Tải bản đầy đủ

Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh THPT trong làm văn thuyết minh (2017)

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

ĐOÀN THỊ HOA

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NÓI
CHO HỌC SINH THPT TRONG
LÀM VĂN THUYẾT MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học

HÀ NỘI, 2017


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

ĐOÀN THỊ HOA


XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NÓI
CHO HỌC SINH THPT TRONG
LÀM VĂN THUYẾT MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học

Người hướng dẫn khoa học:
ThS. DƯƠNG THỊ MỸ HẰNG

HÀ NỘI, 2017


LỜI CẢM ƠN

Trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô
giáo Dương Thị Mỹ Hằng, người đã hướng dẫn tận tình và luôn động viên
khích lệ em trong suốt quá trình nghiên cứu để em hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp này. Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Phương
pháp dạy học Ngữ văn, khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã
tận tình truyền đạt những tri thức quý báu giúp đỡ em trong quá trình học tập
và nghiên cứu.
Khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong
nhận được sự đóng góp ý kiến và tiếp tục xây dựng đề tài của quý thầy cô và
các bạn để đề tài của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2017
Sinh viên
Đoàn Thị Hoa


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận là kết quả nghiên cứu của riêng tôi và có
sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Dương Thị Mỹ Hằng.
Khóa luận với đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng
nói cho học sinh THPT trong Làm văn thuyết minh. Khóa luận chưa từng
công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác. Nếu sai tôi hoàn toàn
chịu trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 4 năm 2017


Sinh viên
Đoàn Thị Hoa


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Số thứ tự

Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

1

Giáo viên

GV

2

Học sinh

HS

3

Kĩ năng nói

KNN

4

Nhà xuất bản

NXB

5

Sách giáo khoa

SGK

6

Trung học phổ thông

THPT


MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1.Lí do chọn đề tài............................................................................................. 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu................................................................ 8
4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu ................................................................. 8
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 8
6. Bố cục khóa luận ........................................................................................... 9
PHẦN NỘI DUNG ........................................................................................ 11
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG
BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH THPT
TRONG LÀM VĂN THUYẾT MINH........................................................ 11
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN ..................................................................................... 11
1.1.1. Một số nội dung cơ bản của lí thuyết giao tiếp đối với việc phát triển
năng lực nói cho học sinh THPT..................................................................... 11
1.1.2. Xác định những kĩ năng bộ phận của KNN cần phát triển cho học sinh
THPT ............................................................................................................... 15
1.1.3. Khái niệm về bài tập và vai trò của hệ thống bài tập phát triển KNN cho
học sinh ........................................................................................................... 17
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN................................................................................ 23
1.2.1. Về học phần Làm văn thuyết minh dạy trong các trường THPT.......... 23
1.2.2. Khảo sát thực trạng dạy học làm văn thuyết minh rèn luyện KNN cho
học sinh ở trường THPT Tây Tiền Hải ........................................................... 24
CHƯƠNG 2. HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NÓI CHO
HỌC SINH TRONG LÀM VĂN THUYẾT MINH................................... 30


2.1. Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện KNN cho học sinh trong
làm văn thuyết minh........................................................................................ 30
2.1.1. Hệ thống bài tập Làm văn thuyết minh phải góp phần phát triển năng
lực nói cho học sinh THPT. ............................................................................ 30
2.1.2. Hệ thống bài tập phải đảm bảo được tính hệ thống, tính chính xác, khoa
học trong việc phát triển khả năng nói cho HS. .............................................. 31
2.1.3. Hệ thống bài tập rèn luyện KNN vừa phải phu hợp với trình độ HS vừa
đảm bảo tính đa dạng để tạo nên tính hấp dẫn ................................................ 31
2.1.4. Hệ thống bài tập phát triển khả năng nói góp phần thể hiện phương
pháp dạy học tích cực...................................................................................... 32
2.2. Hệ thống bài thống bài tập rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh trong làm
văn thuyết minh............................................................................................... 33
2.2.1. Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng định hướng.................................... 33
2.2.2. Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng mở đầu .......................................... 35
2.2.3. Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng triển khai....................................... 40
2.2.4. Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng kết thúc ......................................... 44
2.3. Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cơ thể trong thuyết
minh................................................................................................................. 47
2.4. Phương hướng vận dụng hệ thống bài tập phát triển KNN ..................... 51
2.4.1. Mục đích và yêu cầu vận dụng.............................................................. 51
2.4.2. Nội dung vận dụng ................................................................................ 51
2.4.3. Cách thức vận dụng............................................................................... 52
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ............................................... 53
3.1. Mục đích thực nghiệm ............................................................................. 53
3.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm........................................................... 53
3.6. Tiến trình thực nghiệm............................................................................. 55
3.7. Kết quả thực nghiệm ................................................................................ 56
3.8. Kết luận chung về thực nghiệm ............................................................... 57


