Tải bản đầy đủ

Phát triển một số năng lực cơ bản cho trẻ MGN thông qua hoạt động tìm hiểu hiệu quả của ngôn ngữ thơ (2017)

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
------------------------------------

NGUYỄN THỊ MAI THU

PHÁT TRIỂN MỘT SỐ NĂNG LỰC CƠ
BẢN CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TÌM HIỂU
HIỆU QUẢ CỦA NGÔN NGỮ THƠ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ

HÀ NỘI – 2017


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
------------------------------------

NGUYỄN THỊ MAI THU


PHÁT TRIỂN MỘT SỐ NĂNG LỰC CƠ
BẢN CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TÌM HIỂU
HIỆU QUẢ CỦA NGÔN NGỮ THƠ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ

Người hướng dẫn khoa học

ThS. GVC. PHAN THỊ THẠCH

HÀ NỘI – 2017


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo
trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục
Mầm non và các thầy cô trong khoa Ngữ văn đã giúp tôi trong quá trình học
tập tại trường và tạo điều kiện cho tôi thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn
Th.S. Phan Thị Thạch - người đã trực tiếp chỉ bảo tận tình tôi trong quá
trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn tới các cán bộ quản lý thư viện trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn
thành khóa luận của mình.
Qua đây, tôi cũng xin gửi tới ban Giám hiệu và các cô giáo trường
Mầm non Đại Thịnh - Mê Linh - Vĩnh phúc lời cảm ơn chân thành nhất.
Trong khuôn khổ thời gian có hạn nên đề tài khó tránh khỏi những hạn
chế. Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp của các thầy cô giáo cùng
bạn đọc để tiếp tục hoàn thiện trong quá trình học tập và giảng dạy sau này.
Hà nội, ngày tháng 05 năm 2017
Sinh viên

Nguyễn Thị Mai Thu


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các căn cứ, các
số liệu trong khóa luận là trung thực. Đề tài này chưa được công bố trong bất


kì công trình khoa học nào khác.

Hà nội, ngày tháng 05 năm 2017
Sinh viên

Nguyễn Thị Mai Thu


KÍ HIỆU VIẾT TẮT
C:

Chủ ngữ

CNTT:

Công nghệ thông tin

ĐHQGHN:

Đại học Quốc gia Hà Nội

ĐHSPHN:

Đại học Sư phạm Hà Nội

GD - ĐT:

Giáo dục - Đào tạo

GDVN:

Giáo dục Việt Nam

MGN:

Mẫu giáo nhỡ

MN:

Mầm non Nxb:

Nhà xuất bản SGK:
Sách giáo khoa Tr:
Trang
V:

Vị ngữ

VB:

Văn bản

VD:

Ví dụ


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài............................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 2
3. Đối tượng ...................................................................................................... 4
4. Mục đích nghiên cứu..................................................................................... 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 4
6. Phạm vi nghiên cứu....................................................................................... 5
7. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 5
8. Cấu trúc khóa luận ........................................................................................ 6
NỘI DUNG....................................................................................................... 7
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN.............................. 7
1.1. Cơ sở lí luận .............................................................................................. 7
1.1.1. Những khái quát chung về năng lực................................................... 7
1.1.2. Cơ sở ngôn ngữ học.......................................................................... 12
1.1.3. Cơ sở tâm lí học................................................................................ 17
1.2. Cơ sở thực tiễn........................................................................................ 19
1.2.1. Thực trạng của việc phát triển một số năng lực cơ bản trên bình diện
ngôn ngữ thơ của trẻ MGN ở trường MN xét từ phía giáo viên ................ 20
1.2.2. Thực trạng năng lực cơ bản của trẻ MGN ở trường MN Đại Thịnh 27
Chương 2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ MẪU GIÁO NHỠ PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC CƠ BẢN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TÌM HIỂU
NGÔN NGỮ THƠ......................................................................................... 31
2.1. Kết quả thống kê phân loại văn bản và phương tiện ngôn ngữ trong
các văn bản thơ thuộc chương trình GD trẻ MGN.................................... 31
2.1.1. Tiêu chí phân loại ............................................................................. 31


2.1.2. Kết quả thống kê phân loại VB thơ và phương tiện ngôn ngữ trong
các VB đó.................................................................................................... 31
2.2. Một số biện pháp giúp trẻ MGN tìm hiểu ngôn ngữ thơ để phát triển
những năng lực cơ bản.................................................................................. 40
2.2.1. Biện pháp giúp trẻ MGN tìm hiểu ngôn ngữ thơ để bồi dưỡng năng
lực ngôn ngữ ............................................................................................... 41
2.2.2. Biện pháp giúp trẻ MGN tìm hiểu ngôn ngữ thơ để bồi dưỡng năng
lực giao tiếp ................................................................................................ 49
2.2.3. Biện pháp giúp trẻ MGN tìm hiểu ngôn ngữ thơ để bồi dưỡng năng
lực tư duy .................................................................................................... 52
2.2.4. Biện pháp giúp trẻ MGN tìm hiểu ngôn ngữ thơ để bồi dưỡng năng
lực hợp tác .................................................................................................. 53
2.2.5. Biện pháp giúp trẻ MGN tìm hiểu ngôn ngữ thơ để bồi dưỡng năng
lực thẩm mĩ ................................................................................................. 55
2.3. Giáo án thể nghiệm ................................................................................ 59
KẾT LUẬN .................................................................................................... 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 72


