Tải bản đầy đủ

Hiệu quả cho vay đối với DNNVV tại ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn việt nam chi nhánh láng hạ

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các tài
liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn dẫn rõ ràng, các kết quả nghiên
cứu là quá trình lao động trung thực của tôi.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN THỊ VĨNH


ii

LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm trân trọng nhất, tôi tác giả luận văn xin bày tỏ lời cảm ơn chân
thành, sâu sắc tới PGS.TS NGUYỄN TRỌNG TÀI vì sự tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn: “Hiệu quả cho vay đối với DNNVV tại
Ngân hàng Nông Nghiệp & Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Láng
Hạ”.
Tôi xin tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo của trường

Đại học Thương Mại đã tận tình, chu đáo trong quá trình giảng dạy và truyền đạt
kiến thức.
Xin chân thành cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo, các bạn đồng nghiệp, bạn bè
đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn.
TÁC GIẢ

NGUYỄN THỊ VĨNH.


iii

MỤC LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................................83


iv

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT:
DN

: Doanh nghiệp

DNNVV

: Doanh nghiệp nhỏ và vừa

DNCV

: Dư nợ cho vay.

DSCV

: Doanh số cho vay.

DSTN

: Doanh số thu nợ.

NHTM



: Ngân hàng thương mại.

NHNN

: Ngân hàng Nhà nước.

TCTD

: Tổ chức tín dụng.

TSĐB

:Tài sản đảm bảo.

WTO

: Tổ chức thương mại thế giới.

Agribank - Chi nhánh Láng Hạ: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam - Chi nhánh Láng Hạ
NPL

: Tỷ lệ nợ xấu


v

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
BẢNG
Xét theo quan điểm luật pháp:...................................................................................5
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................................83

BIỂU ĐỒ
Xét theo quan điểm luật pháp:...................................................................................5
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................................83

SƠ ĐỒ
Xét theo quan điểm luật pháp:...................................................................................5
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................................83


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các DNNVV đóng luôn vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế các
nước bởi đây là loại hình doanh nghiệp đông đảo nhất trong nền kinh tế, qui mô vốn
đòi hỏi không cao, có tính năng động cao dễ thích ứng với môi trường kinh tế vĩ mô
biến động và thường cấc doanh nghiệp này đóng góp rất tich cực vào sự phát triển
kinh tế đất nước. Chính vì vậy, chính phủ các nước luôn có các chihns sách và biện
pháp hữu hiệu nhằm phát triển loại hình doanh nghiệp này. Đối với Việt Nam,
những năm qua Chính phủ đã đưa ra nhiều chính sách ưu đãi đối với DNNVV để có
thể phát triển loại hình DNNVV và kết quả đạt được nhin chung là rất tích cực với
sự phát triển rất nhanh chóng của các DNNVV và có đóng góp trong việc khai thác
các nguồn lực quốc gia, đặc biệt là thu hút được lực lượng lao động đông đảo vừa
góp phần giải quyết việc làm, vừa tăng thu nhập cho ngường lao động, lại đóng góp
lớn vào thành tích tăng trưởng kinh tế nước ta những năm qua. Tuy vậy, thực tế
cũng chỉ ra rằng sự phát triển DNNVV ở nước ta chưa thực sự đáp ứng được kỳ
vọng đặt ra, có nhiều nguyên nhân dẫn tới thực trạng này, trong đó chủ yếu do sự
hạn chế về vốn đầu tư, nhất là từ vốn tín dụng ngân hàng, điều này đã và đang đặt ra
yêu cầu phải tìm các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay DNNVV.
Xuất phát từ lý do đó tôi đã chọn đề tài: “Hiệu quả cho vay đối với doanh
nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông Nghiệp & Phát triển nông thôn Việt Nam
- Chi nhánh Láng Hạ” làm đề tài Luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài
Hoạt động cho vay của NHTM cũng như vấn đề tiếp cận vốn của Doanh
nghiệp luôn được quan tâm và có nhiều bài viết, công trình khoa học đã được công
bố, đây là nguồn tư liệu quý giá cho việc nghiên cứu luận văn. Có thể kể đến một số
tài liệu nghiên cứu sau:
Giáo trình Tín dụng ngân hàng - NXB Thống kê, năm 2001 do Tiến sĩ Hồ
Diệu chủ biên; Nghiệp vụ Tín dụng và Thẩm định tín dụng ngân hàng của Phó giáo
sư -Tiến sĩ Nguyễn Minh Kiều (NXB Tài Chính, năm 2014), đã đưa ra những khái


2

niệm cơ bản về hoạt động cho vay của ngân hàng, làm rõ bản chất của cho vay, đặc
điểm của cho vay, các loại hình cho vay, quy trình và nguyên tắc cho vay, tác giả
cũng phân loại cho vay theo tiêu thức thời gian thành 2 nhóm: cho vay ngắn hạn và
cho vay trung, dài hạn, ngoài ra còn có thể phân loại theo hình thức cho vay hoặc
đối tượng vay vốn....
Trong tọa đàm “ Giải pháp vốn cho doanh nghiệp” (tổ chức 10/5/2012), ông
Vũ Tiến Lộc , Chủ tịch phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam cho hay: tiếp
cận vốn đang là một trong những rào cản chính cho khu vực DNNVV, đa số những
doanh nghiệp lớn, có uy tín, thương hiệu mới đáp ứng được yêu cầu của Ngân hàng.
Các tài liệu trích dẫn ở trên, mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá tầm quan trọng
của việc cho vay của ngân hàng và việc khó khăn trong việc tiếp cận vốn của
DNNVV mà chưa thực sự đưa ra giải pháp giải quyết.
Luận văn Thạc sĩ: “Giải pháp mở rộng cho vay đối với DNNVV tại NHNN
và PTNT huyện Thanh Trì” (2013) của Học viên Dương Thị Hải Yến - Học viện
Ngân hàng và bài báo “NHTM mở rộng cho vay vốn DNNVV” của Hoàng Xuân
Thuận đăng trên TTTCTT ngày 15/10/2003 đã chỉ ra những điểm còn hạn chế và
nguyên nhân từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động cho vay.
Tuy nhiên, các công trình trên mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra giải pháp mà chưa nói
rõ về hiệu quả đạt được từ những giải pháp đó.
Luận văn thạc sỹ: Một số giải pháp mở rộng và nâng cao chất lượng tín
dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần
Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình (2013) của Học viên Nguyễn Thị
Bắc – Học viện Ngân hàng, đã đề cập tương đối hệ thống các vấn đề lý luận tổng
quan về mở rộng và nâng cao chất lượng cho vay các DNNVV lấy Vietinbank Ba
Đình làm đối tượng nghiên cứu chính. Tuy vậy, luận văn này nghiên cứu về mở
rộng và nâng cao chất lượng cho vay nên hiệu quả cho vay không được đề cập
Dự án “Đẩy mạnh cho vay góp phần thúc đẩy phát triển DNNVV trên địa
bàn thành phố Hà Nội của NHTMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Nam
Thăng Long” nhằm đánh giá thực trạng hoạt động cho vay đối với DNNVV của


