Tải bản đầy đủ

Chuyên đề tốt nghiệp: Tăng cường huy động vốn tại chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn công thương Huế

Chuyên đề tốt nghiệp

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Theo đề  án cơ  cấu lại toàn diện hệ  thống NHTM đã được Chính phủ  phê  
duyệt vào tháng 10/2001, các NHTM CP sẽ tập trung vào tăng cường năng lực 
tài chính và quản lý. Ngành ngân hàng cũng đã xây dựng kế hoạch và lộ trình  
hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng ban hành kèm theo Quyết  
định số 663/2003/QĐ­NHNN ngày 26/06/2003. Quá trình này đòi hỏi các ngân 
hàng Việt Nam nói chung và hệ  thống NHTM CP nói riêng phải có tiềm lực  
mạnh, khả năng huy động vốn dồi dào.
Ngân hàng TMCP Sài Gòn công thương được thành lập ngày 16 tháng 10 năm 
1987. Đến nay qua hơn 20 năm hoạt động, NHTM CP SGCT đã liên tục kinh 
doanh có hiệu quả, được ngân hàng Nhà nước đánh giá là một trong những 
NHTM CP hàng đầu của Việt Nam. Sức cạnh tranh gay gắt của hệ  thống  
ngân hàng đòi hỏi NHTM CP SGCT phải đáp ứng nhu cầu cho vay trên cơ sở 
cân đối nguồn vốn huy động ngày càng mở  rộng, vì vậy, không thể  đáp ứng  
“cầu” tín dụng khi “cung” bị giới hạn từ nguồn vốn huy động.
Ngày nay, một ngân hàng biết đến với tốc độ  tăng trưởng và sự  bền vững  
trong hoạt động của mình. Nếu một NHTM có nguồn vốn huy động ổn định,  
công tác sử dụng vốn hợp lý dẫn đến sức tăng trưởng “ấn tượng” sẽ  tạo ra 

bước đột phá cho riêng mình. Đây là yếu tố  tạo cho khách hàng sự  tin cậy  
vững vàng vào ngân hàng. Do vậy, những giải pháp tăng cường huy động vốn 
của ngân hàng luôn mang tính thiết thực và cần đổi mới cho phù hợp với sự 
biến động hàng giờ của các thành phần trong nền kinh tế.
Đề  tài “Tăng cường huy động vốn tại chi nhánh ngân hàng thương mại  
cổ  phần Sài Gòn công thương Huế”  cũng được lựa chọn trên cơ  sở  thực 
tiễn trên.
2. Mục đích nghiên cứu
1
Sinh viên thực hiện: Trần Duy Quang


Chuyên đề tốt nghiệp
­

Luận giải cơ sở về huy động vốn của ngân hàng thương mại

­

Phân tích thực tiễn huy động vốn của chi nhánh NHTM CP Sài 

Gòn Công Thương Thừa Thiên Huế
­

Đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường huy động vốn của  

chi nhánh NHTM CP Sài Gòn Công Thương Huế
3. Đối tượng nghiên cứu
Đề  tài tập trung nghiên cứu những vấn đề  lý luận về  hoạt động huy động 
vốn của ngân hàng và thực tiễn công tác huy động vốn tại chi nhánh NHTM 
CP Sài Gòn Công Thương Huế.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề  tài tập trung vào nghiên cứu, phân tích các nội dung liên quan trực tiếp  
đến hoạt động huy động vốn của chi nhánh NHTM CP Sài Gòn Công Thương  
Huế trong thời gian từ năm 2006 đến năm 2008.
5. Phương pháp nghiên cứu
­

Phương pháp nghiên cứu tài liệu:  Là phương pháp tìm hiểu 


những vấn đề  có liên quan đến đề tài nghiên cứu của bản thân thông qua các 
tài liệu như sách, báo, tạp chí, truyền hình, internet…
­

Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Là phương pháp thu thập 

thông tin bằng văn bản hay bằng lời nói qua việc phỏng vấn những người  
hiểu biết về ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng.
­

Phương  pháp   quan  sát:  Là   phương   pháp   được   sử   dụng   để 

đánh giá thực trạng hay hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
­

Phương pháp so sánh: Là phương pháp dựa vào những số liệu 

có sẵn để tiến hành so sánh, đối chiếu (về tương đối và tuyệt đối).
­

Phương pháp phân tích:  Là phương pháp dựa trên những số 

liệu sẵn có để tiến hành so sánh, đối chiếu, đánh giá các sự kiện. Từ đó tìm ra 
cách lý giải, xác định được tính hợp lý của các thông tin về các hoạt động của  
ngân hàng.

2


Chuyên đề tốt nghiệp
­

Phương pháp tổng hợp: Là phương pháp tổng hợp lại những  

thông tin đã thu thập được sao cho phù hợp với đề tài nghiên cứu.

6. Kết cấu chuyên đề
Ngoài phần mở  đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề 
gồm 3 chương:
Chương 1: Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại chi nhánh ngân hàng thương mại cổ 
phần Sài Gòn Công Thương Huế
Chương 3:  Giải pháp tăng cường huy động vốn tại chi nhánh ngân hàng 
thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương Huế

3
Sinh viên thực hiện: Trần Duy Quang


Chuyên đề tốt nghiệp

Chương 1
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG 
HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại
Pháp   lệnh   ngân   hàng   ngày   23/05/1990   của   Hội   đồng   nhà   nước   xác   định: 
“Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạy động chủ  
yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ  khách hàng với trách nhiệm  
hoàn trả  và sử  dụng số  tiền đó để  cho vay, thực hiện nghiệp vụ  chiết  
khấu và làm phương tiện thanh toán”.
Ngân hàng thương mại được chia làm hai loại:
­ Ngân hàng thương mại Nhà nước: Là Ngân hàng thương mại được thành 
lập bằng 100% vốn ngân sách nhà nước. Hiện nay tại Việt Nam có 5 ngân 
hàng thương mại quốc doanh bao gồm:
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Ngân hàng Công thương Việt Nam
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam
Ngân hàng ngoại thương Việt Nam
Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long
4


