Tải bản đầy đủ

luận văn thạc sĩ kế toán tài sản cố định tại các doanh nghiệp cơ khí trên địa bàn thành phố hà nội

i

LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập
của tác giả. Số liệu trong luận văn là trung thực. Nội dung của luận văn chưa
được công bố tại bất cứ công trình khoa học nào.
Hà nội, ngày tháng năm
Tác giả

Nguyễn Thị Phương Thúy


ii

LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu tại khoa Sau đại học – Trường Đại
học Thương mại và với nỗ lực của bản thân, tôi đã hoàn thành bản luận văn
này.
Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến quý Thầy cô giáo trong
trường Đại học Thương Mại, đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên
cứu tại trường, để tôi có được nền tảng kiến thức vững chắc phục vụ quá trình

nghiên cứu đề tài luận văn này.
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Cô giáo - Phó Giáo sư Tiến sỹ Lê Thị Thanh Hải - người trực tiếp hướng dẫn giúp tôi rất nhiều trong
quá trình định hướng đề tài nghiên cứu, chỉnh lý, sửa chữa, có nhiều ý kiến chỉ
dẫn, tạo mọi điều kiện để tôi học hỏi nâng cao trình độ, hoàn thiện luận văn
thạc sỹ của mình.
Tôi cũng xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ của 10 doanh nghiệp cơ khí
trên địa bàn thành phố Hà Nội đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong quá trình điều tra,
khảo sát, thu thập và cung cấp thông tin của đơn vị làm cơ sở cho việc phân
tích, tổng hợp và hoàn thành luận văn cao học này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Cao học viên

Nguyễn Thị Phương Thúy


iii

MỤC LỤC


iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Kế toán chi tiết TSCĐ..........................................................................................24
Sơ đồ 2.1: Quy trình sản xuất thép cuộn..............................................................................34
Sơ đồ 2.2: Mô hình bộ máy quản lý tại các doanh nghiệp cơ khí trên địa bàn....................35
Sơ đồ 2.3: Bộ máy quản lý tại công ty thông tin M3...........................................................37
Sơ đồ 2.4. Sơ đồ mô hình bộ máy kế toán của các DN cơ khí.............................................41


v

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu
BCTC
BCKQKD
CCDC
DN
GTGT


SXKD
TNHH
TSCĐ
TSCĐHH
TSCĐVH

Chú thích
Báo cáo tài chính
Báo cáo kết quả kinh doanh
Công cụ, dụng cụ
Doanh nghiệp
Giá trị gia tăng
Sản xuất kinh doanh
Trách nhiệm hữu hạn
Tài sản cố định
Tài sản cố định hữu hình
Tài sản cố định vô hình


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.

Tài sản cố định (TSCĐ) là một trong những bộ phận cơ bản tạo nên cơ sở
vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân, đồng thời là bộ phận quan trọng
quyết định sự sống còn của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Đối với doanh nghiệp TSCĐ là điều kiện cần thiết để giảm cường độ lao động
và tăng năng suất lao động. Nó thể hiện cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ công
nghệ, năng lực và thế mạnh của doanh nghiệp trong việc phát triển sản xuất
kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay nhất là khi khoa học kỹ thuật
trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì TSCĐ là yếu tố quan trọng để tạo nên
sức mạnh cạnh tranh cho các doanh nghiệp.
TSCĐ là nền tảng của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngày nay, môi
trường kinh doanh cạnh tranh ngày càng gay gắt với những tiến bộ của khoa học kỹ
thuật, việc quản lý và sử dụng TSCĐ trong DN đòi hỏi phải ngày càng được tổ chức
khoa học và hợp lý hơn. Quản lý và sử dụng tốt TSCĐ không chỉ có tác dụng nâng
cao chất lượng năng lực hoạt động, tiết kiệm vốn mà còn là một biện pháp quan
trọng khắc phục những tổn thất do hao mòn TSCĐ gây ra.
Đối với một doanh nghiệp thì TSCĐ thể hiện năng lực, trình độ công nghệ, cơ
sở vật chất kỹ thuật cũng như thế mạnh của doanh nghiệp trong việc phát triển sản
xuất, nó là điều kiện cần thiết để tiết kiệm sức lao động của doanh nghiệp nói riêng
và của nền kinh tế đất nước nói chung. Đứng trên góc độ kế toán việc phản ánh đầy
đủ quá trình khấu hao và quản lý chặt chẽ TSCĐ là một tiền đề quan trọng để các
doanh nghiệp tiền hành SXKD có hiệu quả, nó khẳng định vai trò vị trí của doanh
nghiệp trước nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay.
Đối với các DN nói chung và DN sản xuất nói riêng TSCĐ là nhân tố đẩy
mạnh quá trình sản xuất kinh doanh thông qua việc nâng cao năng suất của người
lao động. Do vậy TSCĐ được xem là thước đo của trình độ công nghệ, năng lực sản
xuất và khả năng cạnh tranh của DN, chất lượng, giá thành sản phẩm, dịch vụ mà


2

DN tạo ra. Mặt khác trong các doanh nghiệp TSCĐ còn là thước đo trình độ quản lý
của DN, nó khẳng định uy thế, quy mô và tiềm lực vốn của DN.
Đặc thù của các doanh nghiệp cơ khí là sản xuất nhiều loại sản phẩm khác
nhau với nhiều máy móc thiết bị tham gia trực tiếp và đóng vai trò quan trọng trong
quá trình sản xuất, kinh doanh. TSCĐ chiếm tỉ trọng khá lớn trong tổng giá trị tài
sản của DN. Mặt khác, kế toán TSCĐ trong những năm qua ở các DN cơ khí vẫn
còn những bất cập, hạn chế như chưa có sự quản lý một cách khoa học về TSCĐ để
nâng cao hiệu quả sử dụng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Sử dụng
đúng công suất TSCĐ trong các doanh nghiệp cơ khí là phần quan trọng trong việc
giảm giá thành sản phẩm nhưng thực tế vẫn chưa hợp lý.
Về công tác kế toán TSCĐ tại các DN cơ khí trên địa bàn thành phố Hà Nội
còn nhiều tồn tại cần hoàn thiện như: cách phân loại TSCĐ chưa thống nhất với tính
chất tham gia của TSCĐ, phương pháp khấu hao TSCĐ chưa hợp lý, việc quản lý
và phân cấp TSCĐ ở các doanh nghiệp cơ khí chưa được thuận lợi cho công tác
đánh giá hiệu quả TSCĐ.
Với những lý do trên, việc hoàn thiện kế toán TSCĐ tại các doanh nghiệp sản
xuất nói chung và DN cơ khí nói riêng là cần thiết. Do đó, tôi chọn đề tài “Kế toán
tài sản cố định tại các doanh nghiệp cơ khí trên địa bàn thành phố Hà Nội”.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu.
Trên thực tế đã có rất nhiều các luận án, luận văn, báo cáo của rất nhiều
các tác giả ở cả trong và ngoài nước nghiên cứu về những hoạt động liên quan
đến TSCĐ như:
Luận văn thạc sĩ: Hoàn thiện kế toán TSCĐ trong các doanh nghiệp ngành cơ
khí chế tạo máy trên địa bàn thành phố Hà Nội, tác giả Tô Anh Dũng, do TS.
Nguyễn Phú Giang hướng dẫn năm 2009. Đề tài đã trình bày được những vấn đề cơ
bản về kế toán TSCĐ trong các DN sản xuất kinh doanh nói chung, thực trạng kế
toán TSCĐ tại các doanh nghiệp ngành cơ khí chế tạo máy trên địa bàn Hà Nội, từ
đó đánh giá những ưu điểm, tồn tại đang diễn ra tại các DN. Từ đó đưa ra những ý
kiến nhằm hoàn thiện kế toán TSCĐ trên phương diện kế toán tài chính về các mặt


