Tải bản đầy đủ

Hình tượng nhân vật phụ nữ trong truyện lỗ tấn

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN
************************

LÊ THỊ YẾN

HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ
TRONG TRUYỆN NGẮN LỖ TẤN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài

Người hướng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN THỊ BÍCH DUNG

HÀ NỘI - 2016


LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian vừa qua, được sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo và các
bạn sinh viên trong lớp, tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp với đề tài

“Hình tượng nhân vật phụ nữ trong truyện Lỗ Tấn”.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo, các bạn sinh viên trong lớp
và đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới cô giáo TS. Nguyễn Thị
Bích Dung – người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn
thiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2016

Sinh viên thực hiện

Lê Thị Yến


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là kết quả nghiên cứu của bản thân dưới sự
hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Bích Dung. Kết quả luận văn không trùng
khớp với các công trình nghiên cứu khác, nếu sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu
trác nhiệm.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2016

Sinh viên thực hiện

Lê Thị Yến


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài. .................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề....................................................................... 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu............................................................................... 5
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát............................................. 5
5. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................... 5


6. Cấu trúc khoá luận ................................................................................... 5
CHƯƠNG 1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG
TRUYỆN NGẮN LỖ TẤN............................................................................. 7
1.1. Khái niệm nhân vật văn học và hình tượng nhân vật ........................... 7
1.1.1. Khái niệm nhân vật văn học........................................................... 7
1.1.2. Khái niệm hình tượng nhân vật...................................................... 8
1.2. Đặc điểm hình tượng người phụ nữ trong truyện ngắn của Lỗ Tấn..... 9
1.2.1. Luôn day dứt, đau khổ.................................................................. 12
1.2.2. Có tinh thần phản kháng. ............................................................. 19
1.2.3. Có tư tưởng tiến bộ....................................................................... 21
CHƯƠNG 2: NGHỆ THUẬT KHẮC HỌA NHÂN VẬT PHỤ NỮ
TRONG TRUYỆN NGẮN LỖ TẤN ........................................................... 25
2.1.Khắc họa nhân vật thông qua ngoại hình............................................... 25
2.2. Nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật............................................. 31
2.2.1. Mối quan hệ giữa tính cách nhân vật và hoàn cảnh. .................... 31
2.2.2. Khắc họa tính cách thông qua ngôn ngữ...................................... 37
KẾT LUẬN .................................................................................................... 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1.

Lý do chọn đề tài.

1


Văn học Trung Quốc là nền văn học rất lâu đời và phong phú. Ngay từ
trước công nguyên nền văn học đã có những thành tựu rực rỡ như thần thoại,
kinh thi, văn xuôi triết học, Sở từ, Sử kí… Sang đến thời trung đại thì Đường
thi, Tống từ và tiểu thuyết Minh Thanh đã trở thành ba đỉnh cao văn học rực
rỡ, chói lọi. Đến thời kì hiện đại văn học Trung Quốc đã có nhiều tác giả, tác
phẩm nổi bật và ngày càng được khẳng định về số lượng và chất lượng. Văn
học thời kì mới này cũng đã tự tin tiếp nối một cách xứng đáng với văn học
truyền thống.
Lỗ Tấn là nhà văn vĩ đại của Trung Quốc nói riêng và cả thế giới nói
chung. Ông được xem là nhà bậc thầy của dòng văn học hiện thực chủ nghĩa
thế kỉ XX. Người đương thời và các thế hệ sau công nhận Lỗ Tấn là một
“thầy thuốc văn chương”, nhà văn cách mạng, người sáng lập văn học bạch
thoại hiện đại ở Trung Quốc.
Lỗ tấn viết nhiều thể loại song có lẽ truyện ngắn chính là đặc sản của nhà
văn này, với 3 tập truyện ngắn Gào thét (1923), Bàng hoàng (1925), Chuyện
cũ viết lại (1935). Sinh ra trong thời kì đầy biến động, Lỗ Tấn sớm tiếp thu
những tư tưởng tiến bộ để nhìn nhận ra vai trò quan trọng của nhà văn đối với
xã hội cũng như phê phán những thói tật thâm căn cố đế của người Trung
Quốc.
“Gào thét” và “Bàng hoàng” là 2 tập truyện ngắn được sáng tác trong
thời kì đầu –thời kì của người chiến sĩ dân chủ cách mạng của Lỗ Tấn. Trong
truyện ngắn của ông đề cập đến nhiều nhân vật, nhân vật người nông dân,
nhân vật trí thức, nhân vật phụ nữ. Trong đó nhân vật người phụ nữ được Lỗ
Tấn đặc biệt quan tâm, ông đã có cái nhìn thương cảm, đồng cảm và hơn thế
nữa là cái nhìn tiến bộ về người phụ nữ. Hình ảnh người phụ nữ hiện lên trong
tác phẩm của ông đầy bi kịch, đau khổ nhưng cũng có những sức mạnh tiềm

