Tải bản đầy đủ

Biện pháp dạy trẻ mẫu giáo lớn nói đúng một số loại câu ghép chính phụ thông qua hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện (2017)

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
=====o0o=====

PHAN THỊ THU HƯƠNG

BIỆN PHÁP DẠY TRẺ MẪU GIÁO LỚN
NÓI ĐÚNG MỘT SỐ LOẠI CÂU GHÉP CHÍNH
PHỤ
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG DẠY TRẺ KỂ LẠI
CHUYỆN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ trẻ em

Người hướng dẫn khoa học
TS. Hoàng Thị Thanh Huyền

HÀ NỘI - 2017



LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cám ơn các thầy, cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2, các thầy, cô giáo trong khoa Giáo dục Mầm non, khoa Ngữ Văn - tổ
Ngôn ngữ đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện
cho em hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo Hoàng Thị Thanh
Huyền - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong quá trình
học tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Em xin gửi lời cám ơn chân thành tới các cô giáo và các em học sinh
trường mầm non Cổ Loa - Đông Anh - Hà Nội đã tận tình giúp đỡ em trong
thời gian em thực tập ở trường. Trong quá trình nghiên cứu, không tránh khỏi
những thiếu sót và hạn chế. Kính mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy
cô và các bạn đồng nghiệp để đề tài của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, tháng 04 năm 2017
Sinh viên

Phan Thị Thu Hương


LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đề tài “Biện pháp dạy trẻ mẫu giáo lớn nói đúng một
số loại câu ghép chính phụ thông qua hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện” là kết
quả mà em đã nghiên cứu qua đợt kiến tập và thực tập hằng năm. Trong quá
trình nghiên cứu em có sử dụng tài liệu của một số nhà nghiên cứu, một số
tác giả khác. Tuy nhiên đó chỉ là cơ sở để em rút ra những vấn đề cần tìm
hiểu ở đề tài của mình. Đây là kết quả của riêng cá nhân em, hoàn toàn
không trùng với kết quả của các tác giả khác.
Em xin chịu trách nhiệm về cam đoan này.
Hà Nội, tháng 04 năm 2017
Sinh viên

Phan Thị Thu Hương


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .........................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài....................................................................................... 1
2. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu................................................................. 2


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu............................................................ 2
4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 3
5. Đóng góp của khóa luận ........................................................................... 4
6. Cấu trúc khóa luận.................................................................................... 4

NỘI DUNG......................................................................................5
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN …………………………..5
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.................................................................... 5
1.2. Cơ sở lí luận ......................................................................................... 7
1.2.1. Lí thuyết về câu ghép ..................................................................... 7
1.2.2. Cơ sở của phương pháp phát triển ngôn ngữ trẻ em........................ 9
1.3. Cơ sở thực tiễn ................................................................................... 15
1.3.1. Nội dung chương trình ................................................................. 15
1.3.2. Thực trạng của hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện............................ 17
CHƯƠNG 2. BIỆN PHÁP DẠY TRẺ MẪU GIÁO LỚN NÓI ĐÚNG MỘT
SỐ LOẠI CÂU GHÉP CHÍNH PHỤ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG DẠY
TRẺ KỂ LẠI CHUYỆN............................................................................... 20
2.1. Nguyên nhân dẫn đến việc trẻ nói chưa đúng cấu trúc ngữ pháp trong
Tiếng Việt ................................................................................................. 20
2.1.1. Nguyên nhân chủ quan ................................................................. 20
2.1.2. Nguyên nhân khách quan ............................................................. 22
2.2. Một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo lớn nói đúng một số loại câu ghép
chính phụ thông qua hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện ................................
23
2.2.1. Biện pháp xây dựng mẫu câu và sử dụng lời nói mẫu ................... 24


2.2.2. Biện pháp cho trẻ tập nói.............................................................. 26
2.2.3. Biện pháp đàm thoại..................................................................... 28
2.2.4. Biện pháp soạn thảo lại văn bản ................................................... 30
2.2.5. Biện pháp sử dụng hệ thống câu hỏi ............................................. 32
2.2.6. Biện pháp cho trẻ thực hành luyện tập kể lại chuyện .................... 33
2.2.7. Biện pháp sử dụng trò chơi đóng vai nhân vật trong chuyện......... 36
2.2.8. Biện pháp sửa lỗi sai cho trẻ ......................................................... 38
CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM.................................................. 41
3.1. Mục đích thực nghiệm........................................................................ 41
3.2. Đối tượng thực nghiệm....................................................................... 41
3.3. Nội dung thực nghiệm ........................................................................ 41
3.4. Tiến hành thực nghiệm ....................................................................... 42
3.4.1. Xác định yêu cầu cần đạt .............................................................. 42
3.4.2. Chuẩn bị thực nghiệm .................................................................. 42
3.4.3. Tiến hành thực nghiệm ................................................................. 43
3.5. Đánh giá ............................................................................................. 47
3.6. Kết quả thực nghiệm .......................................................................... 48
3.6.1. Đánh giá lần 1 .............................................................................. 48
3.6.2. Đánh giá lần 2 .............................................................................. 49
3.6.3. Đánh giá lần 3 .............................................................................. 49

