Tải bản đầy đủ

Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Ngân hàng: Quy trình cho vay tại ngân hàng TMCP Tiên Phong

TÓM TẮT LỤÂN VĂN
Luận văn thạc sỹ kinh doanh và quản lý
Tên luận văn: "Quy trình cho vay tại ngân hàng TMCP Tiên Phong"

Nghiệp vụ tín dụng được coi là nghiệp vụ chủ yếu đối với các NHTM; lợi nhuận
từ hoạt động tín dụng chiếm tỉ trọng cao nhất trong tổng lợi nhuận của các ngân hàng.
Tuy nhiên đây cũng là hoạt động phức tạp và hàm chứa nhiều rủi ro nhất của ngân hàng.
Do đó ngân hàng phải tiến hành hàng loạt các hoạt động kiểm tra trước, trong và sau quá
trình cho vay để đảm bảo có thể thu lại khoản tiền gốc cũng như lãi của khoản tiền đã cho
vay. Quy trình, quy chế cho vay là vấn đề mà các ngân hàng luôn quan tâm hoàn thiện để
có thể đảm bảo hoạt động cho vay được diễn ra an toàn. Hoàn thiện quy trình cho vay là
cần thiết để nâng cao chất lượng tín dụng, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ
thống ngân hàng.
Ngân hàng TMCP Tiên Phong là một ngân hàng TMCP non trẻ trong hệ thống các
ngân hàng tại Việt Nam. Thành lập năm 2008, tính đến nay TPBank mới được 8 tuổi, tuy
vậy cũng đã từng trải qua nhiều “sóng gió”. Vào giai đoạn 2011-2012, khi mới đi vào
hoạt động được 3 năm, TPBank rơi vào trạng thái mức nợ xấu lên tới trên 6%; bộ máy
hoạt động kém hiệu quả, gặp khó khăn về thanh khoản, có nguy cơ vốn điều lệ dưới quy
định, TGĐ cũ vướng vào vòng lao lý… Trước tình hình đó, TPBank buộc phải thay đổi.
TPBank là một trong những ngân hàng đầu tiên NHNN chấp thuận phương án tự tái cơ
cấu. Trải qua 8 năm hoạt động và công cuộc tái cơ cấu, có thể nói TPBank đã thay da đổi

thịt, từng bước lớn mạnh hơn.
Quy trình cho vay của TPBank được ban hành căn cứ theo quy định của pháp luật,
có tham khảo các quy trình của các ngân hàng trong và ngoài nước. Tuy nhiên, thực tiễn
áp dụng vẫn không tránh khỏi những vấn đề vướng mắc, dẫn tới nguy cơ mất vốn cho
ngân hàng hay có những phản hồi không tốt từ phía khách hàng. Chính vì vậy, hoàn thiện
quy trình cho vay, thực hiện tốt quy trình cho vay, nâng cao chất lượng thẩm định tín


dụng, giảm thiểu rủi ro là vấn đề luôn được TPBank quan tâm. Cũng trên cơ sở này, tác
giả chọn đề tài “Quy trình cho vay tại ngân hàng TMCP Tiên Phong” làm đề tài luận văn
thạc sỹ của mình.
Về mục tiêu nghiên cứu của lụân văn: Thứ nhất, tác giả đã hệ thống hóa các vấn
đề về hoạt động cho vay và quy trình cho vay của các ngân hàng thương mại. Thứ hai, tác
giả phân tích việc xây dựng và thực hiện quy trình cho vay tại TPBank. từđó, tác giả đánh
giá các kết quả đạt được và những hạn chế trong việc thực hiện quy trìnhcho vay tại ngân
hàng. Cuối cùng, tác giả đưa ra các đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình cho
vay và việc thực hiện quy trình cho vay cho vay tại TPBank.
Về đối tuợng, không gian, thời gian nghiên cứu của luận văn: tác giả nghiên cứu
về hoạt động cho vay và quy trình cho vay tại NHTM, và cụ thể tại ngân hàng TMCP
Tiên Phong. Tác giả thu thập và xử lý số liệu giai đoạn 2013 - 2015, đồng thời đưa ra các
giải pháp đề xuất cho giai đoạn 2016 - 2020.
Để phục vụ nghiên cứu, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu,
trong đó chủ yếu là phương pháp tư duy logic, thống kê, điều tra khảo sát thực tế, thu
thập tổng hợp số liệu cho đến phân tích dữ liệ

.