3

hạch toán, sổ sách, chứng từ, phân công trách nhiệm trong quản lý nhằm tăng hiệu
quả sử dụng TSCĐ tại các DN ngành cơ khí chế tạo máy trên địa bàn Hà Nội. Tuy
nhiên, luận văn mới chỉ tập trung được một số DN chuyên sản xuất máy công cụ
loại nhỏ mà chưa bao quát được các DN ngành cơ khí chế tạo máy loại lớn để có cái
nhìn tổng quát hơn về tình hình quản lý và sử dụng TSCĐ đặc thù của ngành cơ khí.
Luận văn thạc sĩ: Kế toán tài sản cố định tại các doanh nghiệp xây lắp nhỏ và
vừa trên địa bàn Hà Nội, tác giả Trần Thị Hòa, do TS. Nguyễn Tuấn Duy hướng dẫn
năm 2012. Đề tài đã trình bày khái quát những nội dung cơ bản của hạch toán
TSCĐ trên phương diện kế toán tài chính, phân tích đặc điểm hoạt động, quy mô và
vai trò của các DNXL nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội từ đó nêu được thực trạng
công tác kế toán TSCĐ và đã đưa ra các quan điểm, đề xuất các giải pháp về quản
lý tài sản cố định và các giải pháp về kế toán TSCĐ nhằm hoàn thiện kế toán TSCĐ
về tại các DNXL vừa và nhỏ tại Hà Nội. Tuy nhiên luận văn mới chỉ tập trung được
một số DN chuyên thi công xây lắp các công trình công nghiệp, các DNXL nhỏ và
vừa có vốn khá lớn mà chưa tập trung đi sâu nghiên cứu được các DN có quy mô
nhỏ đến siêu nhỏ.
Luận văn thạc sỹ “Kế toán TSCĐ tại Tổng công ty cổ phần thiết bị điện Việt
Nam” của tác giả Chu Thị Thanh Vân (2013), ĐH Thương Mại. Tác giả đề xuất các
giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán TSCĐ tại Tổng công ty cổ phần thiết bị điện Việt
Nam trên 2 góc độ: Kế toán tài chính và kế toán quản trị. Trên góc độ kế toán tài
chính, tác giả đã đưa ra 3 nhóm giải pháp: Các giải pháp hoàn thiện theo hướng tuân
thủ theo các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán Việt Nam, các giải pháp hoàn thiện
kế toán tài sản cố định và các giải pháp trên góc độ Quản lý TSCĐ. Các giải
pháp đưa ra đã góp phần giải quyết triệt để những nhược điểm trong kế toán
TSCĐ tại các doanh nghiệp, công ty trực thuộc Tổng Công ty Thiết bị điện Việt
Nam. Tuy nhiên, luận văn chỉ đưa ra các giải pháp chung cho các doanh nghiệp,
vẫn chưa đề cập đến các giải pháp cụ thể hơn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
TSCĐ trong các doanh nghiệp.


4

Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công tác kế toán TSCĐ tại công ty liên doanh
khách sạn Kinh Thành” của tác giả Dương Thị Lệ Thủy – Học viện tài chính
(2012). Đề tài đã đi sâu vào nghiên cứu thực trạng công tác kế toán TSCĐ tại công
ty liên doanh khách sạn Kinh Thành. Qua đó đánh giá được ưu nhược điểm trong
công tác kế toán TSCĐ tại công ty. Từ những tồn tại đó tác giả đã đề xuất các giải
pháp hoàn thiện về hệ thống chứng từ kế toán TSCĐ, hệ thống tài khoản kế toán
TSCĐ, hệ thống sổ kế toán TSCĐ,tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ, hoàn thiện về trích
khấu hao TSCĐ. Các giải pháp này đã góp phần giải quyết những nhược điểm trong
kế toán TSCĐ trong doanh nghiệp. Tuy nhiên công tác kế toán TSCĐ chỉ giới hạn
trong đơn vị tác giả nghiên cứu là công ty liên doanh khách sạn Kinh Thành. Đề tài
chưa đề cập đến kế toán quản trị mà chỉ tập trung vào kế toán tài chính.
Bàn về trích khấu hao TCSĐ ( Lê Thị Hồng – Tạp chí tài chính số 6 – năm
2013). Trong bài viết của mình tác giả cũng chỉ rõ sự thống nhất và không
thống nhất giữa Thông tư số 45/2013/TT-BTC hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng
và trích khấu hao tài sản cố định (TSCĐ) và Thông tư số 203/2009/TT-BTC ngày
20/10/2009. Những khác biệt về giá trị tài sản, phương pháp trích khấu hao, chi phí
thành lập doanh nghiệp. Trên cơ sở đó tác giả cũng kiến nghị với các cơ quan
ban hành chế độ chính sách kế toán cần khoa học và hợp lý giúp cho doanh
nghiệp đỡ gặp lúng túng trong việc áp dụng các quy định về tính khấu hao
TSCĐ.
Những công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu được về thực trạng kế
toán tài sản cố định tại các doanh nghiệp cơ khí với nhiều loại hình khác nhau
như doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc khấu hao tài sản cố định
tại các doanh nghiệp cơ khí. Tuy nhiên các đề tài này vẫn chưa phản ánh hết
được tình hình tài sản cố định tại các doanh nghiệp như các công ty cổ phần và
các doanh nghiệp cơ khí chế tạo các loại máy lớn để có cái nhìn tổng quát hơn
về tình hình quản lý và sử dụng TSCĐ đặc thù của ngành cơ khí.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
- Mục tiêu nghiên cứu lý luận: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản
về kế toán TSCĐ theo quy định của chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam.