Chuyên đề tốt nghiệp

­ Ngân hàng thương mại cổ phần: Là ngân hàng thương mại thành lập dưới 
hình thức công ty cổ phần. Trong đó cá nhân hay pháp nhân chỉ  được sở  hữu 
một số cổ phần nhất định theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.  
Một số Ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam là:
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương (Saigonbank)
Ngân hàng Đông Á (EAB)
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) …
1.1.2. Một số nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Huy động vốn
Các ngân hàng nhận tiền gửi của tổ chức kinh tế, dân cư, các thành phần khác 
dưới nhiều hình thức như tiền gửi không kỳ  hạn, có kỳ hạn và các loại tiền  
gửi khác. Hoạt động huy động vốn của mỗi ngân hàng nhằm mục đích cho 
vay và kinh doanh.
Hoạt động này huy động những khoản vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, thúc 
đẩy lưu thông tiền tệ. Bản thân nó phản ánh ưu điểm của tài chính trực tiếp 
là có thể  trực tiếp thoả  thuận nhưng có nhược điểm là khó phù hợp về  quy  
mô  vốn từ đó dẫn đến lãng phí về mặt thời gian và chi phí giao dịch.
1.1.2.2. Cho vay, đầu tư
Cho vay thể hiện chức năng trung gian tài chính của NHTM. Đây là hoạt động 
sơ  khai của các ngân hàng: đi vay để  cho vay. NHTM sẽ  nhận những nguồn  
vốn dư thừa trong nền kinh tế và tiến hành các hoạt động cho vay đến những 
thành phần đang thiếu vốn.
Có 3 chủ thể tham gia vào hoạt động tín dụng ngân hàng đó là người gửi tiền, 
người vay tiền và ngân hàng. Người gửi tiền sẽ  nhận được khoản lãi nhất  
định, người vay tiền sẽ  có vốn bổ  sung cho hoạt động sản xuất, kinh doanh  
và ngân hàng là trung gian của cung và cầu vốn gặp nhau. Ngân hàng sẽ nhận 
được khoản chênh lệch giữa lãi suất cho vay thu được và lãi suất gửi tiền 
phải trả.
5
Sinh viên thực hiện: Trần Duy Quang


Chuyên đề tốt nghiệp

Nền kinh tế phát triển đã hình thành nhiều loại hình tín dụng ngân hàng, trong  
đó phổ biến là cho vay thương mại và cho vay tiêu dùng.
Với chức năng trung gian tín dụng, NHTM đã làm phong phú thêm hệ  thống 
kênh dẫn vốn, điều chuyển vốn, tạo lưu thông hàng hoá trong nền kinh tế.
Các ngân hàng hiện đại ngày càng trở nên năng động hơn thông qua việc đầu  
tư  vào các dự  án. Đây là các khoản tín dụng trung và dài hạn đem lại lợi  
nhuận cao cho ngân hàng, có thể được chia sẻ rủi ro bởi các nhà đồng tài trợ.
Ngoài ra, khi phát sinh những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi, ngân hàng có thể 
gửi vào các tổ  chức tín dụng khác hay đầu tư  chứng khoán chính phủ  nhằm 
tăng lợi nhuận.
1.1.2.3. Một số dịch vụ khác
Kinh doanh, mua bán ngoại tệ: đây là một trong những hoạt động đầu tiên 
của NHTM: mua hoặc bán đồng tiền nào đó theo yêu cầu của khách hàng 
(giao dịch ngoai tệ giao ngay – Spot). Ngày nay, hoạt động mua bán ngoại tệ 
còn được thực hiện thông qua các giao dịch như  giao dịch kỳ  hạn (forward), 
giao dịch hoán đổi (swap), giao dịch quyền chọn (options).
Bảo lãnh: là sự cam kết của ngân hàng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên  
nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên  
được bảo lãnh) trong trường hợp khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện 
không đúng nghĩa vụ cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận  
nợ và hoàn trả cho TCTD số tiền đã được trả thay.
Một số hình thức bảo lãnh hiện nay đang được tiến hành: bảo lãnh thanh toán, 
bảo lãnh thực hiện hợp đồng, đồng bảo lãnh…
Mở  tài khoản giao dịch, làm trung gian thanh toán:   Các ngân hàng mở  tài 
khoản và giữ tiền cho các doanh nghiệp và cá nhân. Ngân hàng còn tiến hành 
đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lời vào tín 
dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán. Ngoài ra, 
các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt góp phần rút ngắn thời gian  

6


Chuyên đề tốt nghiệp

kinh doanh và nâng cao thu nhập cho khách hàng, thông qua các hình thức như: 
séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, L/C, thẻ ATM…
Môi giới và đầu tư chứng khoán: ngân hàng sẽ cung cấp cho khách hàng cơ 
hội  mua cổ  phiếu, trái  phiếu và các hàng hoá khác trên thị  trường chứng 
khoán. Theo xu hướng hiện nay, các ngân hàng thường tổ  chức ra công ty 
chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán để  cung cấp dịch vụ  môi 
giới. Những hoạt động này ngày càng phát triển, giúp khách hàng thoả  mãn 
mọi nhu cầu đầu tu chứng khoán.
Cho thuê tài sản trung và dài hạn (leasing):   hoạt động này được xếp vào 
hình thức tín dụng trung và dài hạn. Ngân hàng sẽ cho khách hàng kinh doanh  
quyền lựa chọn mua các thiết bị cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua với  
điều kiện khách hàng phải trã từ trên 70% giá trị tài sản thuê.
Dịch vụ uỷ thác và tư vấn, bảo quản tài sản: lưu giữ tài sản, giấy tờ có giá 
của khách hàng trong két. Ngân hàng thường giữ  hộ  những tài sản này theo 
nguyên tắc an toàn, bí mật, thuận tiện. Trên cơ  sở  những kinh nghiệm về 
quản lý tài chính, ngân hàng sẵn sàng đứng ra bảo quản tài sản và quản lý 
hoạt động tài chính khi được sự uỷ thác của cá nhân hoặc doanh nghiệp. Theo 
đó, ngân hàng sẽ được hưởng khoản thu nhập tuỳ thuộc quy mô tài sản hoặc  
vốn của khách hàng. Các ngân hàng hoạt động đa năng hiện nay còn là nơi tư 
vấn cho các tổ chức, các cá nhân có nhu cầu quản lý tài chính, thành lập, mua 
bán, sáp nhập doanh nghiệp.
Cung cấp dịch vụ bảo hiểm: hoạt động này làm giảm một phần tổn thất khi 
có rủi ro với khách hàng. Các ngân hàng thường bảo hiểm cho khách hàng 
thông qua các thoả thuận đại lý kinh doanh bảo hiểm độc quyền. Khoản hoa  
hồng đại lý bảo hiểm cũng được tính vào thu nhập của ngân hàng.
Tóm lại, danh mục các dịch vụ  do ngân hàng tạo ra sự  thuận lợi rất lớn cho 
khách hàng. Đây cũng chính là những yếu tố  làm nên sự  cạnh tranh gay gắt 
trong hệ thống ngân hàng hiện đại.
7
Sinh viên thực hiện: Trần Duy Quang


