Tải bản đầy đủ

Chuyên đề tốt nghiệp: Xây dựng mô hình hương ước, quy ước bảo vệ môi trường với sự tham gia của cộng đồng tại làng Lụa, Vạn Phúc, Hà Đông, TP. Hà Nội




Danh mục chữ viết tắt.
Danh mục bảng biểu.
Danh mục hình.
MỤC LỤC


LỜI MỞ ĐẦU
1. lý do chọn đề tài
Làng Vạn Phúc thuộc quận Hà Đông thành phố Hà Nội được biết đến là môt 
1 trong hơn 1000 làng nghề truyền thống đã và đang tồn tại  ở Việt Nam. Làng lụa  
Vạn Phúc có 9.420 nhân khẩu, trong đó có gần 3.000 người tham gia nghề dệt. Hiện  
nay, Vạn Phúc có khoảng 400 lao động thời vụ  từ  quanh vùng đến đây làm việc. 
Cửa hàng bán lụa tơ  tằm mọc lên ngày càng nhiều, hình thành ba dãy phố  lụa với 
trên 100 cửa hàng nhằm đáp  ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách. Trong những  
năm qua, cùng với quá trình phát triển kinh tế­xã hội, đời sống nhân dân ngày càng 
cải thiện và khởi săc. Tuy nhiên, cùng với đó nhiều vấn đề  ô nhiễm môi trường  
phát sinh ngày càng phức tạp. Tình trạng ô nhiễm môi trường chủ yếu do q uá trình 
sản xuất dẫn đến ô nhiễm môi trường  ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng khiến  

cho môi trường sống tại phường Vạn Phúc ngày càng xuống cấp.
Bảo vệ  môi trường sống là trách nhiệm của cộng đồng và hơn hết là của  
người dân, đó không phải là điều mới mẻ, thế nhưng chưa mấy ai làm được nhất là 
đối với những người dân đã quen với công việc hằng ngày của mình được truyền  
từ  thế  hệ  này sang thế  hệ  khác. Thực trạng này đã và đang xảy ra trên địa bàn  
phường Vạn Phúc. Do điều kiện sống, tập quán, và ý thức bảo vệ môi trường còn 
hạn chế nên lâu nay, người dân vẫn xả rác, nước thải từ quá trình sản xuất ra ngoài  
môi trường trong nhiều năm qua, chính quyền địa phương luôn vận động, tuyên 
truyền nâng cao ý thức giữ  gìn vệ  sinh môi trường sống trong nhân dân. Quá trình  
xả thải khí thải, nước thải, rác thải sau quá trình sản xuất không được xử  lý gây ô  
nhiễm môi trường, đặc biệt trong đó là việc xả nước thải trực tiếp từ quá trình sản  
xuất ra ngoài môi trường. Tuy nhiên việc chuyển biến trong hành động của người  
dân còn rất chậm.
Hương ước bảo vệ môi trường ( BVMT) được xây dựng trên cơ sở tham gia  
và đồng thuận của tất cả  các thành viên trong cộng đồng dân cư  tại địa phương, 
nhằm tuyên truyền vận động, giáo dục nhân dân xóa bỏ  các hủ  tục, thói quen mất  


vệ sinh, có hại cho môi trường. Đồng thời hương ước BVMT có tác dụng nâng cao 
trách   nhiệm   tính   tự   lực   của   từng   người   dân   đối   với   nhiệm   vụ   BVMT   tại   địa 
phương, làm cho que hương làng xóm ngày càng xanh­ sạch­ đẹp, nhằm nâng cao  
chất lượng cuộc sống cho cả cộng đồng. Bên cạnh đó, góp phần thực hiện tốt và  
đạt tiêu chí 17 về môi trường trong bộ chỉ tiêu quốc gia về nông thôn mới.
Việc xây dựng hương  ước, quy  ước bảo vệ  môi trường  ở  thôn, xã cần có 
tham gia của cộng đồng trong việc phân tích hiện trạng môi trường tại địa phương, 
xác định những hành động và quy định nhằm cải thiện và bảo vệ môi trường. Đặc 
điểm quan trọng của mô hình này là tập trung vào sự  tham gia của cộng đồng và 
long ghép các hoạt động truyền thong và nâng cao nhận thức cộng đồng trong tất cả 
các giai đoạn của dự  án Hương  ước, quy  ước gồm những quy định cụ  thể  về  vệ 
sinh nơi  ở và những khu vực chung, quản lý rác thải, khí thải nước thải, chất tẩy  
nhuộm, đồng thời quy định về việc bảo vệ hệ sinh thái và đa dạng sinh học.
Vì vậy trong báo cáo đồ  án tốt nghiệp em đã chọn đề  tài “   Xây dựng mô 
hình hương ước, quy ước bảo vệ môi trường với sự tham gia của cộng đồng  
tại làng lụa Vạn Phúc phường Vạn phúc, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.”
2. Vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu mô hình hương ước và quy ước bảo vệ môi trường tại làng Lụa  
Vạn Phúc Hà Đông.
Mô hình hương  ước quy  ước khi có sự  tham gia của cộng đồng, các yếu tổ 
tác động đến hương  ước quy  ước bảo vệ  môi trường tại làng Lụa Vạn Phúc Hà  
Đông.


3. Mục tiêu nghiên cứu:
Xây dựng được mô hình hương  ước, quy  ước bảo vệ  môi trường với sự 
tham gia của cộng đồng tại lang Lua Van Phuc ph
̀
̣
̣
́ ương Van Phuc, quân Ha Đông,
̀
̣
́
̣
̀
 
thanh phô Ha Nôi.
̀
́ ̀ ̣
4. Phương pháp nghiên cứu:


Nghiên  cứu dựa   trên  phương  pháp nghiên  cứu mô  tả,   sử  dụng kỹ   thuật 
phỏng vấn trực tiếp với những người có chức tránh tại làng Lụa Vạn Phúc Hà 
Đông, kết hợp việc phân tích, tổng hợp các số liệu tại địa phương để xây dựng mô  
hình nghiên cứu.
5. Nôi dung nghiêm c
̣
ứu
­  Hiện trạng môi trường tại lang Lua Van Phuc, ph
̀
̣
̣
́
ương Van Phuc, quân Ha
̀
̣
́
̣
̀ 

Đông, thanh phô Ha Nôi.
̀
́ ̀ ̣
­  Hiện trạng về  công tác quản lý môi trường tại phương Van Phuc, quân Ha
̀
̣
́
̣
̀ 

Đông, thanh phô Ha Nôi 
̀
́ ̀ ̣
­  Xây dựng hương ước, quy ước bao vê môi tr
̉
̣
ương v
̀ ới sự tham gia của cộng  

đồng tại lang Lua Van Phuc, ph
̀
̣
̣
́
ương Van Phuc, quân Ha Đông, thanh phô Ha Nôi.
̀
̣
́
̣
̀
̀
́ ̀ ̣
6. Kết cấu đề tài
Đề tài bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về hương ước quy ước.
Chương 2: Thực trạng việc thực hiện hương  ước quy  ước  ở làng Lụa Vạn Phúc  
Hà Đông.
Chương 3: Đề  xuấ  xây dựng mô hình hương ước quy  ước bảo vệ môi trường với  
sự tham gia của cộng đồng tại làng Lụa Vạn Phúc Hà Đông.


