Tải bản đầy đủ (.doc) (74 trang)

Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua tập thơ “bài ca trái đất” của định hải (2017)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (579.06 KB, 74 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
===o0o===

ĐINH THỊ THU

PHÁT TRIỂN VỐN TỪ
CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG
QUA TẬP THƠ “BÀI CA TRÁI ĐẤT”
CỦA ĐỊNH HẢI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành:Phương pháp phát triển ngôn ngữ

Người hướng dẫn khoa học
TS. Lê Thị Thùy Vinh

HÀ NỘI - 2017


LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non và các thầy cô
giáo trong tổ bộ môn phương pháp phát triển ngôn ngữ đã giúp đỡ em
trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa
luận tốt nghiệp.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo TS. Lê Thị Thùy Vinh - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong
quá trình học tập, nghiên cứu và giúp em hoàn thành khóa luận này.
Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu xót và
hạn chế. Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo
và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!


Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Sinh viên

Đinh Thị Thu


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi với sự
hướng dẫn tận tình của cô giáo ThS. Lê Thị Thùy Vinh. Đề tài chưa được
công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào khác.
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Sinh viên

Đinh Thị Thu


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài......................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................ 2
3. Mục đích nghiên cứu.................................................................................. 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu................................................................................. 5
6. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 5
7. Cấu trúc đề tài ............................................................................................ 5
NỘI DUNG ....................................................................................................... 6
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI........................ 6
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Cơ sở tâm lí học ................................................................................... 6
1.1.2. Cơ sở giáo dục học............................................................................... 8

1.1.3. Cơ sở sinh lí học .................................................................................. 9
1.1.4. Cơ sở ngôn ngữ học ........................................................................... 11
1.1.5. Các khái niệm cơ bản......................................................................... 13
1.5.1. Đặc điểm vốn từ của trẻ mầm non.................................................. 13
1.5.2. Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn. .......................... 17
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác thơ của nhà thơ Định Hải................ 20
1.2.2. Khảo sát thực trạng………………………………………………….22
Chương 2. BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO
LỚN THÔNG QUA TẬP THƠ “BÀI CA TRÁI ĐẤT” CỦA ĐỊNH HẢI ...... 27
2.1. Từ ngữ trong tập thơ “Bài ca trái đất” của nhà thơ Định Hải.............. 27
2.1.1. Yếu tố ngôn ngữ trong tập thơ “Bài ca trái đất”............................ 27


2.1.2. Phát triển vốn từ cho trẻ thông qua thế giới trẻ thơ hồn nhiên, ngộ
nghĩnh qua tập thơ “Bài ca trái đất” của nhà thơ Định Hải .....................
29
2.1.3. Phát triển vốn từ cho trẻ thông qua thế giới trẻ thơ hồn hậu, trong
sáng,
đậm chất nhân văn qua tập thơ “Bài ca trái đất” của nhà thơ Định Hải......
33
2.2. Các biện pháp phát triển vốntừ qua tập thơ “Bài ca trái đất” của nhà
thơ Định Hải................................................................................................. 35
2.2.1. Biện pháp đọc thơ cho trẻ nghe ...................................................... 36
2.2.2. Biện pháp đàm thoại ....................................................................... 40
2.2.3. Biện pháp giải nghĩa của từ ............................................................ 41
2.2.4. Dạy trẻ học thuộc thơ...................................................................... 45
KẾT LUẬN .................................................................................................... 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 48



MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những mục tiêu quan trọng
nhất của giáo dục mầm non. Bởi ngôn ngữ bên cạnh là công cụ giao tiếp, học
tập, vui chơi, giữ vai trò quyết định sự phát triển tâm lí trẻ em, nó còn là
phương tiện để giáo dục trẻ em một cách toàn diện: phát triển về đạo đức, tư
duy, đạo đức và các chuẩn mực hành vi văn hóa.
Mặt khác ngôn ngữ không có sẵn do di truyền, nó có được trong suốt quá
trình trau dồi, học hỏi của trẻ. Vì vậy để phát triển ngôn ngữ cần thực hiện
nhiệm vụ quan trọng là phát triển vốn từ. Khi vốn từ của trẻ tăng lên trẻ có thể
hiểu được nghĩa và diễn đạt chính xác hơn. Trẻ có thể dễ dàng giao tiếp với
những người xung quanh, bộc lộ những suy nghĩ, ý muốn của bản thân một
cách rõ ràng. Đặc biệt ở giai đoạn 5 - 6 tuổi trẻ có thể hiểu và nói được nhiều
từ hơn, trẻ có khả năng nói những câu khó, phức tạp theo nhiều nghĩa khác
nhau. Do đó trẻ có nhu cầu rất lớn trong giao tiếp, tìm hiểu, khám phá thế giới
xung quanh. Để đáp ứng nhu cầu đó trẻ cần có vốn từ phong phú về tự nhiên,
con người và xã hội.
1.2.Mỗi con người chúng ta khi sinh ra ngay từ thuở lọt lòng đã được
nghe những tiếng ru ầu ơ của bà, của mẹ thật ngọt ngào, tha thiết, trong trẻo
và bay bổng làm cho tâm hồn trẻ thơ cảm nhận được sự tuyệt vời của tiếng
mẹ đẻ khi còn nằm trong nôi. Cũng chính vì lẽ đó mà thơ ca là phương thức
đắc lực bồi dưỡng những tâm hồn bé bỏng ấy không gì có thể thay thế được.
Với nội dung trong sáng, lành mạnh, thơ như dòng sữa mẹ thơm mát thổi vào
tâm hồn non nớt của trẻ những tình cảm tốt đẹp, trí tưởng tượng cũng như sự
phát triển vốn từ cho trẻ.
Đã có rất nhiều nhà thơ nổi tiếng có nhiều tác phẩm hay viết cho thiếu
nhi như: Phạm Hổ, Võ Quảng, Trần Đăng Khoa, Xuân Quỳnh… Trong số các

