Tải bản đầy đủ

Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua việc dạy trẻ kể chuyện sáng tạo ở trường mầm non hoa hồng (2017)

Khóa luận tốt
nghiệp

Khoa Giáo dục Mầm
non

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
__________

HOÀNG NGỌC MAI

PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN
THÔNG QUA VIỆC DẠY TRẺ KỂ CHUYỆN
SÁNG TẠO Ở TRƯỜNG MẦM NON HOA HỒNG

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên
ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ

Người hướng dẫn khoa học


Ths. ĐỖ THỊ HIÊN

HÀ NỘI – 2017
Hoàng Ngọc
Mai


Khóa luận tốt
nghiệp

Khoa Giáo dục Mầm
non

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong trường đại học sư
phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong khoa giáo dục mầm non đã tạo
điều kiện cho trong hành trình bốn năm học tập tại trường cũng như giúp đỡ
em rất nhiều khi em thực hiện khoá luận tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu cùng các giáo viên đứng
lớp của trường mầm non Hoa Hồng – thị xã Phúc Yên đã tạo điều kiện thuận
lợi, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo của em Thạc sỹ Đỗ Thị Hiên, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành
tốt khoá luận này.
Hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, bản thân em hết sức cố gắng song
do điều kiện thời gian nghiên cứu và vốn kiến thức còn hạn chế, chắc chắc đề
tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp
ý kiến của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp để đề tài này thực sự chất
lượng và hữu ích.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2017
Sinh viên

Hoàng Ngọc Mai

Hoàng Ngọc
Mai


Khóa luận tốt


nghiệp

Khoa Giáo dục Mầm
non

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn
thông qua việc dạy trẻ kể chuyện sáng tạo ở trường mầm non Hoa Hồng”
là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, những số liệu và kết quả trong khoá luận
là hoàn toàn trung thực. Đề tài chưa từng được công bố trong bất cứ một công
trình khoa học nào khác.

Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2017
Sinh viên

Hoàng Ngọc Mai

Hoàng Ngọc
Mai


Khóa luận tốt
nghiệp

MỤC LỤC

Khoa Giáo dục Mầm
non

LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU.................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài............................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài ................................................................................. 3
3. Đối tượng nghiên cứu ....................................................................................... 5
4. Mục đích nghiên cứu ........................................................................................ 5
5. Nhiệm vụ nghiên cứu........................................................................................ 5
6. Phạm vi nghiên cứu .......................................................................................... 5
7. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 5
8. Cấu trúc khóa luận ........................................................................................... 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI .......... 7
1.1. Cơ sở lí luận của đề tài .................................................................................. 7
1.1.1. Một số đặc điểm của trẻ mẫu giáo lớn........................................................ 7
1.1.2. Vai trò của sự phát triển ngôn ngữ đối với trẻ mẫu giáo lớn.................. 11
1.1.3. Phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động dạy trẻ
kể chuyện sáng tạo .............................................................................................. 20
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài............................................................................ 26
1.2.1. Thực trạng chung ...................................................................................... 26
1.2.2. Thực trạng về việc sử dụng các biện pháp dạy trẻ kể chuyện ở trường
mầm non Hoa Hồng ............................................................................................ 28
1.2.3. Thực trạng về khả năng kể chuyện sáng tạo của trẻ mẫu giáo lớn ở
trường mầm non Hoa Hồng............................................................................... 30
1.2.4. Tiềm năng phát triển của hoạt động kể chuyện sáng tạo trong trường
mầm non Hoa Hồng ............................................................................................ 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ....................................................................................... 38
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ................... 39
CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG ............................ 39
KỂ CHUYỆN SÁNG TẠO VÀ GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM ............................ 39
2.1. Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua
hoạt động dạy trẻ kể chuyện sáng tạo............................................................... 39
Hoàng Ngọc
Mai


Khóa luận tốt
Khoa Giáo dục Mầm
nghiệp
non
2.1.1. Biện pháp tạo môi trường hoạt động cho trẻ kể chuyện sáng tạo .......... 39
2.1.2. Biện pháp dạy trẻ cách sử dụng ngôn ngữ lời kể sáng tạo phù hợp với
nhân vật................................................................................................................ 41
2.1.3. Biện pháp kể diễn cảm kết hợp sử dụng đồ dùng trực quan................... 42
2.1.4. Biện pháp lồng ghép các môn học khác khi dạy trẻ kể chuyện sáng tạo 44
2.2. Giáo án thực nghiệm ................................................................................... 46
2.2.1. Mục đích thực nghiệm .............................................................................. 46
2.2.2. Nhiệm vụ thực nghiệm ............................................................................. 46
2.2.3. Nội dung thực nghiệm .............................................................................. 47
2.2.4. Đối tượng thực nghiệm............................................................................. 47
2.2.5. Giáo án thực nghiệm ................................................................................ 47
2.2.6. Kết quả thực nghiệm ................................................................................. 57
2.2.7. Nhận xét kết quả thực nghiệm.................................................................. 57
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ....................................................................................... 58
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................ 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................... 63