PHẦN KẾT LUẬN........................................................................................ 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Dạy và học trong nhà trường đang đứng trước yêu cầu đổi mới toàn
diện từ phương hướng, mục tiêu đến nội dung và phương pháp dạy học ở tất
cả các cấp học, bậc học. Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo nêu rõ “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng
hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ
năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy
móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để
người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực”. Do
đó, trong quá trình giảng dạy, yêu cầu khách quan, chính xác trong nội dung
dạy học là vô cung cần thiết. Để thực hiện điều đó, việc xây dựng các kĩ năng
đối với học sinh đóng một vai trò vô cung quan trọng. Chính điều này sẽ giúp
học sinh nắm bắt nội dung một cách đúng đắn và khoa học nhất.
Cung với yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện của ngành giáo dục, bộ
môn Ngữ văn đã có những chuyển biến căn bản. Trong đó phân môn Làm văn
có nhiệm vụ quan trọng trong việc hình thành các kĩ năng và năng lực cho học
sinh. Có thể nói, kĩ năng làm văn là thước đo năng lực ngôn ngữ, vốn hiểu
biết, vốn văn hóa... của học sinh. Với sứ mệnh đó, Làm văn cần phải được
quan tâm về nội dung và phương pháp dạy học ở mức độ cao nhất để nâng
cao chất lượng của môn Ngữ văn nói chung.
Làm văn có mối liên hệ chặt chẽ với Văn và Tiếng Việt, vì vậy giờ học
làm văn được xem là giờ học thực hành tổng hợp các năng lực và kiến thức
Văn học, Tiếng Việt cho học sinh. “Học sinh học Văn học và Tiếng Việt cuối
cung phải thể hiện năng lực cảm thụ ngôn ngữ và văn chương, mọi thông báo,
thông tin bằng Tiếng Việt trên các lĩnh vực khác nhau, nhất là các lĩnh vực về

1


con người và xã hội, khoa học và văn hóa trên đất nước mình và trong thời đại
mình” [8, tr.86].
Trong nhà trường phổ thông, Làm văn là một phân môn của Tiếng việt
(đơn vị bậc tiểu học) và Ngữ văn (đơn vị bậc trung học phổ thông). Phân môn
này có nhiệm vụ dạy cho học sinh biết phân biệt các loại văn bản. Đây là
nhiệm vụ gắn liền với mục đích thực hành, phát triển năng lực giao tiếp cho
học sinh. Theo đặc thù, Làm văn sẽ rèn luyện kĩ năng nói và viết các kiểu văn
bản thường sử dụng trong giao tiếp: văn bản tự sự,văn bản biểu cảm, văn bản
miêu tả, văn bản nghị luận, văn bản thuyết minh, văn bản hành chính công vụ.
Quá trình hình thành, rèn luyện kĩ năng nói, kĩ năng viết các kiểu văn bản
được tổ chức bằng nhiều công cụ khác nhau, trong đó phải kể đến công cụ
hữu hiệu là hệ thống bài tập. Hệ thống bài tập là vô cung cần thiết nhằm phát
huy năng lực học sinh, qua đó hình thành kĩ năng nói cho học sinh trong phân
môn Làm văn nói riêng và môn Ngữ văn nói chung.
Hình thành kĩ năng nói cho học sinh trong Làm văn thuyết thuyết minh
là một quan điểm mới trong chương trình Ngữ văn, song không mới trong
giao tiếp. Như chúng ta đã biết, giao tiếp là nhu cầu tất yếu của con người
trong đời sống cộng đồng. Giao tiếp giúp con người chia sẽ nhiều thông tin,
hiểu người hiểu mình, kết giao nhiều mối quan hệ tốt đẹp với bạn bè đồng
thời cũng hạn chế mâu thuẫn xã hội giúp con người cảm thông chia sẻ khó
khăn trong cuộc sống. Để giao tiếp đạt hiệu quả cao thì người giao tiếp cần có
những kĩ năng cơ bản như: kĩ năng nói, kĩ năng nghe, kĩ năng quan sát…
trong đó kĩ năng nói đóng một vai trò vô cung quan trọng. Văn bản thuyết
minh có vai trò và tác dụng quan trọng trong đời sống xã hộị đặc biệt là trong
giao tiếp. Đó là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm
cung cấp tri thức, thông tin về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân… của các sự
vật và hiện tượng trong tự nhiên, trong xã hội bằng cách trình bày, giới thiệu