5

- Mục tiêu nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát thực trạng kế toán TSCĐ ở các
doanh nghiệp cơ khí trên địa bàn Hà Nội, tìm ra những ưu điểm và tồn tại trong
kế toán TSCĐ tại đơn vị khảo sát. Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn
thiện kế toán TSCĐ tại các công ty này.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu đề tài.
+ Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu những lý luận chung về kế toán
TSCĐ và thực trạng kế toán TSCĐ tại các doanh nghiệp cơ khí trên địa bàn thành
phố Hà Nội
+ Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chỉ nghiên cứu kế toán TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình thuộc quyền
sở hữu của doanh nghiệp, không nghiên cứu TSCĐ thuê tài chính. Trên phương
diện kế toán tài chính lấy số liệu kế toán tài chính năm 2016 đến năm 2017 tại 10
công ty cơ khí tại khu Công nghiệp Bình Phú , Phùng Xá của huyện Thạch Thất và
Sơn Tây, Hà Nội. Trong đó tập trung chủ yếu vào 3 công ty là: Công ty TNHH
Thương Mại Trường Thịnh, Công ty thông tin M3, Công ty cổ phần sản xuất và
thương mại Đa Liên
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài.
Phương pháp luận: Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài tác giả đã
áp dụng các biện pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và dựa trên quan điểm
duy vật lịch sử để xem xét vấn đề nghiên cứu là kế toán tài sản cố định từ lý
luận đến thực tiễn tại các doanh nghiệp cơ khí trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Phương pháp thu thập dữ liệu
a. Phương pháp điều tra: trong quá trình thu thập dữ liệu cho bài báo cáo
thì tác giả tiến hành phát phiếu khảo sát ( phụ lục số 01) tới nhà quản lý và
những người trực tiếp thực hiện công tác kế toán TSCĐ ở các đơn vị khảo sát.
Nội dung của phiếu khảo sát gồm các câu hỏi dưới dạng câu hỏi trắc nghiệm để
giúp người được khảo sát thuận lợi trong quá trình trả lời. Phương pháp này ít
tốn kém thời gian, công sức, đặc biệt khi đối tượng khảo sát là số lớn, tính bảo


6

mật thông tin cao. Nội dung của các phiếu khảo sát là hệ thống các câu hỏi liên
quan đến các yếu tố ảnh hưởng tới kế toán TSCĐ và cách thức tổ chức bộ máy
kế toán, tổ chức công tác kế toán tại các công ty.
Tổng số phiếu khảo sát gửi đến các công ty là 100 phiếu.
Kết quả tổng hợp từ các phiếu khảo sát ( phụ lục số 02)
b. Phương pháp phỏng vấn: tác giả phỏng vấn trực tiếp nhà quản lý, nhân
viên kế toán tại: Công ty TNHH Thương Mại Trường Thịnh, công ty thông tin M3,
công ty cổ phần sản xuất và thương mại Đa Liên . Khi phỏng vấn trực tiếp thì thể
hiện được tính linh hoạt trong câu hỏi và câu trả lời giúp người phỏng vấn có
được các thông tin rất quý báu, phong phú, phục vụ cho việc nghiên cứu các
vấn đề.
Trong khuôn khổ thực hiện đề tài, tác giả đã tiến hành phỏng vấn với nội
dung là các câu hỏi có liên quan đến đặc điểm TSCĐ tại doanh nghiệp, định
hướng phát triển của công ty trong những năm tới. Kết quả phỏng vấn trực tiếp
sẽ là cơ sở quan trọng tạo nên sự thành công của đề tài. ( nội dung câu hỏi
phỏng vấn và danh sách phỏng vấn, kết quả phỏng vấn phụ lục số 03, 04)
c. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Mục đích của việc nghiên cứu tài
liệu là để thu thập những kiến thức từ bao quát đến chuyên sâu một cách chính
xác về những vấn đề lý luận chung kế toán TSCĐ trên góc độ kế toán tài chính.
Tác giả đã thực hiện phương pháp này thông qua việc nghiên cứu các giáo trình
chuyên ngành, chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc tế, chế độ kế toán doanh
nghiệp hiện hành, tham khảo các công trình nghiên cứu khoa học, các bài viết
liên quan đến đề tài nghiên cứu.
d. Phương pháp phân tích dữ liệu
Thông qua số liệu đã thu nhận được từ các đơn vị khảo sát, tác giả tiến
hành so sánh và đối chiếu giữa chế độ kế toán và thực tiễn, phân tích tài liệu,
diễn đạt kết quả và đưa ra kết luận. Đây là giai đoạn phân tích để xem xét sự
phù hợp của chế độ kế toán Việt Nam với thực trạng kế toán TSCĐ tại các
doanh nghiệp cơ khí. Từ đó làm cơ sở cho các kiến nghị, đề xuất của luận văn.
6. Câu hỏi nghiên cứu.
Để hoàn thành mục tiêu của luận văn tác giả đưa ra một số câu hỏi nghiên
cứu:


7

- Lý luận về kế toán TCSĐ tại các doanh nghiệp?
- Kế toán TSCĐ tại các doanh nghiệp cơ khí có những gì giống và khác
với kế toán TSCĐ tại các doanh nghiệp sản xuất nói chung?
- Thực trạng kế toán TSCĐ tại các doanh nghiệp cơ khí trên địa bàn thành
phố Hà Nội như thế nào?
- Kế toán TSCĐ theo các quy định hiện hành đã đáp ứng được yêu cầu
quản lý của các DN cơ khí hay chưa, có phù hợp với thực tế công tác kế toán
tại các doanh nghiệp hay không?
- Đánh giá ưu điểm và hạn chế trong công tác kế toán TSCĐ tại các doanh
nghiệp trên?
- Giải pháp khắc phục những hạn chế trong công tác kế toán TSCĐ tại các
doanh nghiệp cơ khí trên địa bàn thành phố Hà Nội?
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài.
- Ý nghĩa khoa học: Luận văn hệ thống hóa và tổng kết cơ sở lý luận về
TSCĐ.
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đánh giá được thực trạng về kế toán TSCĐ
tại các doanh nghiệp cơ khí trên địa bàn thành phố Hà Nội. Căn cứ vào đặc
điểm và những tồn tại của công tác kế toán TSCĐ tại Công ty, luận văn đưa ra
những giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, yếu kém trong công tác kế toán
TSCĐ tại Công ty, góp phần nâng cao hiệu quả công tác kế toán TSCĐ, cung
cấp chính xác, kịp thời những thông tin phục vụ cho công tác quản lý để nâng
cao hiệu quả sử dụng TSCĐ tại các doanh nghiệp cơ khí trên địa bàn thành phố
Hà Nội.
8. Kết cấu luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, hệ thống bảng biểu, danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục, danh mục từ viết tắt, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1 : Những lý luận cơ bản về kế toán TSCĐ trong các doanh
nghiệp.
Chương 2: Thực trạng kế toán TSCĐ tại các doanh nghiệp cơ khí trên địa
bàn thành phố Hà Nội.
Chương 3: Hoàn thiện kế toán TSCĐ tại các doanh nghiệp cơ khí trên địa
bàn thành phố Hà Nội.