Hoàng Ngọc
Mai


Khóa luận tốt
nghiệp

Khoa Giáo dục Mầm
non

1


Khóa luận tốt
nghiệp

MỞ ĐẦU

Khoa Giáo dục Mầm
non

1. Lý do chọn đề tài
Ngay từ thuở ấu thơ, trẻ em đã có nhu cầu lĩnh hội kinh nghiệm xã hội –
lịch sử được vật chất hóa trong nền văn hóa loài người. Đó là quá trình chỉ
được thực hiện trong điều kiện có sự hướng dẫn thường xuyên của người lớn,
tức là giáo dục.
Trường mầm non là mắt xích đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, là
khâu quan trọng của hệ thống giáo dục và giáo dưỡng tiếng mẹ đẻ ở nhà
trường. Việc dạy và học tiếng mẹ đẻ có thể nói được bắt đầu từ lúc lọt lòng.
Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục mầm non là hình thành cho trẻ những cơ
sở ban đầu của nhân cách con người mới, giúp trẻ phát triển toàn diện, hài
hòa, cân đối, tạo điều kiện tốt cho những bước phát triển sau này, xây dựng
cho mỗi trẻ nền tảng nhân cách tốt, đầy sức sống cả về thể chất lẫn tinh thần,
nghĩa là giáo dục mầm non một mặt làm cho trẻ hồn nhiên, vui tươi, tích cực,
chủ động để trở thành người dễ tiếp thu giáo dục, một mặt chuẩn bị cho trẻ
khả năng học tập tốt, sống và làm việc phù hợp với yêu cầu của xã hội, của
đất nước trong thời đại mới.
Nếu ví rằng quá trình học tập của con người là quá trình xây dựng một
ngôi nhà thì ở bậc học mầm non chính là giai đoạn mà các nhà Giáo dục đặt
những viên gạch đầu tiên vào nền móng của ngôi nhà ấy, nền móng có vững
chắc thì mới có thể xây nên được những ngôi nhà vững chãi, chống chịu được
gió bão khắc nghiệt. Do đó, có thể nói bậc học mầm non chính là bước đệm,
là tiền đề vô cùng quan trọng cho trẻ trước khi đến trường phổ thông.
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ là một quá trình ngôn ngữ từ thấp đến cao
với các giai đoạn mang đặc trưng khác nhau tùy thuộc vào độ tuổi của trẻ.
Việc phát triển tiếng mẹ đẻ chậm trễ sẽ cản trở việc hình thành và phát triển
nhân cách trẻ thơ. Ở độ tuổi 5-6 tuổi, sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc của trẻ

2


Khóa luận tốt
nghiệp

Khoa Giáo dục Mầm
non

chịu ảnh hưởng lớn của tích cực hóa vốn từ, ngôn ngữ của trẻ đã được mở
rộng hơn rất nhiều so với giai đoạn trước, có trật tự và hoàn thiện về mặt cấu
trúc. Ngoài ra trẻ đã phát triển khả năng nói, trình bày ý nghĩa và hiểu ngôn
ngữ hoàn cảnh.
Các hình tượng văn học mở ra cho trẻ cuộc sống với xã hội và thiên
nhiên, các mối quan hệ qua lại của con người giúp trẻ nhận thức được tính rõ
ràng, chính xác của từ ngữ trong tác phẩm văn học. Với nhiệm vụ khơi dậy ở
trẻ tình yêu đối với từ ngữ nghệ thuật thông qua cách đọc, kể, diễn cảm, cao
hơn nữa là biết dùng ngôn ngữ của mình để kể chuyện sáng tạo. Đây là một
nhiệm vụ rất phức tạp, yêu cầu khi kể chuyện sáng tạo trẻ phải tự nghĩ ra một
nội dung câu chuyện, tạo ra cấu trúc logic được thể hiện trong hình thức nói
tương ứng (Lời nói kết hợp với đồ dùng trực quan). Yêu cầu này đòi hỏi trẻ
phải có vốn từ phong phú, các kỹ năng tổng hợp, kỹ năng truyền đạt ý nghĩ
một cách chính xác, tập trung chú ý và nói biểu cảm. Những kỹ năng này trẻ
lĩnh hội được trong quá trình nhận thức có hệ thống bằng con đường luyện tập
thường xuyên hàng ngày.
Hiện tại, trung bình số trẻ trong một lớp ở trường mầm non Hoa Hồng là
40 trẻ, số lượng này là tương đối đông do đó nền nếp học tập cũng như các
việc tổ chức hoạt động cho trẻ kể chuyện sáng tạo còn gặp nhiều khó khăn.
Thấy rõ được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non,
là giáo viên mầm non tương lai, chúng tôi thấy việc nghiên cứu vấn đề phát
triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non Hoa Hồng – thị xã
Phúc Yên là rất cần thiết.
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Phát triển ngôn ngữ cho trẻ
mẫu giáo lớn thông qua việc dạy trẻ kể chuyện sáng tạo ở trường Mầm
non Hoa Hồng” là đề tài cho khóa luận tốt nghiệp đại học của mình. Chúng
tôi nghĩ rằng đây là một đề tài rất cấp bách, cần thiết và được chú ý từ những
người quan tâm tới trẻ em nói riêng và ngành giáo dục mầm non nói chung.


Khóa luận tốt
nghiệp

Khoa Giáo dục Mầm
non

2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Trẻ em luôn là đối tượng được dành rất nhiều sự quan tâm của gia đình,
nhà trường và cả xã hội. Những vấn đề về trẻ em đã được nhà khoa học hết
sức quan tâm. Đặc biệt là ngôn ngữ của trẻ trước tuổi đi học là vấn đề được
rất nhiều nhà khoa học trên thế giới cũng như các nhà khoa học trong nước
quan tâm với nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu được xã hội ghi nhận.
Những nhà nghiên cứu trên thế giới có thể kể đến các tên tuổi như:
L.X.Vưgôtxki, A.M.Leusina, E.I.Tikhêêva, D.N.Ixtomina, Ph.A.Xôkhina,
Kak Hainơ Dich, A.M.Bôrôdich,… Các nhà khoa học trong nước cũng rất
quan tâm đến đề tài này: Nguyễn Xuân Khoa, Tạ Thị Ngọc Thanh, Nguyễn
Thị Oanh, Phan Thiều, Nguyễn Huy Cẩn, Lưu Thị Lan,… Tất cả các nhà
khoa học trên thế giới hay ở Việt Nam khi nghiên cứu về ngôn ngữ trẻ em dù
về lĩnh vực tâm lý học hay giáo dục học đều rất quan tâm đến việc nghiên cứu
xác định phương pháp, biện pháp nào là tốt nhất để phát triển ngôn ngữ cho
trẻ.
Trong cuốn “Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua
chuyện kể” của tác giả Hồ Thị Lam Hồng có đề cập đến các biện pháp kể
chuyện khác nhau đến hoạt động ngôn ngữ và nhấn mạnh tầm quan trọng của
việc đưa chuyện kể vào giảng dạy để phát triển ngôn ngữ cho trẻ trước tuổi đi
học.
Cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”, NXB
ĐHSP, năm 2004, tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã nghiên cứu rất kỹ sự phát
triển ngôn ngữ của trẻ Mẫu giáo. Trên cơ sở đành giá chung về đặc điểm sinh
lý của trẻ lứa tuổi này, dựa trên mối quan hệ của bộ môn ngôn ngữ học với
những bộ môn khác, ông đã đưa ra được một số phương pháp phát triển ngôn
ngữ cho trẻ Mầm non.
Hay như “Một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo lớn kể chuyện sinh hoạt
nhằm phát triển lời nói mạch lạc” của tác giả Hoàng Thị Thu Hương đã đưa