3

các TCTD trên địa bàn. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy
mạnh cho vay góp phần thúc đẩy sự phát triển của DNNVV, tuy nhiên các giải pháp
này mới chỉ dừng lại ở việc “đẩy mạnh” mà chưa tính đến “ Hiệu quả”. v.v…
Như vậy có thể thấy rằng liên quan đến chủ đề về hiệu quả cho vay các
DNNVV của NHTM đã có khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập, tuy vậy, các
công trình này hoặc thuần túy mang tính lý thuyết về hiệu quả cho vay, hoặc đề cập
đến hệ thống NHTM khác hoặc đề cập đến chi nhánh khác của Agribank hoặc chỉ
đề cập đến mở rộng cho vay chứ chưa đề cập đến hiệu quả cho vay DNNVV.
Do đó rất cần phải có công trình nghiên cứu sâu về Hiệu quả cho vay đối với
DNNVV, tác giả chọn đề tài “Hiệu quả cho vay đối với DNNVV tại Agribank –
Chi nhánh Láng Hạ” là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả cho
vay DNNVV tại Agribank - Chi nhánh Láng Hạ trong thời gian qua và đề xuất giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay DNNVV tại Agribank - Chi nhánh Láng Hạ.
3.2 Mục tiêu cụ thể
- Xây dựng cơ sở lý thuyết những vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả cho vay
và hoạt động cho vay đối với DNNVV của NHTM.
- Hệ thống hóa các văn bản pháp luật, chính sách liên quan đến DNNVV.
- Đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay đối với DNNVV của Agribank - Chi
nhánh Láng Hạ.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả cho vay
DNNVV tại Agribank - Chi nhánh Láng Hạ –những năm tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến hiệu quả cho vay đối với
DNNVV của NHTM.


4

4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng hiệu quả cho vay DNNVV tại Agribank - Chi nhánh
Láng Hạ chủ yếu trong giai đoạn 2012-2014.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn đã sử dụng kết hợp một số phương pháp
như: duy vật biến chứng, duy vật lịch sử, phương pháp thống kê, điều tra chọn mẫu,
so sánh, tổng hợp.
Phương pháp khác như tổng quan tư liệu từ các nguồn sách báo, đề tài, bài viết
các điều tra hoặc nghiên cứu của các chuyên gia, nhà quản lý, các doanh nghiệp.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài các phần mở đầu, lời cảm ơn, mục lục và các danh mục tài liệu tham
khảo đề tài bao gồm 3 chương:
Chương 1. Lý luận chung về hiệu quả cho vay đối với DNNVV của NHTM.
Chương 2. Thực trạng hiệu quả cho vay đối với DNNVV tại Agribank - Chi
nhánh Láng Hạ.
Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay đối với DNNVV tại
Agribank - Chi nhánh Láng Hạ


5
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát chung về cho vay doanh nghiệp nhỏ và
vừa của ngân hàng thương mại
1.1.1. DNNVV - Một loại hình doanh nghiệp quan trọng trong nền kinh tế
1.1.1.1 Các khái niệm.
a. Doanh nghiệp.
Hiện nay trên phương diện lý thuyết có khá nhiều định nghĩa thế nào là một
doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều mang trong nó có một nội dung nhất định với
một giá trị nhất định. Điều ấy cũng là đương nhiên, vì rằng mỗi tác giả đứng trên
nhiều quan điểm khác nhau khi tiếp cận doanh nghiệp để phát biểu. Chẳng hạn:
Xét theo quan điểm luật pháp:
Theo điều 04 khoản 01 của Luật Doanh Nghiệp 2005 thì: “ Doanh nghiệp là tổ
chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh
doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh
doanh”. Cũng theo Luật doanh nghiệp 2005 giải thích, kinh doanh là việc thực hiện
liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến
tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ.
Xét theo quan điểm chức năng, doanh nghiệp được định nghĩa như sau:
"Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố
sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của
công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch
vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản
phẩm ấy. (M.Francois Peroux).
Xét theo quan điểm phát triển, doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất
ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có
lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi


6
tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được " (trích từ sách " kinh tế
doanh nghiệp của D.Larua.A Caillat - Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội 1992 )
Xét theo quan điểm hệ thống, doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộ phận
được tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu. Các bộ phận tập
hợp trong doanh nghiệp bao gồm 4 phân hệ sau: sản xuất, thương mại, tổ chức,
nhân sự.
Ngoài ra có thể liệt kê hàng loạt những định nghĩa khác nữa khi xem xét
doanh nghiệp dưới những góc nhìn khác nhau. Song giữa các định nghĩa về doanh
nghiệp đều có những điểm chung nhất, nếu tổng hợp chúng lại với một tầm nhìn
bao quát trên phương diện tổ chức quản lý là xuyên suốt từ khâu hình thành tổ chức,
phát triển đến các mối quan hệ với môi trường, các chức năng và nội dung hoạt
động của doanh nghiệp cho thấy đã là một doanh nghiệp nhất thiết phải được cấu
thành bởi những yếu tố sau đây:
* Yếu tố tổ chức: một tập hợp các bộ phận chuyên môn hóa nhằm thực hiện
các chức năng quản lý như các bộ phận sản xuất, bộ phận thương mại, bộ phận hành
chính.
* Yếu tố sản xuất: các nguồn lực lao động, vốn, vật tư, thông tin.
* Yếu tố trao đổi: những dịch vụ thương mại - mua các yếu tố đầu vào, bán
sản phẩm sao cho có lợi ở đầu ra.
* Yếu tố phân phối: thanh toán cho các yếu tố sản xuất, làm nghĩa vụ nhà
nước, trích lập quỹ và tính cho hoạt động tương lai của doanh nghiệp bằng khoản
lợi nhuận thu được.
Một cách chung nhất có thể hiểu Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách
pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện
các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa
hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng
thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội.
- Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân:


7
Tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp là điều kiện cơ bản quyết định sự
tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, nó do Nhà nước khẳng định và
xác định. Việc khẳng định tư cách pháp nhân của doanh nghiệp với tư cách là một
thực thể kinh tế, một mặt nó được nhà nước bảo hộ với các hoạt động sản xuất kinh
doanh, mặt khác nó phải có trách nhiệm đối với người tiêu dùng, nghĩa vụ đóng góp
với nhà nước, trách nhiệm đối với xã hội. Đòi hỏi doanh nghiệp phải chịu trách
nhiệm về nghĩa vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản công nợ khi phá sản
hay giải thể.
- Doanh nghiệp là một tổ chức sống trong một thể sống (nền kinh tế quốc dân)
gắn liền với địa phương nơi nó tồn tại.
- Doanh nghiệp là một tổ chức sống vì lẽ nó có quá trình hình thành từ một ý
chí và bản lĩnh của người sáng lập (tư nhân, tập thể hay Nhà nước); quá trình phát
triển thậm chí có khi tiêu vong, phá sản hoặc bị một doanh nghiệp khác thôn tính.
Vì vậy cuộc sống của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chất lượng quản lý của
những người tạo ra nó.
- Doanh nghiệp ra đời và tồn tại luôn luôn gắn liền với một vị trí của một địa
phương nhất định, sự phát triển cũng như suy giảm của nó ảnh hưởng đến địa
phương đó.
b. Khái niệm DNNVV.
- Hầu hết các nước trên thế giới đều xác định DNNVV theo tính ứng dụng với
hai tiêu thức: tổng số vốn sản xuất kinh doanh và số lao động của doanh nghiệp. Tại
từng nước, sự phân chia độ lớn của các chỉ tiêu đó cũng không hoàn toàn giống
nhau, đối với từng lĩnh vực, ngành nghề sản xuất kinh doanh. Các tiêu chí đó cũng
thay đổi tùy theo ngành nghề và trình độ phát triển của từng thời kỳ. Ví dụ: Ở
Philippin, tiêu chí phân loại căn cứ vào tổng số vốn, doanh nghiệp nhỏ có tổng số
vốn dưới 15 triệu peso, doanh nghiệp vừa có số vốn từ 15 triệu peso đến 60 triệu
peso. Ở Pháp, các DNNVV là các doanh nghiệp có từ 10 đến dưới 500 nhân công.
Ở Nhật Bản, các doanh nghiệp trong lĩnh vực chế tạo có từ 1- 300 lao động và số
vốn kinh doanh không vượt quá 300 triệu Yên được coi là DNNVV, còn các doanh


8
nghiệp trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động không vượt quá 100
người với số vốn kinh doanh không quá 100 triệu Yên được coi là DNNVV.
DNVVN ở Việt Nam là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp
nhân, không phân biệt thành phần kinh tế, có quy mô về vốn hoặc lao động tuỳ theo
quy định của Chính Phủ đối với từng ngành nghề tương ứng với từng thời kỳ phát
triển của nền kinh tế.
Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/06/2009 Doanh
nghiệp nhỏ và vừa được định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở
kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba
cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương
tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số
lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Doanh
Quy mô

nghiệp siêu

Doanh nghiệp nhỏ

Doanh nghiệp vừa

nhỏ
Khu vực

Số lao

Tổng nguồn

động

vốn

I. Nông, lâm nghiệp 10 người trở20 tỷ đồng
và thủy sản

xuống

trở xuống

II. Công nghiệp và 10 người trở20 tỷ đồng
xây dựng

xuống

trở xuống

III. Thương mại và 10 người trở10 tỷ đồng
dịch vụ

xuống

trở xuống

Số lao động
từ

trên

người

Tổng nguồn
vốn

Số lao động

10từ trên 20 tỷtừ trên 200
đếnđồng đến 100người

đến

200 người tỷ đồng
300 người
từ trên 10từ trên 20 tỷtừ trên 200
người

đếnđồng đến 100người

đến

200 người tỷ đồng
300 người
từ trên 10từ trên 10 tỷtừ trên 50
người đến 50đồng đến 50 tỷngười
người

