Tải bản đầy đủ

Quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệ quả nhìn từ các bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng (2016)

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN

======

QUẢNG VĂN HOÀNG

QUAN HỆ TỪ BIỂU THỊ QUAN HỆ
ĐIỀU KIỆN – HỆ QUẢ NHÌN TỪ
CÁC BÌNH DIỆN NGỮ PHÁP, NGỮ
NGHĨA VÀ NGỮ DỤNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ

HÀ NỘI - 2016


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN

======


QUẢNG VĂN HOÀNG

QUAN HỆ TỪ BIỂU THỊ QUAN HỆ
ĐIỀU KIỆN – HỆ QUẢ NHÌN TỪ
CÁC BÌNH DIỆN NGỮ PHÁP, NGỮ
NGHĨA VÀ NGỮ DỤNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ

Người hướng dẫn khoa học:
TS. Hoàng Thị Thanh Huyền

HÀ NỘI - 2016


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy Cô, những người đã tận tình
giảng dạy, động viên, giúp đỡ, nhận xét và đóng góp ý kiến cho tôi trong quá trình
học tập cũng như khi thực hiện khóa luận.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Hoàng Thị Thanh Huyền,
người đã tận tình hướng dẫn, hết lòng giúp đỡ để tôi hoàn thành tốt khóa luận này.
Xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện, giúp đỡ, khuyến
khích, động viên tôi trong quá trình thực hiện khóa luận này.
Khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận được sự
đóng góp, giúp đỡ của quý Thầy Cô và các bạn.
Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2016
Sinh viên

Quảng Văn Hoàng


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng
dẫn của Tiến sĩ Hoàng Thị Thanh Huyền. Các luận cứ nêu trong khóa luận là xác
thực. Những kết luận khoa học của khóa luận chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác. Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2016
Sinh viên


Quảng Văn Hoàng


QUY ƯỚC TRÌNH BÀY TRONG KHÓA LUẬN
1. Quy ước kí hiệu
: kí hiệu dành riêng cho cấu trúc đề - thuyết
: dấu hiệu phân chia ranh giới đề - thuyết
2. Quy ước trình bày
- Chú thích cho tài liệu trích dẫn được đặt trong dấu ngoặc vuông [ ] theo thứ
tự: tên tài liệu trích dẫn, trang tài liệu; thông tin tài liệu được trích dẫn được ghi
trong mục Tài liệu tham khảo.
- Khóa luận sử dụng 164 ví dụ; các ví dụ được đánh số thứ tự từ 1 đến 164,
các số thứ tự đó được đặt trong ngoặc đơn ( ). Sau mỗi ví dụ là xuất xứ của ví dụ ấy
theo thứ tự: tên tác phẩm, số trang; thông tin đầy đủ về tác phẩm được ghi trong
mục Nguồn ngữ liệu.


MỤC LỤC
MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU ................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài...............................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề ..................................................................................................2
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu .........................................................................4
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu....................................................................4
5. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................4
6. Đóng góp của khóa luận ...................................................................................5
7. Bố cục của khóa luận........................................................................................5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN ............................................................................7
1.1. Khái quát về quan hệ từ trong tiếng Việt .......................................................7
1.1.1. Khái niệm ...............................................................................................7
1.1.2. Các loại quan hệ từ..................................................................................7
1.2. Khái quát về quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện hệ quả trong tiếng Việt ...8
1.2.1. Đặc điểm của quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện - hệ quả...................8
1.2.2. Các loại quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện - hệ quả ...........................8
1.3. Lí thuyết ba bình diện trong ngôn ngữ học .................................................. 10
1.3.1. Bình diện ngữ pháp ............................................................................... 10
1.3.1.1. Các thành phần câu ......................................................................... 11
1.3.1.2. Phân loại kiểu câu theo cấu tạo ....................................................... 13
1.3.2. Bình diện ngữ nghĩa ................................................................................. 14
1.3.2.1. Nghĩa miêu tả ( nghĩa sự việc, nghĩa biểu hiện, nghĩa mệnh đề) ...... 14
1.3.2.2. Nghĩa tình thái ................................................................................ 16
1.3.3. Bình diện ngữ dụng ............................................................................... 17