2


tàng. Lỗ Tấn lên tiếng đòi quyền bình đẳng cho họ và gián tiếp chỉ ra con
đường giải phóng phụ nữ.
Tiểu Điền Nhạc Phu, người Nhật Bản viết Lỗ Tấn truyện, đem Lỗ Tấn
ra so sánh với Tôn Trung Sơn, nói rằng Tôn Trung Sơn là người xây dựng cái
bề ngoài của nước Trung Quốc mới, Lỗ Tấn là người xây dựng cái bề trong
của Trung Quốc mới. Trong một cuốn sách, có thấy câu của chủ tịch Mao
Trạch Đông nói về Lỗ Tấn: “Khổng Tử là thánh nhân của thời đại phong
kiến, Lỗ Tấn là thánh nhân của thời đại vô sản”. Sách của Lỗ Tấn bao gồm cả
sáng tác, dịch thuật, in ra hai chục quyển lớn, gọi là Lỗ Tấn toàn tập, Ở Nhật
Bản đã có dịch in Lỗ Tấn toàn tập, còn ở Liên Xô mới có tuyển tập, nhưng
dịch ra đến mười thứ tiếng cho toàn quốc. Ngoài ra các nước dân chủ nhân
dân đều có dịch một vài thứ, cả đến các nước tư bản chủ nghĩa Mỹ, Anh, Pháp
cho đến ắc-giang-tin, Đan Mạch, Ấn Độ, Miến Điện đều cũng có dịch, nhiều
nhất là A.Q chính truyện. Như vậy từ câu của chủ tịch Mao mà chúng ta có
thể nói thêm rằng: “Lỗ Tấn sẽ là thánh nhân của vô sản thế giới khi thế giới
còn có giai cấp”.
Văn học cổ đại Trung Quốc có ảnh hưởng mạnh mẽ đến văn học các
nước như: Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam …cho đến khi văn hóa phương
Tây vào Việt Nam, đặc biệt là thời Pháp thuộc thì văn học Việt Nam mới
chuyển qua chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây cho đến nay. Khi đọc
truyện ngắn Lỗ Tấn, các độc giả Việt Nam sẽ có cảm giác thật gần gũi, nghệ
thuật khắc họa tính cách nhân vật tài tình của ông, khiến không ít bạn cảm
thấy đã gặp con người này ở đâu đó trong xã hội rộng lớn kia, thậm chí cũng
có thể bắt gặp cả những tật xấu của chính bản thân mình.Trở đi, trở lại nhiều
lần trong tác phẩm của ông là tuýp nhân vật dưới đáy xã hội ,khiến cho chúng
ta liên tưởng tới các nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao. Thưởng thức
truyện của Lỗ Tấn, người đọc sẽ bật cười bởi những chi tiết hài hước, châm

3


biếm nhưng rồi gập trang sách lại bạn không khỏi có một cảm giác ngậm
ngùi.
Chọn và thực hiện đề tài “Hình tượng người phụ nữ trong truyện ngắn
Lỗ Tấn”, theo tác giả khóa luận còn mang ý nghĩa sư phạm và thực tiễn quan
trọng. Ở Việt Nam, từ lâu cái tên Lỗ Tấn đã trở nên, gần gũi, quen thuộc với
nhiều thế hệ độc giả. Các tác phẩm tiêu biểu của Lỗ Tấn như AQ chính
truyện, Thuốc, Cố hương đã được dạy trong chương trình phổ thông, lên đại
học, chúng tôi có điều kiện tìm hiểu kĩ sâu và nhiều hơn những tác phẩm của
Lỗ Tấn. Đây chính là cơ hội để chúng tôi tìm hiểu sâu sắc hơn, toàn diện hơn
về Lỗ Tấn, đồng thời cũng giúp cho chúng tôi có điều kiện thực hiện khoá
luận tốt nghiệp với đề tài nghiên cứu về sáng tác của ông. Trên cơ sở phục vụ
cho việc học tập và giảng dạy sau này, đề tài này quả thật rất có ý nghĩa và
cần thiết với những sinh viên chuyên ngành Sư phạm Văn như chúng tôi,
giúp cho độc giả và người thực hện đề tài hiểu sâu sắc hơn về tài năng sáng
tạo nghệ thuật và tinh thần nhân đạo sâu sắc của nhà văn yêu nước Lỗ Tấn
cũng như vị trí của ông trong lịch sử văn học Trung Quốc và thế giới.
2.

Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Lỗ Tấn là người đặt nền móng cho nền văn học hiện đại Trung

Quốc.Trong suốt cuộc đời cầm bút của mình, ông đã để lại cho dân tộc Trung
Hoa nói riêng và nhân loại nói chung một sự nghiệp sáng tác đồ sộ, phong
phú. Do đó đã xuất hiện rất nhiều các công trình nghiên cứu về tác phẩm của
ông.
Có thể nói, hiếm có nhà văn nước ngoài nào ở Việt Nam như Lỗ Tấn,
ngay sau khi có mặt khoảng hơn thập kỷ, đã có tới bốn tập sách giới thiệu và
nghiên cứu. Trong đó, cuộc đời, con đường phát triển tư tưởng cũng như sự
nghiệp sáng tác của nhà văn đã được giới thiệu khá đầy đủ và có hệ thống.
Bên cạnh cuốn sách của GS. Đặng Thai Mai là các cuốn: Lỗ Tấn, chủ tướng
cách mạng văn hóa Trung Quốc (1958) của Lê Xuân Vũ; Lỗ Tấn, thân thế, tư
4


