Tải bản đầy đủ

Giá cả và phương pháp thống kê quy đổi giá trị xây lắp công trình theo giá thực tế ở nước ta

í sử dụng máy KM= PM x HM
(trong đó PM: tỷ trọng chi phí thuê máy móc
trong giá trị xây lắp của công trình
HM: mức điều chỉnh chi phí thuê máy
móc trong giá trị xây lắp định theo công
thức sau:
1 n
H M M MM
n i 1
BG
i

G
i

tính trong giá trị xây lắp đã thực hiện n: Số
loại máy, thiết bị thi công đợc chọn đại diện
để tính toán)
KC: mức quy đổi giá trị xây lắp do điều
chỉnh chi phí chung KC = PC x HC (trong đó
PC: tỷ trọng chi phí chung trong giá trị xây

lắp của công trình và HC: mức điều chỉnh chi

G
i

(Trong đó M

BG
i

: Giá ca

máy của loại máy, thiết bị thi công thứ i ở
thời điểm bàn giao đa vào sử dụng M iG : Giá
ca máy của loại máy, thiết bị thi công thứ i

phí chung trong giá trị xây lắp do giá chi phí
chung thay đổi)
KTL: mức quy đổi giá trị xây lắp do điều
chỉnh chi phí thuế và lãi

Thông tin Khoa học Thống kê số 3/2004 - Trang 21


n

KTL=PTLx

K
i 1

i

trong đó PTL: tỷ trọng

của chi phí thuế và lãi (hoặc thu nhập chịu
thuế tính trớc trong giá trị xây lắp của công
trình và Ki: mức quy đổi giá trị xây lắp do
điều chỉnh thuế và lãi trong từng khoản mục
cấu thành giá trị xây lắp)


KTN: mức quy đổi giá trị xây lắp do điều
chỉnh chi phí thu nhập chịu thuế tính trớc
(đối với giá trị sản xuất xây lắp đã thực hiện
sau ngày 01/01/1999).
Mặc dù đợc chia ra nhiều loại hệ số
quy đổi nhng có thể hiểu một cách tổng
quát hệ số nh một chỉ số vừa phản ánh
mức biến động về mặt chi phí, vừa phản
ánh giá trị gia tăng của đồng vốn theo thời
gian dới tác động của mức lãi suất cụ thể
đã lựa chọn.
Việc tính toán hệ số quy đổi các chi
phí (xây lắp) nói chung đợc coi là phức
tạp hơn cả, có khối lợng lớn hơn cả - mặc
dù chúng chỉ là thực hiện những phép tính
toán học thuần tuý. Theo phơng pháp
hớng dẫn hiện hành, hệ số quy đổi chi phí
xây lắp là chỉ số tổng hợp của các mức quy
đổi do điều chỉnh các yếu tố vật liệu, nhân
công, máy thi công, chi phí trực tiếp khác,
chi phí chung, thuế, lãi hoặc thu nhập chịu
thuế tính trớc.
Đối với mỗi hạng mục công trình, các
mức điều chỉnh của mỗi yếu tố thành phần
nói trên là không giống nhau, thậm chí rất
khác nhau. Sự khác nhau đó bắt nguồn từ 2
lý do: Tỷ trọng tham gia của mỗi yếu tố trong
tổng cơ cấu chi phí khác nhau và mức độ
điều chỉnh giá vật liệu, giá nhân công và giá

máy thi công chủ yếu tại thời điểm quy đổi
so với thời điểm thi công có khác nhau. Vì
vậy, đối với những công trình bao gồm nhiều
hạng mục công trình có yêu cầu kỹ thuật,
điều kiện thi công và biện pháp thi công
khác nhau việc tính toán hệ số quy đổi chi
phí xây lắp đòi hỏi phải thực hiện riêng biệt
cho từng hạng mục, cho từng năm thực hiện.
Nhờ sự trợ giúp của tin học, việc xử lý cùng
một lúc nhiều thông tin với khối lợng rất lớn
vẫn có thể thực hiện đợc nếu dữ liệu đợc
mã hoá thống nhất.
Thời gian quy đổi là mốc thời gian có
tính quy ớc thờng đợc chọn một cách chủ
quan trong 3 trờng hợp: đầu kỳ, cuối kỳ,
hay tại một thời điểm nào đó công trình bắt
đầu đa vào sử dụng.
Tóm lại, phơng pháp thống kê quy đổi
giá trị sản xuất xây dựng nhờ tính toán hệ số
quy đổi đã đợc minh chứng là một phơng
pháp khoa học bởi tính chính xác của nó
trong ứng dụng. Tuy nhiên, bản thân hệ số
bao giờ cũng chỉ là những con số khô khan
dù đã đợc tính toán bằng phơng pháp
khoa học
Ti liệu tham khảo
1. PGS.TS Bùi Văn Yêm Phơng pháp
định giá sản phẩm xây dựng, NXB Xây dựng,
Hà Nội 1997
2. Tạp chí Xây dựng, số 433 tháng 3/2004
3. Văn bản pháp quy mới về đầu t xây
dựng nhà ở đất ở đất đai xây dựng kiểm tra
quy hoạch phát triển đô thị quản lý doanh
nghiệp và kinh tế tài chính xây dựng, NXB Xây
dựng, Hà Nội - 2003

Trang 22 - Thông tin Khoa học Thống kê số 3/2004



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×