình vẫn dảm 
bảo. Nhung cuộc chạy dua lãi suất không có diểm dừng không thể  chỉ  do chính sách 
thắt chặt tiền tệ mạnh từ Ngân hàng Nhà nuớc. Ðó là do vấn dề  quản trị  rủi ro kinh  
doanh nói chung, quản trị  rủi ro thanh khoản nói riêng chua duợc coi trọng; các ngân 
hàng dã tang truởng tín dụng quá nhanh và dầu tu vào các linh vực có rủi ro cao nhu  
chứng khoán, bất dộng sản. Khi các thị  truờng này sụt giảm thì khả  nang thu hồi các 
khoản cho vay dó bị ảnh huởng. Tỷ lệ tang truởng tín dụng bình quân nam 2007 so với  
2006 của 33 ngân hàng thuong mại là 53,22% dã minh chứng cho nhận dịnh trên dây 

Ví dụ minh họa :
Truờng hợp Ngân hàng Ðầu tu và Phát triển Việt Nam (BIDV): 
Ngân hàng Ðầu tu và Phát triển Việt Nam là một trong những ngân hàng thuong 
mại nhà nuớc. Ðến cuối nam 2008, số vốn diều lệ của BIDV hon 8 ngàn tỷ VND. Với  
bề  dày phát triển 52 nam, BIDV có mạng luới rộng khắp cả  nuớc, chỉ xếp sau Ngân 
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về  số  diểm giao dịch. Trong nam 2007,  
2008, không nằm ngoài xu huớng chung của hệ thống ngân hàng Việt Nam, tính thanh 
khoản tại BIDV cung có những khó khan nhất dịnh. 
1­ Quy dịnh về hoạt dộng quản trị thanh khoản:  BIDV dã ban hành quy dịnh 
về quản lý thanh khoản vào tháng 3 nam 2007. 
Mục dích của quy dịnh này nhằm: dáp  ứng kịp thời các nghia vụ  thanh toán dến hạn  
của toàn hệ thống với chi phí hợp lý, dảm bảo an toàn trong hoạt dộng; giảm thiểu rủi  
ro thanh khoản thông qua quá trình nhận biết, uớc tính, theo dõi, kiểm soát rủi ro theo  
Nguyễn Thu Hà – A1C

Page 16


Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
chuẩn mực quốc tế; nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong hoạt dộng kinh doanh ngân 
hàng. 
      A­Phuong pháp phân tích thanh khoản tinh:  các chỉ số thanh khoản sau dây duợc  
sử dụng: 
 Chỉ  số  dự  trữ  so cấp: ALCO quyết dịnh chỉ số dự trữ  so cấp của toàn hệ 
thống và của từng chi nhánh trong cuộc họp dịnh kỳ.
            Chỉ số dự trữ thanh toán: ALCO quyết dịnh chỉ số dự trữ thanh toán và các  
cấu   phần   dự   trữ   thanh   toán   của   toàn   hệ   thống   trong   cuộc   họp   dịnh   kỳ.  
Giấy tờ có giá có tính thanh khoản cao gồm tín  phiếu, trái phiếu chính phủ, công trái  
giáo dục, trái phiếu dô thị. Tỷ  lệ  diều chỉnh theo quy dịnh của ALCO nhung tối da  
bằng mức quy dịnh của Ngân hàng Nhà nuớc. 
 Chỉ  số  cho vay/tiền gửi: ALCO quyết dịnh chỉ số du nợ cho vay /tiền gửi  
trong các cuộc họp dịnh kỳ.        
 Chỉ số khả nang thanh toán: ALCO quyết dịnh giới hạn chỉ số thanh toán 7 
ngày và giới hạn chỉ  số  thanh toán 1 tháng nhung không thấp hon giới hạn theo quy 
dịnh hiện hành của Ngân hàng Nhà nuớc
.          Chỉ  số  khả  nang thanh toán 7 ngày:   Tổng tài sản “Có” có thể  thanh toán 
ngay trong 7 ngày làm việc tiếp theo = Tổng tài sản “Nợ” phải thanh toán ngay trong 7  
ngày làm việc tiếp theo 
 Chỉ số khả nang thanh toán 1 tháng:  Tổng tài sản “Có” có thể thanh toán 
ngay trong 1 tháng tiếp theo =  Tổng tài sản “Nợ” phải thanh toán ngay trong 1 tháng 
tiếp theo   
Tổng tài sản “Có” có thể thanh toán ngay và tổng tài sản “Nợ” có thể thanh toán  
ngay theo Quyết  dịnh số 457/2005/QЭ NHNN ngày 19/04/2005 của Thống dốc Ngân  
hàng Nhà nuớc về việc ban hành “Quy dịnh về các tỷ  lệ  dảm bảo an toàn trong hoạt  
dộng của TCTD”. 
B­Phuong pháp phân tích thanh khoản dộng: gồm các buớc sau: 
 Lập báo cáo cung cầu thanh khoản: Bộ phận hỗ trợ ALCO (phòng Cân 
dối tổng hợp) xây dựng báo cáo cung cầu thanh khoản bằng cách phân bổ dữ liệu gốc  
luồng tiền vào, luồng tiền ra dến hạn vào các dải kỳ  hạn: 1 ngày, 7 ngày, 8 ngày , 1 
tháng, 3 tháng, 6 tháng. 
 Phân   tích   mô   phỏng   thanh   khoản:  Hàng   tuần,   bộ   phận   hỗ   trợ   ALCO 
(phòng Cân dối tổng hợp) thiết lập các kịch bản trong tuong lai dựa trên các giả  dịnh  
với xác suất xãy ra tối thiểu 5%. Các giả dịnh nêu trong kịch bản bao gồm:  
Nguyễn Thu Hà – A1C