8

CHƯƠNG 1:
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN
TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Tài sản
Theo chuẩn mực kiểm toán số 01 tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm
soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai.
Tài sản được biểu hiện dưới hình thái vật chất như nhà xưởng máy móc thiết
bị vật tư hàng hóa, hoặc không thể hiện dưới hình thái vật chất như bản quyền bằng
sáng chế nhưng phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và thuộc quyền kiểm
soát của doanh nghiệp.
Tài sản của doanh nghiệp còn bao gồm các tài sản không thuộc quyền sở hữu
của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp kiểm soát được và thu được lợi ích kinh tế
trong tương lai như tài sản thuê tài chính.
Tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ các giao dịch hoặc các sự kiện
đã qua như góp vốn, mua sắm, tự sản xuất, được cấp, được biếu tặng. Các giao dịch
hoặc các sự kiện dự kiến sẽ phát sinh trong tương lai không làm tăng tài sản.
Tóm lại tài sản là nguồn lực thuộc quyền sở hữu hoặc kiểm soát lâu dài của
doanh nghiệp đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp và có thể xác
định được giá trị.
1.1.2 Tài sản cố định
Đối với các doanh nghiệp, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cần
phải có một số vốn nhất định. Số vốn này được hình thành từ chủ sở hữu của doanh
nghiệp hoặc từ các nguồn tài trợ bên ngoài và được sử dụng để đầu tư cơ sở vật chất
đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong số tài sản được đầu
tư sử dụng đó không thể không có TSCĐ.
Theo giáo trình kế toán tài chính của tác giả Ngô Thế Chi học viện tài chính
thì ” TSCĐ trong doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu và các tài sản


9

khác có giá trị lớn, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và giá trị của nó
được chuyển dịch dần dần, từng phần vào giá trị sản phẩm, dịch vụ được sản xuất ra
trong các chu kỳ sản xuất”
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 03: Tài sản cố định hữu hình là những
tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản
xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình.
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04: Tài sản cố định vô hình là những tài
sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp
nắm giữ, sử dụng trong sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối
tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình, gồm: Quyền sử
dụng đất có thời hạn, phần mềm máy vi tính, bằng sáng chế, bản quyền, giấy phép
khai thác thuỷ sản, hạn ngạch xuất khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, giấy phép nhượng
quyền, quan hệ kinh doanh với khách hàng hoặc nhà cung cấp, sự trung thành của
khách hàng, thị phần và quyền tiếp thị...
1.1.3 Nguyên giá tài sản cố định
Nguyên giá TSCĐ: là toàn bộ các chi phí thực tế đã chi ra để có TSCĐ và đưa
TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng hoạt động. Nguyên giá TSCĐ không thay đổi trong
suốt thời gian sử dụng TSCĐ. Nguyên giá TSCĐ được xác định phụ thuộc vào
nguồn hình thành tài sản.
Nguyên giá tài sản cố định hữu hình: là toàn bộ các chi phí mà doanh
nghiệp phải bỏ ra để có tài sản cố định tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào
trạng thái sẵn sàng sử dụng.
Nguyên giá tài sản cố định vô hình: là toàn bộ các chi phí mà doanh
nghiệp phải bỏ ra để có tài sản cố định vô hình tính đến thời điểm đưa tài sản
đó vào sử dụng theo dự tính.
1.1.4 Khấu hao tài sản cố định
Để tính giá trị hao mòn TSCĐHH và TSCĐVH trong từng kỳ SXKD, DN
phải xác định rõ giá trị phải khấu hao, thời gian sử dụng hữu ích và phương
pháp khấu hao TSCĐHH và TSCĐVH. Các chỉ tiêu này được xác định như sau:


10

* Giá trị phải khấu hao của TSCĐHH và TSCĐVH bằng nguyên giá
TSCĐHH và TSCĐVH trừ đi giá trị thanh lý ước tính của tài sản đó. Trong
thực tế để đơn giản cho công tác tính toán, DN thường xác định giá trị thanh lý
ước tính của TSCĐHH bằng 0 nên giá trị khấu hao TSCĐHH cũng chính là
nguyên giá TSCĐHH. Giá trị thanh lý ước tính của TSCĐVH được ước tính khi
TSCĐVH được hình thành đưa vào sử dụng bằng cách dựa trên giá bán phổ
biến ở cuối thời gian sử dụng hữu ích ước tính của một tài sản tương tự và đã
hoạt động trong các điều kiện tương tự. Giá trị thanh lý ước tính của TSCĐVH
không tăng lên khi có thay đổi về giá cả hoặc giá trị. Giá trị phải khấu hao của
TSCĐHH và TSCĐVH được phân bổ một cách có hệ thống trong thời gian sử
dụng hữu ích của chúng. Việc trích khấu hao được bắt đầu từ khi đưa TSCĐHH và
TSCĐVH vào sử dụng.
* Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐHH: sẽ được xác định thông qua việc
xem xét đến các yếu tố:
a. Mức độ sử dụng ước tính của DN đối với TS đó. Mức độ sử dụng được
đánh giá thông qua công suất và sản lượng dự tính.
b. Mức độ hao mòn phụ thuộc vào các nhân tố liên quan trong quá trình sử
dụng tài sản như: Số ca làm việc, chế độ sửa chữa bảo dưỡng tài sản.
c. Hao mòn vô hình phát sinh do việc thay đổi hay cải tiến dây truyền công
nghệ hay do sự thay đổi nhu cầu của thị trường về sản phẩm hoặc dịch vụ do tài sản
đó tạo ra.
d. Giới hạn có tính pháp lý trong công việc sử dụng tài sản.
Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐHH do DN xác định chủ yếu dựa trên
mức độ sử dụng ước tính của tài sản. Tuy nhiên do chính sách quản lý tài sản của
doanh nghiệp mà thời gian sử dụng hữu ích của một TSCĐ hữu hình còn phải dựa
trên kinh nghiệm của doanh nghiệp với các tài sản cùng loại. Doanh nghiệp chỉ
được thay đổi thời gian trích khấu hao TSCĐ một lần đối với một tài sản.
* Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐVH: Thời gian sử dụng hữu ích tối đa
của TSCĐ vô hình là 20 năm. Trong một số trường hợp, thời gian sử dụng hữu ích