1.3.3.1. Cấu trúc đề - thuyết......................................................................... 17
1.3.3.2. Cấu trúc thông tin ........................................................................... 18
CHƯƠNG 2: CHỨC NĂNG CỦA QUAN HỆ TỪ BIỂU THỊ QUAN HỆ ĐIỀU
KIỆN – HỆ QUẢ TRÊN CÁC BÌNH DIỆN NGỮ PHÁP, NGỮ NGHĨA VÀ
NGỮ DỤNG......................................................................................................... 20
2.1. Chức năng ngữ pháp của quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện - hệ quả...... 21
2.1.1. Đánh dấu chức năng ngữ pháp trong câu ............................................... 21
2.1.2. Nối kết các vế trong câu ghép................................................................ 25
2.1.3. Liên kết trong văn bản........................................................................... 29
2.2. Chức năng ngữ nghĩa của quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện - hệ quả..... 34
2.2.1. Đánh dấu các vai nghĩa ......................................................................... 34
2.2.2. Phân biệt các loại sự tình trong nghĩa miêu tả........................................ 36
2.2.3. Biểu thị các loại ý nghĩa tình thái .......................................................... 40
2.3. Chức năng ngữ dụng của quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện - hệ quả ..... 45
2.3.1. Biểu thị quan hệ lập luận....................................................................... 45
2.3.2. Đánh dấu cấu trúc đề thuyết .................................................................. 49
2.3.3. Đánh dấu cấu trúc thông tin................................................................... 52
KẾT LUẬN.......................................................................................................... 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO
NGUỒN NGỮ LIỆU



MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Vấn đề từ loại và việc nghiên cứu về quan hệ từ là vấn đề có tính chất truyền
thống trong khoa học Ngôn ngữ nói chung và Ngôn ngữ Việt Nam nói riêng. Trong
ngôn ngữ học, quan hệ từ đã được xem xét từ nhiều phương diện:
- Từ loại

1


-Chức năng ngữ pháp trong cụm từ (nối kết) trong câu (thành phần chuyển
tiếp)
- Chức năng lập luận (kết tử)
- Chức năng liên kết văn bản (phép nối)
Mặc dù vậy nhưng trên thực tế, người học và người sử dụng quan hệ từ trong
hoạt động giao tiếp thường chưa nắm vững các chức năng, vai trò của chúng một
cách đầy đủ, toàn diện, từ đó chưa biết cách vận dụng linh hoạt, sáng tạo quan hệ từ
vào việc tổ chức, xây dựng văn bản, tạo nên tính mạch lạc, chặt chẽ, rõ ràng và
trong sáng cho văn bản. Hệ quả tất yếu của việc chưa nắm vững vai trò, chức năng
của quan hệ từ dẫn đến nhiều lỗi trong diễn đạt do dùng quan hệ từ không chính xác
hoặc thiếu quan hệ từ làm cho nội dung câu diễn đạt mơ hồ, tối nghĩa.
Quan hệ điều kiện – hệ quả là một trong những quan hệ rất phổ biến thuộc về
tư duy, nó tồn tại ở tầng sâu và được biểu hiện bằng phương tiện ngôn ngữ. Nghiên
cứu mối quan hệ này đặc biệt là cách biểu hiện của nó giúp ta thấy được nét đặc thù
trong cách biểu hiện mối quan hệ điều kiện – hệ quả và mối tương quan giữa mặt
hình thức và mặt nội dung trong tiếng Việt nói riêng và trong ngôn ngữ nói chung.
Quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệ quả nhìn từ các bình diện ngữ
pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng là vấn đề mới mẻ và hấp dẫn. Quan hệ từ là những từ
không có ý nghĩa tự thân mà chỉ biểu hiện ý nghĩa quan hệ nhưng nó lại có vai trò to
lớn trong việc biểu thị mối quan hệ điều kiện – hệ quả, góp phần làm rõ những vấn
đề quan trọng như ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng trong một ngôn ngữ cụ thể (tiếng