Khóa luận tốt
nghiệp

Khoa Giáo dục Mầm
non

ra một số biện pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ Mẫu giáo 5-6 tuổi
thông qua hình thức kể chuyện về sinh hoạt.
Xuất phát từ góc nhìn: Trẻ 5-6 tuổi là lứa tuổi phát triển nhất trong giai
đoạn Mẫu giáo, sắp bước vào môi trường hoàn toàn mới mẻ nên phát triển lời
nói mạch lạc, mở rộng vốn từ là yếu tố không thể thiếu, Nguyễn Thị Xuân,
ĐHSP Hà Nội đã lựa chọn đề tài “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch
lạc cho trẻ 5-6 tuổi thông qua kể chuyện theo tranh” là để tài bảo vệ luận án
tiến sĩ. Trong đề tài, tác giả cũng đã điều tra thực trạng về việc sử dụng các
biện pháp dạy trẻ kể chuyện theo tranh và thực trạng sử dụng ngôn ngữ mạch
lạc cho trẻ 5-6 tuổi. Bên cạnh đó, tác giả còn đưa những kết luận khoa học và
đề xuất những kiến nghị về biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 56 tuổi.
Tác giả Nguyễn Thị Oanh thì nêu quan điểm coi kể chuyện như một biện
pháp hữu hiệu đối với trẻ em nói chung và trẻ mẫu giáo lớn nói riêng trong
công trình “Các biện pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5-6 tuổi”.
Ngoài ra còn rất nhiều các công trình nghiên cứu khác như “Một số biện
pháp dạy trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi kể lại chuyện diễn cảm ở trường mầm non Hạ
Long” của Phạm Thị Hải – khoá luận tốt nghiệp năm 2005, “Phát triển lời nói
mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hình thức dạy trẻ kể chuyện sáng
tạo” của Nguyễn Thị Thuỳ Dung – khoá luận tốt nghiệp năm 2010,… và rất
nhiều các công trình nghiên cứu khác nữa đi vào tìm hiểu đề tài phát triển
ngôn ngữ cho trẻ ở các giai đoạn và độ tuổi khác nhau.
Nhìn chung, các nhà khoa học đều muốn tìm ra các hình thức và biện
pháp để phát triển ngôn ngữ cho trẻ hiệu quả nhất, nâng cao chất lượng dạy và
học của ngành mầm non nói riêng và nền giáo dục của đất nước ta nói chung.
Với đề tài nghiên cứu “Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn thông
qua việc dạy trẻ kể chuyện sáng tạo ở trường mầm non Hoa Hồng”,


Khóa luận tốt
nghiệp

Khoa Giáo dục Mầm
non

chúng tôi đã tìm ra được cho mình một hướng đi riêng, dựa trên sự tìm hiểu,
đánh giá và thực nghiệm của chính bản thân mình.
3. Đối tượng nghiên cứu
Phát triển ngôn ngữ trẻ mẫu giáo lớn thông qua hình thức dạy trẻ kể
chuyện sáng tạo.
4. Mục đích nghiên cứu
- Việc thực hiện đề tài giúp tác giả nắm chắc phương pháp lí luận của
phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn, đồng thời xác định
được những nội dung biện pháp dạy trẻ nói đúng ngữ pháp.
- Đề tài góp phần cung cấp tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên khoa
giáo dục mầm non và những người quan tâm đến vấn đề phát triển ngôn ngữ
cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua việc dạy trẻ kể chuyện sáng tạo.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Lựa chọn lý thuyết thuộc các chuyên ngành sinh lý học, tâm lý học,
ngôn ngữ học,… để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.
- Tìm hiểu thực trạng việc thực hiện các tiết học kể chuyện sáng tạo tại
trường mầm non Hoa Hồng.
- Đề xuất một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn
thông qua việc dạy trẻ kể chuyện sáng tạo.
6. Phạm vi nghiên cứu
Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động kể
chuyện sáng tạo là rất rộng, song do giới hạn về thời gian và năng lực bản
thân nên trong đề tài này tôi chỉ nghiên cứu về cách tổ chức cho trẻ mẫu giáo
lớn kể chuyện sáng tạo.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp quan sát


Khóa luận tốt
nghiệp

Khoa Giáo dục Mầm
non

Dự tiết dạy của giáo viên đứng lớp, qua đó nắm được vốn từ và khả năng
diễn đạt của trẻ. Trong khi quan sát, hành động và ghi chép trung thành với
ngôn ngữ của trẻ.
7.2. Phương pháp trò chuyện
Trao đổi, trò chuyện với các giáo viên về đề tài nghiên cứu. Trò chuyện
với trẻ nhằm làm rõ về vốn từ, khả năng diễn đạt, cảm xúc và hứng thú của trẻ
khi tham gia hình thức kể chuyện sáng tạo.
7.3. Phương pháp thực nghiệm tác động
Sau thời gian thực nghiệm tác động, so sánh sự phát triển ngôn ngữ của
trẻ trước và sau khi thực nghiệm tác động có khác nhau hay không.
7.4. Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu
8. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung khóa luận bao gồm hai
chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
- Chương 2: Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo lớn
thông qua hoạt động dạy trẻ kể chuyện sáng tạo và giáo án thực nghiệm