Chuyên đề tốt nghiệp

1.1.3. Vai trò của ngân hàng thương mại
Với xuất phát điểm thấp, trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại 
hoá nền kinh tế  Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn đặc biệt là nhu cầu vốn  
cho sản xuất, kinh doanh là rất lớn. Các chủ thể tham gia vào nền kinh tế đòi 
hỏi sự cung ứng vốn từ quy mô nhỏ đến lớn, từ ngắn hạn đến dài hạn.
Hiện nay, vốn của nền kinh tế được đáp ứng từ 3 nguồn cơ bản sau:
Một là, vốn huy động trực tiếp thông qua thị trường chứng khoán
Hai là, vốn huy động thông qua trung gian tài chính như ngân hàng, tổ chức tín 
dụng, bảo hiểm…
Ba là, vốn cấp từ ngân sách Nhà nước 
Trong các nguồn hình thành này có thể thấy vốn huy động từ các trung gian tài  
chính vẫn là công cụ  huy động chủ  yếu trong điều kiện Việt Nam hiện nay 
bởi thị  trường chứng khoán đang còn trong giai đoạn phát triển sơ  khai, vốn 
ngân sách được  ưu tiên đầu tư  vào các công trình, dự  án trọng điểm, mang 
tính xã hội cao.
 1.1.3.1. Ngân hàng thương mại là trung gian cung ứng vốn cho nền kinh tế
Phát huy vai trò cầu nối của mình, NHTM đứng ra huy động các nguồn vốn 
tiềm  ẩn trong nền kinh tế  và luân chuyển đến nơi đang cần vốn, giúp quá 
trình tái sản xuất được đảm bảo diễn ra liên tục, nhịp nhàng, tạo đà cho phát  
triển kinh tế. Thông qua quá trình này, ngân hàng trở  thành nơi tích tụ  tập 
trung vốn, gắn kết quá trình tiết kiệm và đầu tư vốn trong xã hội.
1.1.3.2. Ngân hàng thương mại góp phần nâng cao hiệu quả  quản lý doanh  
nghiệp trong nền kinh tế
Một doanh nghiệp bất kỳ  khi tham gia vào quan hệ  tín dụng với ngân hàng 
phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định: tiền vay được sử dụng đúng mục  
đích, có hiệu quả, chu kỳ  sản xuất kinh doanh phải đảm bảo theo đúng tiến 
độ và hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn, việc đảm bảo tiền vay phải được thực  
hiện theo đúng quy định của NHNN mà vẫn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.  

8


Chuyên đề tốt nghiệp

Hoạt động thẩm định tiến đến đầu tư  dự  án của ngân hàng chỉ  trên cơ  sở 
doanh ngiệp tìm kiếm được phương án sản xuất tối  ưu, bố trí sản xuất hợp 
lý, nâng cao hiệu quả  sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Với vai trò là 
cầu nối giữa doanh nghiệp với thị  trường, ngân hàng không chỉ  cung  ứng  
lượng vốn thiếu cho các thành phần kinh tế  mà còn giúp nhà nước quản lý 
doanh nghiệp có hiệu quả  hơn, di đúng quỹ  đạo được định hướng trong cơ 
chế thị trường.
1.1.3.3. Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính giúp Nhà nước thực  
thi chính sách tiền tệ
Cơ  chế  hoạt động kinh doanh của ngân hàng là cơ  sở  để  Nhà nước thực thi 
các chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ. Thông qua hoạt động tín dụng, 
thanh toán vốn ngân hàng có thể làm thay đổi khối lượng tiền trong lưu thông, 
tập hợp và phân chia vốn của thị trường một cách hợp lý và có hiệu quả hơn.  
Đồng thời, Nhà nước cũng có thể  nắm bắt các tín hiệu phản hồi của thị 
trường thông qua ngân hàng từ  đó công tác hoạch định chính sách sẽ  bám sát 
thực tế và đem lại các quyết định đúng đắn hơn.
1.1.3.4. Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài  
chính quốc tế
Ngày nay, một ngân hàng hoạt động đa năng với các nghiệp vụ  thanh toán 
quốc tế, nghiệp vụ  hối đoái, bảo lãnh, tài trợ  xuất nhập khẩu… giúp các 
doanh nghiệp tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế, tạo điều kiện giao lưu  
hàng hoá giữa các quốc gia, thúc đẩy thương mại nội địa, tiến tới hoà nhập 
với nền kinh tế  trong khu vực và trên toàn cầu, đưa nền tài chính quốc gia  
vận động hoà nhịp với nền tài chính quốc tế.
1.2. Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò vốn huy động của ngân hàng thương  
mại
1.2.1.1. Khái niệm vốn huy động
9
Sinh viên thực hiện: Trần Duy Quang


Chuyên đề tốt nghiệp

Vốn huy động là giá trị  tiền tệ  mà các NHTM huy động được trên thị  
trường thông qua nghiệp vụ tiền gửi, tiền vay và một số nguồn khác.
1.2.1.2. Đặc điểm của vốn huy động
Vốn huy động của ngành ngân hàng chiếm tỷ lệ 2/3 tổng nguồn vốn. Đây là 
nguồn vốn chủ  yếu để  ngân hàng tiến hành các hoạt động đầu tư  và kinh  
doanh.
Vốn huy động nằm trong nguồn vốn nợ  của ngân hàng nên có đặc điểm là 
nguồn vốn đi vay, ngân hàng chỉ có quyến sử dụng, không có quyền sở hữu.
Vốn huy động là đối tượng tính dự trữ bắt buộc cao và nộp phí bảo hiểm tiền 
gửi theo quy định của NHNN.
Vốn huy động là nguồn mất chi phi vốn, quyết định tính cạnh tranh của ngân 
hàng. Hiện nay, vốn huy động có xu hướng gia tăng tính nhạy cảm với lãi 
suất thị  trường đồng nghĩa với việc tăng khả  năng ngân hàng phải đối mặt 
với rủi ro lãi suất.
1.2.1.3.  Vai trò của vốn huy động với hoạt động ngân hàng thương mại
Vốn huy động hay còn gọi là vốn nợ  là nguồn vốn chủ  yếu của ngân hàng. 
Chất lượng và số  lượng của nó  ảnh hưởng đến chất lượng và số  lượng các  
khoản cho vay và đầu tư. Mục tiêu của quản lý vốn nợ  nhằm vào mục tiêu 
quản lý chung của ngân hàng là an toàn và sinh lời.
Thứ  nhất, vốn huy động là phương tiện giúp NHTM tổ  chức mọi hoạt  
động kinh doanh của mình.
Hay nói cách khác, vốn huy động được coi là đầu vào sống còn của ngân 
hàng: đây là nguồn vốn tài chính cơ  bản dùng để  tài trợ  cho các khoản vay,  
đầu tư  tạo lợi nhuận để  đảm bảo cho sự  phát triển vững mạnh của ngân 
hàng. Mục tiêu của việc quản lý các khoản nợ là ngân hàng phải cố gắng tìm 
ra những nguồn tiền có chi phí thấp và phù hợp về kỳ hạn cũng như quy mô. 
Một  cơ   cấu vốn phù   hợp  giúp ngân  hàng  chủ   động trong kế  hoạch  kinh 