KẾT LUẬN CHUNG VÀ KHUYẾN NGHỊ..................................51
TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt. Ngôn
ngữ là phương tiện nhận thức và giao tiếp hữu hiệu nhất của con người. Nhờ
có ngôn ngữ, con người mới có phương tiện để nhận thức và thể hiện nhận
thức của mình, để giao tiếp và hợp tác với nhau. Ngôn ngữ có một vai trò đặc
biệt quan trọng đối với sự phát triển của xã hội và đóng một vai trò quan
trọng trong việc phát triển trí tuệ, giáo dục đạo đức, phát triển thể chất và
giáo dục thẩm mĩ cho trẻ.
Ngôn ngữ được hình thành từ rất sớm. Trẻ em không có ý thức về ngôn
ngữ nhưng bằng cách bắt chước có tính chất bản năng, trẻ sẽ học được cách
nói chung của những người xung quanh mình. Từ đó, trẻ sẽ nhận thức được
thế giới xung quanh, hiểu được yêu cầu, ý muốn của người khác và thể hiện
được nhu cầu của bản thân. Trẻ sẽ học và tích trữ cho mình bắt đầu bằng
những từ, những câu đơn giản nhất. Sau đó, dần dần trẻ sẽ tích lũy và nói
được những câu nói có cấu trúc phức tạp, phong phú hơn.
Việc nói đúng ngữ pháp có vai trò quan trọng đối với trẻ. Đó là những
bước đầu cơ bản để tạo cho trẻ có khả năng diễn đạt một cách rõ ràng, mạch
lạc, không bị cộc lốc; giúp trẻ nhận thức được đúng cấu trúc ngữ pháp của
Tiếng Việt, phát triển khả năng tư duy, tăng tính thẩm mĩ trong lời ăn tiếng
nói của trẻ. Để có được điều đó trẻ phải được học thông qua các hoạt động và
qua sự trao đổi, hướng dẫn của người lớn. Vì vậy người lớn cần có trách
nhiệm dạy trẻ nói đúng ngữ pháp theo các mô hình câu chuẩn để từ đó trẻ dần
dần nắm được cấu tạo các loại câu của tiếng mẹ đẻ của mình.
Kể lại chuyện là hình thức kể lại một cách sáng tạo câu chuyện theo mẫu
trẻ đã được nghe, nhận biết được sự tác động lên cảm xúc, giúp trẻ ghi nhớ và

1


kể lại những điều đã được nghe. Trẻ sẽ biết vận dụng ngôn ngữ của mình, biết
sử dụng những từ, câu để kể lại chuyện một cách sáng tạo, phù hợp. Câu ghép
chính phụ là một trong những loại câu mà trẻ thường hay sử dụng khi kể lại
chuyện. Vì thế, việc dạy trẻ nói đúng một số loại câu ghép chính phụ thông
qua hoạt động kể lại chuyện sẽ đem lại hiệu quả cao hơn cho trẻ.
Hiện nay, các trường mẫu giáo đã quan tâm tới việc phát triển ngôn ngữ
cho trẻ nhưng vẫn chưa chú trọng tới việc rèn luyện khả năng diễn đạt của trẻ.
Vì vậy, chúng tôi mong muốn góp thêm tiếng nói vào việc rèn luyện khả năng
diễn đạt cho trẻ, giúp trẻ ngay từ nhỏ có được lời nói rõ ràng, chính xác, mang
tính thẩm mĩ hơn.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề “Biện pháp dạy
trẻ mẫu giáo lớn nói đúng một số loại câu ghép chính phụ thông qua hoạt
động dạy trẻ kể lại chuyện” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
2.1. Phạm vi nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu được tiến hành trong phạm vi đối với trẻ 5 - 6 tuổi tại
trường mầm non Cổ Loa (xã Cổ Loa - huyện Đông Anh - thành phố Hà Nội).
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của vấn đề được xác định là biện pháp giúp trẻ
mẫu giáo lớn nói đúng một số loại câu ghép chính phụ thông qua hoạt động
dạy trẻ kể lại chuyện.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu tiến hành với mục đích giúp trẻ mẫu giáo lớn nói
đúng một số loại câu ghép chính phụ thông qua hoạt động dạy trẻ kể lại
chuyện nhằm giúp trẻ diễn đạt một cách đầy đủ, rõ ràng, mạch lạc, kích thích
tư duy, óc sáng tạo của trẻ. Từ đó, giúp trẻ phát triển toàn diện và tạo tiền đề
cho trẻ khi trẻ bước vào học ở trường phổ thông.

2


3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng nên hệ thống cơ sở lí luận và tìm hiểu về thực trạng của vấn
đề nghiên cứu.
- Đưa ra một số nguyên nhân trẻ chưa nói đúng ngữ pháp.
- Tiến hành xây dựng một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo lớn nói đúng
một số loại câu ghép chính phụ thông qua hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện.
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi và hiệu quả
của các biện pháp.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Tiến hành thu thập và xử lí các thông tin qua các tài liệu, các cơ sở lí
thuyết, thành tựu lí thuyết đã đạt được, các kết quả nghiên cứu liên quan đến
vấn đề nghiên cứu. Từ đó, tiến hành phân tích, phân loại và tổng hợp lại để
xây dựng nên một hệ thống lí thuyết cho vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp quan sát
Quan sát khoa học là nghiên cứu đối tượng có hệ thống để thu thập thông
tin về đối tượng. Đây là hoạt động được tổ chức đặc biệt, có mục đích, có kế
hoạch, có phương tiện để nghiên cứu các đối tượng được lựa chọn điển hình.
Ở đây, chúng tôi tiến hành quan sát, theo dõi một cách có chủ đích những
hành vi, thái độ, lời nói của trẻ. Từ đó phát hiện ra nguyên nhân và đề ra một
số biện pháp phù hợp để dạy trẻ nói đúng một số loại câu ghép chính phụ
thông qua hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện.
- Phương pháp thực nghiệm
Tiến hành thăm dò và thực nghiệm để kiểm tra tính khả thi, hiệu quả của
các biện pháp đưa ra thông qua thành tích mà trẻ đạt được.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Tìm hiểu thực trạng của việc diễn đạt câu của trẻ và việc dạy trẻ nói
đúng cấu trúc câu nói chung và câu ghép chính phụ nói riêng.

3


5. Đóng góp của khóa luận
5.1. Về lí luận
Xây dựng hệ thống cơ sở lí luận, xác định nguyên nhân và đưa ra một số
biện pháp cho vấn đề nghiên cứu.
5.2. Về thực tiễn
Áp dụng các biện pháp dạy trẻ mẫu giáo lớn nói đúng một số loại câu
ghép chính phụ thông qua hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện để từ đó góp phần
luyện cho trẻ khả năng diễn đạt câu ghép chính phụ một cách rõ ràng, lưu
loát, lời ăn tiếng nói của trẻ mang tính thẩm mĩ hơn.
6. Cấu trúc khóa luận
Nội dung khóa luận được tiến hành triển khai theo cấu trúc gồm 3 phần:
- Phần 1: Mở đầu
- Phần 2: Nội dung
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn.
Chương 2: Biện pháp dạy trẻ mẫu giáo lớn nói đúng một số loại câu
ghép chính phụ thông qua hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
- Phần 3: Kết luận chung và khuyến nghị.