Khóa luận tốt
nghiệp

Khoa Giáo dục Mầm
non

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Cơ sở lí luận của đề tài
1.1.1. Một số đặc điểm của trẻ mẫu giáo lớn
1.1.1.1. Đặc điểm sinh lý
Ngôn ngữ có cơ sở sinh lý. Hoạt động lời nói có cơ sở sinh lý học. Đây là
cơ sở tự nhiên của phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Việc phát triển
ngôn ngữ cho trẻ phải liên quan mật thiết với việc phát triển thể chất của trẻ
nói chung và các hệ cơ quan nói riêng. Ở trẻ mẫu giáo lớn, sự phát triển diễn
ra chậm hơn so với giai đoạn trước.
- Về thể chất: Chiều cao trẻ trung bình tăng từ 4-6cm, đạt khoảng 105,5125,5cm; Cân nặng tăng khoảng 1-2,5kg, đạt khoảng 15,7kg, có thể thấy được
sự thay đổi rõ rệt về chất lượng.
- Về hệ thần kinh: Ở lứa tuổi này, cường độ và tính linh hoạt của các quá
trình thần kinh tăng lên rõ rệt. Trẻ có thể tập trung chú ý vào một đối tượng
nhất định trong thời gian 25-30 phút. Vai trò hệ thống tín hiệu thứ hai ngày
càng tăng. Chức năng khái quát hoá của từ đã có bước nhảy vọt gần như ở
người lớn ở chỗ sự khái quát hoá được thể hiện theo hoạt động với đồ vật. Do
sự phát triển thần kinh nên số lần ngủ trong ngày và thời gian ngủ của trẻ
cũng giảm xuống còn 11 tiếng đồng hồ trên một ngày.
- Về hệ vận động: Ở trẻ có sự phối hợp vận động của nhiều nhóm cơ như
ở người lớn. Tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng cơ thể trẻ, nhất là sự luyện tập
phù hợp mà từng trẻ có khả năng tiếp thu những thói quen vận động khác
nhau.
- Về hệ hô hấp: Nhịp thở của trẻ giảm dần, cơ quan phát âm của trẻ cũng
phát triển và hoàn thiện làm cho ngôn ngữ của trẻ cũng phát triển.


Khóa luận tốt
nghiệp

Khoa Giáo dục Mầm
non

Trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa Hồng phần lớn đều ở trung tâm
thị xã Phúc Yên do đó trẻ có nền tảng cả về thể chất cũng như trí tuệ tương
đối tốt.
1.1.1.2. Đặc điểm tâm lý
Độ tuổi mẫu giáo lớn là giai đoạn cuối cùng của trẻ ở lứa tuổi “mầm
non” – là lứa tuổi sắp bước vào trường phổ thông. Với sự giáo dục của người
lớn, những cấu tạo tâm lý đặc trưng của con người đã được hình thành trước
đây và những chức năng tâm lý tiếp tục phát triển mạnh và được hoàn thiện
về mọi phương diện của hoạt động tâm lý (nhận thức, tình cảm, ý chí) đề hoàn
thành việc xây dựng những cơ sở ban đầu về nhân cách con người.
Trẻ mẫu giáo thường lĩnh hội những chuẩn mực và quy tắc hành vi như
là những thước đo để đánh giá người khác và đánh giá bản thân. Việc đặt mục
đích cho hành động và lập kế hoạch để thực hiện hành động thường được thể
hiện rất rõ nét. Điều đó thúc đẩy các hành động định hướng bên trong (các
quá trình tâm lý) phát triển mang tính chủ định rõ ràng. Tính chủ định này
được phát triển cùng với sự tiến triển của hoạt động vui chơi ở trẻ Mẫu giáo
lớn, làm cho dạng trò chơi đóng vai theo chủ đề chuyển dần sang dạng trò
chơi có luật rõ ràng hơn.
Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng giúp trẻ điều khiển và điều chỉnh
hành vi của mình cho phù hợp với những chuẩn mực, những quy tắc xã hội,
từ đó mà hành vi của trẻ mang tính xã hội, tính cách đậm nét hơn trước. Ý
thức bản ngã được xác định rõ ràng còn cho phép trẻ thực hiện các hành động
một cách chủ tâm hơn, nhờ đó các quá trình tâm lý mang tính chủ định rõ rệt.
Đến cuối tuổi mẫu giáo, thời gian trẻ có thể tập trung xem tranh tăng lên
gấp đôi so với độ tuổi mẫu giáo bé. Ngôn ngữ phát triển cũng giúp trẻ biết
điều khiển chú ý của mình, biết tự giác hướng chú ý của mình vào những đối
tượng nhất định. Tương tự như vậy, ghi nhớ của trẻ mẫu giáo lớn ngày càng
có tính chủ định nhiều hơn so với trẻ mẫu giáo bé, nhờ sử dụng một số