11

của TSCĐ vô hình có thể vượt quá 20 năm khi có những bằng chứng tin cậy, nhưng
phải xác định được cụ thể. Các nhân tố kinh tế và pháp lý ảnh hưởng đến thời gian
sử dụng hữu ích của TSCĐ vô hình, gồm: (1) Các nhân tố kinh tế quyết định
khoảng thời gian thu được lợi ích kinh tế trong tương lai; (2) Các nhân tố pháp lý
giới hạn khoảng thời gian doanh nghiệp kiểm soát được lợi ích kinh tế này. Thời
gian sử dụng hữu ích là thời gian ngắn hơn trong số các khoảng thời gian trên.
* Phương pháp khấu hao TSCĐHH: DN lựa chọn phương pháp khấu hao
TSCĐHH đảm bảo phương pháp đó phải phù hợp với lợi ích kinh tế mà tài sản
mang lại cho DN. Số khấu hao của từng kỳ được hạch toán vào kết quả kinh
doanh trong kỳ, trừ khi chúng được tính vào giá trị của các tài sản khác.
Phương pháp trích khấu hao do DN xác định để áp dụng cho từng TSCĐHH phải
được thực hiện nhất quán trong suốt quá trình sử dụng TSCĐ. Trường hợp đặc biệt
cần thay đổi phương pháp trích khấu hao, doanh nghiệp phải giải trình rõ sự thay
đổi về cách thức sử dụng TSCĐ để đem lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp. Mỗi tài
sản cố định chỉ được phép thay đổi một lần phương pháp trích khấu hao trong quá
trình sử dụng. DN không được tiếp tục khấu hao đối với những TSCĐHH đã khấu
hao hết giá trị nhưng vẫn còn sử dụng trong hoạt động SXKD.
1.2 Lý luận chung về tài sản cố định và yêu cầu quản lý tài sản cố định
trong các doanh nghiệp
1.2.1 Đặc điểm tài sản cố định
Bất kể DN hoạt động trong lĩnh vực nào thì TSCĐ cũng là bộ phận tài sản đầu
tư dài hạn quan trọng, phản ánh năng lực SXKD và ảnh hưởng đáng kể đến hiệu
quả kinh doanh của DN. Nghiên cứu đặc điểm của TSCĐ chi phối tổ chức công tác
kế toán TSCĐ trong DN, lựa chọn mô hình quản lý TSCĐ cũng như phương pháp
tính khấu hao TSCĐ. TSCĐ trong DN có những đặc điểm sau :
- TSCĐ là những tài sản có giá trị lớn, thuộc quyền quản lý, sử dụng của DN.
Chính vì vậy DN phải quản lý, theo dõi TSCĐ cả về mặt hiện vật và giá trị để phục
vụ tốt nhất cho hoạt động SXKD. Mỗi DN có đặc điểm và nhu cầu khác nhau nên
việc đầu tư cho TSCĐ cũng nên lựa chọn cho phù hợp với tình hình thực tế của DN.


12

- TSCĐ được sử dụng trong nhiều năm hoặc nhiều kỳ SXKD của DN. Khi
TSCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD như vậy giá trị của nó sẽ được chuyển dần
vào chi phí tính giá thành sản phẩm nên TSCĐ cần được thường xuyên bảo dưỡng,
sửa chữa để giúp quá trình SXKD hoạt động hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, DN cũng
phải lựa chọn phương pháp khấu hao hợp lý giúp DN thu hồi được giá trị đã đầu tư
vào TSCĐ.
- TSCĐ hữu hình vẫn giữ nguyên hình thái hiện vật lúc ban đầu cho đến khi bị
hư hỏng hoàn toàn. DN thực hiện thu hồi giá trị TSCĐ hữu hình đã đầu tư để tái sản
xuất thông qua việc trích khấu hao.
- TSCĐ có kết cấu phức tạp gồm nhiều bộ phận với mức độ hao mòn không
đồng đều nên trong quá trình sử dụng TSCĐ có thể bị hư hỏng từng bộ phận.
- TSCĐ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản của DN. Chính vì vậy DN
cần phải quản lý tốt và nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ.
Từ những đặc điểm trên có thể thấy TSCĐ là cơ sở vật chất kỹ thuật của DN,
TSCĐ phản ánh năng lực sản xuất hiện có và trình độ ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào hoạt động của đơn vị. TSCĐ là một trong những yếu tố quan trọng tạo khả
năng tăng trưởng bền vững, tăng năng suất lao động từ đó giảm chi phí, hạ giá thành
sản phẩm dịch vụ.
Mặt khác TSCĐ còn là cơ sở vật chất kỹ thuật chủ yếu giúp DN đạt được các
mục tiêu về hoạt động tài chính trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nhiệm vụ đặt
ra đối với mỗi DN là phải tăng cường công tác quản lý TSCĐ nhằm đạt hiệu quả
cao. Đồng thời nhờ việc quản lý tốt TSCĐ doanh nghiệp sẽ phát triển sản xuất, tạo
ra nhiều sản phẩm, hạ giá thành, tăng vòng quay vốn và đổi mới trang thiết bị, đáp
ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.
1.2.2 .Phân loại tài sản cố định
* Phân loại theo hình thái biểu hiện
Theo cách phân loại này thì TSCĐ được chia làm 2 loại là TSCĐ hữu hình và
TSCĐ vô hình