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Việc lựa chọn đề tài: “Phát triển một số năng lực cơ bản cho trẻ MGN
thông qua hoạt động tìm hiểu hiệu quả của ngôn ngữ thơ” xuất phát từ nhận
thức sâu sắc của chúng tôi về vai trò chức năng của ngôn ngữ nghệ thuật nói
chung, ngôn ngữ thơ nói riêng với việc bồi dưỡng những năng lực cơ bản cho
trẻ MGN. Việc lựa chọn đề tài trên của chúng tôi còn xuất phát từ nhận thức
về sự cần thiết của việc bồi dưỡng năng lực cốt lõi cho trẻ và từ những hạn
chế của việc làm này ở trường MN.
Trước tiên, chúng ta đều nhận thấy rằng bậc học MN là bậc học luôn
nhận được sự quan tâm rất lớn từ gia đình, nhà trường và xã hội. Độ tuổi MN
là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển năng lực, hình thành nhân cách
và bồi dưỡng tâm hồn trẻ. Năng lực là yếu tố cần thiết để trẻ phát triển. Do
giai đoạn này, trẻ học hỏi và tiếp thu những kiến thức từ thế giới xung quanh
rất nhanh. Vì vậy, việc bồi dưỡng năng lực cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ sẽ
mang lại hiệu quả rất cao tạo nền tảng, xây dựng cơ sở vững chắc cho tương
lai sau này của trẻ. Nhất là trong thời kì hiện nay khi đất nước đang ngày càng
phát triển, điều này đòi hỏi thế hệ sau phải có đầy đủ các năng lực cần thiết để
thích nghi và giải quyết các vấn đề trong cuộc sống, từ đó đưa đất nước ngày
càng phát triển hơn.
Năng lực của trẻ không tự nhiên mà có. Đó là cả một quá trình rèn
luyện, trẻ được học tập, trải nghiệm, tích lũy kiến thức và kinh nghiệm sống.
Ở trường MN, những năng lực cơ bản và cần thiết cho trẻ được hình thành
qua nhiều hoạt động phong phú, trong đó có hoạt động trẻ được làm quen với
ngôn ngữ thơ.
Theo chúng tôi, ngôn ngữ thơ là loại ngôn ngữ văn hóa đặc biệt. Đó là
loại ngôn ngữ giàu sức tạo hình, biểu cảm. Đó cũng là loại ngôn ngữ giàu tính

1


nhạc, có sức lôi cuốn làm mê đắm lòng người, đặc biệt có sức hấp dẫn đối với
trẻ mẫu giáo, nhất là đối với trẻ MGN khi mà độ tuổi này các bé đã có khả
năng hiểu được ngôn ngữ nghệ thuật, khả năng tư duy và khả năng tưởng
tượng. Được tiếp cận với loại ngôn ngữ này, trẻ được giao tiếp trong một môi
trường văn hóa lành mạnh có hiệu quả GD cao. Thông qua các phương tiện
ngôn ngữ thơ trẻ dễ dàng nhận thức được đối tượng phản ánh. Qua đó trẻ học
được những cách dùng ngôn ngữ để diễn đạt hiệu quả nội dung giao tiếp,
đồng thời biết phân biệt cái đẹp với cái xấu, biết rung cảm yêu thích cái đẹp.
Như vậy các phương tiện ngôn ngữ thơ góp phần tích cực giúp trẻ bồi dưỡng
các năng lực cơ bản một cách tự nhiên, hiệu quả.
Trong xu thế đổi mới GD - ĐT, nội dung chương trình GD trẻ MGN đã
có sự thay đổi, nhiều hoạt động GD được tổ chức đã có những hiệu quả nhất
định. Tuy vậy, do nhiều lí do khác nhau, trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ MGN
nói riêng chưa phát triển hết những năng lực cần có.
Từ những lí do trên, chúng tôi cho rằng việc thực hiện đề tài khóa luận
đã nêu trên là rất cần thiết.
2. Lịch sử vấn đề
Tìm hiểu về ngôn ngữ nghệ thuật không phải vấn đề mới, vì trước đây
đã có rất nhiều nhà khoa học với những công trình nghiên cứu đã được xã hội
ghi nhận. Bên cạnh đó những sinh viên ở các trường Đại học, Cao đẳng trong
đó có các sinh viên thuộc khoa Giáo dục Mầm non trường Đại học Sư phạm
Hà Nội II cũng đã bỏ công nghiên cứu.
Trong cuốn giáo trình “Phong cách học Tiếng Việt”, Nxb Giáo dục,
năm 1999, Đinh Trọng Lạc đã trình bày khái niệm, các đặc trưng của các
phong cách chức năng ngôn ngữ, trong đó có phong cách ngôn ngữ nghệ
thuật. Tác giả đã giúp người đọc nhận ra được rằng phong cách ngôn ngữ
nghệ thuật thuộc phong cách ngôn ngữ văn hóa. Từ đó, người đọc có thể nhận