2


Việt). Với sự lựa chọn đề tài Quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệ quả nhìn từ
các bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng, chúng tôi muốn đi sâu nghiên cứu
và khám phá sâu hơn về vai trò, chức năng của quan hệ từ và qua việc nghiên cứu
này cũng nhằm tự trang bị cho bản thân mình hành trang tri thức để bước vào nghề
được tự tin hơn, hướng tới tầm cao tri thức mới về từ loại tiếng Việt. Khi chúng ta
nắm vững bản chất của các từ loại tất yếu sẽ vận dụng chúng vào giao tiếp đạt hiệu
quả cao làm cho tiếng Việt ngày càng phong phú và giàu đẹp.
2. Lịch sử vấn đề
Vấn đề quan hệ từ và chức năng của nó đã được các nhà ngôn ngữ học nghiên
cứu từ rất sớm và có nhiều công trình về ngữ pháp và chức năng của quan hệ từ của
nhiều tác giả khác nhau.
Năm 1985, Đinh Văn Đức trong chuyên luận “Ngữ pháp tiếng Việt (Từ loại)”
đã dành trọn một chương để trình bày về quan hệ từ. Tác giả đã chỉ rõ vai trò của
các hư từ cú pháp trong việc diễn đạt mối quan hệ giữa thực từ và thực từ trong các
phát ngôn, vai trò trong việc diễn đạt các mối quan hệ và phương tiện liên kết trong
cấu trúc phát ngôn. Tuy nhiên, tác giả Đinh Văn Đức lại thiên về miêu tả các quan
hệ từ chỉ hướng và chỉ vị trí (đây chỉ là một phần nhỏ trong hệ thống các quan hệ từ
của tiếng Việt) mà chưa đi sâu vào các quan hệ từ phản ánh tư duy như: điều kiện –
hệ quả; nguyên nhân – kết quả…
Năm 2007, trong giáo trình “Ngữ pháp tiếng Việt” (Sách dành cho các trường
Cao đẳng Sư phạm), tác giả Bùi Minh Toán cũng đã nghiên cứu về quan hệ từ và
vai trò của các loại quan hệ từ trong câu. Trong đó tác giả đã căn cứ vào quan hệ
ngữ pháp của quan hệ từ, chia thành 2 nhóm: quan hệ từ phục vụ cho quan hệ chính
phụ và quan hệ từ phục vụ cho quan hệ đẳng lập căn cứ vào loại quan hệ ngữ pháp
mà từ biểu thị. Tác giả cũng chỉ ra thêm rằng quan hệ từ có thể được dùng thành cặp
để liên kết các bộ phận của câu với nhau, nhất là việc liên kết giữa các vế của câu
ghép chính phụ.Tuy nhiên, tác giả chỉ đề cập đến các vấn đề liên quan đến đề tài
chứ chưa đi tìm hiểu sâu về vai trò của các quan hệ từ.


Năm 2008, tác giả Hoàng Trọng Phiến trong chuyên luận “Ngữ pháp tiếng
Việt (Câu)” đã nghiên cứu rõ vai trò của các quan hệ từ trong tổ chức cú pháp của
câu. Trong chương thứ ba và thứ tư của chuyên luận, ông chỉ ra vai trò của các quan
hệ từ khi tham gia vào tổ chức cú pháp của câu. Tác giả nhấn mạnh: quan hệ từ
không đảm nhận vai trò làm thành tố chính của câu nhưng nó lại có vai trò quan
trọng trong việc làm cho câu được hoàn chỉnh về mặt cú pháp. Đặc biệt ở chương
thứ tư, khi viết về tổ chức cú pháp của câu ghép, tác giả đã đi sâu phân tích và chỉ ra
vai trò của quan hệ từ trong việc nối kết các vế của câu ghép với các quan hệ về thời
gian, nhân – quả, điều kiện/giả thiết – hệ quả, nhượng bộ, tăng tiến, mục đích, so
sánh trên câu ghép chính phụ; quan hệ từ trong kiểu câu biểu thị quan hệ lựa chọn,
quan hệ liên hợp, quan hệ tương phản trong câu ghép đẳng lập. Điều này cho ta thấy
cái nhìn toàn diện về vai trò của quan hệ từ khi xem xét ở bình diện ngữ pháp.
Năm 2008, trong luận văn Thạc sĩ “Cách biểu hiện mối quan hệ nhân quả
trong câu tiếng Việt” tác giả Nguyễn Thị Thu Hà đã đi sâu phân tích và miêu tả vai
trò của quan hệ từ trong việc biểu thị mối quan hệ nhân quả trong câu tiếng Việt.
Năm 2009, Diệp Quang Ban trong chuyên luận “Ngữ pháp tiếng Việt (phần
câu)” và năm 2012 trong chuyên luận “Ngữ pháp tiếng Việt” (2 tập) đã phân loại,
miêu tả các loại quan hệ từ và tìm hiểu vai trò của từ loại này từ các góc độ khác
nhau. Đồng quan điểm với Bùi Minh Toán, Diệp Quang Ban đã đi phân loại và
miêu tả lớp quan hệ từ tiếng Việt thành hai loại: chính phụ và đẳng lập. Trong đó
tác giả đã đi phân tích và chỉ ra ý nghĩa quan hệ của lớp quan hệ từ này cùng với
khả năng kết hợp của chúng để liên kết, kết hợp các từ, các câu và các đoạn trong
văn bản.
Có thể nói, việc nghiên cứu về quan hệ từ đã được các tác giả đề cập đến trong
nhiều công trình nghiên cứu từ nhiều phương diện khác nhau nhưng quan hệ từ biểu
thị quan hệ điều kiện – hệ quả thì chưa có một công trình nghiên cứu hay bài viết
nào đề cập tới. Kế thừa và tiếp thu những kết quả từ các bài viết và công trình
nghiên cứu về quan hệ từ, chúng tôi đi vào nghiên cứu đề tài “Quan hệ từ biểu thị