Page 17


Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
­ Giả dịnh thay dổi lãi suất.  ­ Giả dịnh thay dổi môi truờng kinh tế vi mô (lạm 
phát, tang truởng, chu kỳ 
kinh tế…) và môi truờng vi mô (cạnh tranh của các tổ  chức tín dung khác, uy tín  
BIDV…).   
             Với mỗi kịch bản, cần dự báo các yếu tố sau: 
 + Kế hoạch cho vay mới.   
+ Khả nang huy dộng tiền gửi mới từ các tổ chức, cá nhân. 
 + Khả nang huy dộng vốn mới từ phát hành giấy tờ có giá. 
+ Khả nang vay cầm cố, chiết khấu của Ngân hàng nhà nuớc.  
+ Khả nang huy dộng thêm tiền gửi, vay các Tổ chức tín dụng khác.  
+ Khả nang thực hiện hợp dồng repo (bán chứng khoán có cam kết mua lại). 
+ Khả nang chuyển các tài sản khác (tài sản cố dịnh, vốn liên doanh, cổ 
phần…) thành tiền mặt.  
 Phân tích khả nang thanh khoản: theo từng kịch bản, bộ phận hỗ trợ 
ALCO (phòng Cân dối tổng hợp) xây dựng lại báo cáo luồng tiền vào, luồng tiền ra;  
xác dịnh trạng thái thanh khoản dể  dự  doán thanh khoản trong thời gian tới du thừa  
hay thiếu hụt.                                                                
Trên co sở kết quả của 2 phuong pháp nêu trên, ALCO sẽ quyết dịnh các biện  
pháp xử lý thích ứng. 
2­ Thanh khoản và quản trị thanh khoản tại BIDV: 
Những hạn chế  về thanh khoản của BIDV có thể  xuất phát từ  các nguyên nhân chủ 
quan nhu sau: 
­ Mặc dù quy dịnh về quản lý thanh khoản dã duợc ban hành, nhung việc triển  
khai áp dụng nhất là tại các chi nhánh chua duợc quan tâm dúng mức từ cấp lãnh dạo 
dến nhân viên.  ­ Hội sở chính chua có quy dịnh cụ thể về các tỷ lệ an toàn trong hoạt 
dộng cần dảm bảo dối với các chi nhánh. Các giới hạn dặt ra cho các chỉ số cho toàn  
hệ thống phải chang chua phù hợp, nhu tỷ lệ dự trữ tối thiểu chỉ là 8%.  
­ Bộ  phận hỗ  trợ  ALCO khi lập báo cáo cung cầu thanh khoản, xây dựng các 
kịch bản phải chang dã kỳ vọng nhiều vào thị truờng nên có những dánh giá khả quan;  
từ dó dẩy mạnh cho vay, giảm dự trữ. Ngay cả khi vấn dề khó khan về  thanh khoản  
qua chua lâu, nhung du nợ của BIDV tang mạnh vào các tháng cuối nam 2008
 ­ Thời diểm Ngân hàng Nhà nuớc giảm lãi suất co bản nhằm chống suy giảm  
kinh tế, kích cầu dầu tu, tiêu dùng. 
          