10


Chuyên đề tốt nghiệp

doanh, đa dạng hoá sản phẩm, phân tán được rủi ro khi sử  dụng vốn hiệu 
quả.
Thứ hai, vốn quyết định quy mô tín dụng, khả năng sinh lời cũng như các  
hoạt động khác của ngân hàng.
Đây được xem như là một tất yếu bởi đầu vào quyết định đầu ra, một ngân 
hàng có lượng vốn với quy mô lớn, sẵn sàng đối phó với những biến động 
trên thị  trường tài chính tiền tệ, tạo lòng tin cho khách hàng, mang lại lợi  
nhuận lớn cho ngân hàng đó.
Thứ  ba, vốn huy động quyết định năng lực thanh toán, khả  năng chống  
đỡ rủi ro thanh khoản, đảm bảo uy tín của NHTM trên thị trường.
Vốn huy động đảm bảo tính thanh khoản cao, tăng sức cạnh tranh cho ngân 
hàng. Với xu hướng kinh doanh đa năng, các ngân hàng ngày càng tham gia vào 
các lĩnh vực khác nhau như: đầu tư chứng khoán, liên doanh góp vốn, đồng tài 
trợ các dự án… giúp ngân hàng phân tán rủi ro trên cơ sở một nguồn vốn huy  
động dồi dào, thường xuyên, liên tục.
Thứ tư, vốn huy động quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
Năng lực cạnh tranh của một ngân hàng được quyết định bởi quy mô vốn, quy  
mô tín dụng. Theo quy luật kinh tế  thị  trường, những tổ  chức hoạt  động 
không hiệu quả, quy mô nhỏ  bé tất yếu sẽ  bị  giải thể  hoặc sát nhập, không 
có chỗ đứng trên thị trường. Vì vậy, vốn huy động là một yếu tố giúp cỗ máy 
lưu thông tiền tệ là ngân hàng vận hành trôi chảy, tạo lợi nhuận, mở rộng quy 
mô, tăng sức cạnh tranh của ngân hàng với các thành phần kinh tế khác.
1.2.2. Phân loại vốn huy động của ngân hàng thương mại
1.2.2.1. Căn cứ theo hình thức huy động
Một trong những mục tiêu của chiến lược về  vốn kinh doanh của các ngân  
hàng là đa dạng hóa loại hình vốn huy động. Nền kinh tế  thị  trường đã thúc 
đẩy các thành phần kinh tế  tham gia vào sản xuất, kinh doanh, mang lại  

11
Sinh viên thực hiện: Trần Duy Quang


Chuyên đề tốt nghiệp

khoản thặng dư  vốn cho các thành viên này. Vì vậy, ngân hàng là trung gian 
đứng lên tập trung các nguồn vốn đó.
Huy động vốn từ các khoản tiền gửi
Đây là một nghiệp vụ truyền thống của bất cứ NHTM nào. Tiền gửi là khoản 
tiền chủ yếu trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. Ngân hàng là người giữ hộ 
và thanh toán tiền khi khách hàng cần rút ra. Trong khoảng thời gian nắm giữ,  
ngân hàng phải chi trả cho khách hàng một khoản lãi nhất định tuỳ thuộc vào 
thời hạn gửi tiền. Chính vì tầm quan trọng của nó mà bất cứ  ngân hàng nào  
cũng luôn thay đổi các chính sách huy động tiền gửi linh hoạt và hấp dẫn 
nhằm thu hút nguồn tiền gửi nhiều nhất. Đặc điểm chung của các nguồn này 
là ngân hàng phải trả bất cứ lúc nào. Vì vậy, nó luôn phải đối mặt với rủi ro  
thanh khoản lớn. Các nguồn này là đối tượng phải mua bảo hiểm tiền gửi, là  
đối tượng để tính dự trữ bát buộc.
Các hình thức của tiền gửi bao gồm:
­

Tiền gửi thanh toán: Là khoản tiền gửi mà người gửi tiền vào 

NHTM với mục đích thanh toán. Chủ  tài khoản có quyền phát hành séc hoặc 
chứng từ khác để chi trả cho bên thứ ba hoặc rút tiền ra bất cứ lúc nào để đáp 
ứng nhu cầu sử  dụng, ngân hàng phải có trách nhiệm thoả  mãn nhu cầu đó  
của khách hàng.
­

Tiền gửi tiết kiệm: là loại tiền gửi của các tầng lớp dân cư 

trong xã hội với mục đích tích luỹ và hưởng lãi.
Loại hình này được chia thành:
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ  hạn: loại hình tiền gửi này đáp ứng nhu cầu rút 
ra bất cứ  lúc nào của khách hàng, đây cũng là đối tượng tính bảo hiểm tiền  
gửi.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ  hạn: là loại tiền gửi tuỳ  thuộc vào kỳ  hạn gửi mà 
khách hàng được hưởng một khoản lãi nhất định. Nguồn vốn huy động này 
chi phí cao hơn so với các nguồn vốn không kỳ  hạn nhưng tính thanh khoản 

12


Chuyên đề tốt nghiệp

kém hơn giúp ngân hàng có thể sử dụng chúng vào hoạt động kinh doanh của  
mình theo một nguyên tắc: kỳ hạn càng lớn thì chi phí càng đắt.
Ngoài ra, còn có một số  hình thức tiết kiệm khác, về  cơ  bản là tiết kiệm có 
kỳ hạn nhưng cách thức gửi và rút tiền được thay đổi phù hợp với xu hướng 
chi tiêu của khách hàng.
Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá (GTCG)
Quyết định 1287/2002/QĐ­NHNN của thống đốc NHNN ban hành trong đó 
nêu rõ:
“Giấy tờ  có giá là chứng nhận của tổ  chức tín dụng phát hành để  huy  
động vốn trong đó xác định nghĩa vụ  trả  nợ  một khoản tiền trong một  
thời hạn nhất định, điều kiện trả  lãi và các khoản cam kết giữa người  
bán và người mua”
Giấy tờ có giá được phân thành:
GTCG ngắn hạn: là GTCG có thời hạn dưới 12 tháng, gồm: kỳ phiếu, chứng 
chỉ tiền gửi, tín phiếu và các GTCG khác.
GTCG dài hạn: là GTCG có thời hạn trên hoặc bằng 12 tháng, bao gồm: trái 
phiếu, chứng chỉ tiền gửi (CDs), các GTCG dài hạn khác.
GTCG ghi danh: là GTCG phát hành theo hình thức chứng chỉ hoặc ghi sổ có 
tên người  sở  hữu. TCTD phát hành GTCG  ghi danh phải mở  sổ   đăng ký 
quyền sở  hữu và tiến hành đăng ký lại khi khách hàng có yêu cầu chuyển  
nhượng quyền sở hữu.
GTCG vô danh: là GTCG theo hình thức chứng chỉ  không ghi tên người sở 
hữu. GTCG vô danh thuộc quyền sở  hữu của người nắm giữ  GTCG. Thời  
gian phát hành thường nhỏ hơn 60 ngày.
1.2.2.2. Căn cứ theo tính chất kỳ hạn
Theo cách phân loại này vốn huy động của NHTM được phân loại thành:
Vốn huy động không kỳ hạn