1



tác giả viết có thiếu nhi, Định Hải là một trong những người tâm huyết với
nghề, được bao thế hệ nhỏ tuổi đón nhận, yêu mến. Với tập thơ nổi tiếng “Bài
ca trái đất”, Định Hải đã ghi dấu ấn riêng qua việc vẽ nên thế giới trẻ thơ
sống động, vừa hồn nhiên, ngây thơ vừa mang chiều sâu triết lí. Tựu chung đó
là nghệ thuật chan chứa tình yêu thương, lòng nhân ái, sự bao dung giữa con
người với con người, giữa con người với thế giới tự nhiên. Trong thế giới ấy
cây cỏ, động vật cũng được thổi một luồng sinh khí trở nên sống động, có hồn
như trong bài thơ “Cái nụ”, “Con vịt”, “Con chó và con mèo”. Đọc “Bài ca
trái đất”, bạn đọc không chỉ bắt gặp trong đó thế giới trẻ thơ hồn nhiên, ngộ
nghĩnh mà còn cảm nhận được nét đẹp hồn hậu, trong sáng và đậm chất nhân
văn. Sáng tác đã mang đến cho thế giới trẻ thơ những ước mơ, khát vọng về
cuộc sống tốt đẹp, nhân ái, góp phần tạo dựng và giáo dục phẩm chất, những
đức tính tốt cho các em. Điều này được thể hiện qua những vần thơ ấm áp, nói
lên tình yêu gia đình, yêu mến công việc lao động cũng như có những ước
mơ, khát vọng của tuổi thơ.
Từ những lí do trên, chúng tôi đã mạnh dạn lựa chọn nghiên cứu đề tài
“Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua tập thơ “Bài ca trái đất”
của Định Hải” với mong muốn tìm hiểu rõ hơn việc sử dụng từ ngữ trong thơ
Định Hải để giúp trẻ phát triển vốn từ nói riêng và ngôn ngữ nói chung, từ đó
truyền những cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ thơ Định Hải đến với các em.
2. Lịch sử vấn đề
Từ lâu vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ mẫu giáo
lớn là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu.
Ở Việt Nam, từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, vấn đề này cũng
được quan tâm. Một số hội nghị khoa học ở Trung Ương cũng như địa
phương đã hướng vào nội dung việc thảo luận nâng cao chất lượng giảng dạy
phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non.



Trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”, NXB
Đại học Sư phạm, 2004, tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã nói về phương pháp
phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo rất chi tiết, tỉ mỉ và cụ thể, trên cơ sở
những đánh giá chung về đăc điểm tâm sinh lí của trẻ ở lứa tuổi này, dựa trên
mối quan hệ của bộ môn ngôn ngữ học với những bộ môn khác tác giả đã đưa
ra.
Tác giả Nguyễn Xuân Khoa cũng đã cung cấp tri thức cơ bản về tiếng
Việt trong 2 tập “Tiếng Việt”, NXB Đại học Sư phạm, 2003, từ đó giúp giáo
viên mầm non có vốn kiến thức cơ bản phục vụ tốt việc phát triển ngôn ngữ
mẹ đẻ cho trẻ mầm non.
Trong cuốn“Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi”,
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, các tác giả Hoàng Thị Oanh - Phạm
Thị Việt - Nguyễn Kim Đức đã nói lên tầm quan trọng của ngôn ngữ trong
việc giáo dục toàn diện cho trẻ và nêu sơ lược nội dung, phương pháp, biện
pháp để luyện phát âm, phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát
triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ.
Đứng trên phương diện một nhà giáo dục học, tâm lí học, tác giả Nguyễn
Ánh Tuyết đã nghiên cứu ý nghĩa của truyện cổ tích trong việc bồi dưỡng cảm
xúc lành mạnh và trong sáng góp phần giáo dục đạo đức cho trẻ trong cuốn
“Giáo dục mầm non, những vấn đề lí luận và thực tiễn”, 2007, NXB Đại học
Sư phạm.
Trong cuốn “Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non” (2005), tác giả
Nguyễn Ánh Tuyết cũng đã trình bày sự phát triển vốn từ ở từng giai đoạn,
lứa tuổi.
Tìm hiểu về thơ Định Hải và một số nhà thơ khác viết cho thiếu nhi, ta
có thể thấy các bài viết trong tập Nhà văn hiện đại, Nhà xuất bản Hội Nhà văn
1997; bài viết của Tô Hà trong Báo văn nghệ số 37 (ngày 8-9-1984). Tô Hà
đã ra nhận xét, đánh giá về tập thơ Bài ca trái đất của Định Hải. Theo Tô Hà,



tập thơ đã khai thác các khía cạnh: hồn nhiên, ngộ nghĩnh, giàu tưởng tượng
của trẻ em; nhận thức của các em về mối quan hệ gia đình, ý thức lao động,
tình cảm bạn bè.
Tác giả Nguyễn Trọng Hoàn nhận xét khá đầy đủ về Định Hải và quá
trình sáng tác thơ viết qua thiếu nhi qua bài viết Nhà thơ Định Hải (Tạp chí
nhà văn, 6 - 2001). Nguyễn Trọng Hoàn đã nhận xét: “Cảm hứng bao trùm
lên nội dung và các tác phẩm viết cho thiếu nhi của nhà thơ Định Hải là tình
yêu thương con người, tình yêu thiên nhiên, tình yêu loài vật. Trong thơ ông,
khát vọng lớn nhất của tuổi thơ là khát vọng hòa bình, là tình hữu nghị”.
Và còn rất nhiều những công trình nghiên cứu khác đi vào tìm hiểu về
ngôn ngữ và phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo ở các độ tuổi, các giai đoạn.
Tựu chung lại các nhà khoa học đều muốn trẻ được phát triển về mặt ngôn
ngữ, nâng cao chất lượng dạy và học của ngành giáo dục mầm non nói riêng
và của ngành giáo dục nước ta nói chung. Tuy nhiên cho đến thời điểm này
chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về
đề tài thơ Định Hải đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non. Với đề
tài này, chúng tôi đã tìm được hướng đi riêng, dựa trên sự tìm hiểu, đánh giá
và thực nghiệm của chính bản thân.
3. Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu
giáo lớn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn.
- Phạm vi nghiên cứu: trong khuôn khổ khóa luận chúng tôi nghiên cứu
sự phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn qua tập thơ“Bài ca trái đất”của nhà
thơ Định Hải.