ra được rằng ngoài những đặc trưng chung của ngôn ngữ văn hóa, ngôn ngữ
nghệ thuật có những đặc thù riêng.
Tác giả Nguyễn Xuân Khoa trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn
ngữ cho trẻ mẫu giáo”, Nxb Đại học Sư phạm, năm 2004 đã nghiên cứu rất kĩ
sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo dựa trên đặc điểm tâm sinh lí của trẻ.
Ông thấy được ý nghĩa của ngôn ngữ nghệ thuật đối với trẻ. Từ đó, tác giả đã
đề cập đến nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ MN thông qua việc cho trẻ
làm quen với các tác phẩm văn học và không thể không kể đến việc cho trẻ
làm quen với ngôn ngữ thơ.
Trong cuốn“Phương pháp cho trẻ mầm non làm quen với tác phẩm văn
học”, Nxb Giáo dục Việt Nam, tác giả Lã Thị Bắc Lý - Lê Thị Ánh Tuyết đã
đi nghiên cứu đặc điểm, ý nghĩa của ngôn ngữ thơ và nêu cách thức tổ chức
hoạt động cho trẻ làm quen với ngôn ngữ thơ. Các tác giả đã chỉ ra thơ ca
giúp trẻ tiếp nhận cái hay cái đẹp trong tiếng nói dân tộc, làm giàu cảm xúc
của trẻ phát triển trí tưởng tượng và giúp trẻ khám phá những điều mới lạ
trong thế giới xung quanh.
Các tác giả Ngữ văn 10, tập hai, Nxb Giáo dục, năm 2015 đã chọn
phong cách ngôn ngữ nghệ thuật làm một nội dung dạy học cho học sinh lớp
10. Ở bài học này, các tác giả giúp học sinh nhận thức được khái niệm và các
đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật.
Gần đây (năm 2006) hai sinh viên khoa Giáo dục Mầm non trường Đại
học Sư phạm Hà Nội II trong khóa luận tốt nghiệp đã tìm hiểu hiệu quả của
một biện pháp tu từ trong các bài thơ thuộc chương trình Giáo dục Mầm non.
Đó là:
- Hoàng Kim Dung, “Hiệu quả của biện pháp tu từ nhân hóa trong các
bài thơ thuộc chương trình Giáo dục Mầm non”.


- Lê Thị Lanh, “Hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong các bài thơ
thuộc chương trình Giáo dục Mầm non”.
Đối tượng và mục đích nghiên cứu của hai sinh viên trên thể hiện rõ ở
đề tài nghiên cứu của họ.
Thông qua việc tổng thuật nghiên cứu đã được trình bày ở trên chúng
tôi nhận thấy tìm hiểu về ngôn ngữ nghệ thuật không phải vấn đề mới nhưng
đề tài: “Phát triển một số năng lực cơ bản cho trẻ MGN thông qua hoạt động
tìm hiểu hiệu quả của ngôn ngữ thơ” lại là một vấn đề không cũ và không
trùng lặp với bất kì một ai.
3. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là: Một số biện pháp giúp trẻ
MGN tìm hiểu ngôn ngữ thơ nhằm phát triển một số năng lực cơ bản trong đó
có năng lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp, năng lực tư duy, năng lực hợp tác
và năng lực thẩm mĩ.
4. Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi nghiên cứu đề tài để thấy rõ hiệu quả của ngôn ngữ thơ đối
với việc phát triển một số năng lực cơ bản cho trẻ. Đó là: năng lực ngôn ngữ,
năng lực giao tiếp, năng lực tư duy, năng lực hợp tác và năng lực thẩm mĩ cho
trẻ MN, trong đó có trẻ MGN. Từ đó, đề xuất các biện pháp thích hợp nhằm
phát triển các năng lực cần có cho trẻ qua việc tìm hiểu ngôn ngữ thơ.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Lựa chọn những lí thuyết chuyên ngành xác thực làm cơ sở lí luận
cho khóa luận.
5.2. Khảo sát thống kê phân loại các phương tiện ngôn ngữ, các biện
pháp tu từ về ngữ âm, về từ vựng - ngữ nghĩa, về cú pháp trong văn bản thơ
thuộc chương trình GD trẻ MGN ở trường MN.