4


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng đối với con người, nó là đặc trưng chỉ
có ở con người. Ngôn ngữ được sử dụng như một phương tiện của tư duy, hay
còn được hiểu ngôn ngữ là “cái vỏ” của tư duy, là phương thức biểu đạt muốn
cho người khác hiểu được những suy nghĩ, nhu cầu, mong muốn của bản thân
thông qua lời nói. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong những năm đầu đời là
một việc làm hết sức quan trọng để hình thành và phát triển cho trẻ khả năng
ngôn ngữ. Chính vì vậy mà đã có rất nhiều tác giả đề cập đến vai trò và
phương pháp để phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non. Nội dung phương pháp
phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non nói chung, cho trẻ mẫu giáo nói riêng đã
được một số nhà nghiên cứu đề cập đến trong những công trình của họ. Có
thể tổng thuật nội dung phương pháp nghiên cứu về vấn đề này trong một số
nguồn tài liệu sau đây:
Trước hết, trong chương trình giáo dục mầm non, bộ Giáo dục và Đào
tạo đã đề ra mục tiêu của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ:
- Trẻ có khả năng lắng nghe, hiểu lời nói trong giao tiếp hằng ngày.
- Có khả năng biểu đạt bằng nhiều cách khác nhau (lời nói, nét mặt, cử
chỉ, điệu bộ…).
- Diễn đạt rõ ràng và giao tiếp có văn hóa trong cuộc sống hằng ngày.
- Có khả năng nghe và kể lại sự việc, kể lại chuyện.
- Có khả năng cảm nhận vần điệu, nhịp điệu bài thơ, ca dao, đồng dao
phù hợp với độ tuổi.
- Có một số kĩ năng ban đầu về việc đọc và viết.
Tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã viết giáo trình “Phương pháp phát triển

5


ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” gồm 12 chương sách đề cập khái quát đến những
vấn đề có liên quan đến nội dung phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ
mẫu giáo. Trong đó, tác giả đã dành chương III, với dung lượng là 46 trang để
trình bày về phương pháp phát triển lời nói mạch lạc và chương IV với dung
lượng 30 trang nói về phương pháp dạy trẻ đặt câu.
Giáo trình “Phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non” của tác giả Đinh Hồng
Thái đã được viết theo cấu trúc gồm 4 phần:
- Phần thứ nhất: Những vấn đề chung
- Phần thứ hai: Dạy trẻ nhận biết - tập nói ba năm đầu
- Phần thứ ba: Phát triển ngôn ngữ tuổi mẫu giáo
- Phần thứ tư: Chuẩn bị khả năng tiền đọc - viết tuổi mầm non
Trong phần thứ ba, tác giả Đinh Hồng Thái đã dành chương III với dung
lượng 7 trang nói về việc dạy trẻ các mẫu câu tiếng Việt, và chương IV với
dung lượng 33 trang trình bày về phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu
giáo.
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác như:
“Phương pháp phát triển lời nói cho trẻ em” của tác giả Đinh Hồng Thái,
“Các biện pháp phát trỉển lời nói mạch lạc cho trẻ 5 - 6 tuổi” của tác giả
Nguyễn Thị Kim Oanh và những cuốn sách về phương pháp phát triển ngôn
ngữ trẻ em tuổi mầm non của Phan Thiều, Lương Kim Nga, Cao Đức Tiến,
Đinh Thị Hồng Nhung…
Các đề tài khóa luận, luận văn tốt nghiệp của sinh viên, học viên cao học
của các trường đại học sư phạm, viện nghiên cứu cũng đề cập đến vấn đề phát
triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non. Tiêu biểu là khóa luận tốt nghiệp đại học
trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 của tác giả Nguyễn Thị Dương (2013),
cũng đã đề cập đến vấn đề dạy trẻ nói đúng ngữ pháp trong khoá luận: “Các
phương pháp, biện pháp dạy trẻ nói đúng ngữ pháp”. Trong khoá luận này, tác
giả Nguyễn Thị Dương kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả về phương

6


pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non để trình bày nội dung dạy trẻ 3 - 4
tuổi và trẻ 5 - 6 tuổi nói đúng ngữ pháp. Ngoài ra, trong khoá luận, tác giả còn
trình bày các loại lỗi câu và cách sửa lỗi.
Thông qua việc tổng thuật nội dung nghiên cứu trong các tài liệu từ các
nguồn kể trên, có thể thấy việc tìm hiểu về vấn đề phát triển ngôn ngữ và dạy
trẻ nói đúng ngữ pháp, dạy trẻ đặt câu không phải là vấn đề mới mẻ vì đã có
nhiều người quan tâm đề cập và tiến hành nghiên cứu. Tuy nhiên, trong các
tài liệu đó chưa có một công trình chuyên biệt nào tìm hiểu về “Biện pháp dạy
trẻ mẫu giáo lớn nói đúng một số loại câu ghép chính phụ thông qua hoạt
động dạy trẻ kể lại chuyện”.
1.2. Cơ sở lí luận
1.2.1. Lí thuyết về câu ghép
1.2.1.1. Quan niệm về câu ghép
Khái niệm: Câu ghép là câu có từ 2 cụm C - V trở lên và chúng không
bao chứa nhau. Mỗi cụm C - V của câu ghép có dạng là một câu đơn và được
gọi chung là một vế câu ghép.
Ví dụ:
- Thỏ Trắng đi học. (câu có 1 cụm C - V, 1 vế câu => Câu đơn)
C