và giải thích vấn đề. Trong nhà trường văn bản thuyết minh có vai trò giúp
học sinh nắm bắt được các sự vật, hiện tượng, vấn đề trong đời sống qua đó
rèn luyện kĩ năng tạo lập văn bản. Kĩ năng tạo lập văn bản thuyết minh gồm
cả hai kĩ năng nói và viết. Việc rèn luyện kĩ năng viết và kĩ năng nói là rất
quan trọng trong dạy học về văn bản thuyết minh.
Trong giờ dạy học Làm văn thuyết minh của giáo viên ở trường THPT
cũng đã đã chú trọng đến việc rèn luyện kĩ năng nói và kĩ năng viết cho HS.
Tuy nhiên, hệ thống bài tập chưa phong phú, đa dạng vẫn chủ yếu là bài tập
rèn luyện kĩ năng viết, mà bài tập rèn luyện kĩ năng nói chưa đạt hiệu quả cao.
Về phía học sinh, qua khảo sát cho thấy KNN của học sinh rất kém.
Điều này thể hiện ở nhiều phương diện như: khi học sinh trả lời câu hỏi của
giáo viên không có tính lập luận, bài tập chưa biết thuyết trình. Mặt khác, khi
giao tiếp với mọi người trong gia đình, với thầy cô và bạn bè chưa linh hoạt,
còn lúng túng thiếu tự tin. Nguyên nhân chủ yếu được xác định là do bản thân
học sinh chưa có ý thức rèn luyện, phát triển KNN; gia đình, nhà trường cũng
chưa chú trọng tới vấn đề này; bên cạnh đó là sự chi phối của đặc điểm tâm lí,
tính cách của từng học sinh không giống nhau; văn hóa từng vung miền khác
nhau.
Là một sinh viên sư phạm Ngữ văn, việc nghiên cứu sự phát triển KNN
của học sinh thông qua hệ thống bài tập để giúp phát huy năng lực học sinh là
điều vô cung cần thiết. Đồng thời, trước yêu cầu của thời đại, nhu cầu học tập
và nghiên cứu trở thành điều tất yếu với mỗi sinh viên. Xuất phát từ những
vấn đề lí luận và thực tiễn nói trên, xuất phát từ nhu cầu cần tìm tòi đổi mới
phương pháp dạy học làm văn nên tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu: “Xây
dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh THPT trong Làm
văn thuyết minh”.


2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Các tài liệu nghiên cứu về kĩ năng nói
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu của các nhà lí luận dạy học về
vấn đề KNN đã được giới thiệu rộng rãi trên các sách nghiên cứu, tài liệu bồi
dưỡng giáo viên, tạp chí chuyên ngành.
Cuốn “Phương pháp dạy học Văn” tập 2 (Phan Trọng Luận) và
“phương pháp dạy học Tiếng Việt ” (Lê A) có một phần dành riêng cho việc
hướng dẫn phương pháp dạy học làm văn và xem quan điểm giao tiếp là cơ sở
lí thuyết quan trọng với hoạt động dạy học phân môn này. Tác giả giáo trình
cho rằng cần tạo được nhu cầu giao tiếp cho học sinh và tạo được môi trường
giao tiếp tốt bởi học sinh luôn muốn được nói, được trình bày, được tranh
luận những điều mà mình biết, mình nghĩ. Giáo viên phải biết khơi gợi nhu
cầu đó và tạo một môi trường giao tiếp tự nhiên để các em có điều kiện bộc lộ
mình. Những gợi ý trong hai cuốn giáo trình chính là những hướng dẫn quan
trọng về mặt phương pháp thực hành đối với cả sinh viên và những giáo viên
trực tiếp đứng lớp. Tuy nhiên cả hai cuốn giáo trình mới chỉ dừng lại ở những
gợi ý về mặt phương pháp chứ chưa có sự triển khai cụ thể phương pháp rèn
luyện KNN cho học sinh.
Nguyễn Quang Ninh đã bàn đến việc rèn luyện KNN theo hướng giao
tiếp trong công trình “Một số vấn đề dạy học ngôn bản nói và viết ở tiểu học
theo hướng giao tiếp”. Tác giả khẳng định “Bất cứ một ngôn bản nào cũng
phục vụ cho việc giao tiếp... Bài tập làm văn của học sinh được được giả định
phục vụ cho việc giao tiếp cũng phải tính toán đến nhân tố giao tiếp, đối
tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp...” [10, tr.32]. Tác giả đã đề cập cụ thể
dạy làm văn nói và viết theo quan điểm giao tiếp.
Hay trong “Rèn luyện kĩ năng nói trong việc sử dụng tiếng Việt”
Nguyễn Quanh Ninh cũng đã khẳng định “Việc xem hoạt động ngôn ngữ