Khóa luận tốt
nghiệp

Khoa Giáo dục Mầm
non

phương thức như nhắc lại hay liên hệ các sự kiện với nhau do người lớn gợi ý
cho.
Có thể coi sự phát triển mặt ý chí là một trong những biểu hiện rõ nhất
của ý thức, khiến cho nhân cách của trẻ được khẳng định. Trước đây khi tham
gia vào các trò chơi, động cơ hoạt động của trẻ nằm ở chính trong quá trình
chơi. Trẻ mải mê chơi mà không cần biết đến kết quả việc chơi. Cuối tuổi
mẫu giáo, bên cạnh trò chơi Đóng vai theo chủ đề còn xuất hiện khá nhiều trò
chơi có luật, hành động của trẻ trở nên có mục đích hơn, động cơ của trẻ
không chỉ nằm ở quá trình chơi mà cả trong kết quả chơi nữa. Nghĩa là động
cơ của trẻ di chuyển từ quá trình chơi đến kết quả chơi.
1.1.1.3. Đặc điểm tư duy
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thực chất là phát triển hoạt động lời nói. Quá
trình phát triển lời nói của trẻ gắn bó rất chặt chẽ với hai cơ chế của lời nói là
sản sinh ngôn ngữ và tiếp nhận ngôn ngữ. Quá trình hình thành lời nói ở trẻ
gắn bó chặt chẽ với hoạt động của tư duy. Sự mạch lạc trong lời nói của trẻ
thực chất là sự mạch lạc của tư duy. Kiểu tư duy trực quan – hình tượng từng
phát triển mạnh ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ không còn đáp ứng được nhu cầu
nhận thức đang phát triển mạnh ở trẻ mẫu giáo lớn, do đó, bên cạnh việc phát
triển tư duy trực quan – hình tượng mạnh mẽ như trước đây, còn cần phát
triển thêm một kiểu tư duy trực quan hình tượng mới để đáp ứng khả năng và
nhu cầu phát triển ở trẻ ở cuối tuổi mẫu giáo. Đó là kiểu tư duy trưc quan – sơ
đồ. Kiểu tư duy mới này tạo ra cho trẻ một khả năng phản ánh những mối
quan hệ tồn tại khách quan, không bị phụ thuộc vào hành động hay ý muốn
chủ quan của bản thân đứa trẻ. Sự phản ánh những mối liên hệ khách quan là
điều kiện cần thiết để trẻ lĩnh hội những tri thức vượt ra ngoài khuôn khổ của
việc tìm hiểu từng sự vật riêng lẻ với những thuộc tính sinh động của chúng
để đạt tới những tri thức khái quát. Tư duy trực quan – sơ đồ vẫn giữ tính chất
hình tượng song bản thân hình tượng cũng trở nên khác trước: hình tượng đã


Khóa luận tốt
nghiệp

Khoa Giáo dục Mầm
non

bị mất đi những chi tiết rườm rà mà chỉ còn giữ lại những yếu tố chủ yếu giúp
trẻ phản ánh một cách khái quát sự vật chứ không phải là từng sự vật riêng lẻ.
Cả tư duy trực quan – hành động lẫn tư duy trực quan – hình tượng đều
liên hệ mật thiết với ngôn ngữ. Vai trò của ngôn ngữ ở đây rất lớn, nó giúp trẻ
nhận ra bài toán cần phải giải quyết, giúp trẻ đặt kế hoạch để tìm ra cách giải
quyết và nghe những lời giải thích, hướng dẫn của người lớn,… Khi mà ngôn
ngữ trở thành phương tiện chủ yếu của tư duy, cho phép giải những bài toán
trí tuệ mà không cần sử dụng trực tiếp đến hành động và biểu tượng, cũng là
lúc trẻ lĩnh hội những khái niệm mà loài người đã xây dựng nên, tức là những
tri thức về các dấu hiệu chung và bản chất của sự vật cũng như hiện tượng
trong hiện thực đã được củng cố bằng các từ. Ngôn ngữ và tư duy phụ thuộc
vào nhau mà tồn tại. Không có ngôn ngữ thì con người không thể tư duy vì
ngôn ngữ là vỏ vật chất của tư tưởng, là công cụ để hình thành tư tưởng.
Theo triết học Mác, một thực thể tinh thần muốn tồn tại, phải dựa vào
một thực thể vật chất nhất định. Tư duy là một thực thể tinh thần, muốn tồn
tại, muốn được truyền bá và phát triển trong xã hội con người, phải “nương
tựa” vào thực thể vật chất là ngôn ngữ. Tư duy được thể hiện thông qua ngôn
ngữ ở hai khía cạnh:
- Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng. Không có từ nào, câu nào
mà lại không biểu hiện khái niệm hay tư tưởng. Ngược lại, không có ý nghĩ,
tư tưởng nào không tồn tại dưới dạng ngôn ngữ. Ngôn ngữ là biểu hiện thực
tế của tư tưởng.
- Ngôn ngữ tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành tư tưởng. Mọi ý
nghĩ, tư tưởng chỉ trở nên rõ ràng khi được biểu hiện bằng ngôn ngữ. Không
có ngôn ngữ thì không có tư duy và ngược lai, không có tư duy thì không có
ngôn ngữ vì tư duy cung cấp nội dung, tinh thần, đảm bảo cho ngôn ngữ tồn
tại. Không có các kết quả tư duy (khái niệm, phán đoán, suy luận,…), ngôn