13
Sinh viên thực hiện: Trần Duy Quang


Chuyên đề tốt nghiệp

Vốn huy động không kỳ hạn được hình thành từ  nhu cầu rút tiền từ tổ  chức 
tín dụng bất cứ  lúc nào trong phạm vi tài khoản của mình. Đặc điểm của  
nguồn vốn này là chi phí huy động rất thấp với các hình thức như  tiền gửi  
thanh toán, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và một số loại tiền gửi không kỳ 
hạn khác.
Vốn huy động có kỳ hạn
Loại vốn này ngân hàng huy động trên cơ  sở  tiền gửi vào theo kỳ  hạn nhất 
định của tổ  chức, cá nhân. Về  nguyên tắc, số  tiền gửi chỉ  được rút khi đến 
hạn. Mặc dù lãi suất mà ngân hàng trả  cho loại vốn huy dộng này là cao 
nhưng nó có tính tương đối  ổn định, bao gồm các loại: tiền gửi có kỳ  hạn, 
tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, giấy tờ có giá phát hành.
1.2.2.3. Căn cứ vào đối tượng khách hàng
Huy động từ tổ chức kinh tế, doanh nghiệp
Nguồn vốn này chiếm tỷ  trọng chủ  yếu của tiền gửi thanh toán. Trong quá 
trình quay vòng vốn, doanh nghiệp luôn phát sinh một khoản tiền nhất định 
nằm trong lưu thông nhằm mục đích thanh toán. Nó là nguồn vốn lưu động 
mà doanh nghiệp xác định sẽ  trả  cho nhà cung cấp tại những thời điểm theo  
kế hoạch khác nhau.
Huy động vốn từ dân cư
Nguồn vốn này xuất phát từ  nhu cầu đảm bảo 2 yếu tố  đối với khoản tiền  
thặng dư của người dân đó là: an toàn và sinh lời. Các hình thức huy động từ 
dân cư  gồm: tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi cá nhân (có kỳ  hạn và không kỳ 
hạn), giấy tờ có giá. Đây được xem là nguồn huy động đáng kể của ngân hàng 
để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình.
1.3. Chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động huy động vốn của ngân hàng 
thương mại
Các khoản nợ  là nguồn vốn chiếm tỷ  trọng chủ  yếu của ngân hàng. Chất 
lượng của nó sẽ ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của ngân hàng và để đánh 

14


Chuyên đề tốt nghiệp

giá hoạt động huy động vốn cần xem xét các tiêu thức: chi phí vốn, kỳ  hạn  
vốn, quy mô vốn.
1.3.1. Chi phí vốn
Tương tự như mô hình doanh nghiệp, chi phí huy động vốn được xem là chi 
phí đầu vào trong kinh doanh của các NHTM. Các nhà quản lý ngân hàng quan  
tâm đến việc xác định chúng bởi:
­

Ngân hàng luôn đa dạng hoá các nguồn vốn huy động trên cơ sở 

mức chi phí thấp nhất.
­

Ngân hàng cần tính toán lợi nhuận cao nhất trên cơ sở doanh thu 

hoạt động kinh doanh mang lại và chi phí huy động phải trả.
Vì vậy, việc xác định chi phí vốn phải giúp nhà quản lý ngân hàng định hướng 
được:
­

Tính phù hợp giữa chi phí vốn với quy mô, thời hạn của nguồn  

vốn huy động.
­

Lợi nhuận do hoạt động tăng vốn mang lại không chịu áp lực 

bởi việc tăng vốn.
Phương pháp chi phí vốn bình quân gia quyền thực tế:
(Công thức 1)

∑ Lj * ij
               i0  =

                

             ∑ Lj
Trong đó, biến j (1;n)
Lj là doanh số hay số dư bình quân của loại vốn thứ j
i0 chi phí huy động vốn bình quân gia quyền thực tế
ij  chi phí trả lãi của nguồn vốn thứ j và cũng là lãi suất bình quân của loại 
vốn thứ j
­

Ưu điểm của phương pháp này:

15
Sinh viên thực hiện: Trần Duy Quang


Chuyên đề tốt nghiệp
+

Xác định được chi phí vốn huy động danh nghĩa của ngân hàng 

theo cơ cấu nguồn vốn và xu hướng biến động.
+

Phân tích được các yếu tố tác động gồm tỷ trọng từng nguồn vốn 

huy động và lãi suất bình quân của từng nguồn vốn huy động.
+

So sánh mặt bằng lãi suất bình quân của ngân hàng với lãi suất 

tương tự của các ngân hàng khác từ đó đánh giá khả năng cạnh tranh 
của bản thân ngân hàng.
Nhược điểm:

­
+

Chưa phản ánh được toàn bộ các tác động chuyển hoá nguồn vốn 

vào các mục đích sinh lời.
+

Chưa phản ánh được tác động của yếu tố chi phí phi trả lãi liên 

quan tới hoạt động này.
+

Chưa tính chi phí để tạo dựng vốn tự có.

+

Khi có những biến động lớn về lãi suất thì không thể sử dụng 

kết quả tính toán để định giá tài sản có.
Để hạn chế những nhược điểm trên, người ta đưa ra một công thức tính khác 
trong phương pháp tính này như sau:
(Công thức 2)

                             ∑ Lj * ij  ­ NIC + Ce
                    i0         =                       

      

                                                        ∑ Ak
Trong đó các biến vẫn giống công thức 1, ngoài ra:
Ak  tài sản có sinh lời thứ k
NIC là chi phí lãi suất ròng, tính bằng hệ số giữa tổng thu nhập phi lãi và chi 
phí trả lãi.
Ce  là chi phí vốn sở hữu
Phương pháp huy động vốn bình quân gia quyền dự kiến