5.3. Sử dụng các phương pháp nghiên cứu thích hợp để làm rõ những
biện pháp giúp trẻ MGN phát triển một số năng lực cơ bản thông qua hoạt
động tìm hiểu hiệu quả của ngôn ngữ thơ.
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn nội dung nghiên cứu
Tập trung lựa chọn những biện pháp giúp trẻ MGN phát triển một số
năng lực: Ngôn ngữ, giao tiếp, tư duy, hợp tác và thẩm mĩ thông qua hoạt
động tìm hiểu ngôn ngữ thơ.
6.2. Giới hạn khảo sát thống kê các văn bản thơ trong chương trình GD
trẻ MGN.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng khi xây dựng cơ sở lí luận
cho đề tài khóa luận.
7.2. Phương pháp thống kê
Phương pháp này được chúng tôi vận dụng để thống kê số lượng các
tác phẩm thơ trong chương trình GD trẻ MGN ở trường MN, đồng thời thống
kê việc sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong các tác phẩm thơ.
7.3. Phương pháp phân tích
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để phân tích các ngữ liệu có sử
dụng ngôn ngữ nghệ thuật nhằm chỉ ra hiệu quả của ngôn ngữ thơ đối với sự
phát triển năng lực cho trẻ.
7.4. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp: Quan sát, điều tra, đàm thoại.
Chúng tôi vận dụng phương pháp này để thu thập các thông tin từ thực
tiễn nhằm cung cấp các thông tin chính xác về thực trạng phát triển các năng
lực cơ bản cho trẻ thông qua ngôn ngữ thơ ở trường MN.


7.5. Phương pháp tổng hợp
Trong khóa luận, chúng tôi vận dụng phương pháp này để tổng hợp
những vấn đề lí luận có liên quan đến ngôn ngữ thơ, từ đó rút ra những nhận
xét, kết luận về vai trò và ý nghĩa của ngôn ngữ thơ đối với trẻ MN.
7.6. Phương pháp thực nghiệm
Đây là phương pháp cơ bản được chúng tôi vận dụng để kiểm nghiệm
kết quả nghiên cứu của mình.
8. Cấu trúc khóa luận
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Nội dung
Chương 1. Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2. Một số biện pháp giúp trẻ MGN tìm hiểu ngôn ngữ thơ để
phát triển các năng lực: ngôn ngữ, giao tiếp, tư duy, hợp tác và thẩm mĩ.
Phần 3: Kết luận


NỘI DUNG
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Những khái quát chung về năng lực
1.1.1.1. Khái niệm năng lực và năng lực hành động
- Khái niệm năng lực
Phạm trù năng lực thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau và mỗi
cách hiểu có những thuật ngữ tương ứng.
Theo các nhà tâm lí học: Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính
tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất
định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao.
Theo cuốn “Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh – quyển 2”,
Nxb ĐHSPHN, Trần Thị Thanh Thủy (chủ biên), tr 7.
1. Năng lực hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng mà cá nhân thể
hiện khi tham gia một hoạt động nào đó ở một thời điểm nhất định.
2. Năng lực là khả năng thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ/một hành
động cụ thể, liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ
năng, kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động.
Các khái niệm trên đều có điểm chung đó là năng lực là khả năng thực
hiện hiệu quả một nhiệm vụ/một hành động cụ thể.
Theo chúng tôi, năng lực là tổng hợp các thuộc tính tâm lí độc đáo của
cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo
cho hoạt động đó nhanh chóng đạt kết quả và đạt kết quả cao. Năng lực bao
gồm: Kiến thức (thông tin và sự hiểu biết), kỹ năng (khả năng và kinh nghiệm
có được), thái độ.
Có hai loại năng lực: Năng lực chung và năng lực cụ thể hay chuyên biệt.


+ Năng lực chung: Năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống
và làm việc bình thường trong xã hội; năng lực này được hình thành qua
nhiều môn học, nhiều hoạt động.
+ Năng lực cụ thể, chuyên biệt: Năng lực này được hình thành và phát
triển do một lĩnh vực, môn học nào đó. Đây là dạng năng lực chuyên sâu,
nhằm giải quyết hiệu quả một công việc trong một lĩnh vực cụ thể.
- Khái niệm năng lực hành động
Năng lực hành động là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ
năng và các thuộc tính tâm lí cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… để
thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định. [5, tr.7]
1.1.1.2. Khái niệm hình thành và phát triển năng lực
- Khái niệm hình thành năng lực
Theo chúng tôi, hình thành năng lực là một quá trình học tập tích lũy
kiến thức và kinh nghiệm qua các hoạt động học tập, trải nghiệm, vui chơi để
từ đó cá nhân có được các năng lực.
- Khái niệm phát triển năng lực
Theo chúng tôi, phát triển năng lực là việc dựa trên các năng lực đã
được hình thành từ đó cá nhân làm giàu thêm các kiến thức, kĩ năng, thái độ
qua các hoạt động hấp dẫn nhằm nâng cao các năng lực đã có.
1.1.1.3. Quá trình hình thành năng lực
Các tác giả cuốn sách: “Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh quyển 2”, Nxb ĐHSPHN, Trần Thị Thanh Thủy (chủ biên), tr 8 cho rằng:
Quá trình hình thành năng lực trải qua những bước cơ bản. Đó là:
1. Tiếp nhận thông tin.
2. Xử lí thông tin (thể hiện hiểu biết/kiến thức).
3. Áp dụng/vận dụng kiến thức (thể hiện kĩ năng).
4. Thái độ và hành động.