Nguyễn Thu Hà – A1C

Page 18


Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
          Ðánh giá chung về thanh khoản và quản trị thanh khoản của các ngân hàng  
thuong mại Việt Nam:  Những phân tích, dánh giá trên dây cho thấy sự yếu kém trong 
hoạt dộng quản trị rủi ro thanh khoản ở các ngân hàng thuong mại Việt Nam xuất phát 
từ các nguyên nhân chủ yếu nhu sau:  
­ Ðặc trung của nền kinh tế  chuyển dổi:  Có thể  nói những diểm yếu trong khả 
nang thanh khoản nói riêng và hoạt dộng kinh doanh nói chung của nhóm ngân hàng  
duợc khảo sát thể  hiện các dặc trung của hệ thống ngân hàng thuong mại  ở  các nền  
kinh tế chuyển dổi
­ Chính sách tiền tệ  thiếu nhất quán và có quá nhiều mục tiêu dã làm cho Ngân 
hàng Nhà nuớc trong một số tình huống trở nên khó khan hon khi lựa chọn công cụ tác 
dộng, nhất là trong diều kiện Việt Nam, các công cụ diều tiết vi mô trong linh vực tài 
chính, tiền tệ chua nhiều, chua hoàn thiện. 
­ Nang lực nội tại yếu kém của các ngân hàng thuong mại: Những yếu kém trong 
quản trị thanh khoản của các ngân hàng thuong mại không chỉ bắt nguồn từ những hạn 
chế  của diều tiết vi mô, mà còn do các nguyên nhân nội tại của chính các ngân hàng 
này. 
.  Kết luận: Phân tích thực tế tính thanh khoản và quản trị thanh khoản của các ngân  
hàng duợc khảo sát cho thấy: Khi lãi suất trên thị  truờng liên ngân hàng còn thấp, các  
ngân hàng dã vay qua dêm dể dảm bảo DTBB và khả nang thanh toán; còn nguồn vốn 
huy dộng duợc dem cho vay, mà lại cho vay dầu tu vào chứng khoán, bất dộng sản ­  
những linh vực có dộ  rủi ro cao. Khi luợng cung tiền bị siết chặt cung là lúc lãi suất 
tang cao, trong khi các khoản cho vay chua thể  thu hồi (hay khó thu hồi), khả  nang 
thanh khoản sụt giảm là diều tất yếu. Thêm vào dó, các tài sản khác nhu chứng khoán  
có thể dễ dàng chuyển dổi sang tiền mặt lại duợc dự trữ với tỷ lệ khá thấp, cung làm  
cho tình trạng cang thẳng thanh khoản trầm trọng thêm. Rõ ràng khi Ngân hàng Nhà 
nuớc thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ, khả  nang thanh khoản của các ngân hàng 
thuong mại dã gặp khó khan nhất dịnh. Di nhiên, dó là thách thức nhung cung là co hội  
dể  các ngân hàng nhìn lại mình và có các giải pháp hợp lý nhằm dạt dến sự  tang  
truởng bền vững trong tuong lai truớc khi quá muộn. Xét ở một khía cạnh nào dó, phải  
chang dó là “giá trị” của lạm phát. 
           Phần  3 
MỘT SỐ  BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ  QUẢN TRỊ  RỦI RO  
THANH KHOẢN TRONG CÁC NGÂN HÀNG THUONG MẠI VIỆT NAM 
3.1 Ðịnh huớng phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam dến nam 2010 
và dịnh huớng chiến luợc dến nam 2020:    Ðề  án phát triển ngành ngân hàng Việt 
Nguyễn Thu Hà – A1C