đồng

100 người

đến


9
1.1.1.2 Đặc điểm của DNNVV.
Một là: Số lượng DNNVV chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số doanh nghiêp đang
hoạt động của cả nước và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong chiến lược phát
triển kinh tế quốc gia.
Trong nền kinh tế của một quốc gia, hệ thống các doanh nghiệp đóng góp một
phần không nhỏ vào sự phát triển, tăng trưởng. Hệ thống các doanh nghiệp bao gồm
các doanh nghiệp lớn, các DNNVV. Ở Việt Nam, hiện nay số DNNVV chiếm tỷ
trọng tới trên 90% trong tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế,
đóng góp trên 40% GDP cả nước hàng năm
Hai là : DNNVV năng động, linh hoạt, dễ thích nghi với sự thay đổi của thị trường.
Đây là một trong những đặc điểm ưu việt của DNNVV. DNNVV chủ yếu hoạt
động trong các lĩnh vực cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu cho xã hội. Với mặt
hàng phong phú, đa dạng thỏa mãn được nhu cầu tiêu dùng cá nhân cũng như nhu
cầu phục vụ cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp lớn, các DNNVV dễ
dàng chiếm được thị trường. DNNVV luôn phải hướng đến thị hiếu của người tiêu
dùng, vì vậy có thể nói DNNVV là lực lượng phản ánh tín hiệu của thị trường chính
xác nhất. Mặt khác, với số vốn ít, vòng quay vốn của các DNNVV thường là ngắn,
các phương án sản xuất kinh doanh không lâu dài như các doanh nghiệp lớn. Với lợi
thế đó, DNNVV dễ dàng thay đổi quy mô, thay đổi sản phẩm khi có sự thay đổi của
thị trường. Nhờ vậy, các DNNVV có thể phân tán được rủi ro, tiết kiệm được chi
phí trong sản xuất kinh doanh và đảm bảo được hiệu quả. So với các doanh nghiệp
lớn, DNNVV không gặp nhiều tổn thất khi thị trường biến động, có thể nói
DNNVV là những “thanh giảm xóc” đắc lực cho nền kinh tế.
Trong một số trường hợp các DNNVV còn năng động trong việc đón đầu
những biến động đột ngột của thể chế, chính sách quản lý kinh tế xã hội cũng như
các biến động trên thị trường. Nhờ tính năng động này mà các DNNVV dễ dàng tìm
kiếm và gia nhập thị trường khi nhận thấy việc kinh doanh có thể thu nhiều lợi
nhuận hoặc rút khỏi các thị trường khi công việc kinh doanh trở nên khó khăn và


10
kém hiệu quả. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nền kinh tế đang chuyển đổi
hoặc các nền kinh tế đang phát triển như nước ta.
Ba là: Quy mô vốn nhỏ và lao động ít, hạn chế trong tiếp cận vốn.
Tại Việt Nam các DNNVV có tổng nguồn vốn không quá 10 tỷ đồng và số
lượng lao động không quá 300 người. Ở Nhật DNNVV số lượng lao động không
quá 500 người. Chính vì hạn chế về vốn và lao động làm cho việc sản xuất gặp
nhiều khó khăn và giảm khả năng cạnh tranh của DNNVV so với các loại hình
doanh nghiệp khác . Các DNNVV ở Việt Nam cũng gặp khó khăn trong tiếp cận
vốn tín dụng ngân hàng cũng như các nguồn vốn khác, chính vì vậy, các DNNVV
thường thiếu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư nâng cao trình độ công
nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh. Nếu xét theo nguồn vốn chính thức và nguồn
vốn phi chính thức thì hiện nay các DNNVV chỉ có khoảng là 20% nguồn vốn
chính thức (vốn vay từ các NHTM) còn lại đến 80% là từ nguồn vốn không chính
thức (vay từ bạn bè, từ các đối tác kinh doanh…). Điểm khác biệt giữa hai nguồn
vốn này là nguồn vốn phi chính thức thường có lãi suất cao, rủi ro lớn, không ổn
định, số lượng vốn nhỏ. Đối với nguồn vốn chính thức thì các DNNVV gặp rất
nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các khoản tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài
hạn đặc biệt là các khoản tín dụng trung và dài hạn từ các ngân hàng và các TCTD
Bốn là: DNNVV gặp hạn chế trong áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại vào
sản xuất.
Theo lý thuyết, công nghệ tốt giúp doanh nghiệp tăng năng suất lao động, sản
xuất ra được các sản phẩm với mức chất lượng phù hợp, đáp ứng được nhu cầu của
người tiêu dùng và giảm bớt chi phí sản xuất, nhờ đó tăng năng lực cạnh tranh.
Ngược lại, công nghệ lạc hậu và chậm đổi mới làm hạn chế khả năng sản xuất, đa
dạng hoá sản phẩm, hạn chế năng suất và sản lượng, chất lượng sản phẩm, làm tăng
chi phí sản xuất, thậm chí ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, đồng thời làm hạn
chế năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trình độ công nghệ của các DNNVV ở Việt Nam hiện nay đang thua xa các
nước và thường lạc hậu trên 5 thế hệ, thậm chí còn xa hơn. Tình trạng máy móc