Sự kết hợp các bước trên tạo thành năng lực ở người học.
1.1.1.4. Năng lực cốt lõi của trẻ MN
- Khái niệm năng lực cốt lõi
Năng lực cốt lõi (còn gọi là năng lực chung) là năng lực cơ bản, thiết
yếu mà bất kì một người nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc. [5,
tr.9]
- Những năng lực cốt lõi của trẻ mầm non trong thế kỉ XXI
Mục tiêu chung của GD MN là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình
cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn
bị cho trẻ vào lớp một; hình hành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm
sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần
thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm
ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt
đời. [8, tr.3]
Từ mục tiêu trên, theo chúng tôi năng lực cốt lõi của trẻ MN trong thế
kỉ XXI bao gồm các năng lực:
+ Năng lực thể chất.
+ Năng lực nhận thức.
+ Năng lực tư duy.
+ Năng lực học tập.
+ Năng lực tự học (thông qua việc trẻ được trải nghiệm, khám phá).
+ Năng lực ngôn ngữ và giao tiếp.
+ Năng lực thẩm mĩ.
+ Năng lực hợp tác.
+ Năng lực tổng hợp và đánh giá.
+ Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
+ Năng lực thích ứng và kĩ năng sống.


1.1.1.5. Một số năng lực cơ bản cần phát triển cho trẻ MGN
- Năng lực ngôn ngữ
Theo “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”, Nguyễn Như Ý
(chủ biên). Năng lực ngôn ngữ là khả năng sáng tạo của người nói không phụ
thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp nhằm tạo ra hàng loạt các phát ngôn và hiểu
được chúng một cách tự nhiên, còn gọi là “ngữ năng”.
Các nhà ngữ pháp tạo sinh cho rằng: “Con người sinh ra đã có hiểu biết
về tiếng mẹ đẻ”. Mức độ hiểu biết đó ở mỗi cá nhân có sự khác nhau do: Đặc
điểm lứa tuổi, giới tính, môi trường sống, khả năng nhận thức, đặc điểm cá
tính của mỗi người. Khả năng đó phản ánh năng lực ngôn ngữ của mỗi cá
nhân.
Giải thích về hiện tượng trẻ em trước khi được tiếp thu GD chính quy
đã có thể nói được những câu hoàn chỉnh, các nhà ngữ pháp tạo sinh đã cho
rằng: Vì đứa trẻ sinh ra trong môi trường tiếng mẹ đẻ thì trong “tâm linh” của
chúng đã dần hình thành một số quy tắc cơ bản. Vì thế DellHymes đề nghị
nên gọi năng lực ngôn ngữ là năng lực ngữ pháp. [7, tr.180]
Theo chúng tôi, năng lực ngôn ngữ biểu hiện ở việc trẻ có vốn từ
phong phú, đa dạng, có kiến thức hiểu biết về các từ loại, các câu văn. Nhờ có
năng lực ngôn ngữ, trẻ hiểu biết về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Đó là cơ sở
giúp trẻ lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội cuả loài người. Bên cạnh đó ngôn
ngữ chính là phương tiện giúp trẻ giao tiếp và trở thành một thành viên của xã
hội loài người.
- Năng lực giao tiếp
Năng lực giao tiếp có thể được hiểu là năng lực vận dụng ngôn ngữ để
giao tiếp xã hội của cá nhân.
Nội dung của khái niệm này là sự kết hợp linh hoạt giữa ba tham tố
gồm: Cấu trúc ngôn ngữ, sự vận dụng ngôn ngữ và đời sống, xã hội. [7,
tr.183]