Page 19


Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
Nam dến nam 2010 và dịnh huớng chiến luợc dến nam 2020 dã duợc Thủ tuớng chính 
phủ  phê duyệt bằng Quyết dịnh số  112/2006/QЭTTg ngày 24/05/2006; trong dó dặt 
ra: 
3.1.1 Ðịnh huớng phát triển Ngân hàng Nhà nuớc Việt Nam dến nam 2010  
và dịnh huớng chiến luợc dến nam 2020: 
Ðổi mới tổ chức và hoạt dộng của Ngân hàng Nhà nuớc dể hình thành bộ  máy 
tổ chức tinh gọn, chuyên nghiệp, có dủ nguồn lực, nang lực xây dựng và thực thi chính  
sách tiền tệ theo nguyên tắc thị  truờng dựa trên co sở công nghệ  tiên tiến, thực hiện  
các thông lệ, chuẩn mực quốc tế  về  hoạt dộng ngân hàng trung uong, hội nhập với  
cộng dồng tài chính quốc tế, thực hiện có hiệu quả  chức nang quản lý nhà nuớc trên  
linh vực tiền tệ  và hoạt dộng ngân hàng, dồng thời tạo nền tảng dến sau nam 2010  
phát triển Ngân hàng Nhà nuớc trở  thành ngân hàng trung uong hiện dại, dạt trình dộ 
tiên tiến của các ngân hàng trung uong trong khu vực Châu Á. 
Xây dựng và thực thi có hiệu quả chính sách tiền tệ nhằm  ổn dịnh giá trị dồng  
tiền, kiểm soát lạm phát, góp phần ổn dịnh kinh tế vi mô, tang truởng kinh tế và thực  
hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá, hiện dại hoá dất nuớc. Ðiều hành tiền tệ, 
lãi suất và tỷ giá hối doái theo co chế thị truờng thông qua sử dụng linh hoạt, có hiệu 
quả các công cụ chính sách tiền tệ gián tiếp. Ứng dụng công nghệ thông tin, mở rộng  
nhanh các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt và thanh toán qua ngân hàng. Nâng 
dần và tiến tới thực hiện dầy dủ tính chuyển dổi của dồng tiền Việt Nam. Chính sách 
tiền tệ  tạo diều kiện huy dộng và phân bổ  có hiệu quả  các nguồn lực tài chính. Kết  
hợp chặt chẽ chính sách tiền tệ với chính sách tài khoá dể dịnh huớng và khuyến khích  
công chúng tiết kiệm, dầu tu và phát triển sản xuất kinh doanh. 
  3.1.2. Ðịnh huớng phát triển các tổ  chức tín dụng dến nam 2010 và dịnh  
huớng chiến luợc dến nam 2020: 
Cải cách can bản, triệt dể  và phát triển toàn diện hệ  thống các TCTD theo  
huớng hiện dại, hoạt dộng da nang dể dạt trình dộ phát triển trung bình tiên tiến trong 
khu vực ASEAN với cấu trúc da dạng về sở hữu, về loại hình TCTD, có quy mô hoạt  
dộng lớn hon, tài chính lành mạnh, dồng thời tạo nền tảng dến sau nam 2010 xây 
dựng duợc hệ thống các TCTD hiện dại, dạt trình dộ tiên tiến trong khu vực Châu Á,  
dáp  ứng dầy dủ  các chuẩn mực quốc tế  về  hoạt dộng ngân hàng, có khả  nang cạnh 
tranh với các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới. Bảo dảm các TCTD, kể cả các 
TCTD nhà nuớc hoạt dộng kinh doanh theo nguyên tắc thị  truờng và vì mục tiêu chủ 
yếu là lợi nhuận. Phát triển hệ thống TCTD hoạt dộng an toàn và hiệu quả vững chắc 
dựa trên co sở công nghệ  và trình dộ quản lý tiên tiến, áp dụng thông lệ, chuẩn mực  
quốc tế  về  hoạt dộng ngân hàng thuong mại. Phát triển các TCTD phi ngân hàng dể 
góp phần phát triển hệ thống tài chính da dạng và cân bằng hon. Phát triển và da dạng 
Nguyễn Thu Hà – A1C

Page 20


Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
hóa các sản phẩm, dịch vụ  ngân hàng, dặc biệt là huy dộng vốn, cấp tín dụng, thanh  
toán với chất luợng cao và mạng luới phân phối phát triển hợp lý nhằm cung ứng dầy 
dủ, kịp thời, thuận tiện các dịch vụ, tiện ích ngân hàng cho nền kinh tế trong thời kỳ 
dẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện dại hóa. Hình thành thị  truờng dịch vụ  ngân hàng,  
dặc biệt là thị  truờng tín dụng cạnh tranh lành mạnh, bình dẳng giữa các loại hình 
TCTD, tạo co hội cho mọi tổ chức, cá nhân có nhu cầu hợp pháp, dủ khả nang và diều  
kiện duợc tiếp cận một cách thuận lợi các dịch vụ  ngân hàng. Ngan chặn và hạn chế 
mọi tiêu cực trong hoạt dộng tín dụng. 
Tiếp tục dẩy mạnh co cấu lại hệ thống ngân hàng. Tách bạch tín dụng chính sách và 
tín dụng thuong mại trên co sở phân biệt chức nang cho vay của ngân hàng chính sách  
với chức nang kinh doanh tiền tệ của ngân hàng thuong mại. Bảo dảm quyền tự chủ,  
tự  chịu trách nhiệm của TCTD trong kinh doanh. Tạo diều kiện cho các TCTD trong  
nuớc nâng cao nang lực quản lý, trình dộ nghiệp vụ và khả nang cạnh tranh. Bảo dảm 
quyền kinh doanh của các ngân hàng và các tổ chức tài chính nuớc ngoài theo các cam 
kết của Việt Nam với quốc tế. Gắn cải cách ngân hàng với cải cách doanh nghiệp,  
dặc biệt là doanh nghiệp nhà nuớc. Tiếp tục củng cố, lành mạnh hoá và phát triển các  
ngân hàng cổ  phần; ngan ngừa và xử  lý kịp thời, không dể  xảy ra dổ  vỡ  ngân hàng 
ngoài sự  kiểm soát của Ngân hàng Nhà nuớc dối với các TCTD yếu kém. Ðua hoạt 
dộng của quỹ tín dụng nhân dân di dúng huớng và phát triển vững chắc, an toàn, hiệu 
quả. 
Phuong châm hành dộng của các TCTD là “An toàn ­ Hiệu quả  ­ Phát triển 
bền vững ­ Hội nhập quốc tế”. 
3.2 Biện pháp nâng cao hiệu quả  quản trị  rủi ro thanh khoản trong các 
ngân hàng thuong mại Việt Nam:
  3.2.1 Về phía Chính phủ: 
3.2.1.1 Một ngân hàng trung uong dộc lập và dủ mạnh: 
Trong dề  án phát triển Ngân hàng Nhà nuớc, Chính phủ  chua nêu rõ mô hình  
Ngân hàng Nhà nuớc sẽ theo mô hình nào: trực thuộc Chính phủ hay dộc lập với 
  ­ 59 ­      