tưởng, sáng tác (1960) của Lý Hà Lâm-GS của đại học Nam Khai-Thiên Tân
sang giảng chuyên đề tại Đại học tổng hợp Hà Nội; Lỗ Tấn (1971) của
Trương Chính. Sau này còn có Lỗ Tấn, nhà lý luận văn học (1977) cuả
Phương Lựu; Nguyễn Hiến Lê còn tự xuất bản tập Văn học Trung Quốc hiện
đại (1968) với nhiều trang viết dành cho Lỗ Tấn. Sau Đặng Thai Mai là
GS.Lương Duy Thứ với các công trình Lỗ Tấn - tác phẩm và tư liệu, Thi pháp
Lỗ Tấn, Lỗ Tấn phân tích tác phẩm . Trong giáo trình Lịch sử văn học Trung
Quốc tập II, Nguyễn Khắc Phi có viết:“Lỗ Tấn đã dành một phần ba truyện
ngắn của mình trong “Gào thét” và “Bàng hoàng” để phản ánh số phận của
người phụ nữ Trung Quốc trong xã hội cũ”. Nguyễn Khắc Phi chỉ ra một số
nét tính cách của người phụ nữ trong truyện ngắn Lỗ Tấn như sau: “Hai loại
phụ nữ mà Lỗ Tấn thường phản ánh trong truyện là phụ nữ lao động và trí
thức… Họ đều có tinh thần phản kháng nhưng vì đơn độc, yếu ớt cuối cùng
đều bị thất bại. Thím Tường Lâm trong Lễ cầu phúc, vùng vẫy chống lại lễ
giáo phong kiến, cuối cùng bị cái lễ giáo đó làm cho mụ mẫm, sống lay lắt,
chết trong giá tuyết của kiếp người ăn mày. Cô Ái trong “Ly hôn” quyết
không để nhà chồng hành hạ áp bức, cô bỏ về nhà mẹ đẻ, kiện cáo lên huyện
không xong thì lên phủ, làm cho bên nhà chồng phải khuynh gia bại sản.
Nhưng cuối cùng cô cũng bị thế lực phong kiến áp đảo làm mất hết chí khí,
đành phải nhẫn nhục nhận lấy chín mươi đồng bạc của nhà chồng bồi thường
cho. Còn Tử Quân trong “Tiếc thương những ngày đã mất” là một phụ nữ có
học, kiên quyết đấu tranh giành quyền tự do hôn nhân. Cô đã bất chấp sự
ngăn cản của bạn bè và sự dèm pha của xã hội để đến với tình yêu”. Nguyễn
Khắc Phi cũng nêu lên một số biện pháp nghệ thuật xây dựng hình tượng
người phụ nữ:“Trong Lễ cầu phúc qua mười ba lần tả đôi mắt thím Tường
Lâm, Lỗ Tấn nêu lên diễn biến phức tạp trong tâm trạng thím. Hoặc trong
truyện Trong quán rượu để làm nổi bật cái trong trắng hồn nhiên của A
Thuận, Lỗ Tấn đã chú ý miêu tả cặp mắt của A Thuận “trong suốt như nền
5


trời một đêm quang tạnh”. Thủ pháp “vẽ đôi mắt, tả linh hồn” trên đây của
Lỗ Tấn đã có tác dụng to lớn, nó làm tăng sức truyền cảm nghệ thuật, thể
hiện được chỗ sâu kín của tâm hồn”.
Cùng với các công trình nghiên cứu của các tác giả khác, chúng tôi thấy
rằng các nhà nghiên cứu không chỉ chú trọng khai thác về cuộc đời, nhân cách
cũng như thi pháp truyện ngắn của nhà văn mà còn chú ý tới cả các hình
tượng tiêu biểu trong tác phẩm của Lỗ Tấn, đặc biệt là hình tượng người phụ
nữ.
3.

Nhiệm vụ nghiên cứu.
Nghiên cứu cơ sở xuất hiện, đặc điểm và nghệ thuật khắc họa hình tượng

nhân vật người phụ nữ được đề cập trong truyện ngắn Lỗ Tấn. Từ đó có thể
hiểu thêm được về tài năng của Lỗ Tấn và cái nhìn đúng đắn về xã hội Trung
Quốc.
4.

Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát.
4.1. Đối tượng nghiên cứu.
Hình tượng người phụ nữ trong truyện ngắn Lỗ Tấn.
4.2. Phạm vi khảo sát.
Nghiên cứu qua hai tập truyện ngắn “Gào thét” và “Bàng hoàng”

5.

Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp khảo sát văn bản.
Phương pháp thống kê.
Phương pháp phân tích nhân vật.
Phương pháp so sánh, tổng hợp.

6.

Cấu trúc khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, cấu trúc của khoá luận gồm hai chương

như sau:
Chương 1. Đặc điểm hình tượng người phụ nữ trong truyện ngắn Lỗ
Tấn.
6


Chương 2. Nghệ thuật xây dựng hình tượng người phụ nữ trong truyện
ngắn Lỗ Tấn.

7


CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG
TRUYỆN NGẮN LỖ TẤN
1.1. Khái niệm nhân vật văn học và hình tượng nhân vật
1.1.1. Khái niệm nhân vật văn học.
Nhân vật văn học là hiện tượng hết sức đa dạng. Nhân vật văn học là con
người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng phương diện văn học.
Những con người này có thể được miêu tả kĩ hay sơ lược, sinh động hay
không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần, thường xuyên hay từng lúc, giữ vai
trò quan trọng nhiều hay ít hoặc không ảnh hưởng nhiều lắm đối với tác
phẩm.
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi (đồng chủ biên)-NXB ĐHQGHN-2000 thì “Nhân vật văn học là
một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người
có thtj trong đời sống”. “Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái
quát tính cách của con người” và “thể hiện quan điểm nghệ thuật và lý tưởng
thẩm mỹ của nhà văn về con người, vì thế nhân vật luôn gắn liền với chủ đề
tác phẩm”.
Trong cuốn Lí luận văn học, giải thích: “Nhân vật văn học là hình tượng
cá thể con người (hoặc các con vật, cây cỏ, sinh thể hoang đường) được gán
cho những đặc điểm gắn với con người trong tác phẩm văn học, cái đã được
nhận thức, tái tạo thể hiện bởi nhà văn bằng các phương tiện riêng của nghệ
thuật ngôn từ.”
Nhân vật thể hiện tập trung một loại phẩm chất, tính cách nào đó của con
người hoặc các phẩm chất, tính cách, đặc điểm của một loại người nhất định
của một thời đại. Con người được miêu tả cụ thể trong tác phẩm văn học. Dù
tác phẩm tự sự, trữ tình hay kịch, dù gián tiếp hay trực tiếp thì văn học đều
miêu tả con người.
8


Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm, Cám, anh Pha …) , cũng có
thể không có tên riêng như thằng bán tơ, một mụ nào trong Truyện Kiều
.Trong truyện cổ tích, ngụ ngôn đồng thoại, thần được đưa ra để nói con
người. Betong Brecht cho rẳng: “Các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật
không phải giản đơn là những bản dập của những con người song mà là
những hình tượng được khắc họa phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác giả”.
Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách của nhân vật
văn học cũng mang tính lịch sử .Nhân vật văn học được miêu tả qua các biến
cố, xung đột, mâu thuẫn và mọi chi tiết các loại.
Nhân vật được thể hiện bằng hình thức khác nhau có những nhân vật
được miêu tả tỉ cả về hình thức lẫn thế giới nội tâm bên trong, có những nhân
vật chỉ được nhấn mạnh ở 1 phương diện. Nhân vật văn học mang tính ước lệ,
là bóng dáng, khái quát con người trong đời sống chứ không phải con người
thật.
Nhân vật văn học không giống với các nhân vật thuộc các loại hình nghệ
thuật khác. Ở đây, nhân vật văn học được thể hiện bằng chất liệu riêng là
ngôn từ. Vì vậy, nhân vật văn học đòi hỏi người đọc phải vận dụng trí tưởng
tượng, liên tưởng để dựng lại một con người hoàn chỉnh trong tất cả các mối
quan hệ của nó.
1.1.2. Khái niệm hình tượng nhân vật.
Nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm là để nhận thức và cắt nghĩa đời sống, thể
hiện tư tưởng, tình cảm của mình, giúp con người thể hiện ý vị của cuộc đời
và lĩnh hội mọi mối quan hệ có ý nghĩa muôn màu, muôn vẻ của bản thân và
thế giới xung quanh. Nhưng khác với các nhà khoa học, nghệ sĩ không diễn
đạt trực tiếp ý nghĩ và tính cách bằng khái niệm trừu tượng, bằng định lí, công
thức mà bằng hình tượng, làm sống lại một cách cụ thể và gợi cảm những sự
việc, những hình tượng đáng làm ta suy nghĩ về tính cách và số phận, về tình
đời, tình người qua một chất liệu cụ thể.
9


Theo Từ điển Hán Việt giải thích: “Hình tượng nhân vật là hình ảnh con
người hay đời sống được miêu tả trong tác phẩm để phản ánh hiện thực và
thể hiện một tư tưởng, tình cảm nào đó”.
Hình tượng nhân vật người phụ nữ được Lỗ Tấn miêu tả trong hai tập
truyện ngắn của mình đều là những con người đại diện cho các loại số phận
khác nhau trong xã hội Trung Quốc đương thời. Thông qua những con người
ấy, Lỗ Tấn đã thể hiện quan điểm nghệ thuật về con người, về cuộc sống
trong xã hội phong kiến Trung Hoa nửa đầu thế kỷ XX một cách sâu sắc.
1.2. Đặc điểm hình tượng người phụ nữ trong truyện ngắn Lỗ Tấn.
Ngày nay, vị trí của người phụ nữ đã được đề cao, tôn vinh. Hình ảnh
người phụ nữ được hiện diện ở nhiều vị trí trong xã hội và để lại nhiều hình
ảnh bóng sắc trong thơ văn hiện đại. Nhưng thật đáng tiếc, trong xã hội cũ,
người phụ nữ lại không được như vậy, sống trong một xã hội phong kiến thối
nát với bộ máy quan lại mục ruỗng, quan niệm “trọng nam khinh nữ”, “nhất
nam viết hữu, thập nữ viết vô” ( tức là: một con trai cũng là có, mười con gái
cũng như không); “nữ nhân ngoại tộc” (tức là :phụ nữ là người ngoài); thậm
chí ngay từ trong Kinh Thi người ta đã nói: “Nãi sinh nam tử, tái lộng chi
chương. Nãi sinh nữ tử, tái lộng chi nghĩa” (tức là: Sinh con trai thì được cho
chơi cùng viên ngọc. Sinh con gái thì cho chơi đùa với ngói). Trong một xã
hội như thế, với những quan niệm, những tư tưởng như thế thì khách má hồng
(người phụ nữ) gặp chuyện mệnh bạc là sự xưa nay thường thấy. Hay nói như
đại thi hào Nguyễn Du của chúng ta:
“Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”.
(Truyện Kiều – Nguyễn Du).
Không phải đến Lỗ Tấn thì vấn đề người phụ nữ mới được đề cập đến
mà trong văn học Trung Quốc, đây là vấn đề suyên suốt mọi thời kỳ văn học.
Văn học viết về người phụ nữ có rất nhiều cảm hứng nhưng cơ bản, chủ yếu
10