Theo chúng tôi, năng lực giao tiếp là khả năng nghe hiểu và vận dụng
vốn từ mà trẻ có để trò chuyện với mọi người, trả lời các câu hỏi, bày tỏ suy
nghĩ mong muốn của bản thân, giữ cho cuộc trò chuyện diễn ra trong thời
gian dài. Nhờ có năng lực giao tiếp mà trẻ có thể vận dụng sáng tạo những
hiểu biết về ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp theo những chuẩn mực
ngôn ngữ nhằm tạo ra những lời nói hay và phù hợp trong hoàn cảnh giao tiếp
với mọi người.
Theo chúng tôi, trường MN khi tổ chức các hoạt động GD cho trẻ phải
dành sự quan tâm thích hợp đến việc phát triển năng lực ngôn ngữ và năng
lực giao tiếp. Nhờ có năng lực ngôn ngữ trẻ sẽ giải mã được các phương tiện
ngôn ngữ dùng trong các tác phẩm thơ, từ đó nhận thức sâu sắc được nội dung
của văn bản, đồng thời khám phá vẻ đẹp của các đối tượng được phản ánh
cũng như vẻ đẹp của các cách sử dụng ngôn ngữ mang tính nghệ thuật. Nhờ
vậy, năng lực nhận thức, năng lực giao tiếp và năng lực thẩm mĩ của trẻ được
phát triển.
- Năng lực tư duy
Năng lực tư duy là khả năng vận dụng trí tuệ, logic các thông tin trên
cơ sở huy động những kiến thức, kĩ năng, thái độ của bản thân nhằm đưa ra
những lựa chọn đúng đắn để giải quyết các vấn đề một cách hiệu quả nhất.
Đối với trẻ MN, phát triển năng lực tư duy rất quan trọng và cần thiết.
Nhờ có năng lực này, trẻ sẽ hiểu và lí giải được nhiều điều thú vị xung quanh.
Năng lực tư duy của mỗi trẻ là không giống nhau, nó phụ thuộc vào khả năng
và sự rèn luyện của mỗi trẻ. Năng lực tư duy của trẻ sẽ phát triển hơn khi trẻ
được thường xuyên luyện tập. Do đó, trường MN nên tổ chức cho trẻ tham
gia vào nhiều các hoạt động hấp dẫn, đòi hỏi trẻ phải sử dụng trí tuệ nhằm
kích thích trẻ suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn để phát triển khả năng tư duy. Điều
này sẽ giúp trẻ thông minh và nhanh nhẹn hơn.


- Năng lực hợp tác
Theo chúng tôi năng lực hợp tác là khả năng tương tác, hỗ trợ lẫn nhau,
trong đó mỗi cá nhân thể hiện sự tích cực, tự giác và trách nhiệm cao trên cơ
sở huy động những tri thức, kĩ năng và thái độ của bản thân nhằm giải quyết
có hiệu quả nhiệm vụ chung.
Năng lực hợp tác là một trong những năng lực quan trọng cần có của
con người trong xã hội hiện nay. Nhờ có năng lực hợp tác mà giữa các trẻ có
sự hòa đồng, trẻ biết đoàn kết với bạn bè, trẻ biết cách lắng nghe, bổ sung để
cùng nhau tốt hơn. Vì vậy, phát triển năng lực hợp tác cho trẻ ngay từ khi còn
nhỏ là điều rất cần thiết và đáng được chú ý. Ở trường MN năng lực hợp tác
của trẻ được hình thành và phát triển qua việc dạy trẻ hợp tác theo hình thức
tổ, nhóm.
- Năng lực thẩm mĩ
Theo chúng tôi năng lực thẩm mĩ là khả năng cảm thụ cái đẹp trong
cuộc sống và trong các tác phẩm văn học. Nhờ có năng lực thẩm mĩ mà trẻ
phân biệt được đâu là cái đẹp và đâu là cái chưa đẹp, từ đó hoàn thiện nhân
cách bản thân.
Bên cạnh đó nhờ có năng lực thẩm mĩ mà trẻ còn biết sáng tạo ra cái
đẹp, điều này thể hiện trong lời nói, hành động và việc làm của trẻ, góp phần
hình thành nhân cách tốt ở trẻ và giúp trẻ trở thành một công dân có ích cho
xã hội sau này.
1.1.2. Cơ sở ngôn ngữ học
1.1.2.1.Khái quát về ngôn ngữ nghệ thuật và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
- Khái quát về ngôn ngữ nghệ thuật
a. Khái niệm
Tác giả SGK “Ngữ văn 10 - tập hai”, Nxb GDVN cho rằng:


Nói đến ngôn ngữ nghệ thuật (ngôn ngữ văn chương, ngôn ngữ văn học)
trước hết là nói đến ngôn ngữ gợi hình, gợi cảm được dùng trong văn bản
nghệ thuật. Ngôn ngữ nghệ thuật còn được sử dụng trong lời nói hàng ngày và
cả trong văn bản thuộc các phong cách ngôn ngữ khác (văn bản chính luận).
Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ chủ yếu dùng trong các tác phẩm văn
chương, không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ
của con người. Đó là ngôn ngữ được các nghệ sĩ ngôn từ tổ chức, xếp đặt, lựa
chọn, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật thẩm mĩ cao.
b. Chức năng của ngôn ngữ nghệ thuật
Các nhà khoa học đều thống nhất cho rằng ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn
ngữ đa chức năng.
Giống như ngôn ngữ nói chung, ngôn ngữ nghệ thuật có hai chức năng
cơ bản: Là phương tiện giao tiếp và là công cụ để con người tiến hành tư duy.
Tuy vậy, sự biểu hiện hai chức năng đó của ngôn ngữ nghệ thuật lại có những
sắc thái riêng biệt.
Ngôn ngữ nghệ thuật là phương tiện giao tiếp trong một hoạt động giao
tiếp đặc biệt mang tính nghệ thuật giữa người sáng tác và người đọc.
Ngôn ngữ nghệ thuật là công cụ tư duy, nghĩa là nó là loại công cụ để
người sáng tác (người phát tin bằng các tín hiệu nghệ thuật) nhận thức về hiện
thực xã hội, về thế giới nội tâm của con người theo cảm nhận riêng của họ.
Đó cũng là công cụ giúp người đọc nhận thức các nội dung được phản ánh và
tư tưởng tình cảm của tác giả đối với nội dung được phản ánh thông qua hình
tượng ngôn từ.
Ngoài hai chức năng trên, ngôn ngữ nghệ thuật còn có những chức
năng khác như: Biểu cảm, truyền cảm, thẩm mĩ,…