trong giao tiếp là mục đích của việc dạy tiếng Việt đã làm cho cách tổ chức
giảng dạy phải xây dựng được những tình huống thực” [10, tr.55]. Ở đây quan
điểm giao tiếp và hướng tới mục đích giao tiếp đã được nhấn mạnh.
Bài viết “Về việc dạy học Làm văn theo định hướng giao tiếp” của tác
giả Lê Thị Minh Nguyệt đã hướng đến mục đích cuối cùng nâng cao năng lực
sử dụng tiếng mẹ đẻ, giúp học sinh nâng cao kĩ năng sử dụng ngôn ngữ thành
năng lực ngôn ngữ. Song quan điểm này chỉ bước đầu khơi gợi việc vận dụng
quan điểm giao tiếp vào từng hoạt động kĩ năng Làm văn.
Trong đề tài Khoa học và Công nghệ “Một số biện pháp nâng cao hiệu
quả rèn kĩ năng nói cho học sinh tiểu học ở môn tiếng Việt” của Viện Khoa
học Giáo dục Việt Nam (mã số V2007-06) tác giả Trần Thị Hiền Lương đã
xác định được các biện pháp dạy học rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh, xuất
phát từ đặc điểm lứa tuổi học sinh tiểu học, từ lí luận dạy học hiện đại theo
hướng tăng cường thực hành, luyện tập. Trong đề tài này, tác giả đã đưa ra
các biện pháp rèn luyện kĩ năng nói như rèn kĩ năng phát âm, rèn kĩ năng nói
độc thoại, hội thoại cho học sinh mà chủ yếu là năng lực nói và viết.
Bàn về rèn luyện KNN, tài liệu “Kỉ yếu hội hội nghị khoa học 2008
nâng cao năng lực giảng dạy” nghiên cứu khoa học trong trường Đại học và
trường THPT 2008 của trường Đại học Cần Thơ có bài viết của Đặng Kim
Thanh, trường Đại học Sài Gòn có “Một số ý kiến về kĩ năng nói của sinh viên
Ngữ văn”. Theo tác giả việc xác định và rèn luyện kĩ năng nói là một vấn đề
thiết thực, yếu tố đầu tiên đối với sinh viên sư phạm Ngữ văn và sinh viên
Ngữ văn. Tuy nhiên, khi tác giả đề xuất biện pháp thì chưa khả thi, chỉ mang
tính tiền đề và cần phải được tiếp tục “nghiên cứu, hoàn thiện” [9, tr.136]
trong dạy học Ngữ văn của nhà trường.
Ngoài ra, trong giáo trình “Phương pháp dạy học Văn”, tập 2, năm
2007, Phan Trọng Luận (chủ biên) đã đề xuất một số phương pháp dạy học


cho từng phân môn cụ thể của môn Văn học. Tác giả đã nêu lên thực trạng
vấn đề và nhận thức được tầm quan trọng giờ làm văn nói. Đó sẽ là cơ hội tốt
để rèn luyện học sinh bằng lời nói nhưng khi tác giả đưa ra cách tổ chức dạy
học thì giáo viên cho “cả lớp chuẩn bị một chủ đề nhưng nhưng giáo viên chỉ
định một vài học sinh chuẩn bị kĩ và trình bày trước lớp” [11, tr.185]. Tuy
nhiên, những vấn đề này chưa thực hiện được.
Thêm vào đó, “Giáo trình phương pháp dạy và học kĩ năng làm văn”,
2009 của Mai Thị Kiều Phượng gồm có ba phần: Phương pháp dạy và học kĩ
năng lựa chọn- tư duy và kĩ năng lựa chọn viết trong làm văn của phần 2,3.
Đáng chú ý ở phần 1, tác giả nêu lên những lí thuyết về giao tiếp, tác giả cho
rằng nói là một phương tiện, một công cụ, một phương pháp rất hiệu quả để
phục vụ cho việc dạy và học Làm văn. Tuy nhiên, tác giả trình bày một vấn
đề chỉ mang tính chất khái quát.
Vì vậy, điều đó cần phải phân tích cụ thể, rõ ràng hơn và đưa những
biện pháp để giúp giáo viên và học sinh làm sao có thể biết cách xác đinh mục
đích và chủ đề mà mình nói, từ đó có thể lựa chọn ngôn ngữ lời nói một cách
linh hoạt để đảm bảo quá trình luân phiên lượt lời trong giao tiếp. Đây là
những vấn đề mà chúng tôi sẽ hướng đến trong bài nghiên cứu này.
Giáo trình “Phong cách học Tiếng Việt”, 2006 của Đinh Trọng Lạc
(chủ biên) đã có những đóng góp thiết thực về nghiên cứu các phong cách
chức năng trong lời nói Tiếng Việt. Phong cách hành chính, phong cách khoa
học, phong cách báo chí, phong cách chính luận, phong cách khẩu ngữ, phong
cách chức năng (lời nói nghệ thuật). Đây là một tài liệu rất quan trọng cho cả
giáo viên và học sinh. Vì tìm hiểu các phong cách học tiếng Việt để có cở sở
để lựa chọn ngôn ngữ lời nói và vận dụng cho phu hợp với hoàn cảnh và mục
đích giao tiếp. Bên cạnh đó, tài liệu “Một số kinh nghiệm dạy giảng Văn ở cấp
2 phổ thông”, 1979, nhà xuất bản Giáo dục, tài liệu ghi rõ các giáo viên rất