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HƯƠNG ƯỚC QUY ƯỚC
1.1. Tổng quan về hương ước và quy ước
1.1.1. Các khái niệm 

a. nguồn gốc hương ước
Mỗi người Việt Nam từ  trong tiềm thức có lẽ  ai cũng hiểu câu thành ngữ 
“phép vua thua lệ làng”. Lệ ­ là một từ Hán Việt; Làng là một từ Nôm dùng để chỉ 
một đơn vị  tụ  cư  nhỏ nhất nhưng nó chặt chẽ  và hoàn chỉnh nhất của người nông 
dân Việt. Trong các văn bản, để cho đơn giản, các nhà nghiên cứu thay vào đó chữ 
hương ước, khoán ước.
Như  vậy, hương  ước, khoán  ước hiểu một cách nôm na là lệ  làng. Nó là 
những quy ước liên quan đến mọi mặt đời sống của làng xã. Nó bao gồm cả những 
điều lệ được ghi chép  thành văn bản và những điều lệ không được ghi chép thành  
văn bản mà được truyền khẩu trong dân gian.
Các làng Việt trong thời kỳ phong kiến gọi là lệ làng thành văn bằng nhiều 
tên gọi khác nhau, do tục lệ   ở  mỗi nơi nên có thể  gọi là: hương  ước, khoán lệ; 
khoán ước; hương lệ; cựu khoán... Nhưng do được gọi bằng tên gì đi nữa thì trong 
mỗi bản đó đều bao gồm những quy ước liên quan đến đời sống mọi mặt của từng 
làng mà từ trước đến nay, chúng ta vẫn hay gọi bằng hai từ phổ biến hơn là:Hương 
ước và khoán ước.
Khoán  ước lần đầu tiên được chép trong Đại Việt sử  ký toàn thư  vào cuối 
đời Trần, năm 1370. Đến thế  kỷ  thứ  XV, nhất là dưới thời vua Lê Thánh Tông,  
thuật ngữ  khoán  ước – quy  ước của dân làng trở  nên tương đối phổ  biến. Khoán 
ước là một từ  Hán gốc được du nhập vào Việt Nam và đã được Việt hoá. Khoán  
(bằng cứ); ước (quy ước), từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, thuật ngữ này dần được 
thu hẹp lại.
Cũng như khoán ước, hương ước cũng là một từ nguyên Hán được du nhập  
vào Việt Nam. Từ  thế kỷ XV, hương  ước bắt đầu xuất hiện trong làng xã người  
Việt nhưng nó chỉ thấp thoáng, chưa phổ biến. Đến thế kỷ XVII, hương ước ngày  


càng được phổ biến, và nhất là đến thế kỷ XX, hương ước trở thành một thuật ngữ 
quen thuộc rộng rãi trong làng xã. Sự lên ngôi của hương ước đã tự nó làm mờ nhạt 
đi khoán  ước. Nhiều nơi không dùng thuật ngữ  khoán    ước. Hương  ước là sản 
phẩm của làng, nó là những quy  ước, những quy định được các thành viên trong  
làng xã cùng nhau tuân thủ, thực hiện.
   Hương  ước có nội dung phong phú, tuỳ  vào phong tục của từng làng. Nó 
quy định hầu hết các mặt hoạt động của làng xã người Việt như: Hội tư văn, tư võ,  
hội thiện, phe giáp, ngõ xóm cho đến cách tổ chức hoạt động của các thiết chế làng  
xã... Kể  cả  các hoạt động xã hội như  hội hè, đình đám, lễ  tế, khao vọng... và các 
hoạt động kinh tế. Đó là những quy  ước chung của hương  ước. Hương  ước của  
từng làng xã của người Việt bên cạnh những quy ước chung lại có những nét riêng 
phù hợp với phong tục tập quán của mỗi làng xã.
b. khái niệm:
Hương  ước là thuật ngữ  gốc Hán, khi du nhập vào Việt Nam nó vẫn được 
giữ nguyên nghĩa. Hương ước là những quy ước, điều lệ của một cộng đồng chung  
sống trong một khu vực. Là bản pháp lý đầu tiên của các làng xã nhằm góp phần 
điều hòa các mối quan hệ trong xã hội cộng đồng. Hương ước là bản ghi chép các 
điều lệ  (những quy tắc xử  sự  chung) mang tính bắt buộc phải tuân thủ, liên quan 
đến đời sống của cộng đồng dân cư  sinh sống trong làng. Các điều lệ  này hình 
thành dần trong lịch sử, được điều chỉnh và bổ  sung mỗi   khi cần thiết. Đến thời 
Trần (khoảng cuối thế  kỷ  XVII) Hương  ước  đã trở  nên khá phổ  biến trong hệ 
thống làng, xã Việt Nam . Hầu hết các Hương ước đều đề cập nội dung chính như: 
an ninh trật tự, quan hệ  ứng xử, công ích công lợi, thưởng phạt, đến việc cụ  thể 
bổn phận của con cái đối với cha mẹ, ông bà, vợ đối với chồng, anh đối với em… 
    Trước đây, Hương ước chủ yếu là do các vị có vai vế trong làng bàn bạc để xây 
dựng nên. Tuy nhiên, đến ngày nay, Hương ước cũng có đôi chút thay đổi. Theo quy 
định của Chỉ  thị  24/1998/CT­TTg về  xây dựng và thực hiện hương  ước, quy  ước  
của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư  do Chính Phủ  ban ngày 19/06/1998 tại điểm 2  
thì: “  Dự  thảo hương  ước, quy  ước phải được nhân dân trên địa bàn thảo luận,  
được hội nghị cử tri hoặc hội nghị đại biểu hộ gia đình ở  làng, bản, thôn, ấp, cụm  


dân cư thông qua và được ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt trước khi thi hành  
nhằm bảo đảm nội dung của hương  ước, quy  ước không trái với các quy định của  
pháp luật hiện hành, không chứa đựng các quy định xử phạt nặng nề, các khoản phí 
và lệ phí có thể  gây thiệt hại hoặc làm  ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp 
của công dân”. Như vậy, Hương ước ngày nay và trước đây mặc dù đã có sự  khác 
biệt trong thủ tục, quá trình tạo lập, ban hành, tuy nhiên, về nội dung và vai trò của  
Hương ước làng xã trong đời sống người dân Việt Nam ta về cơ bản vẫn không hề 
thay đổi.
1.1.2. Nội dung của hương ước quy ước