13

- TSCĐ hữu hình là những loại tài sản có hình thái vật chất cụ thể, thỏa mãn
các tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình theo chuẩn mực kế toán số 03 (VAS03).
Theo tính chất của tài sản, TSCĐ hữu hình bao gồm: Nhà cửa, vật kiến trúc; máy
móc, thiết bị; phương tiện vận tải, truyền dẫn; thiết bị, dụng cụ quản lý; vườn cây
lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm và TSCĐ hữu hình khác.
- TSCĐ vô hình là tài sản không có hình thái vật chât cụ thể, thể hiện một số
tiền nhất định đã đầu tư nhằm thu được lợi ích trong tương lai. Theo Chuẩn mực kế
toán Việt Nam về TSCĐ vô hình (VAS 04): TSCĐ vô hình là tài sản không có hình
thái vật chất nhưng xác đinh được giá trị và do DN nắm giữ, sử dụng trong hoạt
động SXKD, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu
chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình.
Cách phân loại này giúp cho DN có biện pháp quản lý phù hợp, tổ chức hạch
toán chi tiết hợp lý và lựa chọn phương pháp, cách thức khấu hao thích hợp đặc
điểm kĩ thuật của từng nhóm TSCĐ.
* Phân loại theo mục đích sử dụng
Theo cách phân loại này thì TSCĐ trong DN bao gồm: TSCĐ dùng cho mục
đích kinh doanh; TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc
phòng; TSCĐ bảo quản hộ, giữ hộ, cất giữ hộ nhà nước. TSCĐ dùng cho mục đích
kinh doanh được chi tiết theo hoạt động, có thể có TSCĐ cho hoạt động sản xuất
sản phẩm, TSCĐ phục vụ hoạt động bán hàng và TSCĐ phục vụ cho quản lý hành
chính…
Việc phân loại TSCĐ theo mục đích sử dụng giúp kế toán có thể phân bổ chi
phí khấu hao theo đối tượng sử dụng, đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ của từng
hoạt động trong doanh nghiệp và gắn trách nhiệm vật chất của các cá nhân, bộ phận
liên quan đối với việc quản lý, sử dụng TSCĐ trong DN.
* Phân loại TSCĐ theo quyền sở hữu
Quyền sở hữu tài sản bao gồm đầy đủ các quyền quản lý, sử dụng, chiếm hữu
và định đoạt tài sản. Căn cứ vào quyền sở hữu, TSCĐ trong DN bao gồm hai loại:
TSCĐ thuộc quyền sở hữu DN và TSCĐ thuê ngoài.


14

- TSCĐ thuộc quyền sở hữu DN là các TSCĐ được xây dựng, mua sắm và
hình thành từ nguồn vốn ngân sách cấp, cấp trên cấp, nguồn vốn vay, nguồn vốn
liên doanh, các quỹ DN và các TSCĐ được biếu tặng. Đối với TSCĐ thuộc loại này
DN có toàn quyền quyết định trong các trường hợp: thanh lý, nhượng bán, biếu
tặng, góp vốn, thế chấp (trừ trường hợp TSCĐ đầu tư bằng nguồn vốn vay)
- TSCĐ thuê ngoài bao gồm các TSCĐ doanh nghiệp đi thuê của các tổ chức,
cá nhân, DN khác để sử dụng trong thời gian nhất định theo hợp đồng thuê tài sản.
Tùy theo bản chất của các điều khoản thỏa thuận trên hợp đồng kinh tế, thuê tài sản
được chia thành hai loại là thuê hoạt động và thuê tài chính.
+ Tài sản thuê hoạt động là những tài sản DN đi thuê của tổ chức, cá nhân
khác để sử dụng trong một thời gian nhất định mà khi kết thúc hợp đồng không có
sự chuyển giao quyền sở hữu. Trong thời gian hợp đồng thuê có hiệu lực, DN đi
thuê có quyền quản lý, sử dụng nhưng không có quyền sở hữu, không ghi tăng tài
sản và không tính khấu hao cũng như không được thay đổi kết cấu của tài sản đi
thuê. DN cho thuê không ghi giảm tài sản trên báo cáo tài chính, khấu hao tài sản
trong thời gian cho thuê là một khoản chi phí kinh doanh cho thuê tài sản.
+ Tài sản thuê tài chính là những tài sản thuê mà trong đó bên cho thuê có sự
chuyển giao phần lớn lợi ích và rủi ro gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên đi
thuê.
Cách phân loại này giúp cho DN có biện pháp quản lý phù hợp, tổ chức hạch
toán chi tiết hợp lý và lựa chọn phương pháp, cách thức khấu hao thích hợp đặc
điểm kỹ thuật của từng nhóm TSCĐ.
1.2.3 Yêu cầu quản lý tài sản cố định trong các doanh nghiệp
1.2.3.1 Yêu cầu quản lý tài sản cố định trong các doanh nghiệp
Quản lý TSCĐ trong DN đóng vai trò hết sức quan trọng giúp DN theo dõi và
quản lý chặt chẽ số vốn đã đầu tư, có biện pháp và kế hoạch sử dụng hợp lý tài sản,
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của DN. Quản lý TSCĐ cần được thực hiện trên tất
cả các mặt hiện vật, giá trị và chất lượng của tài sản. Do đó nội dung yêu cầu quản
lý TSCĐ bao gồm:


15

* Quản lý tình hình biến động của TSCĐ trong quá trình kinh doanh:
TSCĐ của DN tăng do rất nhiều nguyên nhân: do mua sắm, xây dựng, nhận
góp vốn, tặng biếu, nhận điều chuyển, phát hiện thừa trong kiểm kê... Nhưng chủ
yếu là tăng do mua sắm, xây dựng và nhận vốn góp. Tuy nhiên điều quan trọng
trong quản lý tăng TSCĐ đó là việc xác định nguyên giá TSCĐ cho hợp lệ dựa trên
các chứng từ có liên quan.
TSCĐ giảm có thể là do thanh lý, nhượng bán, góp vốn liên doanh, phát hiện
thiếu trong kiểm kê, chuyển thành công cụ dụng cụ... nhưng chủ yếu vẫn là giảm do
thanh lý, nhượng bán; góp vốn và thiếu khi kiểm kê. Và điều quan trọng trong quản
lý giảm TSCĐ đó là xác định GTCL và giá trị khấu hao lũy kế của TSCĐ tính thời
điểm giảm.
* Quản lý khấu hao TSCĐ:
Tài sản cố định là những tài sản có giá trị lớn và thời gian sử dụng dài như vậy
để hạch toán khấu hao TSCĐ DN cần phân loại TSCĐ theo mục đích sử dụng, lựa
chọn phương pháp khấu hao thích hợp cho từng loại, nhóm TSCĐ, các định thời
gian sử dụng dự kiến của từng loại TSCĐ và xây dưng tiêu thức phân bổ chi phí
khấu hao trong trường hợp TSCĐ phục vụ nhiều đối tượng (bộ phận, công việc, sản
phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng)
* Quản lý tình hình sửa chữa, nâng cấp TSCĐ:
Khi tham gia vào quá trình SXKD, TSCĐ bị hao mòm dần và có thể bị hư
hỏng một vài bộ phận. Để duy trì hoạt động của TSCĐ thì phải tiến hành bảo
dưỡng, sửa chữa hoặc thay thế những bộ phận bị hư hỏng.
Việc sửa chữa TSCĐ ở các DN tùy thuộc quy mô, tính chất của việc sửa chữa
được chia thành hai loại đó là sửa chữa thường xuyên và sửa chữa lớn TSCĐ.
Sửa chữa thường xuyên TSCĐ là sửa chữa mang tính chất bảo dưỡng hoặc
thay thế những chi tiết, bộ phận nhỏ của TSCĐ.
* Quản lý quá trình thanh lý TSCĐ:
Tài sản cố định hữu hình thanh lý là những TSCĐ hư hỏng, không sử dụng
được mà DN xét thấy không thể (hoặc có thể) sửa chữa để khôi phục hoạt động