Khóa luận tốt
nghiệp

Khoa Giáo dục Mầm
non

ngữ chỉ còn là hình thức âm thanh thuần tuý, không khác gì tiếng sóng vỗ, gió
gào hay tiếng cười, tiếng khóc của con người.
1.1.2. Vai trò của sự phát triển ngôn ngữ đối với trẻ mẫu giáo lớn
1.1.2.1. Các khái niệm cơ bản
* Ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ
bản và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng người. Ngôn
ngữ đồng thời cũng là phương tiện phát triển tư duy, truyền đạt truyền thống
văn hoá, lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Hai nhà triết học lỗi lạc của nhân loại – Mác và Ăng-ghen đã viết:
“Trong bất cứ ngôn ngữ phát triển nào hiện nay, cái nguyên nhân khiến cho
một ngôn ngữ phát sinh một cách tự phát, được nâng lên thành ngôn ngữ dân
tộc, thì một phần là do ngôn ngữ đó được phát triển một cách lịch sử từ chỗ
nó được chuẩn bị đầy đủ về tư liệu, như ngôn ngữ La Mã và ngôn ngữ
Giécmani chẳng hạn, một phần là do sự giao dịch và hỗn hợp của các dân
tộc, như tiếng Anh chẳng hạn; một phần nữa là do các phương ngữ tập trung
thành ngôn ngữ dân tộc thống nhất và sự tập trung đó lại do sự tập trung kinh
tế, chính trị quyết định” (giáo trình triết học Mác – Lênin, NXB Chính trị
quốc gia). Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, ngôn ngữ thể hiện ý thức xã
hội, sự tồn tại và phát triển của ngôn ngữ gắn liền với sự tồn tại và phát triển
của xã hội. Trong quá trình phát triển, ngôn ngữ luôn luôn tiếp thu các yếu tố
mới để phong phú và hoàn thiện thêm.
Dưới góc độ xã hội học, ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội – lịch sử.
Ngôn ngữ xuất hiện để thoả mãn nhu cầu giao lưu của con người trong cộng
đồng xã hội loài người. Trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người như:
Lao động, học tập, vui chơi, giải trí,… đều rất cần đến ngôn ngữ. Nhờ ngôn
ngữ mà con người có thể hiểu nhau trong quá trình sinh hoạt và lao động mà
người ta có thể trao đổi tình cảm, nguyện vọng, ý nghĩ, kinh nghiệm với nhau.


Khóa luận tốt
nghiệp

Khoa Giáo dục Mầm
non

Có hiểu biết lẫn nhau, con người mới có thể đồng tâm hiệp lực chinh phục
thiên nhiên, chinh phục xã hội, làm cho xã hội ngày càng tiến lên. Ngôn ngữ
còn là một hiện tượng xã hội đặc biệt, không thuộc hạ tầng, không thuộc
thượng tầng, cũng không phải là công cụ sản xuất. Đặc thù riêng biệt của
ngôn ngữ để phân biệt với các hiện tượng xã hội khác, đó là ngôn ngữ phục
vụ xã hội, làm phương tiện giao tiếp giữa mọi người, là phương tiện trao đổi ý
kiến trong xã hội, giúp cho người ta hiểu biết lẫn nhau và cùng nhau tổ chức
công tác trên mọi lĩnh vực hoạt động của con người cả trên lĩnh vực xã hội lẫn
sinh hoạt thường ngày, đó là những đặc thù mà chỉ có ngôn ngữ mới có được.
Theo các nhà ngôn ngữ học thì ngôn ngữ là hệ thống bao gồm các bộ
phận: Ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phong cách. Các đơn vị của ngôn ngữ là
âm vị, hình vị, từ, câu, đoạn văn, văn bản. Mỗi từ có thể nhiều hình vị, các từ
ghép lại thành câu, các câu ghép thành đoạn văn,…
Ví dụ (VD): Đất, Trời, hoa, cỏ,… Từ có một hình vị.
Công nhân, Hà Nội,… Từ có nhiều hình vị.
Các nhà sinh lí học lại coi ngôn ngữ là tín hiệu của hệ thống tín hiệu
thứ hai hệ thống các đường liên hệ tạm thời, là cơ sở cho tư duy trừu tượng
(theo thuyết phản xạ của Paplop)
Giáo dục học nghiên cứu ngôn ngữ với tư cách là phương tiện, công cụ
giáo dục và phát triển con người, phát triển xã hội loài người.
* Phát triển ngôn ngữ
Theo từ điển Tiếng Việt: “Phát triển là mở mang từ nhỏ thành to, từ yếu
thành mạnh, phát triển cũng có thể được hiểu là diễn biến khi nó đứng trong
cụm từ “tình hình phát triển””. Phát triển còn được hiểu là biến đổi hoặc làm
cho biến đổi theo chiều hướng tăng từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp
đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.


Khóa luận tốt
nghiệp

Khoa Giáo dục Mầm
non

Phát triển ngôn ngữ là một quá trình mở rộng, làm tăng vốn từ. Ngôn ngữ
bao gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách vì thế phát triển ngôn ngữ
cho trẻ là việc mở rộng vốn từ, khả năng đặt câu, giúp trẻ nghe hiểu lời nói
của loài người và có thể sự dụng hệ thống kí hiệu từ ngữ thành thạo, từ đó trẻ
nhận thức được về xã hội loài người.
1.1.2.2. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn
Trong quá trình hình thành của trẻ, bên cạnh phát triển thể chất là trí tuệ.
Công cụ để phát triển tư duy, trí tuệ chính là ngôn ngữ. Một trong những
thành tựu lớn lao nhất của giáo dục mầm non là làm cho trẻ sử dụng được một
cách thành thạo tiếng mẹ đẻ trong đời sống hàng ngày. Ganzalốp – một nhà
thơ nổi tiếng của Đaghextan đã nói: “Khi chết, người cha để lại cho con cái
của mình nhà cửa, ruộng vườn, thanh kiếm và cây đàn pandua. Nhưng một
thế hệ khi mất đi thì để lại cho thế hệ tiếp theo tiếng nói. Ai có tiếng nói người
ấy sẽ xây dựng nhà mình, sẽ cày được ruộng, đúc được kiếm, lên được dây
đàn pandua và gẩy được nó”.
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn vẫn tuân theo những quy
luật chung, song so với trẻ mẫu giáo bé và mẫu giáo nhỡ thì ngôn ngữ của trẻ
mẫu giáo lớn có nội dung phong phú hơn, có cấu tạo phức tạp hơn và mang
những nét riêng gắn với đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ ở lứa tuổi này.
- Phát triển vốn từ và cơ cấu ngữ pháp
Vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn vào khoảng 3000-4000 từ và thường xuyên
sử dụng khoảng 1033 từ. Vốn từ tích luỹ được khá phong phú không chỉ về
danh từ mà cả về động từ, tính từ, liên từ,…Danh từ và động từ vẫn chiếm ưu
thế nhưng tính từ và các loại từ khác cũng được trẻ sử dụng nhiều hơn. Khả
năng nắm bắt nghĩa của từ phát triển hơn: Các từ chỉ tính chất không gian (bát
ngát, rộng lớn,…); từ chỉ tốc độ (nhanh chóng, chậm rãi,…); từ chỉ màu sắc
(tím biếc, phớt hồng,…) đã được trẻ sự dụng một cách chính xác. Trẻ còn hiểu
và biết dùng các từ chỉ khái niệm thời gian, từ đồng nghĩa, các từ chỉ mức độ