Hương ước bao gồm các nội dung chính sau:


Liên quan đến tổ chức nông nghiệp và môi trường sinh thái 



Cơ cấu tổ chức và các quan hệ xã hội trong làng xã



Giữ gin an ninh trật tự xã hội trong cộng đồng



Văn hóa, giáo dục, tổ chức thờ cúng



Đảo đảm các nghĩa  vụ sưu thuế, binh dịch của làng xã với nhà nước 



Khen thưởng và xử phạt trong việc tuân thủ các quy ước của làng xã

 

Đề ra các biện pháp, phương thức thích hợp giúp dân cư trên địa bàn tham gia 

quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, bảo đảm phát huy quyền tự  do, dân chủ  của  
nhân dân; động viên và tạo điều kiện để nhân dân thực hiện tốt các quyền và nghĩa 
vụ công dân;
­Bảo đảm giữ  gìn và phát huy thuần phong, mỹ tục, thực hiện nếp sống văn minh 
trong  ứng xử, giao tiếp, ăn,  ở, đi lại, xóa bỏ  hủ  tục, phát triển các hoạt động văn  
hóa lành mạnh, xây dựng và phát huy tình làng nghĩa xóm, đoàn kết, tương thân, 
tương ái, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng dân cư; thực hiện tốt các chính  
sách xã hội của Đảng và Nhà nước;
Đề ra các biện pháp góp phần bảo vệ tài sản Nhà nước, tài sản công cộng và  
tài sản công dân, bảo vệ  môi trường sống, bảo vệ  rừng, biển, sông, hồ, danh lam  


thắng   cảnh,   đền   chùa,   miếu   mạo,   các   nguồn   nước,   đê   điều,   đập   nước,   kênh 
mương, kè cống, đường dây tải điện; xây dựng và phát triển đường làng, ngõ xóm, 
trồng cây xanh;
Đề ra các biện pháp bảo vệ thuần phong, mỹ tục, bài trừ các hủ  tục, tệ nạn  
xã hội và mê tín dị  đoan trong việc cưới hỏi, việc tang, lễ  hội, thờ  phụng  ở  địa 
phương; khuyến khích những lễ  nghi lành mạnh, tiết kiệm, hạn chế ăn uống lãng 
phí, tốn kém;
Góp phần xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, xây dựng làng, 
thôn, bản,  ấp, cụm dân cư  văn hóa, hình thành các quy tắc đạo đức mới trong gia 
đình và cộng đồng; khuyến khích mọi người đùm bọc, giúp đỡ  nhau khi gặp khó 
khăn, hoạn nạn, ốm đau; vận động thực hiện các chính sách dân số – kế hoạch hóa 
gia đình, xây dựng các gia đình theo tiêu chuẩn gia đình văn hóa;
Xây dựng tình đoàn kết, tương thân, tương ái trong cộng đồng, vận động các  
thành viên trong gia đình, họ  tộc, xóm làng đoàn kết nhau để  xóa đói giảm nghèo,  
phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, khuyến học, khuyến nghề   ở  địa phương;  
vận động các thành viên trong cộng đồng tham gia tổ hợp tác, hợp tác xã nhằm phát  
triển sản xuất. Khuyến khích phát triển các làng nghề; đóng góp xây dựng cơ sở hạ 
tầng và các công trình phúc lợi công cộng: điện, đường, trường học, trạm xá, nghĩa 
trang, các công trình văn hóa thể  thao trên địa bàn. Lập, thu chi các loại quỹ  trong 
khuôn khổ pháp luật và phù hợp khả năng đóng góp của nhân dân.
Đề ra các biện pháp cụ thể bảo vệ trật tự, trị an trên địa bàn góp phần phòng 
chống các tệ nạn xã hội như ma túy, cờ bạc, rượu chè bê tha, trộm cắp, mại dâm và  
các hành vi khác vi phạm pháp luật nhằm xây dựng địa bàn trong sạch. Phát động  
trong nhân dân ý thức phòng gian, bảo mật, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật về 
tạm trú, tạm vắng; tham gia quản lý, giáo dục, giúp đỡ  những người lầm lỗi tại  
cộng đồng dân cư. Đề  ra các biện pháp cần thiết hỗ  trợ  cơ  quan có thẩm quyền 
phát hiện, xử  lý vi phạm pháp luật trên địa bàn; bảo đảm triển khai thực hiện các 
quy định của pháp luật về tổ  chức tự quản  ở cơ sở như Tổ hòa giải, Ban an ninh,  
Tổ bảo vệ sản xuất, Ban kiến thiết và các tổ chức tự quản khác;


Đề  ra các biện pháp thưởng, phạt phù hợp để  bảo đảm thực hiện hương 
ước:
   Hương ước quy định các hình thức và biện pháp khen thưởng đối với cá nhân, hộ 
gia đình có thành tích trong việc xây dựng và thực hiện hương ước như: lập sổ vàng 
truyền thống, nêu gương người tốt việc tốt, ghi nhận công lao, thành tích của tập  
thể, cá nhân; bình xét, công nhận gia đình văn hóa và các hình thức khen thưởng  
khác do cộng đồng tự  thỏa thuận hoặc đề  nghị  các cấp chính quyền khen thưởng  
theo quy định chung của Nhà nước.
  

Đối với những người có hành vi vi phạm các quy định của hương  ước thì 

chủ yếu áp dụng các hình thức giáo dục, phê bình của gia đình, tập thể cộng đồng, 
thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng  ở  cơ  sở. Trường hợp vi phạm 
nghiêm trọng các quy định của hương ước thì trên cơ sở thảo luận thống nhất trong 
tập thể  cộng đồng, có thể  buộc thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm trong phạm vi  
cộng đồng hoặc áp dụng các biện pháp phạt nhưng không được đặt ra các biện  
pháp xử  phạt nặng nề  xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tự  do, danh dự, nhân 
phẩm, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân. Trong hương ước không  
đặt ra các khoản lệ phí.
   