16

nhưng không có lợi về mặt kế toán hoặc những TSCĐ lạc hậu về mặt kỹ thuật
không phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh mà không thể nhượng bán.
Bên cạnh đó, việc quản lý TSCĐ phải được tuân thủ theo những nguyên tắc
nhất định như sau :
- Mọi TSCĐ trong DN phải có bộ hồ sơ riêng. TSCĐ phải được phân loại,
thống kê đánh số và có thẻ riêng, theo dõi chi tiết theo từng đối tượng ghi TSCĐ và
được phản ánh trên sổ theo dõi TSCĐ.
- TSCĐ phải được quản lý theo nguyên giá, số hao mòn luỹ kế và giá trị còn
lại trên sổ sách kế toán:
Giá trị còn lại trên sổ
kế toán của TSCĐ

=

Nguyên giá của tài
sản cố định

- Số hao mòn luỹ kế của TSCĐ

- DN phải quản lý khấu hao đối với TSCĐ đã hết khấu hao nhưng vẫn tham
gia vào hoạt động SXKD.
- Định kỳ cuối mỗi năm tài chính phải tiến hành kiểm kê TSCĐ. Mọi
trường hợp thừa, thiếu phải lập biên bản, tìm nguyên nhân và biện pháp xử lý.
Xuất phát từ đặc điểm của TSCĐ mà TSCĐ phải được quản lý chặt chẽ cả về
mặt hiện vật và giá trị. Do đó, cần phải kiểm tra chặt chẽ tình hình hao mòn, việc
thu hồi vốn đầu tư ban đầu để tái sản xuất hoặc hiện đại hoá TSCĐ.
1.2.3.2 Nhiệm vụ kế toán tài sản cố định
Để cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin cho công tác quản lý TSCĐ trên cơ sở
tuân thủ các nguyên tắc quản lý TSCĐ, hạch toán TSCĐ trong doanh nghiệp phải
đảm bảo các nhiệm vụ chủ yếu sau:
+ Tổ chức ghi chép, phản ánh chính xác, kịp thời, đầy đủ số lượng, hiện trạng
và giá trị TSCĐ hiện có, tình hình tăng giảm và di chuyển TSCĐ trong doanh
nghiệp và từng nơi sử dụng, kiểm tra việc bảo quản, bảo dưỡng, sử dụng TSCĐ hợp
lý, hiệu quả.
+ Tính đúng và phân bổ chính xác số khấu hao TSCĐ vào chi phí sản xuất
kinh doanh của các bộ phận sử dụng TSCĐ. Quản lý và sử dụng nguồn vốn đầu tư
hình thành từ việc trích khấu hao TSCĐ có hiệu quả.


17

+ Lập kế hoạch và dự toán chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, phản ánh chính xác chi
phí thực tế sửa chữa TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ theo đúng đối
tượng sử dụng TSCĐ. Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch và chi phí sửa chữa TSCĐ.
+ Tổ chức hạch toán TSCĐ đầy đủ, đúng chế độ quy định. Kiểm tra và giám
sát tình hình tăng giảm TSCĐ.
+ Tham gia kiểm kê đánh giá lại TSCĐ theo quy định của Nhà nước. Lập báo
cáo về TSCĐ, phân tích tình hình trang bị, huy động, sử dụng TSCĐ nhằm nâng cao
hiệu quả kinh tế của TSCĐ.
1.3. Kế toán tài sản cố định trong doanh nghiệp
1.3.1 Quy định về kế toán tài sản cố định trong doanh nghiệp
1.3.1.1 Kế toán TSCĐ theo quy định của chuẩn mực kế toán Việt Nam
Kế toán TSCĐHH và TSCĐVH trong DN đòi hỏi phải tuân thủ các nguyên tắc
trong chuẩn mực số 01, quy định chung của chuẩn mực số 03 – VAS 03 và chuẩn
mực số 04 – VAS 04. Có thể khái quát quy định của các chuẩn mực này trên các nội
dung sau:
a. Tiêu chuẩn ghi nhận
Các tài sản được ghi nhận là TSCĐ phải thỏa mãn đồng thời tất cả bốn (4) tiêu
chuẩn ghi nhận sau:
(1) Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó;
(2) Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy;
(3) Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm;
(4) Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành.
- Tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ VH được quy định trong chuẩn mực số 04
giống như TSCĐHH, ngoài ra còn thỏa mãn định nghĩa về Tài sản.
Theo VAS 04: Lợi thế thương mại được tạo ra từ nội bộ DN không được
ghi nhận là TSCĐVH. Chi phí phát sinh để tạo ra lợi ích kinh tế tương lai
nhưng không hình thành TSCĐVH vì không đáp ứng được định nghĩa và tiêu
chuẩn ghi nhận trong chuẩn mực này mà chỉ tạo nên lợi thế thương mại từ nội
bộ DN.
b. Ghi nhận giá trị ban đầu TSCĐHH và TSCĐVH


18

* TSCĐHH và TSCĐVH phải được xác định giá trị ban đầu theo
nguyên giá.
TSCĐ HH trong DN có thể được hình thành theo nhiều phương thức và từ
nhiều nguồn khác nhau. Tùy vào từng hình thức đầu tư để có được TSCĐ HH
thì nguyên giá của TSCĐ HH sẽ được xác định theo từng nội dung cụ thể,
nhưng dù là được hình thành theo phương thức nào thì nguyên giá TSCĐ HH
vẫn phải được xác định dựa trên nguyên tắc: Nguyên giá TSCĐ HH và
TSCĐVH là toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để có được tài sản đó
tính đến thời điểm đưa vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.
Nguyên giá TSCĐ HH được xác định theo từng trường hợp cụ thể như:
- TSCĐ hữu hình tăng do mua sắm
- TSCĐ hình thành thông qua xây dựng hoặc tự chế tạo
- TSCĐ được cấp, được điều chuyển đến
- TSCĐ hữu hình thuê tài chính
- TSCĐ hình thành thông qua trao đổi tương tự và không tương tự
Nguyên giá TSCĐHH trong các trường hợp trên được xác định tương tự
như xác định nguyên giá TSCĐHH trong chế độ kế toán hiện hành được trình
bày ở phần 1.2.2.1
Riêng đối với TSCĐVH, theo chuẩn mực kế toán số 04 (VAS 04), Nguyên
giá được xác định trong từng trường hợp cụ thể như sau:
- Mua TSCĐ vô hình riêng biệt: nguyên giá TSCĐ vô hình mua riêng biệt,
bao gồm giá mua (trừ (-) các khoản được chiết khấu thương mại hoặc giảm giá)
cộng (+) với các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại)
cộng (+) với các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa tài sản vào sử dụng
theo dự tính. TSCĐ vô hình mua sắm được thanh toán theo phương thức trả
chậm, nguyên giá của TSCĐ vô hình được phản ánh theo giá mua trả ngay tại
thời điểm mua.
- Mua TSCĐ vô hình từ việc sáp nhập doanh nghiệp: Nguyên giá TSCĐ
vô hình hình thành trong quá trình sáp nhập doanh nghiệp có tính chất mua lại
là giá trị hợp lý của tài sản đó vào ngày mua (ngày sáp nhập doanh nghiệp). Giá