11
thiết bị cũ, công nghệ lạc hậu đã và đang là nguyên nhân chính của tình trạng lãng
phí trong sử dụng năng lượng, nguyên vật liệu và ô nhiễm môi trường, chi phí sản
xuất cao.
Để thành công trong một nền kinh tế cạnh tranh cao độ như hiện nay, các
doanh nghiệp phải thường xuyên thay đổi công nghệ, máy móc, thiết bị và phương
pháp sản xuất. Tỷ lệ đổi mới trang thiết bị trung bình hàng năm của Việt Nam ở
mức 5%-7% trong khi tỷ lệ này của thế giới là 20%. Hệ thống máy móc thiết bị lạc
hậu khoảng 20-30 năm so với các nước đang phát triển trong khu vực. Hệ thống
máy móc thiết bị lỗi thời là do các DNNVV không đủ vốn để đầu tư, nâng cấp, đổi
mới trang thiết bị, máy móc, đồng thời công tác nghiên cứu công nghệ áp dụng cho
các DNNVV lại rất ít được chú ý tới.
Năm là: Trình độ quản lý, điều hành của chủ doanh nghiệp và trình độ chuyên
môn của lao động thấp.
Đội ngũ giám đốc, cán bộ quản lý DNNVV có nhiều hạn chế về kiến thức và
kỹ năng quản lý. Một bộ phận lớn chủ doanh nghiệp, giám đốc doanh nghiệp tư
nhân chưa được đào tạo bài bản về kinh doanh, quản lý, thiếu kiến thức về kinh tế xã hội, đặc biệt là năng lực quốc tế. Lao động được sử dụng trong phần lớn
DNNVV là lao động phổ thông không được tuyển chọn, đào tạo, họ làm việc theo
bản năng, kinh nghiệm. Vì thế mà trong thời gian qua có rất nhiều DNNVV phá sản,
số lượng doanh nghiệp vươn lên trở thành doanh nghiệp lớn rất ít.
Nguyên nhân đầu tiên dẫn đến việc chất lượng lao động tại các DNNVV còn
thấp là do đặc thù ngành nghề của doanh nghiệp. Đội ngũ doanh nghiệp chủ yếu được
đào tạo theo phương pháp truyền thống, trình độ văn hóa thấp. Ngoài ra, DNNVV
chủ yếu được hình thành từ hộ kinh doanh cá thể, hợp tác xã, hoặc một nhóm người
có quan hệ gia đình, bạn bè lập nên, do đó tính chọn lọc không cao. Với đội ngũ lao
động không qua trường lớp, hoạt động của các DNNVV càng trở nên trì trệ và lỗi
thời so với các doanh nghiệp lớn.
Bên cạnh đó, khả năng thu hút lao động có trình độ cao cũng là một nguyên
CV nhân chính dẫn đến việc chất lượng lao động DNNVV còn yếu. Với quy mô


12
vốn nhỏ và trình độ quản lý hạn chế của chủ doanh nghiệp, các DNNVV thường
không tạo ra được môi trường làm việc hấp dẫn đối với đội ngũ lao động chuyên
nghiệp. Những doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế lớn mạnh với môi trường làm việc
giàu kinh nghiệm và đem lại nhiều giá trị gia tăng mới là điểm đến hàng đầu của lao
động chất xám trình độ cao. Tình trạng trên cũng là biểu hiện tất yếu của quá trình
phân công lao động xã hội.
Sáu là: DNNVV thường yếu kém trong định vị thương hiệu, sức cạnh tranh
của sản phẩm, dịch vụ thấp.
Hầu hết các DNNVV ở Việt Nam chưa xây dựng được thương hiệu mạnh,
chưa tạo được uy tín trên thị trường quốc tế. Đặc biệt, các DNNVV chưa có chiến
lược xây dựng thương hiệu, chưa tạo được uy tín về chất lượng sản phẩm dịch vụ,
do đó mà năng lực cạnh tranh kém.
Nguyên nhân là do: Hàm lượng tri thức và công nghệ kết tinh trong sản phẩm
nhỏ, giá trị gia tăng trong sản phẩm, dịch vụ thấp. Thêm vào đó, mẫu mã và bao bì
sản phẩm chưa được quan tâm, công tác quảng cáo, tiếp thị chưa hiệu quả.
1.1.1.3 Vai trò của DNNVV.
Thứ nhất: Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Các DNNVV ở Việt Nam cung cấp ra thị trường nhiều loại hàng hóa khác
nhau đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước như: trang thiết bị và linh
kiện cần thiết cho các ngành sản xuất hàng tiêu dùng và các ngành thủ công nghiệp
cũng như các hàng hóa tiêu dùng khác. Tại Việt Nam, theo số liệu thống kê, trong
những năm vừa qua DNNVV đã đóng góp hơn 40% GDP của cả nước. Ngoài ra,
DNNVV Việt Nam còn cung cấp hầu hết sản phẩm trong nhiều ngành công nghiệp
truyền thống thu hút nhiều lao động như: giầy dép, chiếu cói… việc mở rộng và
phát triển các DNNVV sẽ góp phần không nhỏ trong việc làm tăng GDP, đóng góp
đáng kể vào nguồn thu ngân sách Nhà nước. Phát triển DNNVV làm số lượng các
doanh nghiệp tăng lên rất lớn, tăng tính cạnh tranh giảm bớt mức độ rủi ro. Các
DNNVV cung cấp nguyên liệu, sản xuất và tiêu thụ hàng hoá thâm nhập vào ngõ
ngách thị trường những nơi doanh nghiệp lớn không làm được.


13
Với những ưu thế về ngành nghề, tính nhạy cảm của thị trường cao, các
DNNVV có nhiều ưu thế trong việc sản xuất và cung ứng các sản phẩm đáp ứng
nhu cầu trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu. Ở một số nước DNNVV tham gia xuất
khẩu chiếm tỷ trọng đáng kể trong kim ngạch xuất khẩu từ 30-50%.
Thứ hai: Thu hút vốn và khai thác nguồn lực sẵn có trong dân cư
DNNVV có vai trò quan trọng trong việc khai thác nguồn tài chính của dân cư
trong vùng và sử dụng tối ưu nguồn lực tại chỗ của các địa phương. Với việc thành
lập một doanh nghiệp loại này chỉ cần một số vốn nhỏ, do đó đã tạo điều kiện cho
dân cư tham gia đầu tư góp vốn vào DNNVV. Như vậy, thông qua các DNNVV,
những nguồn vốn nhỏ, tạm thời nhàn rỗi đã có khả năng được sinh lời. Hơn nữa,
việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng của các DNNVV rất hạn chế, nguồn
vốn hoạt động chủ yếu được huy động từ những người thân quen vì thế DNNVV
được tiếp xúc trực tiếp với người cho vay, người cho vay có khi là chủ sở hữu
doanh nghiệp, trực tiếp điều hành hoạt động của doanh nghiệp nên việc sử dụng vốn
sẽ hiệu quả hơn.
Bên cạnh đó, các DNNVV có thể tận dụng được nguồn lao động và nguyên
vật liệu với giá rẻ, do đó làm giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tạo lợi
thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong việc tiêu thụ sản phẩm. Như vậy, sự phát
triển của các DNNVV đã tận dụng được tối đa các nguồn lực của xã hội, tạo công
ăn việc làm cho nhiều lao động có trình độ, tay nghề thấp góp phần làm ổn định và
phát triển xã hội.
Thứ ba: Tạo sự phát triển giữa các vùng, ngành góp phần phát triển quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Việc phát triển các DNNVV sẽ dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo tất
cả các khía cạnh vùng kinh tế, ngành kinh tế và thành phần kinh tế. Trước tiên, đó là
sự thay đổi cơ cấu kinh tế vùng nhờ sự phát triển của các khu vực nông thôn qua
phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, xóa
dần tình trạng thuần nông và độc canh. Các doanh nghiệp được phân bổ đều hơn về
lãnh thổ ở cả vùng nông thôn, đô thị, miền núi, đồng bằng. Ngoài ra, sự phát triển