và có giá trị nhất là những sáng tác thể hiện sự đồng cảm, thương sót với
những số phận bất hạnh của người phụ nữ. Đặc điểm này xuất hiện từ những
sáng tác văn học đầu tiên, đó là Kinh Thi – tuyển tập thơ dân gian đầu tiên của
văn học Trung Quốc. Trong Kinh Thi, bên cạnh những bài thơ viết về tình yêu
và hôn nhân lành mạnh, trong sáng, mang tinh thần lạc quan thì còn xuất hiện
nhiều bài thơ được dựng lên một cách sinh động hình ảnh của người phụ nữ
đau khổ: có người lớn tuổi mà chưa thành gia thất (Phiếu hữu mai); có thiếu
nữ muốn yêu mà không được yêu, thân phận họ lênh đênh như chiếc bách
giữa dòng (Bách chu, Tương Trọng Tử); đau khổ hơn là thân phận những
người vợ bị chồng phụ bạc, chị cất lên lòi than ai oán cho số phận hẩm hiu
của mình và cũng là thân phận của bao nhiêu người phụ nữ khác:
“Làm thân con gái ai ơi,
Chớ nên cùng với con trai phải lòng.

Gái này ăn ở chẳng sai,
Trai kia ăn ở ra hai ba lòng”
Cùng với sự ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Khổng – Mạnh trong đời
sống xã hội thì vấn đề thân phận của người phụ nữ càng trở nên bức thiết hơn.
Từ Kinh Thi đến những bài thơ trong dân ca nhạc phủ đời Hán như: Hữu sở
tư, Oán ca hành… chúng ta có thể thấy những vần thơ viết về người phụ nữ
dường như thống thiết, bi thương và nhiều nước mắt hơn.
Đến đời Đường, người phụ nữ và số phận đau khổ của họ cũng thu hút
rất nhiều nhà thơ. Thơ tiên Lý Bạch cũng từng viết về thân phận người phụ nữ
trong các bài thơ như Thiếp bạc mệnh, Bạch đầu ngâm, ông đả kích tình trạng
có mới nới cũ của đàn ông, đồng thời nêu lên nỗi đau khổ tủi hờn của người
phụ nữ có chồng nhưng bị chồng ruồng bỏ. Trong thơ Lý Bạch người phụ nữ
hiện ra đầy xót thương nhưng chưa đến mức quằn quại, đau đớn như trong thơ
Đỗ Phủ. Trong bài thơ Tự kinh phó Phụng Tiên, Đỗ Phủ đã thể hiện một cách
11


cảm động nỗi đau đớn của một người phụ nữ nông dân bị người ta đánh đập
một cách phũ phàng. Đồng cảm và thương sót cho thân phận đau khổ của
người phụ nữ, cho nên nhà thơ Bạch Cư Dị đã từng kêu gọi:
“Tu chi phụ nữ khổ
Tòng thử mạc tượng khinh.”
(tức là: Phải biết nỗi khổ cảu người phụ nữ, để từ đây không coi khinh
họ nữa). Tuy nhiên Bạch Cư Dị cũng nhận thức được một cách sâu sắc nguồn
gốc dẫn đến những nỗi khổ của người phụ nữ là ở chính cái trật tự xã hội
chính thống đương thời. Họ khổ do phải chịu sự chi phối của những tư tưởng
đã ăn sâu bám chắc trong lòng xã hội ấy. Vì vậy Bạch Cư Dị đã thốt lên:
“Đời người không nên làm phụ nữ
Trăm năm vui khổ cũng do người.”
Cùng với các nhà thơ đời trước, đến Lỗ Tấn thì người phụ nữ cũng là
những đối tượng chính trong truyện của ông bên cạnh các đề tài như người trí
thức hay người nông dân. Trong 26 thiên truyện của hai tập “Gào thét” và
“Bàng hoàng” có 20/26 có sự xuất hiện của nhân vật người phụ nữ, khi thì họ
là những nhân vật chính câu chuyện (chị Tư Thiền – Ngày mai; thím Tường
Lâm - Lễ cầu phúc; Ái-Li hôn…) khi thì họ là những nhân vật phụ tham gia
vào tình huống trong truyện nhưng mỗi sự xuất hiện lại một vẻ khác nhau.
Lỗ Tấn là một nhà văn Trung Quốc thiết tha nhất và hiểu sâu sắc nhất
với tầng lớp người dưới đáy xã hội đặc biệt là những người phụ nữ. Ông đồng
cảm sâu sắc với những nỗi bất hạnh của họ. Trong hai tập truyện này, khi
khảo sát, chúng tôi thấy rất ít các tác phẩm là không có hình ảnh người phụ
nữ, dù là nhân vật chính hay phụ thì đều nói lên được nỗi khổ đồng thời là
những mong muốn, khao khát của họ trong cuộc sống. Lỗ Tấn đã xây dựng
những cái tên đại diện cho từng tầng lớp.
Thím Tường Lâm trong Lễ cầu phúc, Chị Tư Thiền trong Ngày mai là
vấn đề tiết liệt, và vấn đề nhịn nhục, u lì.
12


Cô Ái đại diện cho những người có ý thức phản kháng nhưng chỉ là tự
phát.
Tử Quân đại diện cho những con người có tư tưởng tiến bộ thời bấy giờ.
Những nhân vật phụ nữ của ông từ những phụ nữ nông thôn bị giam hãm