Khóa luận tốt
nghiệp

Khoa Giáo dục Mầm
non

sắc thái khác nhau (bé tí, chói chang,...). Các loại từ như đại từ, trạng từ, quan
hệ từ, phụ từ cũng được trẻ dùng nhiều hơn lứa tuổi trước.
Cơ cấu ngữ pháp của trẻ cũng khá hoàn thiện. Trẻ em ở cuối tuổi mẫu
giáo đã có thể sử dụng ngữ phát tiếng mẹ đẻ một cách thành thạo, mặc dù quá
trình đó diễn ra một cách vô thức. Điều này thể hiện trong sự phong phú và
phức tạp trong nội dung câu nói của trẻ so với những lứa tuổi trước đó.
VD: Tỷ lệ câu đơn và câu phức của trẻ mẫu giáo bé lần lượt là 72,55%;
277,44% thì tỷ lệ này ở trẻ Mẫu giáo lớn là 62,13%; 37,84%.
- Sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc và ngữ âm, ngữ điệu khi sử dụng
ngôn ngữ.
Ngôn ngữ mạch lạc thể hiện một trình độ phát triển tương đối cao, không
những về phương diện ngôn ngữ mà cả về phương diện tư duy. Trước đây trẻ
chủ yếu sử dụng ngôn ngữ tình huống là chủ yếu. Dần dần cuộc sống đòi hỏi
trẻ em cần có một kiểu ngôn ngữ khác ít phụ thuộc vào tình huống hơn. Kiểu
ngôn ngữ này là ngôn ngữ ngữ cảnh, mang tính rõ ràng, khúc chiết. Bên cạnh
đó, lứa tuổi này cũng xuất hiện một kiểu ngôn ngữ nữa là kiểu ngôn ngữ giải
thích. Kiểu ngôn ngữ này xuất hiện do nhu cầu giải thích cho các bạn cùng
tuổi về nội dung trò chơi, cách tạo ra đồ chơi,… Những trẻ năng giao tiếp,
năng tìm hiểu các hiện tượng ngôn ngữ thì không những hiểu được từ ngữ và
nắm vững ngữ pháp một cách vững vàng mà còn có thể “sáng tạo” ra những
từ ngữ, những cách nói chưa hề có trong ngôn ngữ của người lớn.
Giao tiếp bằng ngôn ngữ được mở rộng, thính giác của trẻ được rèn
luyện thường xuyên để tiếp nhận ngữ âm khi nghe người lớn nói, hơn nữa do
cơ quan phát âm đã trưởng thành mà trẻ có thể phát âm chuẩn những âm khó
của tiếng mẹ đẻ như “nguệch ngoạc”, “khúc khuỷu”,... Trẻ mẫu giáo lớn cũng
đã biết sử dụng ngữ điệu phù hợp với nội dung giao tiếp hay câu chuyện mà
trẻ kể. Trẻ thường dùng ngữ điệu êm ái để biểu thị sự yêu thương, trìu mến và
ngữ điệu gay gắt, thô mạnh khi tức giận.


Khóa luận tốt
nghiệp

Khoa Giáo dục Mầm
non

* Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non
Hoa
Hồng
Cũng như phần lớn trẻ 5-6 tuổi, trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non
Hoa Hồng đã nắm được và phát âm đúng tất cả các âm vị của tiếng mẹ đẻ,
phát âm đúng hầu hết các thanh điệu; biết phát âm đúng và rõ các từ, câu;
biến đổi cường độ, ngữ điệu phù hợp; sử dụng các phương tiện biểu cảm
phù hợp... Trẻ đã có thể sử dụng những câu phức tạp hơn câu tường thuật
để miêu tả sự vật, hiện tượng, con người như câu nghi vấn, câu cảm thán,
câu hô ứng. Trẻ có thể nói câu gồm 4-5 tiếng; biết dùng từ “đã” hay “rồi” để
diễn tả quá khứ. Trẻ có thể nói những lời bày tỏ được cảm xúc hay nhu cầu, ý
nghĩ, kinh nghiệm của bản thân như “Con nhớ mẹ nhiều lắm!”. Trẻ cũng biết
sử dụng lời nói để thoả thuận, trao đổi, hợp tác, chỉ dẫn bạn bè trong khi vui
chơi hoặc khi kể về sự việc, hiện tượng nào đó để người nghe hiểu, trẻ cũng
đã kể được nội dung câu chuyện đã nghe theo đúng trình tự. Tuy nhiên, vẫn
có những trường hợp trẻ yếu, không phát âm được hoàn toàn các âm vị,
thanh điệu và phát âm sai một số từ khó, bỏ sót một số nguyên âm.
Nhìn chung, đứa trẻ trước khi bắt đầu vào tuổi học sinh đã có khả năng
nắm được ý nghĩa của từ vựng thông dụng, phát âm đúng sự phát âm
của người lớn, biết dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, và đặc
biệt là nói đúng ngữ pháp phức tạp bao gồm những quy luật ngôn ngữ tinh vi
nhất về phương diện cú pháp và về phương diện tu từ, nói năng mạch lạc.
Tóm lại, trẻ đã hoàn toàn nắm được tiếng mẹ đẻ.
1.1.2.3. Vai trò của sự phát triển ngôn ngữ đối với trẻ mẫu giáo lớn
* Vai trò của ngôn ngữ đối với nhận thức của con người
Nhận thức là một trong ba mặt đời sống tâm lý con người (nhận
thức, tình cảm và hành động). Nó là tền đề của Hai mặt còn lại và cũng có