Về kết cấu của luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng
biểu, danh mục viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, thì nội dung của luận văn
được kết cấu gồm 04 chương:
 Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về cho vay và quy trình cho vay tại ngân
hàng thương mại.
Hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu để tạo ra thu nhập của các NHTM. Bởi
vậy đây là đề tài luôn được quan tâm, có rất nhiều các công trình nghiên cứu. Phát triển
hoạt động cho vay, hoàn thiện công tác QTRR đối với hoạt động cho vay, mở rộng cho
vay… là những đề tài rất phổ biến. Một số đề tài tác giả tham khảo bao gồm:


-


Đề tài luận án tiến sĩ “Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt
động cho vay tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam (Lấy thực tế từ Ngân hàng
TMCP Công thương Việt Nam)” (Trường Đại học kinh tế quốc dân, năm 2016, tác
giả Nguyễn Thị Bích Vượng).

-

Đề tài luận án tiến sĩ “Nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng
thương mại cổ phần Quốc tế trên thị trường Việt Nam” (Trường Đại học kinh tế
quốc dân, năm 2015, tác giả Nguyễn Tú).

-

Đề tài luận án tiến sĩ “Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
các chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trên địa
bàn thành phố Hồ Chí Minh” (Trường Đại học ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh,
năm 2013, tác giả Trần Trọng Huy).

-

Đề tài luận văn cao học “Phát triển hoạt động cho vay tại HDBank chi nhánh
Hoàn Kiếm” (Trường Đại học kinh tế quốc dân, năm 2012, tác giả Phạm Duy
Cận).

-

Đề tài luận văn cao học “Hoàn thiện công tác QTRR trong hoạt động cho vay của
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam” (Trường Đại học kinh tế quốc
dân, năm 2013, tác giả Đào Xuân Sơn).

-

Đề tài luận văn cao học “Phát triển hoạt động cho vay cá nhân tại chi nhánh Ngân
hàng đầu tư và phát triển Sơn La” (Trường Đại học kinh tế quốc dân, năm 2012,
tác giả

-

).

Đề tài luận văn cao học “Hoàn thiện công tác thẩm định tín dụng trong hoạt động
cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn công thương - chi nhánh
Hoàn Kiếm” (Trường Đại học kinh tế quốc dân, năm 2012, tác giả Trương Bích
Ngọc).

-

Đề tài luận văn cao học “Nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng TMCP Công
thương Việt Nam chi nhánh Tiên Sơn” (Trường Đại học kinh tế quốc dân, năm
2011, tác giả Lê Thị Bích Lan).

-

"Phát triển tín dụng tiêu dùng an toàn và hiệu quả" ngày 23/11/2011 trên
trang tin của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam http://www.vnba.org.vn.


-

Luận văn thạc sĩ: “Mở rộng cho vay hộ sản xuất thuộc lĩnh vực nông nghiệp –
nông thôn tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện
Hòa Vang”, của học viên cao học Đinh Viết Châu Khoa, Đại học Đà Nẵng, năm
2012.
Trên cơ sở các công trình đã nghiên cứu, tác giả nhận thấy các công trình nghiên