5. Nhiệm vụ nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài, nghiên
cứu của chúng tôi nhằm thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của đề tài
- Đề xuất một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông
qua những sáng tác thơ của nhà thơ Định Hải.
- Thực nghiệm sư phạm tại trường Mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên Vĩnh Phúc.
Trên cơ sở những nhiệm vụ trên, chúng tôi đưa ra Kết luận và khuyến
nghị.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp quan sát
- Thương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
7. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Khóa luận
bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông
qua tập thơ “Bài ca trái đất” của nhà thơ Định Hải.


NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Cơ sở tâm lí học
Con người khác xa con vật nhờ có ngôn ngữ. Ngôn ngữ là phương tiện

vừa là điều kiện để con người hoạt động và giao lưu. Trong hoạt động học tập
ngôn ngữ là công cụ có giá trị, có tác dụng vô cùng to lớn.ngôn ngữ vừa là
công cụ hiện thực hóa tư duy, lĩnh hội tri thức vừa nói lên khả năng trí tuệ của
con người. ngôn ngữ và tư duy có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động
qua lại với nhau, người có tư duy tốt sẽ nói năng mạch lạc, trôi chảy; nếu trau
dồi ngôn ngữ tỉ mỉ, chu đáo thì sẽ tạo điều kiện cho tư duy phát triển tốt.
Đứng ở góc độ tâm lí học, các nhà ngôn ngữ thấy rằng: việc tiếp thu
ngôn ngữ có nhiều điểm khác so với tiếp thu kiến thức trong các lĩnh vực
khác. Ngôn ngữ được hình thành rất sớm. Ngay từ giai đoạn hài nhi, ở trẻ đã
hình thành những tiền đề của sự lĩnh hội ngôn ngữ. Nhu cầu giao tiếp với
người lớn ngày càng tăng làm nảy sinh khả năng nói nói năng của trẻ. Trẻ
không có ý thức về ngôn ngữ nhưng bằng cách bắt chước có tính bản năng, trẻ
em sẽ được học nói của những người xung quanh mình.
Sự phát triển mọi mặt của trẻ mẫu giáo chưa hoàn thiện, còn non nớt.
Hoạt động học tập đòi hỏi sự căng thẳng về trí tuệ và thể lực, đòi hỏi sự chú ý
có chủ định kéo dài, đòi hỏi sự hoạt động nhiều mặt của trẻ. Trẻ 5 - 6 tuổi,
chú ý không chủ định phát triển mạnh, chú ý đã có chủ định đã xuất hiện
nhưng còn hạn chế. Đặc điểm trí nhớ của trẻ mẫu giáo là tính trực quan hình
tượng, tính không chủ định nhờ tác động một cách tự nhiên của những ấn
tượng hấp dẫn bên ngoài.Trí nhớ trực quan phát triển mạnh hơn trí nhớ từ ngữ
- logic. Ghi nhớ máy móc là đặc điểm nổi bật, trẻ ghi nhớ những sự vật hiện


tượng, cụ thể dễ dàng hơn nhiều so với những lời giải thích dài dòng. Vào
cuối tuổi mẫu giáo, trí nhớ của trẻ có một bước biến đổi về chất: ghi nhớ có
chủ định xuất hiện và phát triển mạnh. Biểu tượng của trí nhớ ở trẻ mẫu giáo
lớn mang tính khái quát hơn.Trong quá trình tưởng tượng, trẻ sử dụng các
biểu tượng của trí nhớ.
Ngôn ngữ giúp trẻ biết điều khiển chú ý của mình, biết tự giác hướng
chú ý của mình vào những đối tượng nhất định, khối lượng chú ý tăng và sức

tập chung chú ý trở nên bền vững hơn. Ghi nhớ của trẻ mẫu giáo lớn cũng
ngày càng có tính chủ định hơn so với trẻ mẫu giáo bé.Tuy vậy, cho đến cuối
tuổi mẫu giáo các quá trình tâm lí không chủ định vẫn chiếm ưu thế trong
hoạt động tâm lí của trẻ, ngay cả hoạt động trí tuệ.
Tư duy và tưởng tượng của con người không thể tách rời ngôn ngữ.
Ngôn ngữ là phương tiện tư duy, hay ngôn ngữ cũng chính là “dòngtư duy”.
Tư duy của trẻ: tư duy trực quan - hành động và trực quan hình ảnh. Ở trẻ
chưa hình thành loại tư duy ngôn ngữ - logic nên ngôn ngữ của trẻ mầm non
còn hạn chế. Ở tuổi ấu nhi, hầu hết trẻ đều rất tích cực hoạt động với đồ vật,
nhờ đó trí tuệ, tư duy phát triển khá mạnh, đó là tư duy trực quan hành động.
Nhưng đó mới chỉ là những hành động bên ngoài, làm tiền đề cho sự hình
thành những hoạt động định hướng bên trong. Đến tuổi mẫu giáo, tư duy của
trẻ có một bước ngoặt rất cơ bản, chuyển từ kiểu tưu duy trực quan- hành
động sang kiểu tư duy trực quan - hình tượng. Tuổi mẫu giáo bé, trẻ bắt đàu
biết tư duy bằng những hình ảnh trong đầu, nhưng do những biểu tượng còn
nghèo nàn và tư duy mới được chuyển từ bình diện bên ngoài vào bình diện
bên trong nên trẻ chỉ mới giải quyết được những bài toán hết sức đơn giản
theo kiểu tư duy trực quan - hình tượng.Ở tuổi mẫu giáo nhỡ trẻ phải giải
những bài toán ngày càng phức tạp và đa dạng, đòi hỏi tách biệt và sử dụng
mối liên hệ giữa những sự vật, hiện tượngvà hành động. Trẻ mẫu giáo nhỡ đã