16


Chuyên đề tốt nghiệp

Trong phương pháp này cũng áp dụng công thức tính như  công thức, nhưng 
các chỉ  tiêu được tính  ở  dự  kiến chứ  không phải thực tế. Tính theo phương  
pháp này sẽ  cho nhà quản trị  biết giá vốn bình quân dự  kiến tính trên mỗi  
đồng tài sản có dự kiến của ngân hàng. Nếu muốn có lợi nhuận thì ngân hàng 
phải bù đắp khoản chi phí này từ  nguồn thu nhập của những tài sản có. 
Những phương án về tài sản nợ, tài sản có sẽ được điều chỉnh để  ngân hàng  
đảm bảo các mục tiêu về lợi nhuận.
1.3.2. Kỳ hạn vốn
Quản lý kỳ hạn là xác định kỳ hạn của nguồn phù hợp với yêu cầu về kỳ hạn  
sử  dụng, đồng thời tạo sự   ổn định của nguồn. Có hai loại kỳ  hạn mà ngân  
hàng phải quan tâm đó là: kỳ hạn danh nghĩa và kỳ hạn thực tế. Kỳ hạn danh  
nghĩa phản ánh tính ổn định ban đầu của nguồn vốn, quản lý nó mang lại tính  
an toàn và sinh lời cho ngân hàng. Kỳ hạn thực tế của khoản tiền gửi là thời  
gian mà khoản tiền tồn tại liên tục tại ngân hàng. Phân tích và đo lường kỳ 
hạn thực tế  của nguồn tiền là cơ  sở  để  ngân hàng quản lý thanh khoản,  
chuyển hoán kỳ hạn nguồn.
Để xác định kỳ hạn sử dụng vốn hợp lý, một ngân hàng cần đánh giá các chỉ 
tiêu sau:
                                                                           DS chi tr ả VHĐ trong kỳ
* Số vòng quay của nguồn vốn huy động = 

                                                                       S ố dư bình quân VHĐ trong kỳ

Chỉ tiêu này cho phép đánh giá trong một thời gian nhất định nguồn vốn quay 
được bao nhiêu vòng.
* Thời hạn bình quân của           Số dư bình quân của VHĐ * Số ngày trong kỳ  

            VHĐ (tính theo ngày)   =
                                                            Doanh s ố chi tr ả VHĐ trong kỳ

Cách tính này cho biết thời gian cần thiết để nguồn vốn quay được một vòng,  
nếu số vòng quay của nguồn vốn huy động càng ít hay thời hạn bình quân của 
17
Sinh viên thực hiện: Trần Duy Quang


Chuyên đề tốt nghiệp

nguồn vốn huy động càng dài (so với kỳ trước hoặc so với kỳ hạn danh nghĩa 
tương  ứng của từng nguồn) thì nguồn vốn càng  ổn định. Ngân hàng có thể 
cho vay dài hạn hoặc dự trữ ít hơn mà vẫn đảm bảo thanh khoản.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng 
thương mại
1.4.1. Nhóm yếu tố khách quan
Môi trường kinh tế ­ chính trị ­ xã hội
Các định hướng phát triển kinh tế của từng quốc gia có ảnh hưởng gián tiếp 
đến khả  năng huy động vốn của ngân hàng. Nếu các đường lối phát triển  
đúng đắn, phù hợp trong từng thời kỳ  mang lại thu nhập dồi dào cho người  
dân thì tương  ứng với nó số  vốn huy động được từ  nguồn dân cư  cũng mở 
rộng.
Khách hàng
Đây là đối tượng mà bất cứ NHTM nào cũng đều hướng tới. Bản thân khách 
hàng tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng xoay quanh các dịch vụ  mà ngân hàng 
cung cấp. Các tổ  chức tín dụng, doanh nghiệp, tổ  chức kinh tế chủ yếu giao  
dịch tiền gửi, thanh toán, ký quỹ, tín dụng, đồng tài trợ  dự  án… Các đối 
tượng dân cư  lại là nguồn huy động vốn chủ  yếu của ngân hàng thông qua  
tiền gửi tiết kiệm, hiện nay họ còn là đối tượng tiềm năng trong cho vay bán 
lẻ.
1.4.2. Nhóm yếu tố chủ quan
Chiến lược phát triển
Mỗi NHTM có một chiến lược kinh doanh tổng thể dài hạn, theo đó xác định  
cho mình một thế  mạnh riêng biệt, một số  lượng khách hàng trung thành từ 
đó cân đối nguồn vốn tương đối ổn định của ngân hàng.
Hiện nay, các ngân hàng đều có xu hướng hoạt động đa năng nhằm tìm kiếm  
lợi nhuận, phân tán rủi ro. Một chiến lược kinh doanh đúng đắn không thể 
thiếu hoạt động huy động vốn hiệu quả. Bên cạnh đó, quy mô vốn chủ  sỡ 

18


Chuyên đề tốt nghiệp

hữu cũng là yếu tố  giới hạn quy mô vốn huy động. Vì vậy, mỗi ngân hàng  
cần chú trọng tăng quy mô vốn chủ sỡ hữu bởi đây cũng là một trong những 
nhân tố đảm bảo uy tín ngân hàng, tạo lòng tin cho khách hàng.
Các chính sách huy động vốn
Chính sách lãi suất thể  hiện sự  cân đối nguồn vốn của mỗi NHTM sao cho  
chi phí vốn bỏ  ra hợp lý mà vẫn mang tính cạnh tranh trong hệ  thống ngân 
hàng. Đây là một công cụ linh hoạt bởi nó có tính chất điều chỉnh quy mô các  
nguồn ngắn, trung và dài hạn. Lãi suất hợp lý phải đảm bảo cho sức mua  
tương đối giữa các loại tiền không bị  thay đổi. Một thay đổi đúng đắn trong  
chính sách lãi suất sẽ làm tăng nguồn vốn huy động. Tuy nhiên, ngân hàng chỉ 
có thể  quản lý mức độ  và xu hướng biến động của lãi suất một cách tương  
đối, phản  ứng và điều chỉnh hoạt động của mình theo sự  biến động của lãi 
suất để đạt được mục tiêu hoạt động đề ra.
Chất lượng các sản phẩm, dịch vụ cung ứng
Các ngân hàng ngày càng cung cấp các dịch vụ đa dạng, linh hoạt với phương  
châm vì khách hàng. Chất lượng phục vụ của ngân hàng sẽ  giúp khách hàng 
lựa chọn nơi có sản phẩm tốt nhất. Vì vậy, marketing ngân hàng được xem  
như  một bộ  phận rất quan trọng vì trực tiếp tiếp xúc và tạo lòng tin cho  
khách hàng. Chính sách chăm sóc khách hàng thường xuyên được đổi mới,  
mang tính cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng. Các bộ phận chăm sóc khách  
hàng (Customer desk) sẽ  tư  vấn cho khách hàng các sản phẩm dịch vụ  mà 
ngân hàng cung cấp, lựa chọn sao cho phù hợp với hoạt động, thói quen, tâm 
lý của khách hàng.
Yếu tố công nghệ thông tin ngân hàng
Hệ  thống công nghệ  ngân hàng không ngừng được đổi mới nhằm bắt nhịp 
với sự phát triển của mạng lưới ngân hàng quốc tế. Nó đòi hỏi một phần vốn 
đầu tư  tương đối lớn của ngân hàng. Một ngân hàng muốn mở  rộng mạng  

19
Sinh viên thực hiện: Trần Duy Quang


Chuyên đề tốt nghiệp

lưới đòi hỏi yếu tố công nghệ thông tin phải bứt nhịp kịp thời, phục vụ thanh  
toán, chuyển tiền và các nghiệp vụ phát sinh nhanh chóng, thuận tiện.
Các hình thức huy động thời điểm khác
Tùy thuộc từng thời điểm nhất định, các ngân hàng muốn huy động vốn trong  
dân   cư   thường   áp   dụng   các   chính   sách   như:   khuyến   mại,   tiết   kiệm   dự 
thưởng… và được coi như  các hình thức huy động khá hiệu quả. Hiệu quả 
mà các chương trình này mang lại không chỉ dừng lại ở lượng vốn ngân hàng  
huy động được mà nó còn giúp quản bá hình ảnh ngân hàng, gây ảnh hưởng  
sâu rộng đến các thành viên khác trong nền kinh tế.