cứu và bài viết kể trên đều đã nói lên tầm quan trọng của của quy trình cho vay đối với
hoạt động cho vay nói riêng và sự phát triển của NHTM nói chung. Bởi vậy một trong
những giải pháp, đề xuất mà các tác giả nghiên cứu trước đó đưa ra đều là hoàn thiện quy
trình cho vay, nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng. Tuy nhiên rất ít đề tài nghiên cứu
sâu về vấn đề quy trình cho vay, thực tiễn áp dụng quy trình cho vay tại ngân hàng.
Ngân hàng TMCP Tiên Phong là một ngân hàng còn non trẻ, và theo như tìm hiểu
của tác giả thì chưa có đề tài nghiên cứu nào về quy trình cho vay củ
ề quy trình cho vay và việc thực
hiện quy trình cho vay củ

thực tiễn áp dụng quy trình cho vay của ngân hàng.
 Chương 2: Những vấn đề cơ bản về cho vay và quy trình cho vay của ngân hàng
thương mại.
Tại chuơng 2, tác giả đã hệ thống hoá các vấn đề cơ bản về cho vay bao gồm: khái
nịêm, vai trò, phân loại hoạt động cho vay tại phần 2.1. Tiếp đó, tác giả hệ thống hóa các
vấn đề về quy trình cho vay tại phần 2.2. Cụ thể, mục 2.2.1 tác giả đưa ra khái niệm về
quy trình cho vay. Mục 2.2.2 tác giả viết về sự cần thiết phải xây dựng và thực hiện quy
trình cho vay đơn giản mà đảm bảo kiểm soát rủi ro. Mục 2.2.4 tác giả tập trung vào sáu
yêu cầu chủ yếu khi xây dựng và thực hiện quy trình cho vay. Mục 2.2.5 tác giả nghiên
cứu các bộ phận cấu thành quy trình cho vay. Một quy trình cho vay có thể bao gồm
nhiều giai đoạn tùy theo tình hình tổ chức, đặc điểm riêng của mỗi ngân hàng. Bản chất
của quy trình cho vay kéo dài từ khi từ khi tiếp nhận hồ sơ của khách hàng cho đến khi


khách hàng thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi vay của khách hàng cho ngân
hàng. Hầu hết các ngân hàng đều tự thiết kế cho mình một quy trình cho vay cụ thể, bao
gồm nhiều giai đoạn khác nhau với kết quả cụ thể của từng giai đoạn. Tuy nhiên, 6 giai
đoạn cơ bản của quy trình cho vay là: Lập hồ sơ đề nghị cho vay; Phân tích hồ sơ khoản
vay; Quyết đinh cho vay và ký HĐTD; Giải ngân; Giám sát khoản vay; Thanh lý HĐTD.
Mục 2.2.6 tác giả viết về các nhân tố ảnh hưởng đến quy trình cho vay của NHTM. Các
nhân tố bên trong ảnh hưởng tới quy trình cho vay của NHTM là: chiến lược hoạt động
và phát triển của ngân hàng; nhân tố con người; hệ thống QTRR của ngân hàng và công
nghệ của ngân hàng. Ba nhân tố bên ngoài ảnh hưởng tới quy trình cho vay của NHTM
là: khách hàng; sự cạnh tranh của NHTM và môi trường pháp lý, chính sách về lĩnh vực
ngân hàng của Nhà nước.
Dựa trên thực tiễn đã làm việc và tham khảo tại các nguồn tư liệu khác nhau, tác
giả phân tích kinh nghiệm xây dựng và thực hiện quy trình cho vay tại 3 ngân hàng
TMCP tại Việt Nam bao gồm: ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
(Vietcombank), ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) vàngân hàng
TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank).
Vietcombank hiện đang áp dụng mô hình phê duyệt & giải ngân phân quyền. Theo
đó, tùy theo xếp hạng chi nhánh, mà phân quyền phê duyệt hạn mức tín dụng khác nhau.
Chẳng hạn với các chi nhánh cấp 1 thì khi các khoản cho vay dư nợ cá nhân dưới 20 tỷ
đồng và tổ chức 45 tỷ đồng thẩm quyền phê duyệt – giải ngân sẽ do chi nhánh quyết định.
Trường hợp vượt quá hạn mức trên, thẩm thẩm quyền phê duyệt – giải ngân sẽ do hội sở
quyết định. Tại Vietcombank, CV.KH tham gia và chịu trách nhiệm chính trong mọi giai
đoạn của quá trình cho vay, từ lập hồ sơ cho vay, phân tích khoản vay, chuẩn bị hồ sơ ký
HĐTD, lập hồ sơ giải ngân, giám sát khoản vay tới XLN.
Mô hình đang áp dụng ở Techcombank là mô hình phê duyệt tập trung – giải ngân
phân quyền. Theo đó, CV.KH chỉ tiến hành phân tích khỏan vay lần 1. Khối thẩm định và
QTRR phân tích lần 2, chịu trách nhiệm chính trước khi trình lên cấp phê duyệt ở hội sở.