chú trọng tìm ra những biện pháp để rèn luyện các kĩ năng cho học sinh trong
giờ giảng Văn. Bên cạnh rèn luyện tư duy thì việc rèn luyện cách diễn đạt
được các giáo viên phân tích khá kĩ, rèn luyện kĩ năng diễn đạt được các giáo
viên phân tích khá kĩ, rèn luyện kĩ năng diễn đạt chủ yếu thông qua luyện đọc
và luyện phát biểu, bình giảng. Giáo viên luyện đọc bằng cách “Uốn nắn học
sinh có tư thế thật nghiêm chỉnh, đàng hoàng đĩnh đạc. Nhất thiết phải đọc to,
rõ ràng”. Song tài liệu này mới chỉ đề cập đến phạm vi là phần giảng Văn chứ
chưa đề cập đến phần tiếng Việt và phần Làm văn.
2.2. Các tài liệu nghiên cứu về dạy học văn bản thuyết minh
Để xây dựng được hệ thống bài tập rèn luyện KNN cho học sinh trong
văn bản thuyết minh, chúng tôi khảo sát và tìm hiểu qua các công trình nghiên
cứu về văn bản thuyết minh.
Trong giáo trình “Làm văn” (SGK chương trình đào tạo giáo viên hệ
cao đăng Sư phạm, NXB Giáo Dục, 2001) của nhóm tác giả Lê A (chủ biên),
Nguyễn Trí đã giới thiệu khái quát về văn bản thuyết minh, về hệ thống kiến
thức, kĩ năng, cơ bản của kiểu bài thuyết minh. Các tác giả còn dành một số
trang để giới thiệu những kiểu bài thuyết minh thường gặp trong cuộc sống.
Tuy nhiên, công trình này chưa đề cập đến việc xây dựng hệ thống bài tập rèn
luyện kĩ năng nói cho học sinh trong văn bản thuyết minh.Và trong giáo trình
“Làm văn” (NXB Giáo Dục, HN, 2008) PGS.TS Đỗ Ngọc Thống (chủ biên)
cung các tác giả đã nêu lên khái niệm văn bản thuyết minh, các đặc điểm của
văn bản thuyết minh và còn đề cập đến phương pháp thuyết minh.
Trong làm văn Thuyết minh chủ yếu vẫn là rèn luyện cho HS kĩ năng
viết đoạn văn thuyết minh mà chưa chú trọng đến việc rèn luyện kĩ năng nói
cho HS trong văn bản thuyết minh. Sách giáo khoa Ngữ văn 10 dạy về văn
bản thuyết minh nhưng hệ thống bài tập chỉ chung chung và chưa có bài tập
rèn kĩ năng nói.


Vì vậy, chúng tôi thấy cần thiết nghiên cứu về đề tài: Xây dựng hệ
thống bài tập rèn luyện kĩ nói cho học sinh THPT trong Làm văn thuyết
minh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài nhằm mục đích đề xuất hệ thống bài tập rèn luyện
KNN cho HS trong Làm văn thuyết minh nhằm nâng cao hiệu quả trong dạy
học Làm văn thuyết minh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi xác định đề tài nghiên cứu với những nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu để kế thừa và giải quyết đề tài
- Xác định cở sở lí luận và cơ sở thực tiễn
- Xây dựng hệ thống bài tập văn thuyết minh nhằm phát triển kĩ năng
nói cho học sinh
- Tổ chức thực nghiệm và rút ra kết luận khoa học.
4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
4.1. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về hệ thống bài tập rèn luyện KNN. Trong dạy học văn
thuyết minh. Tiến hành nghiên cứu những nội dung dạy học về văn bản thuyết
minh trong SGK Ngữ văn 10.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là xây dựng hệ thống bài tập trong văn
bản thuyết minh nhằm rèn luyện KNN cho học sinh THPT.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu vấn đề mà luận văn đặt ra, chúng tôi kết hợp vận dụng
tổng hợp các phương pháp thực nghiệm sau:


5.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu lịch sử vấn đề và phát
hiện, rút ra những kết luận cần thiết về cở sở lí luận thông qua tìm hiểu các tư
liệu, tạp chí, giáo trình, các bài nghiên cứu thuộc lĩnh vực Ngôn ngữ học, tâm
lí học, lí luận và phương pháp dạy học Văn… có liên quan trực tiếp đến phạm
vi đề tài.
5.2. Phương pháp điều tra, khảo sát
Phương pháp này được sử dụng để thu thập những tư liệu thực tế và
tình hình dạy học Làm văn đang diễn ra ở trường THPT.
5.3. Phương pháp thực nghiệm
Ở đề tài này, do mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu việc thực nghiệm sẽ
ở
phạm vi tổ chức dạy thực nghiệm hệ thống bài tập văn thuyết minh Ngữ văn
10.
5.4. Phương pháp thống kê
Phương pháp thống kê được sử dụng để xử lí các số liệu thu thập trong
quá trình khảo sát, thực nghiệm, bổ trợ cho phương pháp phân tích, tổng hợp
nhằm đạt tới những kết luận chính xác và khách quan.
5.5. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Phương pháp này được dung để xem lại những thành quả của hoạt động
thực tiễn trong quá khứ để rút ra những kết luận bổ ích cho thực tiễn và khoa
học.
6. Bố cục khóa luận
Gồm có 3 phần như sau:
Phần mở đầu: Phần này trình bày những vấn đề khái quát về đề tài
nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, nêu rõ lí do chọn đề tài, lịch sử vấn đề,
phương pháp nghiên cứu.
Phần nội dung: Phần nội dung của khóa luận được chúng tôi triển khai
trong 3 chương cụ thể như sau:


Chương 1: Cơ sở khoa học của việc xây dựng hệ thống bài tập rèn
luyện kĩ năng nói cho học sinh THPT trong Làm văn thuyết minh
Chương 2: Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh THPT
trong Làm văn thuyết minh
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
Phần kết luận: Tóm tắt lại vấn đề và nêu hướng áp dụng để rèn luyện
kĩ năng nói cho học sinh THPT.


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG
BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH THPT
TRONG LÀM VĂN THUYẾT MINH
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1. Một số nội dung cơ bản của lí thuyết giao tiếp đối với việc phát
triển năng lực nói cho học sinh THPT
1.1.1.1. Kĩ năng nói cho học sinh THPT dưới góc nhìn của lí thuyết giao
tiếp
- Từ khái niệm giao tiếp đến khái niệm kĩ năng nói
Lí thuyết giao tiếp chỉ ra rằng giao tiếp là một hoạt động cơ bản của
con người. Đó là hoạt động sử dụng ngôn ngữ và các yếu tố phi ngôn ngữ
nhằm trao đổi thông tin giữa các thành viên trong cộng đồng xã hội, qua đó
truyền đạt những tri thức, tư tưởng, tình cảm, thái độ đối với nhau và đối với
điều được truyền đạt. Khái niệm giao tiếp bắt nguồn từ từ “communis” trong
tiếng Latinh, có nghĩa là “chung”, “được chia sẻ”. Và giao tiếp được hiểu là
“quá trình tạo ra sự hiểu biết chung qua hoạt động truyền đạt, chia sẽ thông
tin giữa người này với người khác” [3, tr.2].
Phương tiện quan trọng nhất, phổ biến nhất để thực hiện hoạt động giao
tiếp là ngôn ngữ. Ngôn ngữ tồn tại ở hai dạng nói và viết. Vì vậy, nếu phân
tách hoạt động giao tiếp dựa trên tính chất của phương tiện giao tiếp chúng ta
có giao tiếp bằng ngôn ngữ nói (giao tiếp bằng lời nói) và giao tiếp bằng ngôn
ngữ viết (giao tiếp bằng văn bản). Trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận,
chúng tôi quan tâm đến hoạt động giao tiếp bằng lời, mà cụ thể hơn là vấn đề
KNN.


Có nhiều công trình nghiên cứu về kĩ năng và đưa ra nhiều khái niệm
khác nhau về nó. Theo Lê A- Nguyễn Trí, quan niệm về kĩ năng được hiểu
như một khả năng của con người có thể hoàn thành các nhiệm vụ trong những
điều kiện mới, dựa trên những tri thức và kinh nghiệm đã được tích lũy và
một loạt các kĩ xảo trong mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong quá trình lĩnh
hội và sáng tạo văn bản, kĩ năng và kĩ xảo luôn có mối quan hệ biện chứng
với nhau.
Như vậy, kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được
trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế. Với tinh đó mục tiêu của chương trình
Ngữ văn đổi mới tiếp tục hình thành và rèn luyện cho học sinh những kĩ năng
cơ bản nghe, nói, đọc, viết. Qua đó cho thấy, kĩ năng nói đóng vai trò quan
trọng trong dạy học Ngữ văn.
KNN là một trong bốn kĩ năng sử dụng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc ,viết),
xoay quanh khái niệm KNN là hành động tạo ra các thông điệp với sự đa
dạng về giọng điệu, chuẩn mực về phát âm, sử dụng phu hợp các tín hiệu
không lời để thực hiện giao tiếp hiệu quả. Tác giả Đinh Thanh Huệ cho rằng,
KNN là khả năng sử dụng âm thanh ngôn ngữ của con người để chuyển tải
hiệu quả một nội dung, thông điệp của mình đến người nghe có cung một tín
hiệu âm thanh- ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp. Theo tác giả Nguyễn Trí
[120], nói là hoạt động phát tin nhờ sử dụng bộ máy phát âm. Trước hết,
người nói phải xác định nội dung lời nói, lựa chọn ngôn ngữ để diễn tả nội
dung. Sau đó, sử dụng bộ máy phát âm để truyền đi chuỗi lời nói đã được xác
định. KNN thể hiện ở kết quả đạt được của hoạt động giao tiếp, ở sự hiểu biết,
trình độ văn hóa, phép lịch sự của con người bộc lộ qua lời nói và các yếu tố
phi ngôn ngữ.
Những quan niệm trên đây cho thấy các tác giả có hai cách tiếp cận
khái niệm KNN. Cách thứ nhất xem KNN là hành động sử dụng ngôn ngữ và