Khóa luận tốt
Khoa Giáo dục Mầm
quan
hệ
mật
thiết
với
các
hiện
tượng
tâm

khác
của
nghiệp
non con người. Hoạt động

nhận thức


Khóa luận tốt
nghiệp

Khoa Giáo dục Mầm
non

bao gồm nhiều quá trình khác nhau và mang lại sản phẩm khác nhau về
hiện thực khách quan như: Hình ảnh, hình tượng, khái niệm,…
Căn cứ vào tnh chất phản ánh có thể chia hoạt động nhận thức thành
hai mức độ: Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính.
Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng đối với nhận thức cảm tính.
Nhận thức cảm tnh bao gồm cảm giác, tri giác và biểu tượng. Lênin
từng viết: “Cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”. Nhưng
nếu dừng lại ở cảm giác thì con người mới chỉ hiểu được thuộc tính cụ thể,
riêng lẻ của sự vật. Do đó, nhận thức phải vươn lên hình thức nhận thức
cao hơn. Khi ngôn ngữ tác động đồng thời với sự tác động của sự vật, hiện
tượng làm cho cảm giác diễn ra nhanh hơn, hình ảnh do cảm giác đem lại rõ
ràng hơn, đậm nét hơn, chính xác hơn.
VD: Khi chúng ta đang đói, nếu nghe một người nào đó cũng kêu “Đói
quá!” thì dường như chúng ta cũng cảm thấy đói hơn.
Tri giác là hình thức nhận thức cảm tnh phản ánh tương đối trọn vẹn sự
vật, hiện tượng khi các sự vật, hiện tượng đó đang tác động trực tiếp vào các
giác quan con người. So với cảm giác thì tri giác là hình thức nhận thức đầy
đủ hơn, phong phú hơn. Tri giác chứa đựng cả thuộc tnh đặc trưng và không
đặc trưng có tính trực quan của sự vật. Trong khi đó, nhận thức đòi hỏi phải
phân biệt được đâu là thuộc tính đặc trưng, đâu là thuộc tính không đặc
trưng và phải nhận thức sự vật ngay cả khi nó không còn trực tiếp tác động
lên cơ quan cảm giác con người. Ngôn ngữ làm cho tri giác của con người
diễn ra dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn, khách quan hơn, đầy đủ và rõ
ràng hơn. Không có ngôn ngữ thì tri giác của con người cũng giống như tri
giác của con vật. Chất lượng tri giác của con người chỉ được biểu đạt thông
qua ngôn ngữ. Biểu tượng lại là một hình thức nhận thức cảm tnh phản ánh
tương đối hoàn chỉnh sự vật do sự hình dung lại, nhớ lại sự vật khi sự vật


Khóa luận tốt
Khoa Giáo dục Mầm
không
còn
tác
động
trực
tiếp
vào
giác
quan.
Biểu
tượng
nghiệp
non vừa chứa đựng yếu

tố trực tiếp, vừa chứ


Khóa luận tốt
nghiệp

Khoa Giáo dục Mầm
non

đựng yếu tố gián tiếp do đó biểu tượng phản ánh những thuộc tính đặc
trưng nổi trội của các sự vật. Ngôn ngữ giúp cho con người nhận thức và dễ
dàng hình thành các biểu tượng về hiện thực khách quan hơn, đồng thời giúp
củng cố các biểu tượng mà con người đã thu nhận được từ hiện thực khách
quan.
Nhận thức lí tnh là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh
những đặc tính bản chất của sự vật. Sự hình thành khái niệm là kết quả của
sự khái quát, tổng hợp biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật.
Khái niệm có vai trò rất quan trọng trong nhận thức bởi vì nó là cơ sở để hình
thành các phán đoán và tư duy khoa học. Các khái niệm vừa có tính chủ
quan, vừa có tác động qua lại với nhau, vừa thường xuyên vận động, vừa
phát triển.
Phán đoán là hình thức của tư duy trừu tượng, liên kết các khái niệm
với nhau để khẳng định hay phủ định một đặc điểm, thuộc tính của đối
tượng. Theo trình độ của nhận thức, phán đoán được chia thành ba loại là
phán đoán đơn nhất (VD: Tờ báo dễ cháy.), phán đoán đặc thù (VD: Tờ báo là
giấy.) và phán đoán phổ biến (VD: Mọi loại giấy đều dễ cháy.). Nhưng nếu chỉ
dừng lại ở phán đoán thì nhận thức mới chỉ biết được mối liên hệ giữa cái
đơn nhất với cái phổ biến, chưa biết được giữa cái đơn nhất trong phán
đoán này với cái đơn nhất trong phán đoán kia và chưa biết được mối quan
hệ giữa cái đặc thù với cái đơn nhất và cái phổ biến. Để khắc phục hạn chế
đó, nhận thức lí tính phải vươn lên hình thức nhận thức suy luận.
Suy luận là hình thức tư duy trừu tượng liên kết các phán đoán lại với
nhau để rút ra một phán đoán có tính chất kết luận tm ra tri thức mới. Ví dụ,
nếu liên kết phán đoán “tờ báo dễ cháy” với phán đoán “tờ báo là giấy” ta
rút ra được tri thức “mọi loại giấy đều dễ cháy”. Tuỳ theo sự kết hợp phán
đoán theo trật tự nào giữa phán đoán đơn nhất, đặc thù với phổ biến mà


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×