Thẩm quyền phê duyệt không trao cho cán bộ lãnh đạo ở chi nhánh mà tập trung ở hội sở
với các chuyên gia phê duyệt.Sau đó, kết quả phê duyệt được gửi về chi nhánh. Phòng
HTTD ở chi nhánh chịu trách nhiệm hoàn thiện hồ sơ ký HĐTD và thực hiện các thủ tục
giải ngân.
Quy trình cho vay hiện đang áp dụng tại HDBank (bắt đầu từ năm 2015) là quy
trình cho vay theo mô hình phê duyệt tập & giải ngân tập trung. Với mô hình này, về cơ
bản đến bước phê duyệt thì giống mô hình đang áp dụng ở Techcombank. Tuy nhiên, sau
khi có kết quả phê duyệt, hồ sơ tiếp tục được gửi sang trung tâm HTTD hội sở thay vì
chuyển về phòng HTTD ở chi nhánh. Công tác giải ngân được kiểm soát chặt chẽ hơn so
với mô hình ở Techcombank. Phòng HTTD ở chi nhánh chịu trách nhiệm chính trong
việc hoàn thiện việc ký kết các HĐTD, hợp đồng thế chấp, đăng ký giao dịch bảo đảm...
hay nói cách khác hỗ trợ CV.KH. Với cơ chế này, việc giải ngân được kiểm tra, kiểm
soát kỹ hơn. Mặc khác, việc có 1 bộ phận ở chi nhánh hỗ trợ CV.KH những công việc về
mặt thủ tục giúp CV.KH tập trung chuyên môn đi tìm kiếm khách hàng và mở rộng, gia
tăng dư nợ.
 Chương 3: Phân tích quy trình cho vay và thực hiện quy trình cho vay tại ngân
hàng TMCP Tiên Phong.
Trước khi đi vào phân tích quy trình cho vay và thực hiện quy trình cho vay, tác
giả đã đưa ra các thông tin khái quát về ngân hàng TMCP Tiên Phong bao gồm: lịch sử
hình thành, phát triển; các hoạt động chính và cơ cấu tổ chức của ngân hàng và tình hình
hoạt động của ngân hàng giai đoạn 2013-2015. Nhìn chung, mặc dù mới thành lập năm
2008 trải qua khủng hoảng vào năm 2010-2012, nhưng TPBank là một trong những ngân
hàng đầu tiên đươc NHNN chấp thuận phương án tự tái cơ cấu và đã thành công. Tình
hình tăng trưởng của TPBank từ năm 2013 khá ổn định, các chỉ số năm sau đều cao hơn
năm trước. Năm 2015 là một cột mốc đáng nhớ của TPBank, lần đầu tiên sau 3 năm tái
cơ cấu, ngân hàng đã chính thức xóa hết lỗ lũy kế, đóng thuế thu nhập doanh nghiệp gần
64 tỷ đồng.