13


trong những thứ “quyền” đến những cô gái thành thị nói ra: “Con người của
em là của em, không ai có quyền can thiệp vào đời em cả” như Tử Quân cũng
cùng chung số phận với những nhân vật khác. Ở một lúc nào đó có một
“luống ánh sáng” chợt lóe lên với họ nhưng nó chẳng đủ quang năng để họ
nhận ra con đường và cũng thiếu nhiệt năng để hong khô những ẩm mốc bao
quanh họ. Lỗ Tấn đã cho chúng ta chứng kiến tường tận cái cột phong kiến
mục rũa trong cảnh ngộ của thím Tường Lâm. Thần quyền, cường quyền, phụ
quyền, lễ giáo, gia phong làm cho thím đơ dại đến nỗi chở thành con người
gỗ. Người ta cho rằng thím dơ bẩn vì lấy hai đời chồng, không ai nghe thím
kể lể, không ai cảm thông cho đứa con tội nghiệp của thím và cuối cùng thím
chết trong đói và rét giữa cái không khí vui tươi của ngày lễ cầu phúc. Rồi
đến cô Ái, dù cô có cất cao giọng chửi bố chồng là “thằng chó già”, chửi
chông là “thằng chó đểu” thì rốt cục cô vẫn chẳng lấy lại được sự công bằng
cho những uất ức, tủi nhục của mình, bởi cụ Thất, cái con người béo lùn ấy
chính là trở ngại lớn nhất của cô, người ta phán cô sao cô đành chịu. Và cả Tử
Quân nữa, cuộc sống hạnh phúc mà nàng mơ ước cùng với Quyên Sinh chỉ
diễn ra trong một thời gian rồi nàng đành quay trở lại với con mắt ghẻ lạnh
của người đời và sự hà khắc của ông bố.
1.2.1. Luôn day dứt, đau khổ.
Thím Tường Lâm, người phụ nữ chìm đắm trong những bất hạnh triền
miên Thím lấy chống năm mười bảy tuổi, chồng kém thím mười tuổi. Cuộc
hôn nhân ép gả không có hạnh phúc với tư tưởng “cha mẹ đặt đâu, con ngồi
đấy”, nó không xuất phát từ tình yêu chính thím là nạn nhân của lễ giáo
phong kiến nhưng thím cũng phải chấp nhận và nghĩ rằng khi có một gia đình

14


thì thím được yên thân, trớ trêu thay thím lại trở thành một góa bụa khi mới
ngoài hai mươi tuổi. Thật là một nỗi đau đớn tột cùng của người phụ nữ, chỗ
dựa vững chắc của gia đình đã không còn nên thím đã bỏ nhà đi làm thuê
kiếm sống, thím muốn lao động để quên đi tất cả. Thím những mong đem sức
lao động của mình để đổi lấy một cuộc sống tối thiểu, điều mong ước ấy đâu
có cao xa, ảo tưởng: “Ngày tháng trôi qua rất nhanh. Công việc thím
không hề bê trễ, ăn gì xong bữa thì thôi. Đã làm thì làm cật lực không suy
tính thiệt hơn. Ai cũng khen nhà ông Tư nuôi được người ở gái siêng năng,
lanh lẹn hơn cả đàn ông nữa. Công việc cuối năm một mình thím đảm
đương hết, nào là quét dọn, lau nền nhà, giết gà, mổ ngỗng, thức suốt đêm
nấu nướng sửa soạn lễ cầu phúc chẳng phải thuê mướn ai thêm. Thế nhưng
thím lại lấy rất làm hể hả, trên môi thoáng thấy có nụ cười, và mặt mày cũng
béo trắng ra”. Những cuộc đời đầy nghiệt ngã cứ bám riết lấy người phụ nữ
bất hạnh này, mẹ chồng thím bắt thím về rồi gả bán thím lấy tiền mua cô dâu
mới cho em chồng.
Thím cũng không chịu lặng lẽ trên bước đường cùng của mình, thím đã
chống cự lại sự sắp đặt của mẹ chồng. Khi bị bắt gả về cho người khác, thím
“khóc và la lên mấy tiếng” thím đã vùng vẫy cố mong có ai đó nghe và cứu
mình, thím sợ một cuốc sống lặp lại như cũ với bà mẹ chồng cay nghiệt. Khi
bị gả cho người khác, thím phản kháng kịch liệt: “Thím ta làm dữ lắm cơ …
suốt dọc đường cứ la hét, chửi bới ầm ĩ lên, lúc về đến Hạ Gia Úc thì khản tịt
cả cổ. Lôi ra khỏi kiệu, hai người đàn ông và chú em nữa ra sức kìm giữ thím
ta lại, mà thím ta cũng chả chịu lễ bái cho ra trò, vừa sơ ý hở tay ra một cái
là ối giời ơi, a di đà phật, thím ta đập ngay đầu vào góc hương án rồi thủng
một lỗ sâu hoáy, máu tươi phụt ra, phải lấy hai nắm tàn nhang dịt vào, rồi lấy
hai vuông vải điều buộc chặt lại mà vẫn không cầm nổi. Mãi đến khi mỗi
người một tay xúm lại vực thím ta vào trong buồng với chồng, rồi khóa trái
lại mà thím ta vẫn chửi”. Nhưng cuối cùng thím cũng không làm thay đổi
15