Chính phủ. Tuy nhiên, cho dù áp dụng mô hình nào di nữa, vấn dề then chốt là phải 
nâng cao vị  thế và tính dộc lập của Ngân hàng Nhà nuớc với Chính phủ. Có nhu vậy  
Ngân hàng Nhà nuớc mới có thể  dua ra các quyết dịnh diều hành chính sách tiền tệ 
một cách nhanh chóng, nhằm tác dộng dến nền kinh tế một cách kịp thời và mang lại 
hiệu quả cao. 
3.2.1.2 Hoàn thiện hệ  thống luật pháp dáp  ứng yêu cầu hội nhập:   Cuộc 
khủng hoảng tài chính Châu Á nam 1997 xãy ra bắt dầu ở Thái Lan; 
Nguyễn Thu Hà – A1C

Page 21


Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
sau dó nhanh chóng lan sang một loạt các nuớc trong khu vực và tác dộng tới toàn thế 
giới. Trong số những nuớc dã tự  do hóa thị  truờng vốn và nằm trong vòng xoáy cuộc  
khủng hoảng dó, không phải ngẫu nhiên mà nuớc khống chế tốt nhất những tác dộng 
của cuộc khủng hoảng, Singapore, chính là nuớc có hệ thống luật pháp tốt nhất. Việt 
Nam dang hội nhập ngày càng sâu rộng hon vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Cho  
nên, việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống hành lang pháp lý nói chung và hệ  thống hành  
lang pháp lý về  hoạt dộng ngân hàng nói riêng là cần thiết và cấp bách. Trong thời  
gian tới, cần tập trung triển khai xây dựng Luật Ngân hàng Nhà nuớc, Luật các tổ 
chức tín dụng, Luật giám sát hoạt dộng ngân hàng và Luật bảo hiểm tiền gửi; rà soát, 
sửa dổi hệ thống van bản pháp quy trong linh vực ngân hàng dảm bảo phù hợp với các 
cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO. 
Việc hoàn thiện hệ thống luật pháp nhằm xây dựng hệ thống ngân hàng thuong 
mại lành mạnh, minh bạch, vận hành theo co chế  thị  truờng có sự  kiểm soát hợp lý  
của Chính phủ. Muốn vậy, cần quy dịnh rõ chức nang, nhiệm vụ  của từng loại hình 
ngân hàng: thuong mại, dầu tu, chính sách, phát triển dể  tránh những dặc diểm riêng 
có của loại hình ngân hàng này trở thành lợi thế cạnh tranh không công bằng với loại  
hình ngân hàng khác. Trong dự  thảo Luật bảo hiểm tiền gửi, cần nghiên cứu nâng 
mức bảo hiểm tiền gửi của khách hàng tại các ngân hàng. Bởi lẽ, việc nâng mức tiền  
gửi duợc bảo hiểm làm cho nguời gửi tiền yên tâm hon, tránh tình trạng rút tiền hàng 
loạt. Ðiều này sẽ giúp các ngân hàng thuong mại ổn dịnh duợc nguồn tiền gửi, nhất là 
khi xảy ra tình trạng cang thẳng thanh khoản nhu những tháng dầu nam 2008.    
         