Căn cứ trên thực tiễn làm việc tại ngân hàng và tìm hiểu thêm, tác giả đã phân tích
việc xây dựng và thực hiện quy trình cho vay tại TPBank. Trình tự thủ tục xây dựng quy
trình cho vay cũng như bất kỳ một văn bản nội bộ nào khác ở TPBank. Khối tín dụng
chịu trách nhiệm triển khai việc soạn thảo, ban hành, đảm bảo số lượng, chất lượng và
thời hạn xây dựng quy trình cho vay. Khối tín dụng xây dựng quy trình cho vay dựa trên
cơ sở pháp luật và tình hình thực tiễn hoạt động cho vay tại TPBank nói riêng cũng như
tại Việt Nam nói chung. Hàng năm, xuất phát từ kế hoạch hoạt động kinh doanh của
TPBank, yêu cầu thực tiễn của công việc, kết quả rà soát văn bản và căn cứ quy định của
pháp luật liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của mình, khối tín dụng lập kế hoạch xây
dựng văn bản quản trị của đơn vị mình cho năm kế tiếp và gửi về phòng pháp chế để
đăng ký, sau đó tổng hợp gửi cấp có thẩm quyền phê duyệt. Quy trình cho vay sau khi
được khối tín dụng soạn thảo tiếp tục phải chuyển qua phòng pháp chế kiểm soát để giám
sát và kiểm tra để đảm bảo quy trình cho vay phù hợp với quy định của pháp luật và quy
định nội bộ có liên quan; phù hợp giữa hình thức văn bản với nội dung của văn bản; phù
hợp giữa nội dung văn bản với thẩm quyền của người ban hành văn bản; và đảm bảo quy
trình cho vay thống nhất với các văn bản nội bộ hiện hành. Sau khi được ban hành, định
kỳ 06 tháng/lần, khối tín dụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách
nhiệm thường xuyên rà soát, hệ thống hóa quy trình cho vay do đơn vị mình soạn thảo;
nếu phát hiện có quy định trái pháp luật, trái với các quy định khác của TPBank, mâu
thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với tổ chức, hoạt động của TPBank thì kiến
nghị với cấp có thẩm quyền ban hành kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình
chỉ việc thi hành.
Quy trình cho vay hiện tại đang áp dụng tại TPBank được ban hành từ tháng
10/2014, bao gồm theo đầy đủ 6 bước cơ bản của quy trình cho vay cơ bản, bao gồm các
khâu theo thứ tự từ Lập đề nghị cho vay -> Phân tích hồ sơ khoản vay -> Phân tích hồ sơ
khoản vay -> Quyết định cho vay và ký HĐTD -> Giải ngân -> Giám sát khoản vay ->
Thanh lý HĐTD.