- Khái quát về phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
a. Khái niệm
Tác giả SGK “Tiếng Việt 11”, Nxb GD, 2000 giúp chúng ta hiểu:
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là những kiểu diễn đạt bằng ngôn ngữ được
dùng trong các tác phẩm văn chương thuộc thể loại văn xuôi, thơ, kịch.
b. Các đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật
- SGK Ngữ văn 10 - tập hai, Nxb Giáo dục Việt Nam cho rằng: Ngôn
ngữ nghệ thuật có ba đặc trưng cơ bản đó là tính hình tượng, tính truyền cảm
và tính cá thể hóa.
+ Tính hình tượng (tính tạo hình biểu cảm).
Theo Đỗ Hữu Châu đặc trưng này của ngôn ngữ nghệ thuật xuất phát từ
khả năng tái hiện đối tượng được phản ánh bằng các biểu tượng được xây
dựng từ các phương tiện ngôn ngữ và từ cách dùng ngôn ngữ độc đáo; nhờ
các biểu tượng đó, người đọc có cảm giác được nhìn thấy, ngửi thấy, sờ thấy,
cảm thấy các đối tượng được phản ánh giống như trong cuộc sống.
VD: Trong bài ca dao
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Thông qua các từ, thông qua phép lặp từ và phép tương phản, tác giả
giúp
cho người đọc có cảm giác mình đang đứng trước đầm sen giữa mùa nở hoa.
+ Tính truyền cảm: Tính truyền cảm của ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện
ở chỗ chúng có khả năng làm cho người nghe (đọc) cùng vui, buồn, yêu thích,
… như chính người nói (viết). Sức mạnh của ngôn ngữ nghệ thuật là tạo ra sự
hòa đồng, giao cảm, cuốn hút, gợi cảm xúc cho người đọc.


VD: Đọc bài ca dao ngợi ca vẻ đẹp của sen ở trên, người đọc như cùng
tác giả đắm say trong vẻ đẹp quyến rũ của sen trắng trong đầm.
+ Tính cá thể hóa: Tính cá thể hóa thể hiện ở mỗi nhà văn, nhà
thơ trong sáng tạo nghệ thuật đều có khả năng thể hiện một giọng điệu
riêng, một phong cách nghệ thuật riêng, không dễ bắt chước, pha trộn. Ngoài
ra, tính cá thể hóa còn được thể hiện ở vẻ riêng trong lời nói của từng nhân
vật trong tác phẩm nghệ thuật. Tính cá thể hóa tạo cho ngôn ngữ nghệ
thuật những sáng tạo, mới lạ, không trùng lặp.
- Đinh Trọng Lạc trong cuốn “Phong cách học tếng việt”, Nxb ĐHQGHN,
năm 1997 cho rằng: Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật có các đặc trưng têu
biểu như tính hình tượng, tính hàm súc, tính cá thể hóa, tính cấu trúc…
+ Tính cấu trúc: Mỗi văn bản nghệ thuật tự bản thân nó là một cấu
trúc, trong đó các thành tố nội dung tư tưởng, tình cảm, hình tượng và các
thành tố hình thức ngôn ngữ diễn đạt chúng không những phụ thuộc lẫn
nhau mà còn phụ thuộc vào hệ thống nói chung. Tính cấu trúc là điều
kiện của cái đẹp trong một VB nghệ thuật.
+ Tính hàm súc (tính nhiều tầng ý nghĩa)
Đây là đặc trưng chung của ngôn ngữ văn hóa. Trong các VB nghệ
thuật, đặc biệt là trong các VB thơ, đặc trưng này thể hiện ở chỗ: Các
phương tện ngôn ngữ ngoài khả năng biểu thị nghĩa đen còn có nghĩa
bóng (nghĩa hàm ngôn). Vì thế, từ xưa đến nay, khi nói đến đặc trưng của
ngôn ngữ thơ,
người ta thường nói “thi tại ngôn ngoại”.
VD:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
(Ca dao)