                   3.2.1.3 Ðẩy nhanh tiến dộ  cổ  phần hoá các ngân hàng thuong mại nhà  

nuớc: 
Báo cáo nghiên cứu “Hội nhập quốc tế trong hệ thống ngân hàng” tháng 5 nam 
2005, duợc soạn thảo bởi Trung tâm kinh tế  (Center for International Economics, TS.  
Jenny Gordon, Ông Bob Warrner), Công ty TNHH tu vấn Erskinomics (Erskinomics  
Consulting   Pty   Limited,   Alex   Erskine,   Chuyên   gia   tu   vấn   truởng   quốc   tế),   Vietbid  
(Nguyễn Thanh Hà, Phạm Quang Thành, Nguyễn Vân Anh) cho rằng, sự chi phối của  
sở hữu nhà nuớc trong các ngân hàng là không tuong thích với một hệ thống ngân hàng  
có sự  cạnh tranh cao. Một hệ  thống ngân hàng hiệu quả  cần có mức dộ  cạnh tranh  
cao; do vậy, nếu có sở  hữu nhà nuớc thì ngân hàng này phải có khả  nang hoạt dộng 
nhu một pháp nhân dộc lập. 
Thực tế   ở  Việt Nam cho thấy, sự chi phối của các ngân hàng thuong mại nhà 
nuớc trong hệ  thống ngân hàng là khá lớn. Ðiều này duợc xem là một diểm yếu của 
hệ  thống ngân hàng Việt Nam. Không còn sự lựa chọn nào khác là phải tiến hành cổ 
phần hoá các ngân hàng thuong mại nhà nuớc dể tang nang lực cạnh tranh và hiệu quả 
Nguyễn Thu Hà – A1C

Page 22


Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
hoạt dộng của các ngân hàng này. Một diểm cần luu ý ở dây là, việc cổ phần hoá các 
ngân hàng thuong mại nhà nuớc phải thay dổi duợc cách thức quản trị ngân hàng, tránh 
tình trạng “bình mới ruợu cu”. Cùng với tiến trình hội nhập và các cam kết quốc tế, có  
thể  giảm dần tỷ  lệ  nắm giữ  vốn cổ phần của nhà nuớc trong các ngân hàng này sau 
khi cổ phần hoá.  
       3.2.2 Về phía Ngân hàng Nhà nuớc: 
 3.2.2.1 Thực thi chính sách tiền tệ linh hoạt và vừa dủ:  Nhìn chung, trong thời gian 
qua, chính sách tiền tệ duợc thực thi bởi Ngân 
hàng Nhà nuớc dã góp phần vào thành tích tang truởng kinh tế cho Việt Nam,  ổn dịnh  
tỷ  giá có lợi cho xuất khẩu, tang cuờng dự trữ ngoại hối cho dất nuớc, giữ mức lạm  
phát trong vòng kiểm soát theo huớng thấp hon tốc dộ  tang truởng GDP. Tuy nhiên,  
việc kết hợp các công cụ trong chính sách tiền tệ; giữa chính sách tiền tệ  thuộc diều 
tiết của Ngân hàng Nhà nuớc và chính sách tài khoá trong vòng kiểm soát của Bộ  tài 
chính dôi lúc còn trái chiều, chua dồng bộ. Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nuớc 
dôi khi còn quá tham vọng, theo duổi nhiều mục tiêu, làm giảm hiệu quả tác dộng của 
chính sách này dối với nền kinh tế; tạo ra sự mâu thuẫn không dáng có trong việc phát  
di tín hiệu cho thị  truờng. Rõ ràng với xu thế  hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền 
kinh tế khu vực và thế giới, việc hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt  
Nam nhằm nâng cao hon nữa hiệu quả  của chính sách này, thúc dẩy kinh tế  tang 
truởng cao và bền vững là yêu cầu cấp bách hiện nay. 
Chúng ta có thể  thấy rất rõ  ở  thời diểm cuối nam 2007 và dầu nam 2008, các  
biện pháp kiềm chế  lạm phát của chính phủ  chỉ  tập trung vào linh vực tiền tệ. Và 
duờng nhu dể thể hiện quyết tâm chống lạm phát dến cùng của mình, Ngân hàng Nhà 
nuớc dã thực hiện hàng loạt giải pháp mạnh, trong dó việc phát hành tín phiếu bắt  
buộc với tổng giá trị 20.300 tỷ dồng duợc xem là một biện pháp hành chính khá mạnh. 
Kết quả, thị truờng tiền tệ bị xáo trộn, các ngân hàng chạy dua lãi suất nhằm thu hút  
tiền gửi dáp  ứng nhu cầu thanh khoản, thị  truờng chứng khoán, bất dộng sản sụt  
giảm,... Trong tình huống kiềm chế  lạm phát, việc thực thi chính sách tiền tệ  thắt 
chặt là cần thiết, nhung việc sử  dụng liên tiếp nhiều biện pháp mạnh nhu thế  trong 
một khoảng thời gian chua dủ  dể  thị  truờng thích  ứng, nên duợc xem xét cẩn trọng  
hon. Hon nữa, lạm phát không chỉ do nguyên nhân từ tiền tệ, cho nên, muốn kiềm chế 
thành công con tang giá phải thực hiện nhiều gói giải pháp dồng bộ  từ  các linh vực 
khác ngoài linh vực tiền tệ, tín dụng. 
3.2.2.2 Kiểm soát việc thành lập ngân hàng thuong mại: Có ý kiến cho rằng, 
hiện nay có quá nhiều ngân hàng thuong mại hon mức 
cần thiết tại Việt Nam [4]; do dó, dể có duợc một hệ thống ngân hàng mạnh, nên sáp  
nhập các ngân hàng nhỏ và có thể sáp nhập ba ngân hàng thuong mại lớn: Ngân hàng 
Nguyễn Thu Hà – A1C