14
mạnh các DNNVV còn có tác dụng làm cho cơ cấu thành phần kinh tế thay đổi nhờ
sự tăng mạnh của các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh và việc sắp xếp lại các doanh
nghiệp nhà nước. Sự phát triển các DNNVV cũng kéo theo sự thay đổi của cơ cấu
ngành kinh tế thông qua sự đa dạng hóa các ngành nghề và lấy hiệu quả kinh tế làm
thước đo. Việc phát triển các DNNVV còn có tác dụng duy trì và thúc đẩy sự phát
triển của các ngành nghề truyền thống và sản xuất ra các sản phẩm mang bản sắc
văn hoá dân tộc, khai thác thế mạnh của đất nước.
Thứ tư: Góp phần tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất
nghiệp, nâng cao thu nhập của người dân
Xét trên góc độ giải quyết việc làm thì các DNNVV có vị trí đặc biệt quan
trọng. Lịch sử phát triển của kinh tế của các nước công nghiệp phát triển hay của
các nước đang phát triển và cụ thể là thời kỳ đầu đổi mới của Việt Nam đã cho thấy,
khi nền kinh tế suy thoái sau khủng hoảng hoặc chiến tranh, các doanh nghiệp lớn
thường phải giảm lao động để giảm chi phí. Trong khi đó, nhờ đặc tính linh hoạt, dễ
thích nghi ứng với những thay đổi của thị trường nên các DNNVV vẫn duy trì được
hoạt động và phát triển, các DNNVV không những không giảm bớt số lao động
hiện có mà còn có khả năng hấp thụ thêm số lao động dôi dư của xã hội. Ngoài khả
năng trực tiếp tạo ra việc làm cho lao động trong doanh nghiệp, việc phát triển
DNNVV còn có tác động giáp tiếp tạo ra những lao động ngoài doanh nghiệp có
liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp như: hoạt động cung ứng đầu vào, tiếp
nhận đầu ra, các hoạt động phụ trợ phục vụ xản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngoài ra, DNNVV góp phần tích cực cho quá trình tái phân phối thu nhập và
bình đẳng xã hội. Thông qua việc phát triển DNNVV không đòi hỏi lao động quá phức
tạp, lao động trong nông thôn đều có việc làm, thu nhập dân cư được đa dạng hóa và
nâng cao góp phần xóa đói giảm nghèo, giảm bớt khoảng cách về thu nhập giữa các
tầng lớp dân cư ở thành thị và nông thôn, tăng mức công bằng xã hội, giúp Chính phủ
giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội.
Lý do thành công trong việc giải quyết việc làm của DNNVV được giải thích
như sau: thứ nhất, số lượng DNNVV chiếm 90% tổng số doanh nghiệp, thứ hai khi


15
các doanh nghiệp lớn chủ yếu tập trung ở đồng bằng đặc biệt là các đô thị thì các
DNNVV lại phân bố rộng rãi từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền
núi, giải quyết nhu cầu việc làm ở các địa phương và góp phần cân đối lao động.
Ngoài ra, sự đa dạng về ngành nghề và sự phân bố rộng khắp của các DNNVV cho
phép người lao động lựa chọn được công việc phù hợp với điều kiện và khả năng
của họ.
Thứ năm: DNNVV hỗ trợ hiệu quả các khâu sản xuất kinh doanh cho doanh
nghiệp lớn, là nền tảng để hình thành các doanh nghiệp lớn trong nền kinh tế thị
trường
Bất cứ doanh nghiệp nào muốn lớn mạnh cũng phải xuất thân từ một DNNVV.
Vì vậy, việc phát triển lực lượng DNNVV sẽ tạo đà cho nền kinh tế phát triển vững
chắc và hội nhập sâu rộng vào sân chơi thương mại quốc tế. Cùng với việc phân
công lao động xã hội ngày càng sâu sắc, các DNNVV cũng ngày càng thể hiện vai
trò quan trọng trong việc hỗ trợ hoạt động cho các doanh nghiệp lớn. DNNVV có
thể thực hiện các khâu gia công, đóng gói, vận chuyển, phân phối ra thị trường,
nhận thực hiện một phần của các dự án hoặc cung cấp nguyên liệu đầu vào cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế lớn mạnh hơn.
Đây là sự phân phối khối lượng công việc một cách tất yếu khách quan, tiết kiệm
thời gian và chi phí, tạo ra mối liên kết chặt chẽ giữa các thành viên trong nền kinh
tế thị trường và đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho xã hội
Nhiều doanh nghiệp nhỏ khi mới ra đời chỉ nhằm mục đích làm vệ tinh cung
cấp các sản phẩm cho các doanh nghiệp lớn. Mối quan hệ giữa các DNNVV và các
doanh nghiệp lớn cũng chính là nguyên nhân thành công của nền kinh tế Nhật Bản
trong nhiều thập kỷ qua. Do đó, khi các DNNVV Việt Nam phát triển sẽ góp phần
tăng cường các mối quan hệ liên kết hỗ trợ lẫn nhau giữa các DNNVV và các
DNNVV với các doanh nghiệp lớn, nhờ đó các rủi ro kinh doanh được phân tán làm
tăng hiệu quả kinh tế xã hội. Đồng thời, các DNNVV chính là nguồn tích luỹ ban
đầu và là “lồng ấp” cho các doanh nghiệp lớn. Các cơ sở hình thành các doanh
nghiệp lớn thường xuất phát từ một DNNVV do chưa có nhiều kinh nghiệm và chưa