bắt đầu đề ra những bài toán nhận thức, tìm tòi cách giải thích những sự vật,
hiện tượng mà mình nhìn thấy, kiểu tư duy trực quan hình tượng đã bắt đầu
chiếm lĩnh. Đến tuổi mẫu giáo lớn, khi ngôn ngữ trở thành phương tiện của tư
duy và cho phép trẻ giải những bài toán trí tuệ mà không cần sử dụng trực tiếp
hành động và biểu tượng. Lúc này trẻ bắt đầu tập làm quen, lĩnh hội những
khái niệm đơn giản, khái niệm trừu tượng.những khái niệm đó là những tri
thức về các dấu hiệu chung và bản chất của sự vật cũng như hiện tượng trong
hiện thực đã được khái quát lại bằng các từ. Trẻ biểu hiện năng lực trí tuệ qua

hoạt động tổng hợp của lời nói, qua quan sát, chú ý và suy nghĩ bằng năng lực
ghi nhớ liên tưởng và khả năng giải quyết các nhiệm vụ thông qua vui chơi
sáng tạo. Tư duy trực quan giải thích việc trẻ mẫu giáo bé và mẫu giáo nhỡ có
vốn từ biểu danh là chủ yếu. Tư duy trừu tượng và tư duy logic xuất hiện ở
tuổi thứ năm và cho phép trẻ em lĩnh hội những khái niệm đầu tiên- đó là
những khái niệm về sự vật, hiện tượng gần gũi xung quanh trẻ.
Việc cho trẻ tiếp xúc nhiều với thơ và việc giáo dục đạo đức trẻ thông
qua nội dung các bài thơ là hai hướng đi song song nhất quán, thúc đẩy, hỗ trợ
phát triển cho trẻ và dần hình thành nhân cách trẻ thơ.
1.1.2. Cơ sở giáo dục học
Dạy học ở trường mẫu giáo là quá trình phát triển có hệ thống, có kế
hoạch, có mục đích các năng lực nhận thức cửa trẻ, trang bị cho trẻ hệ thống
tri thức sơ đẳng, hình thành kĩ năng, kĩ xảo tương ứng.trên cơ sở đó góp phần
hình thành nhân cách cho trẻ. Trong quá trình dạy học gồm có nhiều hoạt
động khác nhau như: Làm quen với văn học, Hình thành biểu tượng toán sơ
đẳng cho trẻ mầm non, Làm quen với môi trường xung quanh… Tất cả các
hoạt động này nhằm mục đích mở rộng kiến thức hiểu biết cho trẻ và bên
cạnh đó còn một nhiệm vụ quan trọng là phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Hiện
nay ở các trường mầm non có hai hình thức phát triển lời nói cho trẻđó là: tiết


học và ngoài tiết học. Các tiết học như: nhận biết tập nói, Làm quen với chữ
cái, làm quen với các tác phẩm văn học, làm quen với môi trường xung
quanh, Hình thành biểu tượng toán sơ đẳng cho trẻ mầm non, Tổ chức hoạt
động tạo hình, Giáo dục âm nhạc… Tất cả đều phát triển lời nói cho trẻ.Vì
vậy trong giờ học các hoạt động khác chúng ta phải chú ý phát triển ngôn ngữ
cho trẻ vì ngôn ngữ là cửa ngõ để trẻ phát triển toàn diện nhân cách.
Ngôn ngữ của trẻ được hình thành và phát triển qua giao tiếp với con
người, với sự vật hiện tượng xung quanh. Để thực hiện điều đó phải thông qua
nhiều hoạt động khác nhau như qua các giờ học, các trò chơi, dạo chơi ngoài

trời và sinh hoạt hằng ngày. Qua đó rèn luyện và phát triển vốn từ cho trẻ, tập
cho trẻ biết nghe, hiểu và phát âm chính xác các âm của tiếng mẹ đẻ, hướng
dẫn trẻ biết cách diễn đạt ý muốn của mình cho người khác hiểu.Vì vậy, khi
cho trẻ làm quen, tiếp xúc với các sự vật hiện tượng ngoài việc giới thiệu tên
gọi, đặc điểm của đối tượng cho trẻ thì giáo viên cần dạy trẻ biết nói các câu
đầy đủ, rõ nghĩa, dạy trẻ phát âm đúng các âm chuẩn tiếng Việt, đảm bảo các
nguyên tắc của giáo dục như tính khoa học, tính hệ thống, tính vừa sức.
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một nhiệm vụ quan trọng trong chương
trình giáo dục toàn diện trẻ. Chương trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ đã
đượcnhà giáo dục mầm non Liên Xô (cũ) nổi tiếng Eiti- Kheeva xem là khâu
chủ yếu nhất của các hoạt động trong trường mầm non, là tiền đề thành công
của các công tác khác.
1.1.3. Cơ sở sinh lí học
Cho đến lúc ra đời, não bộ của trẻ phát triển chưa hoàn thiện, mặc dù
hình thái và cấu tạo giải phẫu của nó không khác não người lớn là mấy. Ở trẻ
sơ sinh: não bộ có kích thước nhỏ, khoảng 370- 392g (1/8- 1/9 trọng cơ thể).
Trong 9 năm đầu, trọng lượng não trẻ tăng lên mạnh mẽ. Chẳng hạn, trẻ được
6 tháng tuổi, trọng lượng của não tăng lên gấp đôi lúc sơ sinh; trẻ 3 tuổi tăng