V

- Mẹ về, cả nhà đều vui. (câu có 2 cụm C - V, 2 vế câu => Câu
ghép) C V

C

V

Phân loại câu ghép trong Tiếng Việt: Từ trước đến nay cách phân loại
câu ghép thường gặp là phân loại căn cứ vào kiểu mối quan hệ giữa các vế
của câu ghép. Các quan hệ giữa 2 vế của câu ghép (cũng như của những phần
phụ trạng ngữ tương đương mà chúng ta không bàn ở đây) là quan hệ bình
đẳng, quan hệ chính phụ, quan hệ qua lại. Quan hệ qua lại vế thực chất cũng
là quan hệ chính phụ hay quan hệ bình đẳng.
Câu ghép trước hết được chia thành hai loại lớn: loại có từ liên kết (từ

7


chỉ quan hệ) gồm có kết từ và phụ từ với tác dụng liên kết, và loại không có từ
liên kết (câu ghép chuỗi).
Tiếp theo là sự phân thành kiểu nhỏ trong loại thứ nhất. Cụ thể là ở loại
thứ nhất sẽ phân biệt câu ghép chứa kết từ bình đẳng (câu ghép đẳng lập), câu
ghép chứa kết từ chính phụ (câu ghép chính phụ), câu ghép chứa phụ từ liên
kết (câu ghép qua lại).
1.2.1.2. Các kiểu câu ghép chính phụ trong Tiếng Việt
Trong Tiếng Việt có một số loại câu ghép chính phụ với các quan hệ từ
chính phụ như:
- Câu ghép có quan hệ nhân quả: Vế chỉ nguyên nhân mở đầu với các
quan hệ từ như: bởi (vì), tại (vì), do, nhờ. Vế chỉ kết quả mở đầu bằng các
quan hệ từ như: nên, cho nên, mà. Vế chỉ nguyên nhân có thể đứng trước hoặc
đứng sau vế chỉ kết quả hoặc xen vào giữa kết cấu chủ - vị của vế chỉ kết quả.
Ví dụ:
+ Vì trời mưa nên chúng em đến muộn.
+ Chúng em đến muộn vì trời mưa.
+ Chúng em, vì trời mưa, nên đến muộn.
- Câu ghép có quan hệ mục đích, sự kiện: Vế chỉ mục đích mở đầu bằng
các quan hệ từ như: để, để cho. Vế chỉ mục đích có thể đứng trước hoặc đứng
sau vế chỉ sự kiện hoặc xen vào giữa kết cấu chủ - vị của vế chỉ sự kiện.
Ví dụ:
+ Để cho cơ thể khỏe mạnh thì em sẽ chăm chỉ tập thể dục.
+ Em sẽ chăm chỉ tập thể dục để cho cơ thể khỏe mạnh.
+ Tập thể dục để cho cơ thể khỏe mạnh thì em sẽ chăm chỉ.
- Câu ghép có quan hệ điều kiện - kết quả: Vế chỉ điều kiện mở đầu bằng
các quan hệ từ như: nếu, hễ. Vế chỉ kết quả có thể mở đầu bằng: thì, là. Vế chỉ
điều kiện có thể đứng trước hoặc đứng sau vế chỉ kết quả hoặc xen vào giữa

8


kết cấu chủ - vị của vế chỉ kết quả.
Ví dụ:
+ Nếu con ngoan thì mẹ sẽ cho con đi siêu thị.
+ Mẹ sẽ cho con đi siêu thị nếu con ngoan.
+ Đi siêu thị, nếu con ngoan thì mẹ sẽ cho.
- Câu ghép có quan hệ nhượng bộ - tăng tiến: Vế chỉ sự nhượng bộ mở
đầu bằng các quan hệ từ như: tuy (rằng), dù (rằng), mặc dầu. Vế chỉ sự tăng
tiến có thể mở đầu bằng: nhưng. Vế chỉ nhượng bộ có thể đứng trước hoặc
đứng sau vế chỉ tăng tiến hoặc xen vào giữa kết cấu chủ - vị của vế chỉ tăng
tiến.
Ví dụ:
+ Tuy nhà nghèo nhưng cậu bé rất tốt bụng.
+ Cậu bé rất tốt bụng tuy nhà nghèo.
+ Cậu bé tuy nhà nghèo nhưng rất tốt bụng.
Để cho trẻ nói được đúng một số loại câu ghép chính phụ này cần hướng
dẫn cho trẻ hiểu được nghĩa của từng vế câu, của các cặp quan hệ từ. Sau đó
cho trẻ tập đổi vị trí của các quan hệ từ và các vế câu với nhau giúp cho câu
nói của trẻ trở nên phong phú, đa dạng hơn.
1.2.2. Cơ sở của phương pháp phát triển ngôn ngữ trẻ em
1.2.2.1. Cơ sở tâm lí
Ở lứa tuổi mẫu giáo lớn, trẻ đã có khả năng chú ý có chủ định từ 37 - 51
phút, đối tượng chú ý hấp dẫn, nhiều thay đổi, kích thích được sự tò mò, ham
hiểu biết của trẻ. Trẻ có thể phân phối được chú ý vào 2, 3 đối tượng cùng
một lúc, tuy nhiên thời gian phân phối chú ý chưa bền vững, dễ dao động.
Các hiện tượng tâm lý như tri giác, trí nhớ, tưởng tượng về cơ bản là sự
nối tiếp sự phát triển ở lứa tuổi từ 4 - 5 tuổi nhưng chất lượng mới hơn. Thể
hiện ở: mức độ phong phú của các kiểu loại, mức độ chủ định các quá trình
tâm lý rõ ràng hơn, có ý thức hơn, tính mục đích hình thành và phát triển ở