16
thật hiểu rõ về thị trường sau một thời gian hoạt động đã tích luỹ kinh nghiệm và
khẳng định vị thế của mình và mở rộng hoạt động kinh doanh, phát triển với quy
mô lớn, từ DNNVV phát triển và mở rộng thành doanh nghiệp lớn còn tiết kiệm chi
phí đào tạo khi tuyển được các nhân viên có tay nghề từ các DNNVV chuyển sang,
có thể nói DNNVV là tiền đề cho các doanh nghiệp lớn.
1.1.2. Cho vay DNNVV của NHTM
1.1.2.1. Khái niệm
a) Cho vay:
Cho vay là quan hệ kinh tế trong đó có sự chuyển nhượng tạm thời một lượng
giá trị (hình thái tiền tệ hay hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau
một thời gian thu về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu với những điều
kiện mà hai bên thỏa thuận với nhau.
Cho vay của NHTM là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là NHTM,
một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là tất cả các tổ
chức, cá nhân trong xã hội trong đó NHTM giữ vai trò là người cho vay.
Với tư cách là người cho vay, Ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh
nghiệp, tổ chức cá nhân khi thiếu vốn có nhu cầu bổ sung vốn trong hoạt động sản
xuất kinh doanh và tiêu dùng.
Trong Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng ban hanh kèm theo Quyết
định số 1627/2001/QĐ/NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc ngân hàng nhà
nước Việt Nam, cho vay được định nghĩa như sau: “Cho vay là một hình thức cấp
tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng
vào mục đích nhất định trong thời gian nhất định theo sự thỏa thuận với nguyên tắc
có hoàn trả cả gốc lẫn lãi”.
Như vậy, bản chất của cho vay là một giao dịch về tiền hoặc tài sản trên cơ sở
có hoàn trả mà thực chất là sự vay mượn dựa trên cơ sở tin tưởng, tín nhiệm lẫn
nhau, trong đó sự hoàn trả là đặc trưng thuộc về bản chất của cho vay.


17
b) Cho vay DNNVV.
Trên cơ sở định nghĩa về cho vay nói chung đưa ra định nghĩa về cho vay
DNVVN của NHTM: “Cho vay đối với DNVVN là một hình thức cấp tín dụng,
theo đó NHTM giao cho DNVVN một khoản tiền để sử dụng vào mục đích nhất
định theo sự thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi”
1.1.2.2 Phân loại cho vay DNNVV của NHTM
Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản vay theo từng nhóm dựa trên một
số các tiêu thức nhất định. Nếu việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học sẽ là tiền
đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả công tác cho
vay.
Có nhiều tiêu thức phân loại cho vay, tuy nhiên trên thực tế người ta thường
phân loại cho vay theo các tiêu thức sau:
- Phân loại cho vay theo thời hạn cho vay
+ Cho vay ngắn hạn: là các khoản cho vay có thời hạn đến 12 tháng. Ngân
hàng cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn cho sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ, phục vụ đời sống của khách hàng.
+ Cho vay trung và dài hạn: là các khoản cho vay có thời hạn trên 12 tháng. Ở
Việt Nam hiện nay, các khoản cho vay trên 12 tháng đến 60 tháng được gọi là cho
vay trung hạn, trên 60 tháng gọi là cho vay dài hạn.
- Phân loại cho vay theo mục đích sử dụng vốn
+ Cho vay kinh doanh: Việc cho vay của NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu vốn
kinh doanh, đầu tư cho các doanh nghiệp, hộ sản xuất kinh doanh.
+ Cho vay tiêu dùng: Việc cho vay của NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng của các gia đình, cá nhân như chi tiêu thường xuyên, chi sửa chữa nhà cửa, chi
mua sắm tài sản…
- Phân loại cho vay căn cứ vào phương thức cho vay
+ Cho vay từng lần
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng


18
+ Cho vay khác: Cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vay theo hạn mức tín
dụng dự phòng…
- Phân loại cho vay căn cứ vào loại tiền vay
+ Cho vay nội tệ: Tiền vay cấp cho khách hàng bằng nội tệ.
+ Cho vay ngoại tệ: Tiền vay cấp cho khách hàng bằng ngoại tệ.
- Phân loại cho vay căn cứ vào đảm bảo tiền vay
+ Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: cầm cố, thế chấp, đảm bảo bằng tài sản
của người thứ ba…
+ Cho vay có bảo đảm không tài sản: tín chấp, bảo lãnh bằng tín chấp…
- Phân loại cho vay căn cứ vào đối tượng sử dụng vốn vay
+ Cho vay trực tiếp: tiền vay phát trực tiếp cho người sử dụng.
+ Cho vay gián tiếp: ngân hàng phát tiền vay gián tiếp thông qua một tổ chức
trung gian, sau đó chuyển cho người sử dụng.
- Phân loại cho vay căn cứ vào phương thức thanh toán
+ Cho vay hoàn trả một lần: người vay trả gọn một lần cả gốc và lãi.
+ Cho vay hoàn trả nhiều lần: trả không đều hay trả góp.
1.1.3 Vai trò cho vay DNNVV của NHTM
Đối với DNNVV
+ Đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp một cách kịp thời
Nguồn vốn tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp
thường lấy từ các nguồn sau: nguồn vốn chủ sở hữu, vay từ các nguồn vốn phi
chính thức, vay ngân hàng, vay vốn qua thị trường vốn hay thuê mua. Tăng nguồn
vốn chủ sở hữu là biện pháp đơn giản nhất đối với bất cứ doanh nghiệp nào bởi đây
là nguồn vốn do cổ đông đóng góp hoặc vốn của người chủ. Tuy nhiên giải pháp
này thường không thực tế đối với DNNVV vì thực tế người chủ doanh nghiệp hay
cổ đông có nguồn tài chính hạn chế, họ không có khả năng bỏ ra nhiều hơn số vốn
mà họ góp vào doanh nghiệp. Vay từ các nguồn vốn phi chính thức như vay từ các
đối tác kinh doanh, từ bạn bè… thường có lãi suất cao, số lượng ít, rủi ro lớn không
ổn định đối với DNNVV.