gấp 3 và đa số các tế bào thần kinh đã được biệt hóa.
Học thuyết về các hệ thống tín hiệu đã khẳng định: Ngôn ngữ là hệ thống
tín hiệu thứ hai, là sự hoạt động đặc biêt của vỏ bán cầu đại não. Hệ thống tín
hiệu thứ hai có được là nhờ những kích thích trừu tượng như ngôn ngữ, lời
nói, chữ viết… Việc phát triển ngôn ngữ phải lien quan mật thiết tới việc phát
triển, hoàn thiện bán cầu đại não và hệ hệ thần kinh. Trong ba năm đầu là kết
thúc sự trưởng thành về mặt giải phẫu vùng não chỉ huy ngôn ngữ, vì thế phải
phát triển ngôn ngữ cho trẻ đúng lúc mới đạt hiệu quả tốt nhất.
Để có thể giao tiếp tốt chúng ta không thể không kể đến bộ máy phát âm.
Mỗi con người sinh ra đã có sẵn bộ máy phát âm, đó là tiền đề vật chất để sản

sinh âm thanh ngôn ngữ. Đó là một trong những điều kiện vật chất quan trọng
nhất mà thiếu nó không thể có ngôn ngữ; nếu như bộ máy phát âm có một
khiếm khuyết nào đó (ví dụ như sứt môi, hở hàm ếch, ngắn lưỡi, lưỡi dài…)
thì việc hình thành lời nói cũng gặp rất nhiều khó khăn. Khi sinh ra mỗi con
người không phải đã có ngay bộ máy phát âm hoàn chỉnh. Độ tuổi mầm non
là giai đoạn hoàn thiện dần bộ máy đó: sự xuất hiện và hoàn thiện của hai
hàm răng, sự vận động của môi, lưỡi, hàm dưới… quá trình đó diễn ra tự
nhiên theo các quy luật sinh học, nó phát triển và hoàn thiện cùng sự lớn lên
của trẻ. Trong thực tế ở cùng một độ tuổi nhiều em có ngôn ngữ phát triển tốt,
phát âm rõ ràng bên cạnh đó có những em ngôn ngữ kém phát triển hơn, nói
ngọng hoặc lời nói không rõ ràng. Có sự khác nhau như thế là do bộ máy phát
âm khác nhau và quá trình chăm sóc giáo dục cũng khác nhau. Trẻ nói ngọng
là do bộ máy phát âm phát triển chưa hoàn chỉnh. Tuy nhiên bộ máy phát âm
hoàn chỉnh mới chỉ là tiền đề vật chất. Cùng với thời gian, quá trình học tập,
rèn luyện một cách có hệ thống sẽ làm cho bộ máy phát âmđáp ứng được nhu
cầu thực hiện các chuẩn mực âm thanh ngôn ngữ. Cấu tạo bộ máy phát âm
gồm: dây thanh và các hộp cộng hưởng phía trên thanh hầu. Âm sắc và tiếng


nói do tính chất của âm xác định và phụ thuộc vào các khoang cộng hưởng
của phần trên các bộ phận thanh quản, họng, khoang, miệng, mũi. Bộ máy
phát âm của trẻ chưa phát triển đầy đủ, các bộ phận tạo thành tiếng nói chưa
liên kết chặt chẽ nên trẻ phát âm còn chưa chuẩn, không chính xác. Do đó,
việc nghiên cứu bộ máy phát âm để tìm hiểu vốn từ của trẻ mầm non hoàn
toàn có cơ sở và mang tính khoa học.
Ở cuối Tuổi mẫu giáo, do việc giao tiếp bằng ngôn ngữ được mở rộng,
tai nghe âm vị được rèn luyện thường xuyên để tiếp nhận các ngữ âm khi
nghe người lớn nói, mặt khác cơ quan phát âm đã trưởng thành đên mức trẻ
có thể phát âm tương đối chuẩn kể cả những âm khó của tiếng mẹ đẻ khi nói
năng. Trẻ mẫu giáo lớn đã biết sử dụng ngữ điệu một cách phù hợp với nội

dung giao tiếp hay nội dung câu chuyện mà trẻ kể.
1.1.4. Cơ sở ngôn ngữ học
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ
bản và quan trọng nhất trong xã hội loài người. Ngôn ngữ đồng thời cũng là
phương tiện phát triển tư duy, lưu giữ và truyền đạt truyền thống văn hóa- lịch
sử từ thế hệ này sang thế hệ khác. Lênin từng khẳng định: “Con người muốn
tồn tại thì phải gắn bó với cộng đồng. Giao tiếp là một hoạt động đặc trưng
của con người. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất.”. Ngôn
ngữ có vai trò rất lớn trong cuộc sống con người, nhờ ngôn ngữ mà con người
có thể trao đổi hiểu biết, truyền cho nhau những kinh nghiệm, tâm sự với
nhau những nỗi niềm thầm kín.
Ngôn ngữ chính là một trong những phương tiện thúc đẩy trẻ trở thành
một thành viên của xã hội loài người. Ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập, vui
chơi. Ngôn ngữ là công cụ hữu hiệu để bày tỏ những tình cảm hay nguyện
vọng của mình từ khi còn rất nhỏ để người lớn có thể yêu thương và chăm sóc
các em một cách tốt nhất. Ngôn ngữ rất cần cho tất cả các hoạt động của trẻ


và ngược lại, mọi hoạt động thúc đẩy ngôn ngữ của trẻ phát triển.
Ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi mầm non chủ yếu là ngôn ngữ nói, vì thế
sự phát triển ngôn ngữ nói của trẻ phụ thuộc rất lớn vào sự giao tiếp của trẻ
em với người lớn và giữa các trẻ với nhau. Sống trong xã hội con người luôn
phải giao tiếp, mà khi giao tiếp con người phải sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt
với những người xung quanh. Trẻ em giao tiếp với mọi người xung quanh,
học các từ của ông bà, bố mẹ, người thân, bạn bè thì ngôn ngữ của trẻ cũng
chịu ảnh hưởng không nhỏ. Trẻ bắt chước người lớn nói và được được người
lớn dạy. Cần làm giàu vốn từ cho trẻ bằng những từ mới, từ khó đối với trẻ.
Đào sâu cung cấp, chính xác hóa vốn từ cho trẻ hiểu chính xác nghĩa của từ;
tích cực hóa vốn từ cho trẻ, trang bị cho trẻ vốn từ sống động. Bằng vốn ngôn
ngữ của mình trẻ có thể biểu đạt hiểu biết của mình cho người lớn hiểu và

