Tải bản đầy đủ

Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Ngân hàng: Nâng cao chất lượng xếp hạng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Sự phát triển của tiền tệ, tín dụng, ngân hàng có tác động rất mạnh mẽ tới việc
thúc đẩy kinh tế đồng thời trở thành lĩnh vực nhạy cảm nhất đối với sức mạnh của nền
kinh tế. Tuy nhiên bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ thì bao giờ cũng đi kèm với các rủi ro
tiềm ẩn. Đáp ứng yêu cầu thông tin cần thiết cho việc phòng ngừa, hạn chế rủi ro tín dụng
và đánh giá tình hình doanh nghiệp, nhiều tổ chức trên thế giới đã cung cấp các thông tin
về xếp hạng tín dụng (XHTD) của doanh nghiệp như là một kênh thông tin tham khảo
quan trọng giúp các Ngân hàng và nhà đầu tư lựa chọn được những khách hàng tốt, có
tiềm lực tài chính cao. Thông tin XHTD còn giúp Ngân hàng Nhà nước hoạch định các
chính sách phù hợp cho từng thành phần kinh tế, từng ngành kinh tế.
Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam – Ngân hàng nhà nước (CIC SBV) là tổ chức công đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu và thực hiện nghiệp vụ xếp
hạng tín dụng các doanh nghiệp trong đó đại đa số là các DN vừa và nhỏ được thành
lập và hoạt động tại Việt Nam. Từ khi thực hiện Bản đề án phân tích đầu tiên từ năm
2002 tới nay, trải qua hơn 10 năm thực hiện và tích lũy kinh nghiệm, nghiệp vụ xếp
hạng tín dụng đã có nhiều thay đổi nhưng vẫn chưa theo kịp được yêu cầu thông tin
cho khách hàng.
Xuất phát từ thực tế trên tác giả chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng xếp hạng tín
dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam”
làm luận văn thạc sĩ của mình.
Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận được chia làm 3 chương như sau:


CHƯƠNG 1


CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
Trong chương này, tác giả trình bày khái quát về chất lượng xếp hạng tín dụng
DNNVV đối với các tổ chức trong nền kinh tế thị trường. Khái niệm, đặc điểm, vai trò
DNNVV; Khái quát, yêu cầu, chủ thể, đối tượng, vai trò và nội dung cơ bản của xếp hạng
tín dụng DNNVV. Tại đây tác giả đi sâu nghiên cứu các phương pháp, qui trình, dùng để
xếp hạng tín dụng DNNVV gồm chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính.
Đặc biệt, tác giả đã làm rõ hơn về khái niệm chất lượng xếp hạng tín dụng
DNNVV và nêu ra các chỉ tiêu đánh giá chất lượng xếp hạng tín dụng: Nguồn thông
tin đầu vào và các loại dữ liệu được sử dụng, Quy trình xếp hạng, Chỉ tiêu xếp hạng,
Phân loại ngành kinh tế và quy mô hoạt động doanh nghiệp
Tác giả cũng làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xếp hạng tín dụng
DNNVV gồm nhân tố khách quan và chủ quan. Đồng thời, tác giả đưa ra những kinh
nghiệm xếp hạng tín dụng của một số tổ chức trong, ngoài nước (như Phương pháp xếp
hạng tín dụng DN của Moody’s và Standar&Poor, Ngân hàng Trung ương Pháp, BIDV
…), từ đó rút ra bài học cho Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam. Đây là cơ
sở khoa học cho việc nghiên cứu đề tài ở các chương tiếp theo của Luận văn.

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG


DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI TRUNG TÂM
THÔNG TIN TÍN DỤNG QUỐC GIA VIỆT NAM
Trong chương này, trước hết tác giả giới thiệu khái quát về Trung tâm thông tin
tín dụng Quốc gia Việt Nam. Quá trình hình thành và phát triển, Chức năng nhiệm vụ,
Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ các phòng của CIC. Đặc biệt đưa ra các sản phẩm dịch vụ
của CIC gồm: sản phẩm thông tin tín dụng trong nước; Báo cáo xếp hạng tín dụng; Báo
cáo thông tin DN ngoài nước; Bản tin thông tin tín dụng định kỳ và Website cảnh báo
tín dụng.
Tiếp theo, tác giả đi sâu phân tích thực trạng về chất lượng hoạt động xếp hạng
tín dụng DNNVV tại CIC đối chiếu qua các năm từ 2010-2014. Khái quát quá trình
thực hiện nghiệp vụ xếp hạng tín dụng tại CIC từ những năm đầu triển khai thí điểm
đề án tới khi thực hiện nghiệp vụ phân tích, xếp hạng tín dụng doanh nghiệp.
Tác giả phân tích chất lượng hoạt động xếp hạng tín dụng căn cứ theo bộ chỉ tiêu
đánh giá: từ phương pháp áp dụng; Nguồn thông tin đầu vào; Qui trình xếp hạng; Các
chỉ tiêu xếp hạng (gồm chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, chỉ tiêu quan hệ tín dụng);