được gì, hậu quả là thím bị vết sẹo trên trán như một nỗi sỉ nhục của cuộc đời.
Thím là một con người mà vì sao lại trở thành vật có thể mua đi bán lại như
vậy? Nguyên nhân đó là vì cái xã hội phong kiến tàn ác khiến thím trở nên
như vậy, cũng chính vì nó mà thím bị người dân Lỗ Trấn khinh bỉ, xa lánh vì
nghĩ rằng thím lấy hai đời chồng là bại hoại gia phong. U Liễu nói với thím:
“Thím nghĩ mà xem, mai sau thím chết xuống âm phủ, hai người chồng tranh
nhau thì thím sẽ về ở với người nào? Vua Diêm Vương đành phải cưa đôi
thím ra, chia cho mỗi người một nữa, tôi thấy thật là …”.
Lấy chồng mới thím cũng có niềm hạnh phúc nhỏ là sinh được thằng
con trai bé nhỏ nhưng rồi niềm hạnh phúc đến với thím thật ngắn ngủi, chồng
thím bị ốm một trận thương hàn rồi chết, con trai thím thì bị chó sói tha. Hình
ảnh thằng bé bị chó sói ăn thịt,hai người chồng đều chết, thím bị người ta xa
lánh, khinh bỉ, bản thân không có lấy một người họ hàng thân thích. Tất cả
những bất hạnh ấy làm cho thím ngày càng mụ mẫm, không còn lanh lợi nữa,
rồi người ta cũng không thuê thím nữa, thật đáng thương, thím giờ đây chỉ
muốn “làm nô lệ” cho yên thân thôi cũng không được, người ta hắt hủi thím,
thím trở nên bơ vơ, lạc lõng. Nỗi đau mất đứa con trai yêu quý nó hằn sâu
trong tâm trí của thím. Thím lúc nào cũng đau xót kể câu chuyện đáng thương
của mình mong nhận được sự đồng cảm, ban đầu thì người Lỗ Trấn cũng
đồng cảm với thím nhưng sau đó, câu chuyện nghe mãi rồi họ lại quay ra dè
bỉu, thậm chí không bận tâm đến thím nữa, thím lại buồn đau khổ.
Câu hỏi cuối cùng trước khi chết của thím khi thím hỏi nhân vật tôi:
“Con người chết rồi thì có linh hồn nữa hay không?”, câu hỏi đó cứ láy đi láy
lại như một điệp khúc, nó đã tác động sâu sắc đến cảm nghĩ của người đọc.
Vậy là nỗi đau khổ của con người ấy không phải là sự đói cơm rách áo mà là
sự day dứt trong sâu thẳm trong tâm hồn khi nghĩ rằng lúc chết đi sẽ bị trừng
phạt. Câu hỏi hoảng hốt đó thể hiện rõ thần quyền vẫn còn chế ngự trong tâm
hồn thím: thím vừa muốn người chết rồi có linh hồn để gặp lại con trai, vừa
16


không muốn có linh hồn, vì không có linh hồn là không có địa ngục và như
vậy thím sẽ không bị Diêm Vương cưa ra làm đôi vì lấy hai chồng. Đến cả khi
chết đi rồi thím vẫn không có một câu trả lời thỏa đáng, thím mang nỗi băn
khoăn đó về thế giới bên kia. Thím đã luôn sống trong nỗi ân hận, day dứt
trong quá khứ và trong hiện tại, luôn mang theo gánh nặng tnh thần bên
mình mà không là sao dứt ra được.
Cái chết của thím mới thật xót xa. Trong khi mọi người sửa soạn đón
năm mới tromg niềm vui hân hoan, hạnh phúc thì thím lại chết trong
cô quạnh. Ở nhân vật thím Tường Lâm có sự dồn tụ bị kịch số phận của
bao nhiêu người phụ nữ Trung Quốc dưới chế độ xã hội cũ. Cuộc đời của
thím là một tấn bi kịch, Lỗ Tấn đã thể hiện mối đồng cảm đối với cuộc đời
bi thảm của thím. Câu chuyện về cuộc đời thím Tường Lâm gợi nhiều suy
nghĩ và nỗi trắc ẩn cho người đọc: Tại sao con người chỉ mong được “yên
thân” thôi mà cũng không được? Và làm thế nào để một người phụ nữ như
thím Tường Lâm có thể tồn tại được ở giữa cuộc đời này…? Tác giả
không chỉ dừng lại ở những điểu mắt thấy tai nghe bên ngoài mà quan
trọng hơn là sự soáy sâu, phanh phui tới tận gốc rễ của sự thật.
Thím Tường Lâm tuy bất hạnh nhưng vẫn được mọi người đồng cảm,
còn chị Tư Thiền còn không có được sự cảm thông từ xung quanh. Chị là nạn
nhân của hủ tục xã hội, số phận chị không may mắn có một niềm hạnh phúc,
cuộc đời cứ vùi dập chị trong sự đau khổ triền miên. Chị là một người phụ nữ
bất hạnh, mất chồng, chị sớm trở thành góa bụa, chị chèo chống với cuộc đời
để nuôi dạy đứa con yêu quý. Chị tìm thấy ở con niềm vui, nguồn động lực,
niềm an ủi để sống. Ước mơ lớn nhất của chị là luôn được sống bên
con, chăm lo ăn sóc cho con. Nhưng hạnh phúc nhỏ nhoi của một người mẹ
đã không còn nữa, một mình chị phải đối mặt với nỗi cô đơn, bất hạnh, chị

17


Tư Thiền mong và chờ đợi vào “ngày mai” mà đâu biết rằng phía trước chị
là một màu tối đen.