Hương  ước có thể  đề  ra các biện pháp nhằm góp phần giáo dục những  

người có hành vi vi phạm pháp luật bị  giáo dục tại xã, phường, thị  trấn; giáo dục, 
cảm hóa giúp đỡ  người phạm tội sau khi ra tù trở  thành người lương thiện, có ích 
cho xã hội.
  

 Những hành vi vi phạm pháp luật phải do các cơ quan có thẩm quyền xử lý  

theo quy định của pháp luật. Việc áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hương ước  
không thay thế các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật.
1.1.3.

Sự khác biệt giữa hương ước và pháp 

        Vốn có nguồn gốc từ phong tục, tập quán nên hương ước có một sức sống bền 
bỉ, lâu dài. Hương ước đã từng tồn tại song song với luật nước, từng giữ vai trò là  
công cụ  quan trọng để  điều chỉnh các mối quan hệ  trong cộng đồng dân cư  và để 
quản lý làng xã. Trong xã hội, mỗi người dân không những phải làm đúng phép 


nước mà còn phải tuân thủ  lệ  làng. Vậy giữa hương  ước và pháp luật có sự  khác  
biệt như thế nào?
Nội dung của hương ước đơn giản và gọn nhẹ hơn so với pháp luật. Bộ luật  
Hồng Đức có tới 722 điều quy định liên quan hầu hết đến các mặt của đời sống, 
còn một bản hương  ước của người Việt chỉ  gồm vài chục điều khoản liên quan 
đến một số mặt của đời sống làng mạc. Mỗi mặt của đời sống xã hội (ví dụ những 
quy định về hôn nhân gia đình), được luật pháp Nhà nước cụ  thể thành hàng chục,  
thậm chí hàng trăm điều khoản, trong khi đó,  ở  các bản hương  ước, vấn đề  này 
được ghi nhận trong một vài điều khoản ngắn gọn.
Trong văn bản pháp luật chỉ  quy định các hình thức xử  phạt, mà không có 
hình thức khen thưởng như  hương  ước. Điều này là do tính cưỡng chế  Nhà nước 
của các quy phạm pháp luật quy định. Nó khác với hương ước, ngoài tính áp đặt còn 
mang tính khuyến cáo, khuyên răn, khuyến thiện. Khung hình phạt của hương  ước 
thường đơn giản và ít mang tính nghiêm khắc hơn so với pháp luật. Hình phạt chính  
trong hương ước chủ yếu là phạt tiền; còn pháp luật thời kỳ phong kiến quy định 5 
hình phạt (ngũ hình) rất nghiêm khắc, đó là: suy (đánh bằng roi), trượng (đánh bằng  
gậy), đồ (bắt làm công việc nặng nhọc), lưu (đày ải đi nơi xa) và tử (phải tội chết).  
Tuy nhiên, việc xử  phạt theo hương  ước có nét tinh tế  là nó đánh vào tinh thần, 
danh dự không chỉ của cá nhân mà có khi còn là cả  gia đình, dòng họ; đánh vào cả 
những nỗi sợ hãi vô hình, những điều sâu thẳm trong tâm linh của con người, ví dụ 
như việc truất, hạ ngôi thứ, tẩy chay đám tang và cao nhất là việc đuổi ra khỏi làng. 
Hương ước nhiều khi còn được nhân dân coi trọng như một nghi lễ thiêng liêng.
Nhiều làng, xã vào dịp đầu xuân thường tổ  chức Lễ Minh thệ ­ Lễ ăn thề  ­  
tập hợp đông đảo dân làng đến chốn đình chung, hay những nơi linh thiêng của làng 
để nghe đọc hương ước và mọi người có mặt phải thề sẽ tuân thủ theo hương ước, 
nếu không sẽ bị thần linh trừng phạt. Trong tâm thức của người nông dân, việc tuân  
thủ theo các điều khoản của hương ước, tuy là những ràng buộc vô hình nhưng hữu 
hiệu mà không phải bất cứ quy phạm pháp luật nào cũng có được.
Trong hương  ước không có hình thức giảm tội cho bất kỳ  ai có hành vi vi 
phạm, cho dù người đó thuộc thành phần xuất thân và  có địa vị xã hội như thế nào  


trong làng. Trong khi đó, pháp luật phong kiến có quy định bát nghị, cho phép một số 
giai tầng trong xã hội (chủ  yếu là thân thích của hoàng tộc, các công thần) được  
giảm mức hình phạt khi phạm tội. Điều đó cho thấy tính bình đẳng của   hương  
ước rõ nét hơn so với pháp luật.
Hương  ước được xây dựng từ  những phong tục truyền thống rất thiết thực  
và gần gũi với mỗi cộng đồng làng. Chính bởi vậy, hương ước có tính bảo lưu lâu 
dài, ít thay đổi, mặt khác, nó được con người biết đến từ  tấm bé, do cách lưu  
truyền tự  nhiên từ  gia đình, từ  dòng họ  và trở  thành một thói quen, một nếp sống. 
Trong khi đó, pháp luật được hình thành do ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội,  
mang tính cưỡng chế và dễ thay đổi khi thể chế thay đổi. Đây chính là sự khác biệt  
cơ bản của hương ước và pháp luật.
1.1.4. Những chính sách của Nhà nuớc về Huơng uớc
Tại hội nghị lần V, Ban chấp hành Trung ương Đảng ( khóa VII) họp tháng 6  
năm 1993, Đảng chủ  trương khuyến khích xây dựng và thực hiện hương  ước, các 
quy chế về nếp sống văn minh ở các thôn xã.
Năm 1996, trong Nghị  quyết Đại hội Đảng lần VIII của Đảng Cộng sản  
Việt Nam đã nêu rõ cần phải phát huy và kế thừa hương ước cổ truyền trong việc  
quản lí nông thôn hiện nay.
Chủ  trương này sau đó đã được pháp luật hóa bằng Nghị  định 24CT/TTg 
ngày 19/6/1998 của Chính phủ chỉ thị cho các địa phương việc kế  thừa hương  ước  
cổ truyền trong việc soạn thảo hương ước nông thôn mới.
Để  phát huy yếu tố tích cực, khắc phục những hạn chế, tiêu cực của hương ước,  
quy ước, baảo đảm  triển khai thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Chỉ thị của Bộ 
Chính trị số 30/CT­TW ngày 18 tháng 2 năm 1998 về xây dựng và thực hiện quy chế 
dân chủ   ở  cơ  sở, tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với việc xây dựng và 
thực hiện hương ước, quy ước trong giai đoạn hiện nay,
Thủ tướng Chính phủ chỉ thị:
1. Nội dung của hương  ước, quy  ước cần tập trung vào một số  vấn đề  cơ 
bản sau đây:


Bảo đảm giữ  gìn và phát huy thuần phong, mỹ  tục, thực hiện các hành vi  ứng xử 
văn minh trong giao tiếp, ăn, ở, đi lại..., xóa bỏ hủ tục, phát triển các hình thức hoạt  
động văn hóa lành mạnh, phát huy tình làng nghĩa xóm, đoàn kết, tương thân, tương 
ái, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng dân cư;
Đề ra các biện pháp góp phần bảo vệ tài sản công cộng và tài sản của công  
dân, bảo vệ môi trường sống, bảo vệ, rừng, biển, sông, hồ, danh lam thắng cảnh,  
đền chùa, miếu mạo, các nguồn nước, đê điều, đập nước, kênh mương, kè cống.  
Xây dựng và phát triển đường làng, ngõ xóm, trồng cây xanh, chống ô nhiễm các 
nguồn nước... ở địa phương;
Đề ra các biện pháp bảo vệ thuần phong mỹ tục, bài trừ các hủ tục trong ma  
chay, cưới hỏi, thờ phụng, lễ hội v.v... ở địa phương;
Góp phần xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, đề  ra những tiêu chuẩn  
gia đình văn hóa, các quy tắc đạo đức mới, giúp đỡ nhau tìm ra các biện pháp xử lý  
tốt các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình;
Xây dựng tình đoàn kết, tương thân, tương ái trong cộng đồng, vận động các  
thành viên trong gia đình, họ  tộc, xóm làng đoàn kết nhau để  xóa đói giảm nghèo,  
phát triển sản xuất, nâng cao mức sống, khuyến học, khuyến nghề  v.v...  ở   địa 
phương;
Đề ra các biện pháp thích hợp góp phần bảo vệ trật tự, trị an trên địa bàn.
2. Dự thảo hương  ước, quy  ước phải được nhân dân trên địa bàn thảo luận,  
được hội nghị cử tri hoặc hội nghị đại biểu hộ gia đình ở  làng, bản, thôn, ấp, cụm  
dân cư thông qua và được ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt trước khi thi hành  
nhằm bảo đảm nội dung của hương  ước, quy  ước không trái với các quy định của  
pháp luật hiện hành, không chứa đựng các quy định xử phạt nặng nề, các khoản phí 
và lệ phí có thể gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích  hợp pháp  
của công dân.
3. Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Văn hóa ­ Thông tin trong phạm vi  
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chỉ  đạo, hướng dẫn cơ  quan Tư  pháp, 
cơ quan Văn hóa ­ Thông tin ở các địa phương trong việc giúp ủy ban nhân dân cùng 


cấp thực hiện quản lý nhà nước đối với việc xây dựng và thực hiện hương  ước, 
quy ước, nhằm bảo đảm cho việc soạn thảo hương ước, quy ước ở làng, bản, thôn, 
ấp, cụm dân cư được tiến hành một cách thực sự dân chủ, coông khai, dưới sự lãnh  
đạo của cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương cấp xã, với sự tham gia tích cực 
của ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng ở cơ sở (Đoàn thanh niên 
cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh, Hội  
Nông dân Việt Nam...).
Bộ  Tư  pháp chủ  trì, cùng với Bộ  Văn hóa ­ Thông tin phối hợp với  ủy ban Trung  
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức  thành viên, các cơ quan hữu quan 
khác chỉ  đạo triển khai thí điểm Chỉ  thị  này tại một số  địa phương để  rút kinh 
nghiệm. Trên cơ sở tổng kết tình hình xây dựng và thực hiện hương ước, quy  ước  
trên phạm vi toàn quốc, Bộ kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ  các biện pháp, các 
mô hình mẫu về các hoạt động văn hóa nhằm tiếp tục tăng cường công tác quản lý  
nhà nước và phát huy vai trò của các văn bản hương  ước, quy ước trong giai đoạn 
hiện nay.
4. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của mình,  
trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành nghị quyết quy định cụ thể việc quản lý nhà 
nước và định hướng nội dung hương  ước, quy  ước căn cứ  vào quy định của pháp 
luật hiện hành và phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế, văn hóa ­ xã hội, phong  
tục tập quán của địa phương.Uỷ  ban nhân dân cấp tỉnh chỉ  đạo triển khai và kiểm  
tra việc thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân về các vấn đề nói trên.
5. Uỷ  ban nhân dân cấp huyện có nhiệm vụ  phê duyệt các văn bản hương  
ước, quy  ước do  ủy ban nhân dân cấp xã trình và chỉ  đạo, hướng dẫn việc thực  
hiện hương  ước, quy ước trong phạm vi địa bàn huyện, bảo đảm nội dung hương  
ước, quy  ước phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành, các quy tắc xây  
dựng nếp sống văn hóa mới, duy trì và phát triển phong tục tập quán tốt đẹp ở  cơ 
sở.
6. Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm chỉ đạo, hỗ trợ các làng, bản, thôn,  
ấp, cụm dân cư xây dựng hương  ước, quy  ước có nội dung phong phú, thiết thực, 
phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành và chủ  trương chính sách của Đảng  


và Nhà nước, và trình  ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt. ủy ban nhân dân cấp 
xã thường xuyên kiểm tra việc tổ chức thực hiện hương ước, quy ước trên địa bàn.
7. cơ quan thông tin đại chúng  đẩy mạnh việc tuyên truyền về vai trò và tác 
dụng của việc xây dựng và thực hiện hương  ước, quy  ước, các mô hình mẫu về 
nếp sống văn hóa, gắn với việc tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát  
huy dân chủ  ở cơ sở; nêu gương những điển hình tiên tiến, phát hiện và đấu tranh  
chống các biểu hiện tiêu cực, sai trái hoặc lợi dụng hương ước, quy ước để duy trì  
các hủ tục, tập quán lạc hậu.
8. Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan có liên quan, Chủ  tịch Hội đồng nhân 
dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm thi hành Chỉ thị này./.
Năm 1999, Bộ Tư pháp cũng có những công văn, chỉ thị hướng dẫn các địa phương 
thực hiện nghị định này của Chính phủ.
1. 2.     Vai trò,  ảnh hưởng tích cực của Hương  ước trong sự  phát triển của  
làng xã hôm nay
1.2.1. Hương ước giúp bảo tồn và giữ gìn các danh lam thắng cảnh, đền thờ,  
bảo vệ môi trường của làng nói riêng và của toàn dân tộc nói chung.
Những phân tích trên đã cho thấy bảo vệ  môi trường, bảo vệ  các danh lam thắng  
cảnh, giữ gìn môi trường, các đền chùa, miếu mạo của làng xã là một trong những 
nội dung cơ bản của Hương  ước. Điển hình như  thời gian qua là tại xã Nghi Sơn,  
Quế Sơn, Quảng Nam, nơi có một khu rừng nhỏ mang tên Miếu Cấm đã được cả 
dân làng nâng niu bảo vệ, nguyên nhân là từ một bản Hương  ước truyền từ đời xa  
xưa quy định: “Cấm cư dân trong làng vào rừng chặt củi làm than. Nếu vi phạm sẽ 
bị  làng xử  phạt. Nhẹ  thì cảnh cáo, nặng thì đòn roi, nghiêm trọng hơn thì đuổi ra  
khỏi làng”. Từ đó, không những chỉ người dân trong làng, mà ngay cả những cư dân  
nơi khác cũng không dám vào săn bắt, chặt cây, dù rừng có rất nhiều các loại gỗ 
quý. 
1.2.2.. Hương  ước góp phần duy trì và phát huy thuần phong, mỹ  tục và 
truyền thống văn hoá cộng đồng, củng cố  các giá trị  đạo lý và nhân bản. Nuôi  
dưỡng, vun đắp ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết, tinh thần bất khuất, tinh thần  