9


mức độ cao hơn, độ nhạy cảm của các giác quan được tinh nhạy hơn, khả
năng kiềm chế các phản ứng tâm lý được phát triển. Quá trình tâm lý phát
triển mạnh mẽ và đặc trưng nhất đó là tư duy: trẻ đã biết phân tích tổng hợp
không chỉ dừng lại ở đồ vật, hình ảnh mà ngay cả từ ngữ, tư duy của trẻ dần
dần mất đi tính duy kỷ, tiến dần đến khách quan, hiện thực hơn, dần dần trẻ
phân biệt được thực và hư, ý thức rõ về những ý nghĩ, tình cảm của mình,
trách nhiệm đối với hành vi. Ở trẻ 5 - 6 tuổi phát triển cả 3 loại tư duy, tư
duy hành động trực quan vẫn chiếm ưu thế. Tuy nhiên do nhiệm vụ hoạt
động mà cả loại tư duy hình ảnh trực quan, tư duy trừu tượng được phát triển
ở trẻ. Loại tư duy này giúp trẻ đến gần với hiện thực khách quan. Ở lứa tuổi
này, tinh thần trách nhiệm và ý thức về bản ngã của trẻ cũng dần dần được
hình thành.
Vốn từ và cơ cấu ngữ pháp của trẻ phát triển. Trẻ có nhu cầu nhận sự
giải thích và cũng thích giải thích cho các bạn.Việc sử dụng ngôn ngữ trong
giao tiếp, các tính chất của ngôn ngữ, câu nói đầy đủ, rõ ràng ở trẻ phụ thuộc
phần lớn vào việc hướng dẫn và sự gương mẫu về lời nói của người lớn.
1.2.2.2. Cơ sở sinh lí
- Hệ thần kinh đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát
triển ngôn ngữ ở trẻ. Từ lúc chào đời cho 5 - 6 tuổi hệ thần kinh của trẻ đã
tương đối phát triển. Não bộ là cơ sở vật chất không thể thiếu đối với quá
trình nhận thức, tư duy của con người. Nó là cơ quan quan trọng trong quá
trình hình thành và phát triển ngôn ngữ ở trẻ.
+ Về não bộ:
Trọng lượng của não bộ theo tuổi của Gundobin (đơn vị tính: gam)

10


So với trọng

Tuổi

Nam

Nữ

Sơ sinh

371

361

1/8 - 1/9

2 tuổi

1011

896

1/11 - 1/12

3 tuổi

1080

1000

4 - 6 tuổi

1305

1140

lượng cơ thể

1/13 - 1/14

Não của trẻ em có 100 tỉ tế bào và vỏ não cũng có 6 lớp nhưng các tế
bào thần kinh vỏ não chưa được biệt hóa hoàn toàn. Khi trẻ ở khoảng 3 tuổi,
đa số các tế bào thần kinh đã biệt hóa, nhưng phải đến khoảng 8 tuổi thì mới
biệt hóa hoàn toàn như người lớn.
Ở trẻ mới sinh, các sợi thần kinh chưa được miêlin hóa hết, đến tháng
thứ 3 các dây thần kinh sọ não có vỏ miêlin. Đến tháng thứ 3 - 6 bó tháp có vỏ
bọc miêlin, các dây thần kinh ngoại biên phải đến khi trẻ được 3 tuổi mới có
vỏ bọc miêlin. Nói chung, đến gần 2 tuổi thì quá trình miêlin hóa đã tương đối
hoàn thiện. sự miêlin hóa có ý nghĩa lớn vì nó góp phần làm cho hưng phấn
được truyền một cách riêng biệt theo các sợi thần kinh. Vì thế, hưng phấn
được truyền đến vỏ não một cách chính xác, định khu hơn. Từ đó, hoạt động
của trẻ hoàn thiện hơn.
Trong thời kì sơ sinh, vỏ não và thể vân chưa phát triển. Lúc đầu chủ yếu
các trung tâm dưới vỏ, sau đó vỏ não mới được hình thành và phát triển.
Hệ thống mao mạch trong não của trẻ (đặc biệt là trẻ sơ sinh) phát triển
mạnh, các đám rối huyết quản chưa phát triển.
Trong não của trẻ em có nhiều nước, nhiều chất đạm, ít chất mỡ. Khi trẻ
được 2 tuổi thì thành phần hóa học của não giống như người lớn.
Sự phát triển của các đường dẫn truyền diễn ra mạnh mẽ theo sự tăng lên
của tuổi và được tiếp tục cho đến khi trẻ 14 - 15 tuổi.

11


+ Về tiểu não:
Tiểu não tuy phát triển muộn nhưng có tốc độ phát triển nhanh. Trẻ sơ
sinh tiểu não chưa phát triển: các rãnh chưa sâu, khối lượng còn nhỏ. Khi trẻ
được khoảng từ 1 - 2 tuổi, tiểu não có khối lượng và kích thước gần giống với
não của người lớn.
+ Về hành tủy, não giữa:
Khi trẻ được 5 - 6 tuổi, hành tủy và não giữa có vị trí giống như ở người
lớn về mặt chức năng.
- Ở người, hệ thống tín hiệu thứ nhất (như ánh sáng, nhiệt độ, màu
sắc…) và hệ thống tín hiệu thứ hai (đó là lời nói, chữ viết) có liên hệ chặt chẽ
với nhau, trong đó hệ thống tín hiệu thứ hai chiếm ưu thế. Sự hình thành hệ
thống tín hiệu thứ hai cũng trải qua các độ tuổi khác nhau:
Vào khoảng 6 tháng sau của năm đầu, ở trẻ đã xuất hiện những phản xạ
có điều kiện với kích thích ngôn ngữ nhưng những kích thích này thường tác
động phối hợp với những kích thích khác như hoàn cảnh xung quanh, tư thế
thân mình, nét mặt, nụ cười… Do đó, bản thân kích thích chỉ có thể gọi là
kích thích ngôn ngữ có điều kiện vì trẻ không phân biệt được từ ngữ với
những nghĩa tư duy của từ ngữ, mà chỉ phân biệt được cao độ và âm sắc của
tiếng nói và giọng nói. Khi trẻ được 7 - 8 tháng bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ
trực tiếp.
Vào lúc 1 - 2 tuổi, trẻ có thể giao tiếp với những người xung quanh bằng
ngôn ngữ nhờ sự giúp đỡ của người lớn. Dần dần vốn từ của trẻ được tăng lên
một cách nhanh chóng. Đến 3 tuổi, vốn từ của trẻ khá phong phú, có thể đạt
tới 1000 từ và sự phát âm các từ của trẻ tương đối chính xác. Trẻ 4 tuổi, ngôn
ngữ của chúng phát triển phong phú vì có thêm các từ mới. Do đó, số lượng
các khái niệm được chúng lĩnh hội cũng tăng lên, trẻ nói đúng ngữ pháp hơn.
Trẻ từ 5 - 7 tuổi có vốn từ khá nhiều và chúng có thể dùng ngôn ngữ để đáp