19

trị hợp lý có thể là: Giá niêm yết tại thị trường hoạt động. Nếu tài sản không có
thị trường hoạt động thì nguyên giá của TSCĐ vô hình được xác định bằng
khoản tiền mà doanh nghiệp phải trả vào ngày mua tài sản trong điều kiện
nghiệp vụ đó được thực hiện dựa trên các thông tin đáng tin cậy hiện có.
- TSCĐ vô hình là quyền sử dụng đất có thời hạn : Nguyên giá TSCĐ vô
hình là quyền sử dụng đất có thời hạn là số tiền trả khi nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất hợp pháp từ người khác, hoặc giá trị quyền sử dụng đất nhận
góp vốn liên doanh. Trường hợp quyền sử dụng đất được chuyển nhượng cùng
với mua nhà cửa, vật kiến trúc trên đất thì giá trị của nhà cửa, vật kiến trúc phải
được xác định riêng biệt và ghi nhận là TSCĐ hữu hình.
- Lợi thế thương mại được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp: lợi thế thương
mại được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp không được ghi nhận là tài sản. Sở dĩ
như vậy là vì nó không phải là nguồn lực có thể xác định, không đánh giá được
một cách đáng tin cậy và doanh nghiệp không kiểm soát được. Tương tự như
vậy, những khoản chênh lệch giữa giá trị thị trường của doanh nghiệp với giá
trị tài sản thuần của doanh nghiệp ghi trên báo cáo tài chính được xác định tại
một thời điểm không được ghi nhận là TSCĐ vô hình do doanh nghiệp kiểm
soát. Các nhãn hiệu hàng hóa, quyền phát hành, danh sách khách hàng và các
khoản mục tương tự được hình thành trong nội bộ doanh nghiệp không được
ghi nhận là TSCĐ vô hình.
c. Chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu
* Đối với TSCĐHH:
Các chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu TSCĐ hữu hình được ghi tăng
nguyên giá của tài sản nếu các chi phí này chắc chắn làm tăng lợi ích kinh tế
trong tương lai do việc sử dụng tài sản đó. Các chi phí phát sinh không thỏa
mãn điều kiện trên phải được ghi nhận là chi phí SXKD trong kỳ.
* Đối với TSCĐVH:
Trong quá trình sử dụng tài sản, những chi phí liên quan đến TSCĐ vô
hình phát sinh sau khi ghi nhận ban đầu phải được ghi nhận là chi phí SXKD
trong kỳ, trừ khi thỏa mãn đồng thời 2 điều kiện sau thì được vốn hóa tức là
tính vào nguyên giá TSCĐ vô hình: (a) Chi phí này có khả năng làm cho TSCĐ


20

vô hình tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai nhiều hơn mức hoạt động được
đánh giá ban đầu; (b) Chi phí được đánh giá một cách chắc chắn và gắn liền với
một TSCĐ vô hình cụ thể.
d. Xác định giá trị sau ghi nhận ban đầu TSCĐHH và TSCĐVH
Sau ghi nhận ban đầu, trong quá trình sử dụng TSCĐ hữu hình được xác
định theo nguyên giá, khấu hao lũy kế và giá trị còn lại. Trường hợp TSCĐHH
được đánh giá lại theo quy định của Nhà nước thì nguyên giá, khấu hao lũy kế
và giá trị còn lại phải được điều chỉnh theo kết quả đánh giá lại. Chênh lệch do
đánh giá lại TSCĐ được xử lý theo quy định của Nhà nước.
Như vậy, theo VAS 03 thì DN sử dụng phương pháp giá gốc để xác định
giá trị sau ghi nhận ban đầu TSCĐHH. Giá trị của TSCĐHH tại một thời điểm
nào đó sau ghi nhận ban đầu sẽ là hiệu số giữa nguyên giá và khấu hao lũy kế
của tài sản. Nguyên giá và khấu hao lũy kế là 2 chỉ tiêu được kế toán theo dõi
và phản ánh nên việc xác định giá trị còn lại của TSCĐHH sẽ được thực hiện
khá đơn giản và nhanh chóng. Đây cũng chính là ưu điểm của phương pháp giá
gốc. Hơn nữa việc kế toán theo dõi TSCĐHH theo 3 chỉ tiêu nguyên giá, khấu
hao lũy kế và giá trị còn lại TSCĐHH là điều kiện để DN kiểm tra giám sát
thường xuyên TSCĐHH, xác định chính xác vốn đầu tư bỏ ra, số vốn đã và
đang được thu hồi từ đó không chỉ tính chính xác chi phí còn có thể xác định
nguồn vốn khấu hao để tái đầu tư.
1.3.1.2. Các quy định khác
Ngày 25 tháng 04 năm 2013 Bộ Tài chính ban hành Thông tư 45/2013/TTBTC hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ, áp dụng đối với
doanh nghiệp được thành lập và hoạt động tại Việt Nam. Thông tư thay thế Thông
tư số 203/2009/TT-BTC. Ngoài những quy định chung thông tư cũng bổ sung nhiều
điểm mới trong quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ. Có thể tóm lược những
điểm quan trọng của Thông tư 45/2013/TT-BTC như sau:
Tiêu chuẩn và nhận biết TSCĐ: Nguyên giá xác định TSCĐ là từ 30 triệu
Đồng trở lên so với 10 triệu Đồng theo Thông tư 203/2009/TT-BTC. Các TSCĐ
đang được theo dõi, quản lý và trích khấu hao theo Thông tư 203/2009/TT-BTC, nay
không còn đáp ứng tiêu chuẩn là TSCĐ thì giá trị còn lại của các tài sản này được


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×