Phân loại ngành kinh tế và qui mô doanh nghiệp (Do có những đặc thù riêng, nên CIC
phân loại DN thành 35 ngành kinh tế cơ bản có tính bao trùm trong nền kinh tế quốc
dân, có đặc điểm tương đối cách biệt về vốn, tài sản, doanh thu, chu kỳ sản xuất kinh
doanh…) và qui mô hoạt động dựa trên 4 tiêu thức cơ bản để xác định như nguồn vốn
kinh doanh, số lao động, doanh thu thuần, nộp ngân sách nhà nước… Tính điểm và
đưa ra kết quả xếp hạng tín dụng DNNVV, từ đó xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng
của DNNVV. Trên cơ sở đó tác giả đã có những đánh giá kết quả đạt được:
- Về phương pháp phân tích: Phương pháp xếp hạng tín dụng DNNVV đã học
tập kinh nghiệm của một số nước và áp dần theo thông lệ chung của quốc tế. Các bước
tiến hành phân tích, đánh giá, xếp hạng đầy đủ theo một qui trình tương đối phổ biến.
Các chỉ tiêu phân tích tương đối gọn, cách cho điểm khoa học, có căn cứ lý thuyết và
phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam và được WB, Ngân hàng


phát triển châu Á (ADB) nhận xét đánh giá cao.
- Về hệ thống chỉ tiêu: Chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính. Việc lượng hoá các
chỉ tiêu này thành thang điểm trong tổng điểm chung là căn cứ, cơ sở chung và những kinh
nghiệm quí báu giúp nhiều cơ quan đặc biệt là NHTM học tập, áp dụng để xây dựng cho
mình một phương pháp xếp hạng với những đặc trưng riêng…
Và tìm ra được 5 hạn chế, tồn tại về:
- Sản phẩm đầu ra về XHTD DNNVV hiện nay của CIC còn đơn điệu chưa phong
phú
- Chưa bao quát hết doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Chất lượng thông tin chưa cao
- Hệ thống chỉ tiêu chưa đầy đủ.
- Số liệu chưa cập nhật, đồng bộ.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến một số tồn tại trên của nghiệp vụ XHTD tại CIC:
- Hiện tại Nhà nước chưa có các chỉ tiêu khung hoặc định hướng chung cho
XHTD DN tại Việt Nam
- Nguồn nhân lực trong XHTD DNNVV còn chưa có kỹ năng chuyên sâu về
nghiệp vụ
- Một số lãnh đạo NHTM chưa thực sự quan tâm và chưa kiên quyết chỉ đạo thực
hiện nghiệp vụ thông tin tín dụng
- Nghiệp vụ XHTD DN còn khá mới mẻ tại Việt Nam nên có rất ít các đối tượng
quan tâm tìm hiểu
- Việc tuân thủ chế độ kế toán vẫn chưa được doanh nghiệp thực hiện đầy đủ nên
độ tin cậy của các báo cáo tài chính chưa cao
- DNNVV thường ít khi kiểm toán BCTC nên mức độ chính xác của BCTC là
không cao
Đây là cơ sở để đưa ra nhóm giải pháp, kiến nghị tại chương 3.

CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI


TRUNG TÂM THÔNG TIN TÍN DỤNG QUỐC GIA VIỆT NAM
Từ những phân tích có cơ sở tại chương 2 và định hướng hoạt động xếp hạng
tín dụng DNNVV tại CIC trong thời gian tới:
- Xây dựng và hoàn thiện chương trình XHTD DNNVV theo hướng đi sâu vào
từng loại hình doanh nghiệp; xây dựng các phương pháp, chỉ tiêu xếp hạng tín dụng riêng
cho doanh nghiệp quy mô trung bình và quy mô nhỏ; Đồng thời cũng nâng cao chất
lượng sản phẩm XHTD, đáp ứng được các yêu cầu về thông tin tham khảo đối với các
TCTD và của chính doanh nghiệp.
- Điều chỉnh chỉ tiêu trung bình ngành theo thống kê hàng năm cho sát với thực
tiễn hoạt động của doanh nghiệp.
- Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực xếp hạng tín dụng doanh nghiệp hiện tại để có
thể có được chuyên gia mạnh trong lĩnh vực này.
- Quan tâm đẩy mạnh đầu ra của sản phẩm XHTD DNNVV, tăng cường tiếp cận
khách hàng là doanh nghiệp được xếp hạng để có thể dễ dàng thu thập các thông tin từ
phía doanh nghiệp, giới thiệu và nâng cao uy tín của CIC với nhiều đối tượng khách hàng
khác nhau.
Từ đó luận văn đưa ra một số nhóm giải pháp và kiến nghị đối với các đơn vị
liên quan cụ thể:
Một là, Nhóm giải pháp trực tiếp liên quan tới nội dung, phương pháp Xếp hạng
tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Nâng cao chất lượng, độ tin cậy nguồn thông tin đầu vào: Thu thập thông tin qua
hệ thống file truyền dữ liệu trong hệ thống ngân hàng; Thu thập thông tin từ các Bộ, Ban,
Ngành; Thu thập thông tin từ doanh nghiệp; Thu thập thông tin từ các cơ quan thông tin
báo chí, trên mạng internet
- Điều chỉnh lại phương pháp xếp hạng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa: Sử
dụng phương pháp chuyên gia nhiều hơn; Phân loại chi tiết ngành kinh tế; Thay đổi lại
phương pháp tính toán trọng số và gia tăng điểm cho chỉ tiêu phi tài chính; Bổ sung thêm


một số chỉ tiêu tính điểm; Điều chỉnh kết quả xếp hạng doanh nghiệp theo nhóm nợ hiện
tại của doanh nghiệp
Hai là, Các nhóm giải pháp hỗ trợ
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tin học
- Tăng cường tuyên truyền, giới thiệu sản phẩm
- Nhóm giải pháp hỗ trợ khác
Trong bài tác giả cũng nêu lên một số đề xuất đối với NHTM, NHNN và chính
phủ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×