Page 23


Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
Ngoại thuong, Ngân hàng Công thuong, Ngân hàng Ðầu tu và Phát triển thành một  
ngân hàng tầm cỡ trong khu vực. Quan diểm của học viên, có nhiều hay không nhiều  
số luợng ngân hàng thuong mại không phải là yếu tố quyết dịnh nang lực cạnh tranh 
của các ngân hàng, mà vấn dề  là cần kiểm soát chặt chẽ  hon và nâng dần các tiêu 
chuẩn khi thành lập các ngân hàng mới. Làm sao cho các quy dịnh, tiêu chuẩn này là 
thử thách dầu tiên và là thuớc do tuong dối chính xác về nang lực của các sáng lập viên  
của một ngân hàng thuong mại mới. Việc quy dịnh mức vốn pháp dịnh 1.000 tỷ dồng  
khi thành lập ngân hàng thuong mại là phù hợp; tuy nhiên, trong thời gian tới nên xem 
xét nâng dần mức vốn này, dồng thời, có thể  ban hành các quy dịnh chặt chẽ  hon,  
chẳng hạn quy dịnh về  việc góp vốn thành lập ngân hàng của các tập doàn kinh tế 
lớn. Ðây là sự việc mà báo chí trong nuớc thời gian qua dề cập khá nhiều và duợc coi  
là một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát và làm giảm sức cạnh tranh của các  
doanh nghiệp và của chính ngân hàng duợc thành lập. 
Trong tiến trình xây dựng hệ  thống ngân hàng thuong mại Việt Nam thực sự 
vững mạnh, cần dề  ra quy chế, quy dịnh dối với các ngân hàng không dáp duợc các 
tiêu chuẩn chung; có thể tính dến việc sáp nhập, mua lại những ngân hàng này. 
3.2.2.3 Tang cuờng và nâng cao hiệu quả công tác giám sát từ xa hoạt dộng  
của các ngân hàng thuong mại: 
Công tác giám sát từ xa hiện nay vẫn duợc chi nhánh Ngân hàng Nhà nuớc tại 
các tỉnh, thành phố thực hiện. Nhung tính xác thực của các báo cáo giám sát này dể 
phục vụ cho công tác quản lý vi mô chua cao, chua phản ánh trung thực tình trạng hoạt 
dộng nói chung và tình trạng thanh khoản nói riêng của các ngân hàng. Báo cáo của 
Ngân hàng phát triển Châu Á “Strengthening the banking supervision and liquidity risk 
management system of the people’s bank of China” có dua ra một số gợi ý nhằm tang 
cuờng hoạt dộng giám sát của ngân hàng trung uong nhu: phát triển hệ thống cảnh báo 
sớm (early warning system), sử dụng dữ liệu hệ thống thanh toán dể phân tích thanh 
khoản, xây dựng hệ thống chỉ số thanh khoản,... Ngân hàng Nhà nuớc có thể tham 
khảo khi dự thảo Luật giám sát hoạt dộng ngân hàng. Truớc mắt, cần rà soát Quyết 
dịnh 477/2004/QЭNHNN ngày 28 tháng 4 nam 2004 của Ngân hàng Nhà nuớc về việc 
ban hành chế dộ báo cáo thống kê áp dụng dối với các don vị thuộc Ngân hàng Nhà 
nuớc và các TCTD, sửa dổi những biểu mẫu chua phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả 
sử dụng các báo cáo này trong việc thực hiện chức nang quản lý nhà nuớc về tiền tệ 
và hoạt dộng ngân hàng và chức nang ngân hàng trung uong của Ngân hàng Nhà nuớc