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI
CHI NHÁNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 
SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG HUẾ

2.1. Tổng quan về chi nhánh ngân hàng Sài Gòn Công Thương
2.1.1. Sơ lược về ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương
Tên giao dịch Việt Nam     : Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công 

­

Thương
­

Tên giao dịch quốc tế       : Saigon Bank For Industry And Trade

­

Tên gọi tắt                         : SAIGONBANK

­

Website                             : www.saigonbank.com.vn

*

20

Lịch sử hình thành


Chuyên đề tốt nghiệp

Là Ngân Hàng thương Mại Cổ Phần Việt Nam đầu tiên được thành lập   trong 
hệ thống Ngân Hàng Cổ Phần tại Việt Nam hiện nay, ra đời ngày 16 tháng 10 
năm 1987,  trước khi có Luật Công Ty và Pháp lệnh Ngân Hàng với vốn điều 
lệ ban đầu là 650 triệu đồng và thời gian họat động là 50 năm .
*

Sản phẩm dịch vụ chính
+

Huy động vốn (nhận tiền gửi của khách hàng) bằng đồng Việt 

Nam, ngoại tệ và vàng.
+

Sử  dụng vốn (cung cấp tín dụng, đầu tư, hùn vốn liên doanh)  

bằng đông Việt Nam, ngoại tệ và vàng.
+

Các dịch vụ trung gian (thực hiện thanh toán trong và ngoài nước, 

dịch vụ ngân quỹ, chuyển tiền kiều hối và chuyển tiền nhanh…)

*

+

Kinh doanh ngoại tệ và vàng.

+

Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ.

Mạng lưới kênh phân phối

Gồm 32 chi nhánh và 28 phòng giao dịch tại các vùng kinh tế  phát triển trên 
toàn quốc:

*

+

Tại TP Hồ Chí Minh: 11 chi nhánh và 11 phong giao dịch

+

Tại khu vực Đông Nam Bộ: 2 chi nhánh và 1 phòng giao dịch

+

Tại khu vực miền Tây: 6 chi nhánh và 3 phòng giao dịch

+

Tại khu vực miền Trung: 4 chi nhánh và 4 phòng giao dịch

+

Tại khu vực miền Bắc: 9 chi nhánh và 12 phòng giao dịch

Công ty trực thuộc
+

Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản NH Sài Gòn Công Thương

+

Khách sạn RIVERSIDE

+

Trung tâm thẻ

  Tính đến 31/12/2008, Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Công Thương có quan hệ 
đại lý với 661 ngân hàng và chi nhánh tại 63 quốc gia và vùng lãnh thổ  trên 

21
Sinh viên thực hiện: Trần Duy Quang


Chuyên đề tốt nghiệp

khắp thế  giới. Hiện nay Saigonbank là đại lý thanh toán thẻ  Visa, Master  
Card, JCB, CUP… và là đại lý chuyển tiền kiều hối Moneygram. 
Sau 20 năm hoạt động, ngoài việc đưa các sản phẩm dịch vụ  ngân hàng có 
chất   lượng,   phù   hợp   với   nhu   cầu   khách   hàng,   mở   rộng   mạng   lưới   hoạt 
động… với đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, ngân hàng  
SGCT còn quan tâm và mở rộng các hoạt động đến các đối tượng khách hàng 
là các cá nhân, công ty liên doanh, doanh nghiệp nước ngoài … hoạt động  
trong các khu chế xuất, khu công nghiệp, hỗ trợ sự phát triển các ngành nghề 
nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các ngành nghề truyền thống  
tại các địa phương trong cả nước.
Trong   thời   gian   tới,   theo   xu   thế   phát   triển   ­   hội   nhập   của   hệ   thống   NH  
Thương mại Việt Nam  vào nền kinh tế  khu vực và thế  giới, Ngân Hàng  
TMCP Sài Gòn Công Thương sẽ  liên tục đổi mới hoạt động: cung ứng thêm 
nhiều sản phẩm dịch vụ, thay đổi phong cách phục vụ, ưu đãi các khách hàng 
giao dịch thường xuyên, mở  rộng mạng lưới hoạt động, hướng tới phục vụ 
khách  hàng  bằng  những   sản  phẩm  dịch  vụ   Ngân  hàng  hiện   đại  với   chất 
lượng tốt nhất dựa trên nền tảng công nghệ NH tiên tiến … nhằm thực hiện  
thành công mục tiêu là một trong những NHTM CP lớn mạnh hàng đầu trong 
hệ thống NHTM CP. 

2.1.2. Tổng quan về  chi nhánh ngân hàng thương mại cổ  phần Sài Gòn  
Công Thương Huế
Địa chỉ: 50 Hùng Vương, P.Phú Nhuận, TP Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
Điện thoại: (84­054) 3.834.652
Fax           : (84­054) 3.834.650
2.1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh
Chi nhánh ngân hàng thương mại cổ  phần Sài Gòn Công Thương Huế  được 
khai trương hoạt động vào ngày 21/07/2006.

22


Chuyên đề tốt nghiệp

Ngân hàng ra đời tại thời điểm đã có 4 ngân hàng nhà nước (Chi nhánh ngân 
hàng Đầu tư  và Phát triển, chi nhánh ngân hàng Ngoại Thương, chi nhánh 
ngân hàng Công Thương, chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông 
thôn) và 4 ngân hàng TMCP khác (Chi nhánh ngân hàng Sài Gòn thương tín, 
chi nhánh ngân hàng Đông Á, chi nhánh ngân hàng Á Châu, VPBank) hoạt 
động trên địa bàn tỉnh. Vì vậy, ngân hàng chịu áp lực cạnh tranh rất lớn. Tuy  
nhiên, trong thời gian qua ngân hàng đã không ngừng hoàn thiện và bổ  sung 
nhiều sản phẩm dịch vụ  mới để  ngày càng chứng tỏ  được vị  trí của mình. 
Kết quả, chi nhánh ngân hàng TMCP SGCT Huế đã được thừa nhận và được 
nhiều người biết  đến như  là một thương hiệu  đáng tin cậy. Sắp tới, chi  
nhánh dự  định lắp đặt hệ  thống máy rút tiền tự  động ATM tại Thừa Thiên 
Huế. Loại máy này ra đời sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của chi  
nhánh trong lĩnh vực thẻ.
2.1.2.2. Nội dung hoạt động của chi nhánh
­

Huy động vốn ngắn hạn, trung và dài hạn dưới các hình thức 

tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn; tiếp nhận vốn uỷ thác đầu tư và phát triển  
của các tổ chức trong nước; vay vốn của các tổ chức tín dụng khác.
­

Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn; chiết khấu thương phiếu, 

trái phiếu, giấy tờ có giá; hùn vốn liên doanh theo luật định.
­

Làm dịch vụ thanh toán giữa các ngân hàng.