hiểu được ý nghĩa những câu nói của người lớn. Trong công tác giáo dục
mầm non người lớn cần có ý thức rèn luyện và phát triển ngôn ngữ cho trẻ
một cách thường xuyên, liên tục ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoạt động.
Sống trong xã hội luôn phải giao tiếp, mà khi giao tiếp con người luôn
phải sử dụng vốn từ của mình để biểu đạt với những người xung quanh. Vốn
từ cá nhân phát triển thì ngôn ngữ càng phát triển. Trong vốn từ của trẻ mẫu
giáo, đầu tiên trẻ phản ứng những đặc trưng của sự vật, hiện tượng.Càng lớn
trẻ em càng có nhiều vốn từ thể hiện đặc điểm của sự vật, hiện tượng bằng từ
ngữ. Vốn từ của trẻ mẫu giáo có khối lượng nhỏ hơn rất nhiều so với khối
lượng vốn từ của người lớn vì khối lượng tri thức của trẻ còn hạn chế. Vì thế
mở rộng vốn từ cho trẻ phải dựa vào sự mở rộng nhận thức cho trẻ. Vốn từ
chủ động là vốn từ mà chủ thể nói năng sử dụng một cách tích cực trong giao
tiếp. Vốn từ chủ động của trẻ mẫu giáo ít hơn so với vốn từ bị động, vì thế
tích cực hóa vốn từ là chuyển hóa vốn từ thụ động sang vốn từ chủ động cho
trẻ. Vốn từ cơ bản bao gồm những từ ngữ có tần số xuất hiện cao, vì thế dạy


trẻ em phai dạy cho trẻ vốn từ cơ bản vì chỉ khi đó trẻ mới có thể giao tiếp tốt
hơn. Vốn từ ngữ phongphú chính xác sẽ giúp trẻ dễ dàng định hướng trong
không gian.
Để dạy trẻ sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp thì việc đầu
tiên người giáo viên cần tìm hiểu đó là vốn từ của trẻ.Trong ngôn ngữ từ là
cái quan trọng nhất, là vật liệu trực tiếp để tạo ý, tạo lời, tạo câu. ở tuổi mẫu
giáo trẻ cần nắm được một vốn từ cần thiết đủ để chúng có thể giao tiếp được
với bạn bè, người lớn, tiếp thu những tri thức ban đầu trong trường mầm non,
chuẩn bị học tập ở trường phổ thông; xem các chương trình truyền hình,
truyền thanh… Vì thế, giáo dục học mẫu giáo coi việc hình thành vốn từ là
một nhiệm vụ quan trọng trong nội dung giáo dục trẻ. Phát triển vốn từ được
hiểu như là một quá trình lâu dài của việc lĩnh hội vốn từ mà con người đã
lĩnh hội được trong lịch sử. Nó bao gồm hai mặt: tích lũy số lượng (tăng dần

số từ tích cực) và nâng cao chất lượng (lĩnh hội dần dần nội dung xã hội tích
lũy trong từ, nó là sự phản ánh kết quả của nhận thức).
1.1.5. Các khái niệm cơ bản
Từ tiếng Việt gồm một số âm tiết cố định bất biến mang theo những đặc
điểm ngữ pháp nhất định, ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định lớn nhất trong
hệ thống ngữ pháp và nhỏ nhất để tạo câu.
1.1.5.1. Đặc điểm vốn từ của trẻ mầm non
* Về mặt số lượng
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ là một quá trình từ thấp đến cao với các
giai đoạn mang những đặc trưng khác nhau tùy thuộc vào độ tuổi của trẻ.
Trẻ sơ sinh chưa hiểu được ngôn ngữ của người lớn.Ở giai đoạn này, trẻ
mới bắt đầu cảm nhận ngữ điệu, giọng nói của mẹ.
Khi trẻ đươc 7 - 8 tháng, trẻ bắt đầu biết tên mình.
Từ 10 - 11 tháng, trẻ bắt đầu hiểu một số từ chỉ sự vật, người mà trẻ


thường xuyên được tiếp xúc.
Từ 12 tháng trở đi, nhu cầu giao tiếp của trẻ với thế giới xung quanh
ngày cành tăng, bên cạnh các âm bập bẹ xuất hiện các từ chủ động đầu tiên.
Khi 18 tháng, số từ bình quân là 11 từ, trẻ bắt chước người lớn và lặp lại một
số từ gần gũi như: bố, mẹ, bà, ô tô, măm…
Từ 19 - 21 tháng, môi trường tiếp xúc của trẻ được mở rộng, trẻ được
làm quen với nhiều sự vật, hiện tượng hơn, số lượng từ của trẻ tăng lên rõ rệt.
Đến 21 tháng tuổi, trẻ đạt 220 từ. Giai đoạn 21 - 24 tháng, tốc độ chậm lại, chỉ
đạt 234 từ vào tháng 24, sau đó tăng tốc: 30 tháng đạt 434 từ.
Trẻ 3 tuổi sử dụng được hơn 500 từ, phần lớn là danh từ, động từ, tính từ
và các từ loại khác.danh từ chỉ đồ chơi, đồ dùng quen thuộc, các con vật gần
gũi như: búp bê, siêu nhân, quả bóng, con chó, con mèo, con gà… Động từ
chỉ những hoạt động gần gũi với trẻ và những người xung quanh như: ăn,
uống, ngủ, chơi…