Bốn câu ca dao không chỉ tôn vinh vẻ đẹp độc nhất vô nhị của sen mà
chúng còn có khả năng giúp người đọc nhận ra vẻ đẹp của con người Việt
Nam - vẻ đẹp của những con người dù phải rơi vào hoàn cảnh sống đen tối
nhất vẫn kiên cường, vững vàng giữ được phẩm chất trong sáng của mình.
1.1.2.2. Những hiểu biết chung về VB thơ
- Khái niệm
Văn bản thơ là loại VB nghệ thuật đặc biệt có chức năng bộc lộ nội tâm
của con người trước hiện thực, thông qua các phương tiện ngôn ngữ giàu
sức biểu hiện và giàu tính nhạc.
- Đặc trưng của văn bản thơ
a. Theo Nguyễn Đình Thi, thơ là tiếng nói đầu tên, tếng nói thứ
nhất của tâm hồn trước ngoại vật. Ở nơi giao nhau của tâm hồn với ngoại vật
trước hết là cảm xúc. Bài thơ là những câu, những lời làm sống ngay
trong lòng người đọc một tình cảm, một nỗi niềm. Đó là tiếng nói từ một
trái tm có sức lay động muôn vàn trái tm. (Mấy vấn đề về thơ, SGK Ngữ Văn
12, Nxb GD).
b.Về nội dung
Mỗi bài thơ đều phải có tư tưởng, nhưng theo Nguyễn Đình Thi tư
tưởng trong thơ là tư tưởng dính liền cuộc sống, ở trong cuộc sống; đó là

tưởng nằm ngay trong cảm xúc tình tự của cái tôi trữ tình nhà thơ.
c. Văn bản thơ có kiểu cấu trúc không giống văn xuôi vì nó được thi sĩ
tổ chức theo mạch cảm xúc của từng tác giả. Chính vì vậy văn bản thơ có
khuôn hình đặc biệt - khuôn hình rất mềm dẻo đúng như Đinh Trọng Lạc đã
nhận định.
d. Ngôn ngữ trong thơ khác với ngôn ngữ văn xuôi. Đó là thứ ngôn ngữ
giàu sức biểu hiện, giàu tính âm nhạc và giàu tính thẩm mĩ. Đó là thứ ngôn
ngữ mang vẻ đẹp toàn bích.


Các từ các câu trong VB thơ ngoài giá trị biểu thị ý niệm về sự vật còn
có sức gợi về những ý nghĩa sâu xa không được thể hiện trực tiếp trong lời.
Chính khả năng giàu sức biểu hiện đã làm nên đặc thù “Thi tại ngôn ngoại
cho thơ”.
Tính âm nhạc của ngôn ngữ thơ được thể hiện ở âm hưởng vần điệu,
nhịp điệu tiết tấu của nó.
Chính những đặc điểm trên đã góp phần tạo ra vẻ đẹp độc đáo cho
văn bản thơ. Vì đó là sự kết tinh, tổng hợp của các yếu tố: Ý tứ, tnh cảm,
hình ảnh và nhạc điệu.
1.1.3. Cơ sở tâm lí học
Trong cuốn giáo trình “Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non”, Nguyễn
Ánh Tuyết, Nxb ĐHSP cho rằng trẻ lứa tuổi MN giai đoạn từ 0-6 tuổi là giai
đoạn phát triển rất nhanh về mặt thể chất và tâm lí. Càng ở độ tuổi lớn hơn
thì sự thay đổi đó của trẻ lại càng rõ rệt. Những năm đầu tên của cuộc
sống là nền tảng cho sự phát triển của trẻ trong những năm tiếp theo. Chính
vì vậy, nắm được đặc điểm tâm lí của trẻ theo độ tuổi, chúng ta sẽ dễ
dàng GD trẻ một cách phù hợp và hiệu quả nhất.
Mỗi độ tuổi đều có những đặc trưng riêng về mặt tâm lí. Đối với trẻ
MGN, ở giai đoạn này các bé phát triển mạnh tư duy trực quan hình tượng,
trẻ đã có nhiều hiểu biết và kinh nghiệm thông qua các hoạt động vui chơi,
hoạt động vẽ, nặn, kể chuyện, xây dựng… Vì vậy, vốn biểu tượng của trẻ
ngày càng phong phú hơn, chức năng kí hiệu phát triển mạnh, lòng ham
hiểu biết và hứng thú nhận thức tăng lên rõ rệt. Đó là điều kiện thuận lợi
để trẻ phát triển tư duy trực quan - hình tượng. Phần lớn trẻ em ở tuổi
MGN đã có khả
năng suy luận. Vì vậy, trong khi giúp trẻ phát triển tư duy hình tượng, chúng
ta cần phải uốn nắn những suy luận chưa chuẩn của trẻ, giúp trẻ có


những hiểu biết cần thiết để có được những suy luận đúng đắn. Chúng ta
cần cung


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×