12


lại ngôn ngữ. Như vậy, lúc này ở trẻ đã xuất hiện mối liên hệ “ngôn ngữ ngôn ngữ”.
Ở giai đoạn mẫu giáo lớn, hệ thần kinh của trẻ đã tương đối phát triển,
hệ thần kinh trung ương và ngoại biên đã biến hóa, chức năng phân tích, tổng
hợp cả vỏ não đã hoàn thiện, số lượng các phản xạ có điều kiện ngày càng
nhiều, tốc độ hình thành phản xạ có điều kiện nhanh. Do đó, trẻ có thể nói
được những câu dài, có biểu hiện ham học, có ấn tượng sâu sắc đối với những
người xung quanh. Đây là những điều kiện cần thiết để cho trẻ có thể nhận
biết, tiếp thu được những kiến thức xung quanh, học hỏi được hệ thống ngôn
ngữ, cách nói, cách diễn đạt của những người xung quanh hoặc theo những
câu chuyện văn học dành cho trẻ.
1.2.2.3. Cơ sở ngôn ngữ
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non diễn ra với tốc độ nhanh. Giai
đoạn từ 0 - 5 tháng tuổi còn gọi là giai đoạn tiền ngôn ngữ của trẻ. Khoảng 3
tháng tuổi, trẻ đã biết “hóng chuyện”, trẻ đã phát ra những chuỗi âm liên tục
không rõ ràng. Đến giai đoạn 6 - 12 tháng tuổi trẻ phát âm bập bẹ, bi bô như
“bà bà, bố bố, măm măm…”. Từ 12 - 18 tháng tuổi vốn từ của trẻ đã phát
triển lên đến 20 - 30 từ. Từ 19 - 21 tháng, số lượng từ tăng nhanh. Đến 21
tháng, trẻ đạt tới 220 từ. Giai đoạn 21 - 24 tháng, tốc độ chậm lại, chỉ đạt 234
từ vào tháng 24, sau đó lại tăng tốc: 30 tháng đạt 434 từ, 36 tháng đạt 486 từ.
Đến năm thứ 3, trẻ đã sử dụng được trên 500 từ, phần lớn là danh từ, động từ,
tính từ và các loại từ khác rất ít. Danh từ chỉ đồ chơi, đồ dùng quen thuộc, các
con vật gần gũi như: mèo, chó, gà… Động từ chỉ hoạt động gần gũi như: ăn,
ngủ, đi… Trẻ 4 tuổi có thể nắm được xấp xỉ 700 từ. Ưu thế vẫn thuộc về danh
từ và động từ. Hầu hết các loại từ đã xuất hiện trong vốn từ của trẻ. Từ 5 - 6
tuổi vốn từ của trẻ tăng bình quân đến 1.033 từ; tính từ và các loại từ khác đã
chiếm một tỉ lệ cao hơn.

13


Khả năng sử dụng câu của trẻ cũng có những tiến bộ đáng kể. Nếu như
đầu năm trẻ chỉ nói được câu có 2 từ, ví dụ “bà bế” thì đến 3- 4 tuổi, trẻ đã nói
được câu đầy đủ hơn, ví dụ như “ bà ơi bế con với, con ăn cơm rồi ạ…”. Trẻ
hay đặt các câu hỏi “tại sao?, đây là cái gì?, cái này dùng để làm gì?,...”. 5 - 6
tuổi, trẻ có thể nói được những câu dài hơn, số lượng câu đơn, câu ghép trong
lời nói của trẻ cũng tăng lên đáng kể. Trẻ có thể diễn đạt được những điều mà
trẻ mong muốn, cấu trúc câu cũng trở nên chính xác và hoàn thiện hơn. Trẻ
hứng thú với việc tham gia vào các hoạt động nghe và kể chuyện.
1.2.2.4. Cơ sở giáo dục
Nhiệm vụ của giáo dục mầm non là giáo dục thể chất, trí tuệ, đạo đức,
thẩm mỹ và lao động. Các nhiệm vụ này được thực hiện khi tiến hành việc tổ
chức các hoạt động giáo dục trong trường mầm non. Đề cập ở đây là nhiệm
vụ giáo dục trí tuệ cho trẻ thông qua hoạt động học. Sự phát triển trí tuệ của
trẻ có hiệu quả nhất diễn ra dưới tác động của dạy học và giáo dục. Nó có ý
nghĩa to lớn đối với toàn bộ hoạt động và sự phát triển sau này của trẻ. Giáo
viên cần thường xuyên tăng cường vốn tri thức cho trẻ, sắp xếp, giải thích và
hệ thống hóa các tri thức đó để giúp trẻ phát triển quá trình nhận thức.
Cùng với sự phát triển nhận thức là quá trình phát triển ngôn ngữ ở trẻ.
Việc nắm được ngôn ngữ tạo ra khả năng nắm tri thức một cách gián tiếp
(thông qua kể chuyện, giải thích của giáo viên…) mà không phải chỉ bằng con
đường tri giác trực tiếp các sự vật và hiện tượng. Nhiệm vụ của trường mẫu
giáo là phát triển ngôn ngữ cho trẻ; làm phong phú vốn từ, hình thành hệ
thống ngữ pháp, biết đặt câu, diễn đạt câu, phát triển ngôn ngữ mạch lạc, đúng
đắn.
Việc tiếp thu tri thức cũng như phát triển ngôn ngữ chủ yếu qua hoạt
động học. Thông qua các hoạt động học, giáo viên tổ chức, điều khiển, đề ra
mục đích, yêu cầu của giờ học, lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học, áp
dụng các nguyên tắc khi dạy học để kích thích tính tò mò, ham hiểu biết của