tự  lực, tự  chủ  cho mỗi thành viên trong cộng đồng làng xã, xây dựng ý thức cộng 
đồng làng xã.
Trong Hương  ước xưa cũng có nhiều điều “khuyến”. Như  trong bài truyền  
thống khuyến học của người Hà Nội xưa qua Hương ước (Tạp chí Xưa và Nay ­ số 
tháng 10­1998) đã ghi lại nhiều điều trong Hương  ước một số  làng  ở  Hà Nội với 
nội dung chính là khuyến khích việc học hành. Như điều 102 trong Hương ước làng 
Nhật Tân ghi lại rằng: “Dạy trẻ con có học thức phổ  thông là nghĩa vụ  của người 
làm phụ  huynh, không ai được từ”. Hương  ước làng Phù Xá Đoài (Đông Anh), có 
điều khoản ghi: “Con trai con gái 5,6 tuổi cho vào trường học. Bằng không cho đi 
học, chỉ nuông con để nghịch giặc, chửi đánh nhau, thời bố mẹ phải phạt một cơi  
trầu (10 quả cau, giá tiền một hào)”, 
Hương  ước làng Cổ  Nhuế, điều 98 ghi: “Làng trích tiền công để  mua giấy 
cho những con nhà nghèo mà hương hội xét không thể  mua được”. Hầu như  làng 
nào cũng có khoản học điền để  dành quỹ  trả  lương cho thầy giáo trưởng làng và  
phát phần thưởng cho học trò giỏi, nhằm thúc đẩy tinh thần hiếu học, ham học hỏi  
của người dân. Về tinh thần văn hoá, tiêu biểu là ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ 
đã thực hiện được 100% khu dân cư  có Hương  ước xây dựng nếp sống văn hoá,  
trong đó có quy định khá cụ  thể  về  nếp sống văn minh trong việc cưới hỏi, việc 
tang và lễ  hội… trở thành một điểm sáng cho các huyện, tỉnh khác noi theo. Ngoài  
ra, các Hương  ước còn có những điều lệ  quy định tinh thần đoàn kết, tương thân 
tương ái, “lá lành đùm lá rách”, “uống nước nhớ nguồn”… trong cộng đồng làng xã 
cũng có ảnh hưởng tích cực đến đời sống làng xã Việt Nam hiện nay. Phát huy cái  
đẹp, cái tốt trong Hương  ước xưa, ngày nay, xã Quỳnh Hồng (huyện Quỳnh Lưu,  
Nghệ An), xã Hải Tân (huyện Hải Hậu, Nam Định) cùng nhiều nơi khác xây dựng 
và thực hiện quy chế thôn xã văn hóa, vừa khôi phục những truyền thống tốt đẹp 
của mình, vừa nâng cao ý thức tuân thủ  pháp luật chung của đất nước, cùng cả 
nước   lo  toan  những nghĩa  vụ  chung của  người dân  bình đẳng.  Xã  Xuân  Thành 
(huyện Thọ  Xuân, Thanh Hóa) được coi là lá cờ đầu xây dựng quy  ước nông thôn 
mới của tỉnh, nổi bật nhất trong mối quan hệ nhân dân với cán bộ  thôn xã, không 


chỉ trong lao động sản xuất mà còn cả việc sinh đẻ theo kế hoạch, việc xẻ làng đi  
xây dựng quê hương mới.
1.2.3.. Tổ  chức và quản lý các mặt của đời sống làng xã, duy trì trật tự, kỷ  
cương, tạo ra môi trường ổn định và an toàn cho cả cộng đồng làng xã.
Căn cứ các Hương ước cổ còn đến ngày nay ta thấy, hầu như quy định trong 
các bản Hương ước đều thể hiện tinh thần ý thức hệ Nho giáo. Đó là các quy định 
về “Tam cương, ngũ thường”, về “tôn ti trật tự” trong các quan hệ có tính thứ  bậc 
trong làng xã. Từ đó, Hương ước đã góp phần điều chỉnh các mối quan hệ xã hội cụ 
thể trong làng xã. Việc phát huy tinh thần tự chủ, tự giác, tự  quản làng xã cùng dư 
luận xã hội và các biện pháp thưởng, phạt khác đã giúp cho trật tự, kỷ cương làng  
xã được thực hiện một cách rất nghiêm chỉnh, nhờ đó đã giúp rất nhiều cho sự phát 
triển của làng xã hôm nay.
1.2.4.. Hương  ước không chỉ  là biểu hiện của pháp luật mà còn giúp khắc  
phục các chỗ hổng của pháp luật hoặc pháp luật quy định chưa cụ thể; Đưa pháp  
luật đi vào đời sống người dân một cách dễ dàng hơn.
Pháp luật dù cụ  thể  đến mấy cũng không thể  bao quát được tất cả  các đặc  
thù của quan hệ làng xã. Đặc biệt là các làng xã cổ truyền Việt Nam bên cạnh các 
đặc điểm có tính phổ quát, mỗi làng xã lại có các đặc điểm riêng của mình. Do vậy,  
mỗi một cộng đồng làng xã cụ thể luôn cần đến các quy định gần gũi, dễ hiểu, dễ 
thực hiện cho mọi thành viên trong làng, phản ánh được nhu cầu tổ  chức và phát 
triển vủa mỗi làng, xã cụ thể. Bên cạnh đó, khi có những chính sách của Nhà nước 
đưa xuống các vùng nông thôn thì nhờ có Hương ước của các làng nên việc thực thi  
những chính sách đó được thực hiện một cách nghiêm chỉnh hơn, nâng cao ý thức 
pháp luật của người dân ta. Trong ý nghĩa ấy, Hương ước là phương tiện, công cụ 
bổ sung quan trọng cho khả năng điều chỉnh của luật nước, thể hiện ở các việc cụ 
thể:
         Hương ước biến các quy định chung của pháp luật thành các quy định cụ thể 
của làng: đơn giản hoá các quy định của luật nước, làm cho ý thức hệ pháp luật của  
Nhà nước trở nên gần gũi và thâm nhập vào hệ tư tưởng, vào tâm lý và lối sống của  
mỗi người dân, làm pháp luật trở  nên dễ  hiểu, dễ  áp dụng. Với lối hành văn dung  