18


Mặc dù phải lao động vất vả, phải thức đêm hôm để quay tơ nhưng chị
cũng thấy hạnh phúc. Những vòng quay đều đều khi có đứa con trai bên cạnh
cũng mang linh hồn và chan chứa hạnh phúc. Tất cả hạnh phúc chị gửi gắm
vào đứa con trai yêu quý. Thế nhưng cũng giống với thím Tường Lâm, chị đã
mất đi đứa con trai yêu quý của mình. Đối với chị lúc đó, mỗi tấc sợi kéo ra
hình như đều có ý nghĩa, có linh hồn. Nhưng bây giờ chị thế nào? Điều đó chị
quả thực không nghĩ ra được như thế nào cả.
Trước mắt chị chỉ là bóng đêm, chị không thể nào tin vào hiện thực, chị
không tin rằng con trai chị lại bỏ chị mà đi. Chị chỉ có nó là niềm hạnh phúc,
là động lực để lao động. Tâm hồn chị cứ như trong mơ: “Chị giương mắt to
nhìn xung quanh thấy làm quái lạ, những việc xảy ra đều là những việc không
thể xảy ra được. Chị nghĩ bụng: “mình chiêm bao chăng” chị không tn
những việc xảy ra là thực, “Chị càng nghĩ càng sửng sốt. Rồi chị cũng thấy
một việc khác lạ nữa là gian nhà chị ở sao lại vắng vẻ thế này”. Chi khao
khát tếng mẹ ơi, mong muốn có thể gặp lại đứa con bé nhỏ, chị: “Nhớ lại hồi
nào chị ngồi kéo sợi, thằng Báu ngồi cạnh ăn đậu hồi hương, nó giương cặp
mắt bé tý, đen nháy nhìn chị một lúc lâu” giờ đây “chị cảm thấy cái gian nhà
to hơn, trống trải đó vây lấy chị, đè lên người chị, làm chị không thở được”.
Chị vật vã trong nỗi đau của người mẹ mất con. Trước mắt chị, một màu đen
bao phủ: động lực sống, niềm an ủi cuộc đời không còn nữa, tương lai
mù mịt. Những người xung quanh thì tỏ ra thờ ơ trước nỗi đau của chị.
Chị cố gắng vớt vát chút ít hơi ấm của đứa con nhỏ còn sót lại, cố gắng gặp
hình ảnh con trong mơ. Đó là niềm an ủi duy nhất để chị tiếp tục sống
tồn tại trong cuộc đời. “Ngày mai” luồng ánh sáng sẽ tỏa ra và nó khơi lên
những nỗi đau trong lòng chị. Nó không sưởi ấm tâm hồn người mẹ mà lại
làm cho nỗi đau mất con của người mẹ trở nên nhức nhối. Cuộc đời chị
đã bị bóng đen bất hạnh cuốn đi, rồi đây chị sẽ sống ra sao? Liệu rằng trong
19


cảnh vắng lặng của cái đêm trường đang chuyển mình để trở thành ánh
sang của ngày mai kia,

20


người đàn bà cô đơn Tư Thiền và những người đàn bà cùng cảnh ngộ với chị
có còn đủ sức kéo lê cuộc sống mòn mỏi đi tới “ngày mai”? Chị Tư Thiền giờ
đây chỉ còn một mình, sống cô đơn với nỗi nhớ đứa con trai yêu quý.
Một cuộc sống không còn hi vọng, tất cả không còn ý nghĩa, đây chính là cái
chết tinh thần. Ranh giới giữa hạnh phúc và khổ đau của con người rất
mong manh. Sự bất trắc trong cuộc đời lại không ai có thể lường trước
được. Đôi khi một chữ “nhưng” thôi có thể làm thay đổi vận mệnh của con
người. Đằng sau sự suy nghiệm sâu xa của tác giả ta cảm nhận được sự cảm
thông, chia sẻ với những người phụ nữ bất hạnh.
Trong truyện Ly hôn, Cô Ái sau khi đi kiện về không có kết quả, vừa
mất chồng vừa bị nhà chồng khinh, cô phải sống trong sự miệt thị
của người đời: “Hai bà cụ ở phía mũi ngồi niệm Phật khe khẽ, lần tràng
hạt, hết nhìn cô Ái lại nhìn nhau, bĩu môi gật đầu”. Ngay cả những người
theo đạo Phật nổi tếng là từ bi cũng không dành cho cô một chút
thương cảm nào còn khinh bỉ cô. Cô phải sống suốt quãng đời còn lại trong
tủi nhục, không ngẩng mặt lên được, mang trong mình những day dứt,
khổ đau, dằn vặt ở hiện tại và tương lai, một sự tổn thương tnh thần
không gì có thể hàn gắn được.
Hai bà mẹ trong truyện ngắn Thuốc đều chịu sự đau khổ, day dứt
ở trong cuộc sống hiện tại. Một bà mẹ có con bị bệnh lao, chạy chữa cho
con bằng mọi cách với một hi vọng “ăn đi con, sẽ khỏi ngay thôi”, những
mong thang thuốc mà khó khăn lắm mới mua được sẽ phát huy tác dụng, sẽ
cứu sống đứa con duy nhất của mình, nhưng cuối cùng đứa con vẫn
chết mang theo bao hi vọng của bà. Sự đau đớn mất mát đó làm cho
bà Hoa già nhanh hơn: “Gió hiu hiu thổi vào mớ tóc ngắn của bà ta, so
với năm ngoái chắc là bạc nhiều lắm rồi”, bà cũng không muốn tin vào sự

21


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×