­

Kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và thanh toán quốc tế.

­

Huy động các loại vốn từ nước ngoài và các dịch vụ  ngân hàng 

khác trong quan hệ với nước ngoài khi được NHNN cho phép.
2.2. Thực trạng huy động vốn của chi nhánh ngân hàng thương mại cổ 
phần Sài Gòn Công Thương Huế
Qua   3   năm   hoạt   động,   sự   tăng   trưởng   về   vốn   và   quy   mô   của   chi   nhánh 
NHSGCT Huế  mang tính  ổn định cao mặt dù ngân hàng phải đối mặt với 
nhiều thách thức ngay từ khi mới thành lập. Năm 2006, do mới thành lập nên 
23
Sinh viên thực hiện: Trần Duy Quang


Chuyên đề tốt nghiệp

con số  huy động chỉ  đạt 80,06 tỷ  đồng nhưng sang năm 2007 đã tăng lên  
130,66 tỷ  đồng gấp 163,2%. Đến năm 2008, tổng vốn huy động của ngân 
hàng đạt 145,90 tỷ đồng, tăng 15,24 tỷ đồng. Lượng vốn huy động năm 2008  
tăng chậm do  ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và những  
yếu tố khác của nền kinh tế trong nước. Tuy nhiên, tỷ lệ tăng vốn huy động  
giúp ngân hàng giải quyết nhu cầu tín dụng ngày càng mở  rộng và mở  rộng  
hoạt động kinh doanh tiền tệ, trở  thành ngân hàng mạnh trong địa bàn tỉnh 
Thừa Thiên Huế.
Ngân hàng đã áp dụng nhiều biện pháp quản lý vốn một cách đồng bộ, có tính 
toán đến rủi ro thị trường, đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, cơ  chế 
quản lý vốn tập trung, áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro thanh khoản.  
Từ  đó, nguồn vồn huy động được quản lý một cách hiệu quả  từ  khâu huy 
động đến khâu sử dụng, đảm bảo không gây tồn đọng vốn.
Bên cạnh chú trọng số  lượng vốn huy động, xu hướng huy động của ngân  
hàng tập trung và ưu tiên huy động các nguồn vốn mang tính ổn định trung và 
dài hạn, chuyển dịch cơ cấu vốn sang hướng tín dụng trung và dài hạn, đầu 
tư chủ yếu vào các dự án, công trình lớn…
Xác định công tác huy động vốn là một trong những nhiệm vụ trọng tâm được 
đặt lên hàng đầu, bên cạnh những biện pháp mang tính nội bộ  như  tính toán  
chi phí lãi suất, cân đối nguồn vốn hợp lý, ngân hàng đã luôn luôn cải tiến 
phương thức huy động nguồn vốn từ  các khách hàng, nâng cao chất lượng  
phục vụ, quảng bá hình  ảnh, uy tín và vị  thế  của ngân hàng từ  đó tạo thế 
cạnh tranh lành mạnh với các ngân hàng khác trong địa bàn tỉnh.
2.2.1. Cơ cấu vốn theo phương thức huy động
Cơ  cấu vốn theo phương thức huy động của ngân hàng được tổng hợp theo  
bảng 1.
BẢNG 1: CƠ CẤU VỐN HUY ĐỘNG THEO PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG
Đơn vị: tỷ đồng

24


Chuyên đề tốt nghiệp

Chỉ 
tiêu

Tổng
nguồn
TG 
thanh 
toán
TG   có 
kỳ hạn
TG   tiết 
kiệm
TG   của 
TCTD

Năm 
2006

Năm 
2007

Năm 
2008

Giá 
trị

%

Giá
 trị

80,06

100

130,66

30,42

38

5,6

So 
sánh
(07 – 
06)
%

So sánh
(08 – 07)

Giá 
trị

%

Giá trị

%

Giá trị

%

100

145,90

100

50,60

63,20

15,24

11,66

61,41

47

59,82

41

30,99

101,87

(1,59)

(2,59)

7

7,84

6

5,84

4

2,24

40,00

(2,00)

(25,51)

18,41

23

37,89

29

48,15

33

19,48

105,81

10,26

27,08

25,63

32

23,52

18

32,09

22

(2,11)

(8,23)

8,57

36,44

(Nguồn: Phòng kinh doanh chi nhánh ngân hàng TMCP SGCT Huế)
Theo bảng ta có thể thấy:
Thứ nhất, lượng tiền gửi thanh toán năm 2007 tăng 101,87% so với năm 2006 
nhưng năm 2008 lại giảm 1,59% so với năm 2007. Sở dĩ có sự sụt giảm này là 
do sự  biến động mạnh của nền kinh tế  trong nước do  ảnh hưởng của cuộc 
khủng hoảng kinh tế thế giới. Tuy nhiên, lượng tiền này biến động theo thời 
điểm, các doanh nghiệp và cá nhân gửi vào để có thể rút hoặc chuyển khoản  
bất cứ lúc nào khi cần vốn cho nhu cầu kinh doanh nên nguồn tiền này ngân 
hàng cũng chỉ được phép cho vay ngắn hạn.
Thứ  hai, lượng tiền gửi thanh toán bao gồm tiền gửi của tổ chức kinh tế và 
các nhân, trong đó tỷ lệ tiền gửi thanh toán chiếm ưu thế thuộc về các doanh  
nghiệp. Tiền gửi thanh toán chiếm tỷ  trọng bình quân trong 3 năm là 42% 
chứng tỏ  đây là mảng thị  trường tiềm năng với  ưu điểm chi phí vốn thấp,  
mang lại các nguồn thu khác cho ngân hàng khi doanh nghiệp sử  dụng các 
dịch vụ  của ngân hàng. Đây là nguồn ngắn hạn nhưng không quá nhạy cảm  
với lãi suất mà chỉ  phụ  thuộc vào chu kỳ  sản xuất kinh doanh của tổ  chức,  
doanh nghiệp.

25
Sinh viên thực hiện: Trần Duy Quang


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×