những yếu tố phi ngôn ngữ của con người nhằm đạt hiệu quả trong quá trình
giao tiếp. Cách thứ hai xem KNN là khả năng truyền tín hiệu ( bằng lời nói
hoặc không lời) của con người để chuyển tải hiệu quả một nội dung, thông
điệp của mình đến người nghe.
Từ việc luận giải, kế thừa chọn lọc các quan niệm về KNN, chúng tôi
cho rằng: KNN là hình thức biểu hiện của năng lực giao tiếp bằng lời, dạng
hành động được thực hiện một cách tích cực, tự giác dựa trên sự kết hợp
nhuần nhuyễn giữa tri thức về ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ lời nói), những
hiểu biết về văn hóa, xã hội (liên quan đến hoạt động giao tiếp bằng lời)... và
những điều kiện sinh học- tâm lí của một cá thể (nhu cầu, tình cảm,ý chí, tính
tích cực cá nhân...) để đạt được mục đích giao tiếp đặt ra.
- Từ các nhân tố trong hoạt động giao tiếp đến các bước thực hiện kĩ năng
nói
Các nhân tố trong hoạt động giao tiếp đều tác động trực tiếp hoặc gián
tiếp đến việc tổ chức, xây dựng lời nói và có những ảnh hưởng quan trọng đến
hiệu quả giao tiếp. Các nhân tố giao tiếp bao gồm: Nhân vật giao tiếp, đối
tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp... Những điều kiện để
nói hiệu quả: nội dung bài nói tốt; hiểu biết sâu rộng, kĩ càng về nội dung
trình bày; xác định đúng đối tượng nói và mục đích nói; người nói phải có uy
tín; giọng nói tốt...
1.1.1.2. Phát triển kĩ năng nói cho học sinh THPT dưới góc nhìn của lí
thuyết dạy học hiện đại
- Khái niệm phát triển kĩ năng nói cho học sinh THPT
Khái niệm “phát triển” có thể được tiếp cận dưới các góc độ khác nhau
của nhiều ngành khoa học như: Triết học, kinh tế học, tâm lí học, giáo dục
học... Có thể thấy, nội hàm của khái niệm phát triển là khá rộng và có sự thay
đổi theo phạm vi, góc độ tiếp cận của mỗi ngành khoa học. Tuy nhiên, cốt lõi


của nội hàm này chính là “mở mang rộng ra, làm cho mạnh hơn lên, tốt hơn
lên so với một thời điểm cụ thể trước đó”.
Phát triển kĩ năng được hiểu là quá trình tăng lên về chất trong một
dạng hành động của con người được thực hiện dựa trên sự kết hợp nhuần
nhuyễn giữa các mặt tri thức, kĩ năng hành động và những điều kiện sinh họctâm lí của một cá thể (nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân...) để đạt
được kết quả theo mục đích đặt ra.
Phát triển kĩ năng nói cũng mang tính đặc thu của quá trình phát triển kĩ
năng, cần được xem xét trong mối quan hệ biện chứng. Vì vậy, khi quan tâm
phát triển các kĩ năng ngôn ngữ phải đảm bảo tính đồng bộ, toàn diện không
nên tách biệt tuyệt đối. Sự phát triển của kĩ năng này sẽ là cơ sở, tiền đề để
phát triển kĩ năng kia. Do đó, chúng tôi quan niệm phát triển kĩ năng nói tuy
là sự phát triển bộ phận nhưng vẫn có mối quan hệ chặt chẽ với các kĩ năng
ngôn ngữ khác (nghe, đọc, viết).
- Phát triển kĩ năng nói cho học sinh trong dạy Làm văn trước xu thế đổi mới
nội dung chương trình phương pháp dạy học
Lí luận dạy học hiện đại khẳng định việc đổi mới phương pháp dạy học
là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của ngành giáo dục, một trong
những biện pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường
hiện nay. Phân môn Làm văn có một vị trí, vai trò quan trọng đối với quá
trình hình thành năng lực giao tiếp cho học sinh. Với sứ mệnh đó, Làm văn
cần phải được quan tâm, đầu tư về nội dung và phương pháp ở mức cao nhất
vì hiệu quả của dạy học Làm văn xét đến cung chính là hiệu quả của toàn bộ
việc dạy Ngữ văn. Xuất phát từ bản chất đặc thu của Làm văn gắn với thực
hành nên có thể thấy hoạt động dạy làm văn phải lấy thực hành làm hoạt động
chủ đạo để học sinh lĩnh hội kiến thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo. Người
giáo viên cũng nên giảm thiểu lối thuyết giảng thuần túy, vận dụng linh hoạt