Việc thực hiện quy trình cho vay tại TPBank đã đạt được những kết quả đáng kể.
Thứ nhất, các bước của quy trình cho vay ngày càng được tuân thủ chặt chẽ hơn, chất
lượng hoạt động của các phòng/ ban/ bộ phận tham gia hoạt động cho vay đều có sự cải
thiện theo chiều hướng tốt lên. Với quy trình cho vay mới, do kết quả của giai đoạn trước
là tiền đề của giai đoạn sau, nên ban lãnh đạo ngân hàng ban hành yêu cầu tất cả các bộ
phận ở hội sở đều phải ban hành cam kết chất lượng SLAs (Service Level Agreement)
nhằm nâng cao trách nhiệm về việc cung cấp sản phẩm dịch vụ có chất lượng tốt, ít lỗi
sai, đúng hạn của từng phòng ban bộ phận từ đó nâng cao sự thỏa mãn của khách hàng sử
dụng dịch vụ. Như vậy, trong quá trình tác nghiệp, mọi ý kiến của các cá nhân thuộc
phòng ban bộ phận tác nghiệp trong quá trình cho vay đều phải thể hiện qua email hoặc
văn bản. Đây sẽ là căn cứ để xác định trách nhiệm của các bên đồng thời đây cũng là
bằng chứng để đánh giá mức độ làm việc hiệu quả của các cá nhân, tập thể. Thứ hai, chất
lượng của các khoản vay được tăng lên. Điều này thể hiện qua các con số như: tỷ lệ nợ đủ
tiêu chuẩn tăng qua các năm, từ tỷ lệ 92,26% vào năm 2012 đến đạt tỷ lệ 97,4% vào năm
2015; tỷ lệ các khoản nợ cần chú ý giảm đi, từ chỗ 4,09 % vào năm 2012 đã giảm xuống
gần một nửa là 2,10 % vào năm 2013, giảm tiếp xuống còn 1,54 % vào năm 2014 và 1,93
% vào năm 2015; hơn thế nữa TPBank đã khống chế thành công tỷ lệ nợ xấu, từ chỗ tỷ lệ
nợ xấu ở mức báo động 3,66 % xuống mức 0,66 % vào năm 2015 - đây là con số thấp
nhất trong toàn hàng vào năm 2015.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc thực hiện quy trình cho vay tại TPBank
vẫn còn tồn tại những điểm hạn chế. Thứ nhất, thời gian thực hiện khoản vay chưa được
rút ngắn. Nguyên nhân dẫn đến thời gian thực hiện khoản vay chưa được rút ngắn là do
cơ chế phê duyệt và giải ngân tập trung dẫn tới mọi hồ sơ đều phải gửi về hội sở. Một bộ
hồ sơcho vay 100 triệu đồng cũng như cho vay 10 tỷ đồng cũng đều phải trải qua các
khâu như nhau. Trong khi đó, nếuhồ sơ thuộc thẩm quyền phê duyệt của ban lãnh
đạoĐVKD thì ban lãnh đạo ĐVKD có thể phê duyệt trực tiếp, phê duyệt qua điện thoại
trước, hồ sơ không bị mất thời gian scan hồ sơ, gửi mail, rồi tải file... mà chỉ cần chạy
qua các phòng, thậm chí xin ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo trước.Đối với quy trình cho vay


mới, tuyệt nhiên không thể có chuyện phê duyệt qua điện thoại, tuyệt nhiên không thể có
chuyện nợ hồ sơ hay tắt bước, tất cả đều căn cứ trên hồ sơ hiện trên hệ thống. CV.KH ở
ĐVKD thậm chí không thể biết CV.TTĐ nào sẽ là người thẩm định lại hồ sơ của mình
cũng như CV.HTTD.HO nào sẽ là người thực hiện thủ tục giải ngân cho khách hàng của
mình...
Điểm hạn chế thứ hai là mức độ hài lòng của khách hàng giảm đi. Nguyên nhân
dẫn đến mức độ hài lòng của khách hàng giảm đi có thể giải thích do thời gian thực hiện
khoản vay dài hơn, có quá nhiều người tham gia vào quá trình cho vay, tiếp xúc hoặc liên
hệ với khách hàng ảnh hưởng tới khách hàng về mặt tâm lý. Đối với quy trình cho vay
cũ, CV.KH làm việc với khách hàng từ khi tiếp nhận hồ sơ cho tới khi cho vay đến khi
giải ngân. Vềmặt thực tế, gần như CV.KH có thể trả lời khách hàng được các vấn đề như
khoản vay có thể giải quyết được không, trong bao lâu sẽ có kết quả bởi việc phê duyệt
các bước trong nội bộ chi nhánh, các công việc thậm chí có thể giải quyết chỉ qua một
cuộc điện thoại... Trong khi đó, với quy trình mới, CV.KHhay đến trưởng P.KD, thậm chí
kể cả giám đốc chi nhánh cũng không thể nắm bắt được chính xác bao lâu khoản vay sẽ
giải ngân bởi các bước tiếp theo do các phòng ban khác nhau, thậm chí không thể biết
trước được CV.TTĐ nào sẽ là người thẩm định khoản vay, cấp phê duyệt cụ thể nào sẽ
phê duyệt khoản vay, CV.HTTD.HO nào sẽ phê duyệt khoản vay ...
 Chương 4: Giải pháp hoàn thiện quy trình cho vay và việc thực hiện quy trình
cho vay tại ngân hàng TMCP Tiên Phong.
Với TPBank, hoạt động kinh doanh năm 2015 đã đạt được những kết quả khả quan,
các chỉ tiêu tài chính đều vượt và đạt kế hoạch. Tính tới tháng 6/2015, TPBank đã bù đắp
được toàn bộ lỗ lũy kế trong quá khứ, bắt đầu có lợi nhuận thực dương, sớm trước 1 năm
so với dự kiến và đánh dấu bước phát triển mới của ngân hàng. Đây là cơ sở quan trọng
để hoạt động cho vay của TPBank trong các năm tiếp theo thành công hơn nữa. Nhận
thức được vấn đề, TPBank đã đề ra phương hướng cụ thể trong hoạt động cho vay trong