14


trẻ. Từ đó giúp trẻ dễ tiếp thu hệ thống tri thức, phát triển nhận thức, năng
lực trí tuệ và rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng. Đồng thời giúp trẻ
phát triển được khả năng diễn đạt ngôn ngữ một cách rõ ràng, mạch lạc.
Đáp ứng được những điều trên sẽ góp phần đào tạo trẻ trở thành một con
người phát triển toàn diện, vừa có tài, vừa có đức.
1.3. Cơ sở thực tiễn
1.3.1. Nội dung chương trình
Ở lứa tuổi 5 - 6 tuổi, trẻ thích được tham gia vào hoạt động nghe và
kể chuyện. Từ những câu chuyện trẻ đã được nghe, trẻ sẽ ghi nhớ được và
vận dụng vốn từ ngữ của mình để kể lại câu chuyện đó theo trí nhớ, sự sáng
tạo của trẻ. Để cho trẻ có thể dễ dàng tiếp thu và kể lại câu chuyện một
cách trọn vẹn hơn thì cần chú ý một số điểm sau:
- Các tác phẩm dùng để kể lại:
Để việc dạy trẻ kể lại các câu chuyện một cách có kết quả, điều đầu tiên
là phải biết chọn lọc những câu chuyện để kể cho trẻ nghe. Các câu chuyện
dùng để kể cho trẻ nghe không nên quá dài, cần lưu ý tới đặc điểm về
khả năng ghi nhớ và tập trung của trẻ. Những câu chuyện phải phù hợp với
trẻ về nội dung, phát triển ở trẻ những đặc tính cần thiết của nhân cách.
Chủ đề của câu chuyện cần phải rõ ràng, các sự kiện trong chuyện
diễn ra theo một trình tự nhất định. Từ ngữ cần phải gần gũi, dễ hiểu,
chính xác. Kết cấu ngữ pháp không phức tạp, hành văn phải sáng sủa, giàu
hình ảnh. Sau khi nghe, trẻ có thể kể lại và thể hiện được thái độ của mình
đối với các sự kiện trong chuyện.
Khi kể lại, trẻ có thể bỏ sót một vài khía cạnh, một vài tình tiết nhưng
không làm mất tính lôgic của sự phát triển các sự kiện trong chuyện. Có thể
thay các từ của các tác giả bằng các từ nghĩa tương tự nhưng phải thể hiện
rõ nghĩa của câu. Ở trẻ mẫu giáo lớn có thể cho trẻ thay đổi cả câu nhưng
cần đảm bảo nội dung tình tiết trong câu chuyện.
15


Một số câu chuyện để kể cho trẻ mẫu giáo lớn nghe như: “Quả bầu
tiên”, “Bài học đầu năm”, “Cái đuôi của Sóc Nâu”, “Cây rau của Thỏ Út”, “Ba
anh em”, “Tích chu”, “ Chiếc áo mùa xuân”, “Chó Sói và Cừu non”, “Vì sao
Thỏ cụt đuôi”, “Bê mẹ và Bê con”, “Giọt nước t xíu”, “Sự tích mùa Xuân”,...
- Yêu cầu đối với việc trẻ kể lại:
Đối với việc trẻ kể lại chuyện có những yêu cầu cơ bản sau:
+ Trẻ cần hiểu đầy đủ nội dung câu chuyện.
+ Trẻ kể lại đầy đủ nội dung câu chuyện, có thể bỏ sót một vài khía
cạnh, tình tiết nhưng không làm mất tính lôgic của các sự kiện trong chuyện.
+ Các chi tiết phải được kể theo một trình tự nhất định.
+ Sử dụng các từ của tác giả hoặc thay các từ ngữ của tác giả bằng các
từ tương tự nhưng phải đạt.
+ Trẻ có thể thay đổi câu nhưng phải đảm bảo tính mạch lạc, không sai
lệch nội dung chuyện.
+ Trẻ kể với nhịp điệu liên tục, không ngắt quãng quá lâu.
+ Trong lúc kể chuyện, trẻ phải thể hiện sự lịch thiệp, tự tin, bình
tĩnh, nói rõ ràng, hướng về phía các bạn.
Những yêu cầu trên có liên quan chặt chẽ với nhau, không thể bỏ
qua một yêu cầu nào. Như vậy, bằng vốn từ của mình, trẻ sẽ kể lại câu
chuyện một cách chính xác, hấp dẫn, sáng tạo hơn.
- Cơ cấu giờ học kể lại chuyện:
Chuyện dùng để trẻ nghe và kể lại cần phải dễ hiểu đối với trẻ.
Hiểu được nội dung câu chuyện sẽ giúp trẻ nhớ lâu. Nếu nội dung tác
phẩm tương đối phức tạp so với sự nhận thức của trẻ thì có thể đọc cho trẻ
nghe trước rồi 2 - 3 tiết sau mới yêu cầu kể lại. Nếu là tác phẩm không phức
tạp, trẻ dễ tiếp thu thì trên một tiết học có thể đọc cho trẻ nghe, sau đó
phân tích và cho trẻ kể lại.
16