3.2.3 Về  phía các ngân hàng thuong mại:  Qua phân tích  ở  Chuong 2, duờng  
nhu các ngân hàng thuong mại Việt Nam 
Nguyễn Thu Hà – A1C

Page 24


Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại
không chú trọng dến tính thanh khoản và quản trị  thanh khoản. Ðiều này có nhiều  
nguyên nhân, nhung có lẽ việc theo duổi mục tiêu tang truởng kinh tế của Chính phủ 
dã tạo ra những diều kiện và môi truờng kinh doanh khá thuận lợi cho việc gia tang 
nhanh chóng các khoản tín dụng; ví dụ, chính sách tiền tệ  nới lỏng nhằm thúc dẩy  
tang truởng kinh tế cho phép một mức cung tiền khá dồi dào. Trong bối cảnh nhu vậy,  
các ngân hàng thuong mại dã xao lãng hoạt dộng then chốt, quyết dịnh dến sự an toàn 
trong hoạt dộng ngân hàng: dó là quản trị thanh khoản. Một số gợi ý sau có thể  mang  
lại hiệu quả  trong hoạt dộng quản trị  thanh khoản của các ngân hàng thuong mại  ở 
mức dộ nào dó. 
3.2.3.1 Ðảm bảo vốn tự  có  ở  mức cần thiết:   Rõ ràng khi thành lập, ngân 
hàng phải dảm bảo mức vốn diều lệ cao hon 
mức vốn pháp dịnh. Ở dây, muốn dề cập dến vấn dề, ngân hàng nên duy trì mức vốn  
tự  có một cách hợp lý, cân dối so với quy mô và phạm vi hoạt dộng của ngân hàng  
mình. Một chỉ số H1, H2 quá cao hay quá thấp dều không hiệu quả và an toàn dối với 
ngân hàng. Tại thời diểm số liệu thu thập duợc, còn 3 ngân hàng chua dảm bảo mức  
vốn diều lệ lớn hon mức vốn pháp dịnh. Các ngân hàng này cần xây dựng phuong án  
tang vốn dể  dạt duợc mức vốn cần thiết theo quy dịnh. Tuy nhiên, không phải tang  
vốn bằng mọi giá. Các ngân hàng cung nên nghi tới phuong án sáp nhập với nhau khi  
phuong án tang vốn là bất khả thi hoặc tốn nhiều chi phí. 
Trong chỉ tiêu tiền tệ và hoạt dộng ngân hàng giai doạn 2006 ­ 2010, Ngân hàng 
Nhà   nuớc   có   dặt  ra   chỉ   tiêu  về   hệ   số   CAR   không   thấp   hon   8%.   Tuy   nhiên,   theo 
“Financial Management and Analysis of Projects” của ADB nam 2005, có kiến nghị 
rằng: hệ số CAR ở mức 8% áp dụng với các nuớc OECD, còn dối với các nền kinh tế 
mới nổi hệ số này nên là 12%. Do vậy, mặc dù Ngân hàng Nhà nuớc không yêu cầu,  
nhung các ngân hàng thuong mại nên dặt ra mục tiêu hệ  số  CAR 12% dể phấn dấu.  
Ðiều dó theo ý kiến học viên là cần thiết trong diều kiện quy mô và tiềm lực tài chính  
của các ngân hàng trong nuớc còn hạn chế. Tuong tự hệ số H1, H2, hệ số CAR 
cao quá hoặc thấp quá cần duợc phân tích, dánh giá dầy dủ nhằm dảm bảo một hệ số 
CAR phù hợp với quy mô, dặc diểm và phạm vi hoạt dộng của từng ngân hàng. 
3.2.3.2 Tang cuờng công tác dự báo các diều kiện kinh tế vi mô: Ðiều kiện 
kinh tế vi mô thay dổi sẽ ảnh huởng dến hoạt dộng của ngân hàng. 
Khi Ngân hàng Nhà nuớc thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt bằng cách ban hành liên  
tiếp hàng loạt các giải pháp mạnh, khả  nang thanh khoản của các ngân hàng thuong  
mại Việt Nam dã gặp nhiều khó khan. Bởi truớc dó, có thời diểm tình trạng du thừa 
vốn khả dụng dã xãy ra ở một số ngân hàng. Các ngân hàng này dã giảm lãi suất huy  
dộng tiền gửi. Nhung khi, diều kiện kinh tế vi mô thay dổi, các ngân hàng trở nên lúng  
túng. Ðiều này chứng tỏ, việc tang cuờng và nâng cao hiệu quả  của công tác dự  báo 
Nguyễn Thu Hà – A1C

Page 25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×