các phương pháp, biện pháp dạy học vào những tình huống cụ thể, tạo cơ
hôi tương tác với học sinh. Như vây, việc đổi mới phương pháp dạy học Làm
văn theo quan điểm giao tiếp là tiền đề quan trọng để phát triển năng lực
giao tiếp, cũng là phát triển KNN cho người học.
1.1.2. Xác định những kĩ năng bộ phận của KNN cần phát triển cho học sinh
THPT
1.1.2.1. Căn cứ xác định các kĩ năng bộ phận của KNN
- Xuất phát từ đặc điểm của cấu trúc hội thoại trong giao
tếp
Lí thuyết hội thoại đã chỉ ra các đơn vị cấu trúc của hội thoại từ lớn
đến nhỏ bao gồm: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại, hành vi
ngôn ngữ. Trong phạm vi nghiên cứu, khóa luận chỉ quan tâm đến cấu trúc
của cuộc thoại. Theo đó cấu trúc của cuộc thoại thường gồm ba phần: mơ
đầu, phát triển và kết thúc. Với một bài thuyết trình, cấu trúc này có ý nghĩa
định dạng, tạo ấn tượng về một sự hoàn chỉnh, trọn vẹn khi trình bày một
vấn đề.
Phần phát triển là phần quan trọng nhất của một bài nói, một cuộc
giao tếp. Phần này có nhiệm vụ triển khai những nội dung chính được giới
thiệu ơ phần mơ đầu. Phần phát triển có nhiệm vụ cụ thể hóa những thông
tin đó, thuyết phục người nghe bằng những chi tiết cụ thể, đáng tin cậy. Để
đáp ứng yêu cầu tiếp nhận thông tin từ phía người nghe, phần phát triển
thường phong phú về mặt nội dung, đa dạng về hình thức thể hiện, bám sát
mục đích nói. Phần phát triển của một bài trình bày hay một cuộc thoại có
thể chỉ hướng tới một mục đích, có thể hướng tới nhiều mục đích khác nhau,
ứng với từng nội dung cụ thể. Vì vậy, để thực hiện tốt phần phát triển của
một cuộc thoại hay một bài trình bày, người nói cần làm chủ kĩ năng như hỏi
đáp, thông báo, thảo luận, thuyết phục. Phần kết thúc thường làm nhiệm vụ
tóm tắt lại những vấn đề đã giải quyết ơ phần phát triển giúp người nghe dễ


khắc sâu ghi nhớ. Phần kết thúc cũng có thể là sự gợi mơ vấn đề hướng
người nghe đến suy nghĩ mới,


hay đưa ra lời kêu gọi hành động, lời hứa hẹn, lời chúc…. Để thực hiện
phương châm lịch sự trong giao tếp, nên tránh cách kết thúc bất ngờ, đơn
phương. Trong trường hợp này xảy ra, người nói phải tìm được lí do để
người nghe có thể chấp nhận
- Xuất phát từ định hướng rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh trong chương
trình giáo dục phổ thông
Theo định hướng của chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn ơ
Việt Nam, học sinh từ lớp 1 đến lớp 12 sẽ được rèn luyện 5 kĩ năng nói bộ
phận:1 là, sử dụng nghi thức lời nói; 2 là, đặt và trả lời câu hỏi; 3 là, thuật
việc , kể chuyện; 4 là, trao đổi, thảo luận; 5 là, phát biểu, thuyết trình. Ở bậc
Tiểu học, học sinh tập chung rèn luyện các kĩ năng nói 1,2,3, bước đầu làm
quen kĩ năng 4,5. Ở bậc Trung học cơ sơ, học sinh tập chung rèn luyện các kĩ
năng nói 2,3,4,5. Lên bậc THPT, các kĩ năng nói 2,3,4 sẽ được chú trọng hơn.
Đó là những chủ trương đúng thể hiện khi xây dựng chương trình môn học.
Tuy nhiên trong thực tiễn triển khai, do bị chi phối bơi nhiều nguyên
nhân khác nhau (nội dung dạy học, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh
giá…), nên việc chú trọng rèn luyện KNN cho học sinh ơ các bậc học là chưa
đồng đều.
1.1.2.2. Những kĩ năng bộ phận cần phát triển cho học sinh
- Kĩ năng dẫn nhập
Là kĩ năng giới thiệu vấn đề, khơi đầu cho cuộc giao tiếp của người nói
nhằm thu hút sự chú ý của người nghe.
- Kĩ năng thông báo
Là kĩ năng cung cấp các kĩ năng thông tn của người nói giúp người
nghe có thêm những hiểu biết nhất định về vấn đề được trình bày.
- Kĩ năng trao đổi thảo luận


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×