Đầu tiên, câu chuyện được đọc một cách tự nhiên để trẻ tiếp nhận một
cách tự do. Sau đó, để trẻ kể lại nhất thiết phải có đàm thoại về câu chuyện.
Trong khi đàm thoại, giáo viên cần nắm được tình hình trẻ hiểu câu chuyện
đến mức độ nào, giải thích nội dung nếu thấy cần thiết; nhắc trẻ nhớ trình
tự các sự kiện; khuyến khích để cho trẻ nói được nhiều; tạo điều kiện để trẻ
biết kể lại một cách diễn cảm. Trong lúc đàm thoại có thể sử dụng một số
phương pháp như đặt câu hỏi, giải thích, chỉ dẫn cách nói diễn cảm, sửa lỗi
cho trẻ,… có thể cho trẻ đồng thanh nhắc lại cách diễn đạt ý của tác giả để
trong khi kể lại trẻ bắt chước sử dụng. Giáo viên cần hướng dẫn trẻ diễn
đạt ý một cách mạch lạc, diễn cảm; khuyến khích, động viên trẻ để trẻ
mạnh dạn, tự tin hơn khi đứng trước lớp kể lại chuyện.
Trong 6 tháng cuối năm học, khi trẻ đã làm quen với môi trường lớp
học, khi đã có nhiều tài liệu để kể chuyện, giáo viên có thể tiến hành giờ học
tập nghe và kể lại những câu chuyện quen thuộc.
1.3.2. Thực trạng của hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện
Theo chương trình giáo dục mầm non hiện nay thì các trường mầm non
chủ yếu dạy trẻ theo chương trình mầm non mới. Đổi mới cả về hình thức
và nội dung cho nên khi tổ chức các hoạt động dạy cần “ lấy trẻ làm trung
tâm” và giáo viên là người tạo cơ hội hướng dẫn gợi mở, tạo hứng thú
cho trẻ. Trường mầm non Cổ Loa - xã Cổ Loa - huyện Đông Anh - thành phố
Hà Nội cũng là một trường áp dụng phương thức dạy học theo chương trình
đổi mới như vậy. Qua quá trình thực tập trong thời gian 12 tuần ở trường,
chúng tôi nhận thấy có một số điểm thuận lợi và khó khăn trong việc dạy
trẻ kể lại chuyện như sau:
1.3.2.1. Thuận lợi
Nhà trường có tổng số 70 cán bộ, giáo viên, công nhân viên. Trong đó có
50 giáo viên đều có trình độ chuyên môn trung cấp, cao đẳng, đại học sư
17


phạm. Giáo viên đều có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, luôn cố gắng
không ngừng rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, sự sáng tạo
trong giảng dạy, rèn luyện phẩm chất đạo đức và lối sống. Giáo viên đều rất
yêu nghề, yêu trẻ, nhiệt huyết với công việc. Đối với hoạt động dạy trẻ kể lại
chuyện, giáo viên đã có phương pháp, sự sáng tạo trong giảng dạy. Cô giáo kể
chuyện diễn cảm, lưu loát, rõ ràng, mạch lạc.
Ban giám hiệu nhà trường cùng toàn thể giáo viên đã ý thức được tầm
quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ cũng như dạy trẻ nói
đúng ngữ pháp.
Về cơ sở vật chất nhà trường đã trang bị đầy đủ trang thiết bị cho lớp
học để phục vụ cho việc giảng dạy như: máy tính, loa đài, mạng internet, các
bộ tranh minh họa chuyện, trang phục đóng vai nhân vật trong chuyện,…
Đa số trẻ có hứng thú tham gia một cách chú ý, sôi nổi, tích cực vào
hoạt
động dạy
chuyện.

trẻ

kể

lại

1.3.2.2. Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi đó vẫn còn một số khó khăn nhất định như
sau: Trình độ nhận thức của trẻ không đồng đều. Trong cùng một giờ
học,
cùng thời gian học, và phương pháp dạy trẻ kể lại chuyện nhưng có những sự
khác biệt về nhận thức của trẻ. Có những trẻ còn chưa tiếp nhận hết
được những kiến thức, vấn đề mà giáo viên giảng dạy.
Một số trẻ còn chưa chú ý nên chưa nắm bắt được nội dung của câu
chuyện, bài học, những vấn đề giáo viên đưa ra và dạy trẻ. Chính vì vậy khi
kể lại chuyện trẻ chưa kể được lưu loát, đúng theo thứ tự nội dung, diễn
đạt còn lủng củng.

18


Hoặc có những trẻ đã nắm bắt được nội dung câu chuyện nhưng còn gặp
khó khăn trong cách diễn đạt nên câu văn của trẻ chưa trôi chảy, diễn đạt
hay mắc lỗi.

19


Một số giáo viên còn hay sử dụng tiếng địa phương, phát âm từ vựng
sai nên khi diễn đạt câu cũng hay bị mắc lỗi. Trong các hoạt động giảng dạy
nói chung và hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện nói riêng, giáo viên còn chưa
chú ý tới việc tích hợp lồng ghép các hoạt động với nhau và chưa chú ý
đến việc luyện cho trẻ nói đúng cấu trúc ngữ pháp trong câu.
Tiểu kết chương 1
Căn cứ vào những cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề, chúng ta thấy
được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ cũng như việc dạy
trẻ nói đúng ngữ pháp trong Tiếng Việt. Qua thực tiễn, chúng ta thấy được
những thuận lợi và những khó khăn vẫn còn tồn tại khi tiến hành các hoạt
động dạy trẻ kể lại chuyện. Nhìn chung các trường mầm non hiện nay đã
tiến hành đổi mới chương trình về cả nội dung và hình thức. Các hoạt động
học cũng được tiến hành đổi mới sáng tạo hơn. Trường mầm non Cổ Loa
cũng là một trường tiêu biểu cho việc đổi mới đó. Nhà trường cũng chú ý và
tạo điều kiện để có thể phát triển ngôn ngữ và khả năng diễn đạt cho trẻ.
Nhưng thực tế do nhiều yếu tố tác động nên việc nói đúng cấu trúc câu nói
chung và câu ghép chính phụ nói riêng của trẻ vẫn còn gặp nhiều khó
khăn. Từ đó nhận thấy được tình trạng trẻ nói những câu què, câu cụt,
câu chưa trọn nghĩa chiếm một số lượng không nhỏ và rất khó cho việc thể
hiện tác phẩm văn học bởi vì trẻ một phần nghèo nàn về vốn từ, không hiểu
ý nghĩa của câu, không biết phải diễn đạt câu sao cho rõ ràng, mạch lạc.
Chính vì vậy cần phải có những biện pháp thích hợp áp dụng lồng ghép
trong hoạt động dạy trẻ kể lại chuyện để dạy trẻ nói đúng một số loại câu
ghép chính phụ, giúp cho khả năng diễn đạt của trẻ tốt hơn, câu văn của
trẻ trở nên gãy gọn, chính xác, lời ăn tiếng nói của trẻ mang tính thẩm mĩ
cao hơn.
20


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×