giai đoạn 2016-2020 trên tinh thần tiếp tục phát huy những kết quả, thành tích đã đạt
được với rất nhiều các chương trình hành động.
Quy trình cho vay đang áp dụng tại TPBank so với quy trình cho vay cũ đã góp
phần thúc đẩy chất lượng của các khâu, các bước, tăng lên và tăngchất lượng tín dụng tại
TPBank. Đây là một thành công lớn đối với ngân hàng. Tuy nhiên, điểm tồn tại là thời
gian thực hiện khoản vay lại kéo dài hơn và mức độ hài lòng của khách hàng giảm đi. Bởi
vậy, vấn đề đặt ra là TPBank cần phải cải thiện quy trình cho vay theo hướng rút ngắn
thời gian thực hiện cho vay, gia tăng chất lượng phục vụ khách hàngmà vẫn đảm bảo
kiểm soát rủi ro. Tác giả đã đưa ra 3 nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình cho vay.
Nhóm giải pháp thứ nhất về xây dựng quy trình cho vay. Sau khi phân tích trường
hợp điển hình của công ty IBM Credit, áp dụng tương tự vào quy trình cho vay tại
TPBank, tác giả nhận thấy các nhược điểm của quy trình cho vay đang áp dụng tại
TPBank là thời gian thực hiện khoản vay dài, đồng thời mức độ hài lòng của khách hàng
giảm đi. Những nhược điểm này đều có thể khắc phục theo cách làm của IBM Credit.
Chính bởi lẽ đó, giải pháp đầu tiên tác giả đưa ra là tái cấu trúc quá trình cho vay, khắc
phục cách làm của mô hình quản trị truyền thống, cụ thể bao gồm các bước như: Gộp
nhiều công việc thành một; Thành lập các nhóm công tác quá trình; Trao quyền chủ động
cho nơi thực hiện và người đảm nhận công việc; Thay đổi hoạt động đào tạo, quan hệ lao
động, thù lao lao động, đề bạt; Thay đổi cơ cấu tổ chức.
Giải pháp tái cấu trúc quy trình cho vay là một giải pháp mang tính đột phá, bởi
việc tái cấu trúc một doanh nghiệp, một ngân hàng trong khi các ngân hàng hiện tại ở
Việt Nam vẫn đang tiến hành theo lối quản trị truyền thống là một điều vô cùng khó
khăn. Bởi vậy, để phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam, tác giả cũng đồng thời đưa ra
nhóm giải pháp thứ hai về thực hiện quy trình cho vay bao gồm các giải pháp cụ thể như:
Hoàn thiện công tác sàng lọc và lựa chọn khách hàng; Linh hoạt khi phê duyệt khoản vay
và giải ngân; Hỗ trợ khách hàng sau khi vay vốn; Chủ động phòng và chống nợ xấu.