dị, có vần điệu theo dân gian, Hương  ước đi vào đời sống một cách tự  nhiên, nên  
thấm sâu vào đời sống cộng đồng mà ít cần đến các phương tiện tuyên truyền, phổ 
biến ồn ào, tốn kém.
                 Hương  ước góp phần biến cải khuôn khổ  cứng nhắc, các quy tắc có tính  
nghiêm khắc lạnh lùng của luật pháp thành sự uyển chuyển, linh động và biến hoá 
trong lối hành xử của các cộng đồng. Ở Hương ước, lệ làng, ta nhận thấy các tinh  
thần khoan dung, độ lượng và uyển chuyển, hoá giải cái khô cứng, hà khắc, đôi khi 
là tàn bạo của luật pháp.
         Hương ước đưa ra nhiều quy định cụ thể bổ khuyết vào các lỗ hổng của pháp  
luật, trong các mối quan hệ  cụ  thể  của cuộc sống làng xã. Các vấn đề  như  chia 
ruộng đất công, lão quyền, nam quyền, phụ quyền, trưởng quyền, an ninh làng xã, 
đời sống tâm linh của cộng đồng… Thường là những vấn đề  được quy định chung 
chung trong luật nước lại rất cụ thể trong các Hương ước.
1.3.         Những  ảnh hưởng tiêu cực của Hương  ước trong sự  phát triển của 
làng xã 
1.3.1. Hương  ước mang theo những quan niệm lạc hậu , chứa những yếu tố 
tiêc cực, gây  ảnh hưởng cho sự phát triển của làng xã, cản trờ  việc thực hiện các  
chính sách phát triển của nhà nước.
Trong thực tiễn đời sống pháp lý  ở  làng xã cổ  truyền Việt Nam, quan niệm “phép  
vua thua lệ  làng” đã tạo điều kiện cho sự  thể hiện các tác động tiêc cực của bản  
thân mỗi Hương  ước. Vì bên cạnh các giá trị  tích cực như  đã nói ở  trên, thì nhiều 
Hương ước cũng chứa đựng không ít các quy tắc mang tính tiêu cực, thể  hiện tinh  
thần cục bộ địa phương, bè phái trên cơ sở “tâm lý làng” và bởi tư  duy “ăn cây nào 
rào cây ấy”, “ở đình nào chúc đình ấy”, “trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào 
làng  ấy thờ”, ít quan tâm đến lợi ích của làng khác và lợi ích của cả  nước. Ví dụ 
như các bản Hương ước có quy định hủ tục về ma chay, cưới hỏi, hội hè… làm tốn  
kém tiền của, thời giờ, thậm chí phá vỡ  hạnh phúc của nhiều người. Ngoài ra, có 
nhiều bản Hương ước đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân, khiến cho việc tiếp  
nhận những chính sách, những kinh nghiệm tiến bộ bị cản trở, nhất là ở những nơi  


vùng sâu, vùng xa, khi mà trình độ  dân trí còn thấp thì việc tiếp nhận được những 
tiến bộ để thay đổi các hủ tục đã có từ lâu thì lại càng khó hơn.
1.3.2. Bị  lợi dụng để  trốn tránh nghĩa vụ  trước Nhà nước, đục khoét dân  
làng.
“Tâm lý làng” với đầy rẫy các quy tắc về hệ thống đẳng cấp, ngôi thứ trong 
làng đã được giới chức dịch trong làng bao đời lợi dụng để  trói buộc người nông 
dân vào hằng hà vô số các nghĩa vụ, trách nhiệm, cấm đoán và hạn chế. Tuy nhiên, 
hiện tượng hách dịch nhân dân ở làng xã như trên hiện nay đã giảm đáng kể, chỉ còn 
tồn tại rất ít với mức độ  cũng rất hạn chế, chính là do các chính sách cải cách và 
điều chỉnh, quản lý của Đảng và Nhà nước ta.


CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN HƯƠNG ƯỚC QUY 
ƯỚC TẠI LÀNG LỤA VẠN PHÚC HÀ ĐÔNG
2.1. Khái quát về hương ước và quy ước tại làng lụa Vạn Phúc Hà Đông
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Làng Vạn Phúc vốn có tên Vạn Bảo, do kị húy nhà Nguyễn nên đã đổi thành  
Vạn Phúc. Theo truyền thuyết, cách đây khoảng hơn 1100 năm, bà A Lã Thị Nương 
là vợ của Cao Biền, thái thú Giao Chỉ, từng sống ở trang Vạn Bảo. Trong thời gian  
ở  đây, bà đã dạy dân cách làm ăn và truyền nghề  dệt lụa. Sau khi mất, bà được 
phong làm thành hoàng làng.
Lụa Vạn Phúc được giới thiệu lần đầu ra quốc tế  tại các hội chợ  Marseille  
(1931)[cần dẫn nguồn] và Paris (1932), được người Pháp đánh giá là loại sản phẩm 
tinh xảo của vùng Đông Dương thuộc Pháp. Từ  1958 đến 1988, sản phẩm lụa Vạn  
Phúc hầu hết được xuất sang các nước Đông Âu; từ  1990 xuất khẩu ra nhiều quốc  
gia trên thế giới, thu ngoại tệ về cho Việt Nam.
Năm 2009, làng Vạn Phúc có khoảng 1000 khung dệt, sản xuất nhiều loại 
lụa cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước, trong đó có các loại lụa cao cấp  
như lụa vân quế hồng diệp và lụa vân lưỡng long song phượng.
Năm 2010, để  kỉ  niệm Đại lễ  1000 năm Thăng Long ­ Hà Nội, nghệ  nhân  
Nguyễn Hữu Chỉnh, Chủ  tịch Hiệp hội làng nghề  dệt lụa Vạn Phúc, đã thiết kế 
mẫu lụa Long Vân với hoa văn mang hình tượng lưỡng long chầu Khuê Văn Các 
được cách điệu trong hình ảnh hoa sen.
Trong nhiều cửa hàng lụa ở Hà Nội và cả ở làng Vạn Phúc, lụa Trung Quốc 
chất lượng kém hơn được trà trộn vào bán với danh nghĩa lụa Vạn Phúc, làm giảm  
uy tín của lụa Vạn Phúc.
Hiện nay, Vạn Phúc đã trở thành một điểm đến quen thuộc trong các tour du 
lịch làng nghề. Đến Vạn Phúc, du khách không chỉ  có cơ  hội mua sắm các sản 
phẩm lụa Hà Đông chính hiệu mà còn được chứng kiến quy trình làm ra tấm lụa 
của các nghệ nhân, đặc biệt là tại xưởng sản xuất của nghệ nhân Triệu Văn Mão 