Trẻ 4 tuổi có thể nắm được gần 700 từ, ưu thế vẫn thuộc về danh từ và
động từ. Hầu hết các loại từ đã xuất hiện trong vốn từ của trẻ.
Ở độ tuổi 5 - 7 tuổi vốn từ của trẻ tăng bình quân 1033 từ, tính từ và các
loại từ khác đã chiếm tỉ lệ cao hơn.
Tốc độ tăng vốn từ ở các độ tuổi khác nhau, chậm dần theo độ tuổi: cuối
3 tuổi so với đầu 3 tuổi vốn từ tăng 107%; cuối 4 tuổi so với đầu 4 tuổi tăng
40,58%; cuối 5 tuổi so với đầu 5 tuổi, vốn từ của trẻ chỉ tăng 10,40% ; cuối 6
tuổi so với đầu 6 tuổi vốn từ chỉ tăng 10,01%. [7; 77]
Mặc dù số lượng từ của trẻ mẫu giáo do các nhà tâm lí học, ngôn ngữ
học đưa ra không khớp nhau, nhưng sự chênh lệch không lớn lắm; bởi lẽ số
lượng từ của trẻ phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác nhau trong đó quan
trọng nhất là tác động của môi trường như sự tiếp xúc thường xuyên với


những người xung quanh, sự chăm sóc giáo dục của gia đình và nhà trường.
*Vốn từ xét về mặt cơ cấu từ loại
Cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ là một têu chí để đánh giá chất
lượng vốn từ. Số lượng từ loại càng nhiều bao nhiêu thì càng tạo điều kiện
cho trẻ diễn đạt thuận lợi bấy nhiêu. Các loại từ xuất hiện dần dần trong
vốn từ của trẻ. Theo Xtecnơ, ban đầu chủ yếu là danh từ, sau đó đến động
từ, tnh từ và các từ loại khác xuất hiện muộn hơn.
Theo nhà nghiên cứu Đinh Hồng Thái, đến 3 - 4 tuổi, về cơ bản vốn từ
của trẻ đã có đủ các loại từ. Tuy nhiên tỉ lệ danh từ và tính từ cao hơn
nhiều so với các loại từ khác: danh từ chiếm 38%, động từ 32%; còn lại là
tính từ
6,8%, đại từ 3,1%, phó từ 7,8%, tình thái từ 4,7%, quan hệ từ và số từ còn
ít xuất hiện: số từ 2,5%, quan hệ từ 1,7%.
Giai đoạn 5 - 6 tuổi cũng là giai đoạn hoàn thiện một bước cơ cấu từ loại
trong vốn từ của trẻ. Tỉ lệ danh từ, động từ giảm đi (chỉ khoảng 50%) nhường
chỗ cho tính từ và các loại từ khác tăng lên: tnh từ đạt tới 15%, quan hệ từ

tăng lên đến 5,7%, còn lại là các loại từ khác. [7; 78]
Từ đặc điểm này chúng ta cần chú ý đến các loại từu khác khi dạy từ cho
trẻ, chú trọng tới vốn từ cho trẻ vì lúc này vốn từ của trẻ còn nghèo nàn: lúc
đầu số lượng danh từ chiếm phần lớn, sau đó đến động từ, rồi đến tính từ.
* Khả năng hiểu nghĩa của từ của trẻ mẫu giáo
Trẻ mẫu giáo bé có khả năng nắm được những từu ngữ có ý nghĩa cụ
thể như những từ ngữ là tên gọi các đồ vật trong gia đình (bát, đĩa,
bàn, tủ, ghế…), tên gọi các con vật (lợn, chó, gà, mèo…), thực vật (cây chuối,
quả cam, hoa loa kèn…). Từ “đồ vật” có ý nghĩa trừu tượng, trẻ hiểu nó


không phải bằng cảm giác mà bằng sự trừu tượng hóa. Đến 6 tuổi, để nắm từ
với ý nghĩa khái quát trẻ không đòi hỏi cảm giác trực tiếp nữa.
Theo Fedorenko (Nga), ở trẻ em có 5 mức độ hiểu nghĩa khái quát của từ


như sau:
- Mức độ zero (mức độ 0): mỗi sự vật có tên gọi gắn với nó. Cuối tuổi
lên một, đầu tuổi lên 2, trẻ hiểu được những từ ngữ thể hiện một sự vật đơn
lẻ, cụ thể, tách biệt, những từ ngữ ở mức độ khái quát (nghĩa biểu danh).
Ví dụ: Mẹ, bố, bàn bát…
Một điều cần chú ý là: động từ và tính từ không có mức khái quát zero
như danh từ.
- Mức độ thứ nhất của sự khái quát: cuối tuổi lên hai, trẻ nắm được
mức độ thứ nhất của sự khái quát - ý nghĩa biểu niệm ở mức thấp, tức là tên
gọi chung của đối tượng cùng loại (đồ vật, hành động, tnh chất).
Ví dụ: “Bóng” chỉ một quả bóng bất kì như bóng bay, bóng nhựa, bóng
cao su; “cốc” chỉ những vật dùng để uống nước.
- Mức độ thứ hai của sự khái quát: trẻ nắm được những từ ngữ thể
hiện sự khái hơn.

Ví dụ: “quả” có thể chỉ bất cứ loại quả nào (quả cam, quả xoài, quả
táo…); “xe” (xe đạp, xích lô, ô tô…); “con” (gà, mèo, lợn, chim…).
Cam, xoài, táo: mức độ thứ nhất của sự khái quát; “quả”: mức độ thứ
hai của sự khái quát.
- Mức độ ba của sự khái quát: trẻ 5 - 6 tuổi có thể nắm được mức độ ba
của sự khái quát.
Ví dụ: “đồ vật” có thể chỉ đồ chơi như búp bê, máy bay, ô tô…; “đồ gỗ”
chỉ các đồ dùng, vật dụng được làm từ gỗ (bàn, ghế, giường…); “phương tiện
giao thông” (xe máy, tàu thủy, tàu hỏa, máy bay…).
“Búp bê”: mức độ thứ nhất của sự khái quát; “đồ chơi”: mức độ thứ hai
của sự khái quát; “đồ vật”: mức độ thứ ba của sự khái quát.
- Mức độ thứ tư của sự khái quát: trẻ hiểu được những từ biểu thị sự
khái quát tối đa - những khái niệm thực sự khoa học.