Nhóm giải pháp thứ ba mà tác giả đưa ra bao gồm các giải pháp: Khai thác, ứng
dụng hiệu quả công nghệ hiện đại vào hoạt động cho vay; Tăng cường công tác tuyển
dụng, đào tạo, tập huấn, nâng cao trình độ nghiệp vụ của đội ngũ nhân viên tham gia vào
quá trình cho vay; Kết hợp chặt chẽ đồng bộ quy trình cho vay và hệ thống quản trị rủi ro.
Bên cạnh các giải pháp trên, tác giả đưa ra các kiến nghị đối với NHNN và kiến
nghị đối với Chính Phủ. NHNN là ngân hàng trung ương, là của các ngân hàng. Do đó và
trước nhất, NHNN cần làm gương cho các NHTM. NHNN cũng cần xây dựng mô hình
hoạt động, ban hành quy chế cho vay, xây dựng quy trình cho vay chuẩn tắc, quy trình
cho vay áp dụng làm định hướng cho các ngân hàng khác nói theo. NHNN cần tiếp tục
xây dựng và hoàn chỉnh các văn bản pháp lý điều chỉnh trực tiếp hoạt động cho vay; tổ
chức triển khai các văn bản đã ban hành một cách sâu rộng hơn; rà soát lại các văn bản
chồng chéo,thiếu đồng bộ,không còn phù hợp với thực tế để hệ thống các văn bản của
ngành mang tính pháp lý cao. NHNN cần đơn giản các thủ tục, quy trình mỗi khi NHTM
cần xin ý kiến, tránh cơ chế “hành là chính”. Đồng thời, ngay khi NHTM có vấn đề,
NHNN cần kịp thời vào cuộc, điều tra để hỗ trợ tối đa cho các ngân hàng vận hành... Để
hoạt động cho vay của các NHTM Việt Nam theo kịp với thế giới cũng như mở rộng
được ra khắp thế giới, NHNN đẩy mạnh hơn nữa, thể chế hóa việc áp dụng các chuẩn
mực và thông lệ quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng vào hoạt động của hệ thống ngân hàng
ở Việt Nam. Chính Phủ là cơ quan quản lý cao nhất, điều hành mọi hoạt động kinh tế của
nhà nước. Lợi nhuận đến từ hoạt động cho vay của ngân hàng xét cho cùng cũng có được
là khi cá nhân, tổ chức đi vay hoạt động hiệu quả. Hay nói cách khác, các thành phần
kinh tế trong xã hội cùng phát triển thì ngân hàng cũng cùng đi lên. Bởi vậy, kiến nghị
với Chính Phủ nhằm hoàn thiện quy trình cho vay là những kiến nghị hướng tới mục tiêu
hoàn thiện môi trường pháp lý, phát triển nền kinh tế - xã hội – văn hóa làm nền tảng cho
hoạt động cho vay được diễn ra an toàn, lành mạnh... Chính Phủ cần tạo một môi trường
kinh doanh bình đẳng giữa các doanh nghiệp, hoàn thiện và thống nhất các văn bản pháp
luật, chính sách để tạo một cơ sở ổn định và căn cứ pháp lý vững chắc cho quá trình cho
vay.


Tác giả đã hoàn thành luận văn của mình dựa trên những kiến thức tích lũy được
trong quá trình nghiên cứu cùng với sự hướng dẫn của TS PHẠM THÙY GIANGvà sự
chỉ bảo giúp đỡ của tập thể các thầy cô giáo, giáo sư, tiến sỹ Khoa Quản trị kinh doanh
trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Qua đó, tác giả hy vọng những giải pháp và kiến nghị
đưa ra trong luận văn này sẽ được góp phần vào việc hoàn thiện công tác thẩm định tín
dụng trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong nói riêng và các Ngân
hàng thương mại nói chung trong thời gian tới.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×