bởi chỉ  xưởng của ông là có máy dệt lụa Vân – loại lụa cổ  truyền nổi tiếng nhất  
Vạn Phúc đã gần như  bị  thất truyền. Đây là loại lụa mỏng có hoa nổi, hoa chìm. 
Hoa nổi trên mặt lụa thì bóng mịn còn hoa chìm thì phải soi ra chỗ  sáng mới thấy 
được. Bên cạnh xưởng dệt là cửa hàng giới thiệu sản phẩm với hàng trăm loại lụa  
đủ  màu sắc và các loại sản phẩm như: khăn choàng, quần áo, túi xách, cà vạt… 
Thương hiệu lụa Vạn Phúc đã không chỉ trở thành niềm tự hào của người dân Vạn  
Phúc mà quan trọng hơn, còn bảo tồn một nét văn hóa Việt.
2.1.2. Đặc điểm tự nhiên
Làng lụa Hà Đông hay Làng lụa Vạn Phúc (nay thuộc phường Vạn Phúc,  
thuộc quận Hà Đông, cách trung tâm Hà Nội khoảng 10 km) là một làng nghề  dệt 
lụa tơ  tằm đẹp nổi tiếng có từ  ngàn năm trước. Lụa Vạn Phúc có nhiều mẫu hoa  
văn và lâu đời bậc nhất Việt NamLụa Hà Đông từng được chọn may trang phục cho 
triều đình.
Nằm bên bờ sông Nhuệ, làng lụa Vạn Phúc vẫn còn giữ được ít nhiều nét cổ 
kính quê ngày xưa như  hình  ảnh cây đa cổ  thụ, giếng nước, sân đình, buổi chiều  
vẫn họp chợ dưới gốc đa trước đình. "Lụa Hà Đông" cũng như  các sản phẩm thủ 
công truyền thống của các làng nghề  Hà Nội, thường được nhắc đến trong thơ  ca  
xưa. Trong nhiều gia đình, khung dệt cổ vẫn được giữ  lại, xen lẫn với các khung  
dệt cơ khí hiện đại.
2.2. Tình hình môi trường tại Làng lụa Vạn Phúc Hà Đông
Làng nghề  dệt nhuộm Vạn Phúc của TP.Hà Đông chuyên sản xuất lụa tơ 
tằm, vải các loại và in hoa. Sản xuất của các làng nghề   ở quy mô hộ  gia đình với 
các thiết bị máy móc thô sơ, lạc hậu chủ yếu sản xuất trong nước. Các thiết bị  đã 
lạc hậu  chắp vá, không theo một trình tự  nào do ghép nhiều công nghệ  khác nhau 
nên khí thải, nước thải, rác thải sau quá trình sản xuất không được xử  lý gây ô  
nhiễm môi trường.
Làng lụa Vạn Phúc có 9.420 nhân khẩu, trong đó có gần 3.000 người tham  
gia nghề dệt và 35 cơ sở chuyên tẩy, nhuộm. Trong quá trình sản xuất có sử  dụng  
hóa chất, thuốc nhuộm để  tẩy, in. Nước thải dịch nhuộm sau các công đoạn sản 


xuất không qua xử  lý đổ  thẳng ra cống rãnh và xả  xuống sông Nhuệ  gây ô nhiễm 
nghiêm trọng tầng nước mặt. Tại Vạn Phúc, toàn bộ  lượng nước thải sau tẩy,  
nhuộm chưa qua xử lý của các hộ làm nghề và Công ty Len hòa với nước thải sinh  
hoạt chảy chung vào mương dẫn qua cầu cánh Tiên đổ vào ao Độc Lập rồi xả trực 
tiếp xuống sông Nhuệ.
  Vào mùa  hè,  mùi  hôi thối,  hắc  của  nước   thải  bốc  lên  nồng nặc  từ  các 
mương dẫn ảnh hưởng rất lớn đến vệ sinh môi trường và sức khỏe người dân xung  
quanh. Hàm lượng ô xy hóa học COD trong các công đoạn tẩy nhuộm vượt quá tiêu  
chuẩn cho phép từ 3­8 lần; độ  màu đo được 750 Pt­Co, vượt tiêu chuẩn nhiều lần. 
Các chỉ tiêu của nước thải cao chưa được xử lý thải trực tiếp ra hệ thống ao, sông.
 Ngoài ô nhiễm do nước thải còn ô nhiễm khí thải, rác thải và tiếng ồn. Rác 
thải  ở  các làng nghề  dệt Hà Đông chủ  yếu là xơ  nhộng, vụn bông, tơ  vụn. Tiếng  
ồn phát sinh ra do vận hành máy dệt, quấn sợi và do sự va chạm của thoi trong khi  
dệt, guồng sợi. Khí thải sinh ra từ các phân xưởng dệt, lò hơi và các lò nấu tẩy nhỏ 
có dùng than phục vụ quá trình giặt nóng, nấu, sấy, nhuộm.
Để giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường trong các làng nghề tại Hà Đông  
đang có chiều hướng gia tăng, rất cần quy hoạch gọn các cơ  sở sản xuất vào khu  
vực nhất định để xây dựng hệ thống xử lý nước thải, khí thải trước khi xả ra môi  
trường xung quanh. Bên cạnh đó việc đề  ra một chính sách cho các hộ, cơ  sở  sản 
xuất vay lãi suất thấp thực hiện xây dựng hệ  thống xử  lý chất thải cũng là một 
biện pháp để từng bước giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Lồng ghép phổ  biến các  
chính sách, quy định về  bảo vệ  môi trường trong các cuộc họp dân sẽ  nâng cao ý 
thức giữ gìn vệ sinh công cộng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×