Ví dụ: vật chất, hành động, trạng thái, chất lượng, số lượng, quan hệ…
Khả năng nắm được mức độ thứ tư của sự khái quát xuất hiện vào tuổi
thiếu niên.
Đối với trẻ mầm non, khi ở tuổi nhà trẻ, trẻ hiểu được nghĩa biểu danh
(mức độ zero và 1). Mức độ 2 và 3 dành cho trẻ mẫu giáo, đặc biệt là
mẫu giáo lớn. [5; 134].
1.1.5.2. Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn
Trẻ mẫu giáo lớn đã trong giai đoạn trưởng thành vì thế mà trẻ có
nhu cầu rất lớn về nhận thức, trẻ khát khao được tìm hiểu khám phá thế giơi
xung quanh mình.Các nhà nghiên cứu giáo dục khẳng định rằng phát triển
vốn từ là nền tảng quan trọng để phát triển ngôn ngữ, có ý nghĩa quan trọng
quyết định đến mọi mặt của trẻ.
Như chúng ta đã biết thì trẻ 5 - 6 tuổi đã biết sử dụng khá thành
thạo tếng mẹ đẻ để giao tiếp. Khả năng ngôn ngữ liên quan chặt chẽ đến sự
phát triển trí tuệ những trải nghiệm của trẻ. Ngôn ngữ của trẻ đạt tốc độ

phát triển khá nhanh và đến cuối tuổi mẫu giáo, thì hầu hết trẻ em đã biết
sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thạo trong sinh hoạt hàng ngày. Vốn
từ của trẻ mẫu giáo lướn tăng lên đáng kể, có khoảng 3000 - 4000 từ, trẻ
thường xuyênsử dụng 1033 từ. Trong đó loại từ được tích lũy khá phong phú,
không những về danh từ, động từ mà còn cả về đại từ, tính từ, liên từ… đủ
để giao tiếp với những người xung quanh. Danh từ và đại từ vẫn chiếm ưu
thế nhưng tính từ và các loại từ khác cũng được trẻ sử dụng nhiều hơn. Cụ
thể:
- Về danh từ: nội dung, ý nghĩa của các từ được mở rộng, phong phú
hơn; những từ chỉ nghề nghiệp của người lớn tăng. Ở trẻ còn có những
từ mang tnh văn học như: áng mây, đóa hoa,… Trẻ biết sử dụng một số từ


chỉ khái niệm trừu tượng, mặc dù trẻ chưa thực sự hiểu nghĩa của từ đó,
thậm chí không hiểu như: kiến trúc tài năng,…
- Về động từ: phần lớn là những động từ gần gũi, tiếp tục phát triển
thêm


những nhóm từ mới như:nhảy nhót, leng keng, ngoe nguẩy…; những động từ
chỉ sắc thái khác nhau như: chạy vèo vèo, chạy tung tăng…; xuất hiện thêm
những động từ có nghĩa trừu tượng như: giáo dục, khánh thành… Trẻ mẫu
giáo lớn đã phân biệt được nghĩacủa các động từ gần nghĩa nhau, ví dụ: động
từ “băm” và “chặt” (khi băm thì nhẹ nhàng, khi chặt phải mạnh và
nhanh hơn). Trẻ cũng có thể hiểu được một số từ có thể có nhiều nghĩa khác
nhau như: đánh đập, đánh rơi, đánh mất, đánh bóng…
- Về tnh từ: phát triển về số lượng cũng như chất lượng, trẻ sử dụng
nhiều tính từ có tnh chất gợi cảm như: tròn xoe, đỏ chót, sáng lóe, ngọt lịm…
Trẻ đã sử dụng chính xác các từ chỉ tính chất không gian như: cao - thấp, dàingắn, rộng - hẹp…, các từ chỉ tốc độ như: nhanh - chậm…, các từ chỉ màu
sắc: đỏ, vàng, cam, xanh, nâu, tm…

- Ngoài ra các loai từ khác như đại từ, trạng từ, quan hệ từ, phụ từ…
cũng được dùng nhiều hơn những lứa tuổi khác: trạng từ được mở rộng;
trẻ cũng đã biết sử dụng những quan hệ từ như: nếu, thì, vì, nên, thế mà,
xong là, và, với, nhưng, để… Trẻ 5 - 6 tuổi đã biết số từ số 1 đến số 10 và
sử dụng
được các từ không xác định: bao nhiêu, một vài, những, các… Trẻ đã sử dụng
chính xác hơn các phó từ: đã, đang, sẽ, vẫn, còn, hơi, không, chưa…, các tình
thái từ: à, nhé, nhỉ… Trẻ biết sử dụng nhiều từ đơn hơn từ ghép; trẻ
hiểu nhiều từ láy và biết sử dụng chúng. Trẻ đã hiểu được một số từ có nghĩa
khái quát, biết sử dụng một số từ ghép mang tính gợi cảm và những từ có
nghĩa đối lập: bé xíu- to đùng, béo múp - gầy nhom… các từ chỉ tính chất
không gian (bao la, bát ngát, rộng lớn, mênh mông, bát ngát…), từ chỉ tốc độ
(nhanh, chậm, thoăn thoắt, lề mề…), từ chỉ màu sắc (đo đỏ, tim tím, xanh
lơ…) được trẻ sử dụng chính xác. Trẻ đã hiểu và biết dùng các từ chỉ khái
niệm thời gian (hôm qua, ngày mai, ngày kia…), từ đồng nghĩa (tàu hỏa - xe


×