19
Vay trên thị trường chứng khoán thông qua phát hành các công cụ nợ cũng là
nguồn quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh của DNNVV. Hiện nay,
thị trường chứng khoán cũng gặp nhiều khó khăn mặt khác đối với các DNNVV để
có thể vay vốn tại đó thì cũng không thuận lợi vì để vay vốn tại đó cần có rất nhiều
điều kiện như chế độ tài chính minh bạch, làm ăn có lãi trong 2 năm liên tục… đây
là điều mà rất ít DNNVV Việt Nam đáp ứng được.
Thuê mua là phương thức có thể tài trợ một số thiết bị máy móc nào đó cho
doanh nghiệp. Tại các nước phát triển, thuê mua là một biện pháp phổ biến, thuận
lợi thay thế cho tín dụng trung và dài hạn, đặc biệt đối với các DNNVV khi gặp khó
khăn trong vay vốn trung dài hạn tại các ngân hàng. Tại Việt Nam đã có một số
công ty thuê mua tài chính chuyên về thực hiện hình thức này, tuy nhiên mới tập
trung ở những lĩnh vự đặc thù như hàng không.. đây cũng là hình thức mới nên nó
chưa thực sự phát triển.
Vì vậy, vay vốn tại ngân hàng đối với các DNNVV vẫn là biện pháp lâu dài.
Ngân hàng đóng vai trò là người cung cấp vốn cho doanh nghiệp để mở rộng sản
xuất kinh doanh, đầu tư đổi mới công nghệ,…
+ Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các DNNVV
Vốn vay ngân hàng là nguồn vốn tài trợ có hiệu quả hơn cả đối với doanh
nghiệp bởi nó thỏa mãn nhu cầu vốn về số lượng và thời hạn đặc biệt là chi phí vốn
vay từ ngân hàng thấp hơn chi phí vốn vay từ các nguồn không chính thức khác.
Hơn nữa, các DNNVV muốn có uy tín đối với ngân hàng để được vay vốn, họ cần
có phương án sản xuất kinh doanh khả thi, cần chủ động cơ cấu lại hoạt động sản
xuất kinh doanh cho phù hợp với khả năng, tình hình tài chính hiện có và sở trường
của DN Đặc biệt, các DN cần nhận thức rõ vai trò đòn bẩy tín dụng, trên cơ sở đó
tính toán giới hạn tối đa mức vay vốn tín dụng ngân hàng để vốn vay ngân hàng
không trở thành gánh nặng cho DN trong việc trả nợ gốc và lãi vay; Thực hiện công
khai, minh bạch tình hình tài chính để tạo điều kiện cho các NHTM xem xét, quyết
định cung ứng vốn tín dụng chính xác. Khi đã nhận được vốn vay thì quá trình hoạt
động của doanh nghiệp sẽ chịu sự giám sát của ngân hàng, điều đó giúp cho doanh


20
nghiệp phát hiện ra những nhược điểm, sai sót từ đó có những điều chỉnh kịp thời
nhằm hạn chế những rủi ro đối vơi doanh nghiệp và kinh doanh có hiệu quả hơn.
Các nguồn vay khác sẽ không có được điều này. Như vậy, vốn vay đã ràng buộc các
DNNVV với ngân hàng từ đó giúp nâng cao năng lực quản lý vốn và quản lý hoạt
động sản xuất kinh doanh sao cho có hiệu quả nhất.
+ Thúc đẩy các DNNVV tăng cường thực hiện chế độ hạch toán kinh doanh
Để tiếp cận được nguồn vốn từ ngân hàng, các DNNVV bắt buộc phải thực
hiện chế độ hạch toán kinh doanh bởi các ngân hàng chỉ có thể cho vay nếu doanh
nghiệp làm ăn có lãi, điều đó thể hiện thông qua các báo cáo tài chính của doanh
nghiệp như bảng cân đối kế toán, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, báo cáo
lưu chuyển tiền tệ. Như vậy, ngân hàng thông qua tài trợ vốn đã giúp các DNNVV
tăng cường chế độ hạch toán kinh doanh, quản lý mọi hoạt động của các DNNVV
cho các cơ quan nhà nước.
Đối với các NHTM
Cho vay đối với DNNVV giúp NHTM mở rộng thị phần của mình, tăng thu nhập
cho Ngân hàng đồng thời hoạt động cho vay đối với DNNVV sẽ giúp NHTM đa dạng
hóa danh mục sản phẩm cung cấp cho khách hàng. Đa dạng hóa danh mục sản phẩm
cho vay, đa dạng hóa đối tượng khách hàng sẽ giúp NHTM giảm thiểu rủi ro.
Đối với nền kinh tế xã hội
Cho vay đối với DNNVV gúp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tạo
ra sự ổn định, lưu thông tiền tệ, tổng sản phẩm của nền kinh tế sẽ gia tăng do hoạt động
sản xuất kinh doanh được thúc đẩy, từ đó vấn đề công ăn việc làm của người lao động
được giải quyết, đời sống xã hội của người dân được cải thiện. Hiệu quả cho vay tốt sẽ
giúp ổn định và phát triển cân đối các ngành, các vùng, các vùng sâu vùng xa, đặc biệt
giúp phát triển duy trì các ngành nghề truyền thống, qua đó nâng cao hiệu quả xã hội.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×