quan hệ điều kiện – hệ quả nhìn từ các bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng”
để từ đó giúp cho bạn đọc có cái nhìn tổng quan hơn về vai trò của quan hệ từ, đặc
biệt là quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệ quả nhìn từ các bình diện ngữ
pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng.
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
-Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát quan hệ từ trong “Thạch Lam văn và đời”, Nxb
Hà Nội (1999); “Nguyễn Công Hoan truyện ngắn chọn lọc”, Nxb Văn học (2005);
“Truyện ngắn chọn lọc Nam Cao”, Nxb Văn hóa Thông tin (2006);“Số đỏ” của Vũ
Trọng Phụng, Nxb Văn hóa – Thông tin (2010).
- Đối tượng nghiên cứu: Quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệ quả nhìn
từ các bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng.
4.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệ
quả trong tiếng Việt trên ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng để thấy rõ
chức năng của từ loại này trên các bình diện đó. Đây là khoảng trống vẫn còn bỏ
ngỏ của các công trình nghiên cứu về từ loại trước đây. Qua đó góp phần hoàn thiện
lí luận về các bình diện của quan hệ từ và nâng cao năng lực sử dụng và lĩnh hội từ
trong hoạt động giao tiếp.
- Nhiệm vụ:
+ Nghiên cứu những vấn đề lí thuyết về quan hệ từ nói chung và quan hệ từ
biểu thị quan hệ điều kiện - hệ quả nói riêng trong tiếng Việt.
+ Nghiên cứu lí thuyết ba bình diện trong ngôn ngữ học (ngữ pháp, ngữ nghĩa
và ngữ dụng) để làm cơ sở lí luận cho đề tài.
+ Nghiên cứu chức năng của quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện - hệ quả
trên các bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, miêu tả ngôn ngữ: Phương pháp này được sử dụng
khi chúng tôi giải thích, tường minh hóa các chức năng của quan hệ từ trên các bình
diện ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng.


- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Khi nghiên cứu quan hệ từ, chúng tôi luôn
đặt trong ngữ cảnh, trong những đơn vị của diễn ngôn (câu). Chính ngữ cảnh chi
phối các chức năng của quan hệ từ. Do đó, phương pháp phân tích diễn ngôn được
chúng tôi sử dụng để làm rõ từng chức năng của quan hệ từ trên các bình diện ngữ
pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng.
Ngoài 2 phương pháp trên, chúng tôi còn sử dụng một số thủ pháp sau:
Thủ pháp thống kê, phân loại được chúng tôi áp dụng để thu thập, xử lí các
câu có sử dụng quan hệ từ biểu thị điều kiện – hệ quả.
Thủ pháp đối chiếu, so sánh được chúng tôi sử dụng để làm nổi bật những nét
tương đồng và khác biệt của các quan hệ, các hiện tượng ngữ nghĩa và ngữ pháp
liên quan đến cách biểu hiện mối quan hệ điều kiện – hệ quả.
6. Đóng góp của khóa luận
Về lí luận: khóa luận làm rõ lý thuyết về chức năng của quan hệ từ nói chung,
chức năng của quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệ quả nói riêng nhìn từ các
bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng.
Về thực tiễn: khóa luận giúp người đọc có cái nhìn cụ thể về chức năng của
quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện - hệ quả và vận dụng các quan hệ từ để tạo lập
văn bản.
7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận
được trình bày trong hai chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Ở chương này, chúng tôi trình bày những lí thuyết về quan hệ từ, chú trọng
đến quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệ quả và những lí thuyết về ba bình
diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Đó là cơ sở, tiền đề để chúng tôi khảo sát,
phân loại và đưa ra kết quả ở chương 2.
Chương 2: Chức năng của quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện - hệ quả trên
các bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng.


Từ những lí thuyết về quan hệ từ, quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệ
quả và các bình diện nghiên cứu câu, chúng tôi tiến hành khảo sát, phân loại ngữ
liệu, phân tích và chỉ ra chức năng của các quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện –
hệ quả khi xem xét chúng trên ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng khi
nghiên cứu câu.


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Khái quát về quan hệ từ trong tiếng Việt
1.1.1. Khái niệm
Quan hệ từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng mà chỉ có ý nghĩa ngữ pháp,
nó được dùng để biểu thị quan hệ, nối kết giữa từ với từ, từ với cụm từ, giữa các bộ
phận của câu, các vế câu hoặc các câu với nhau.
Quan hệ từ không đảm nhiệm vai trò làm thành tố chính, cũng không đảm
nhiệm vai trò làm thành tố phụ trong cụm từ, cũng không đảm nhiệm chức năng của
các thành phần câu.
Trong khóa luận này, chúng tôi chia sẻ quan niệm của tác giả Diệp Quang Ban
và Hoàng Văn Thung: Về ý nghĩa khái quát, quan hệ từ biểu thị ý nghĩa về quan hệ
giữa các khái niệm và đối tượng được phản ánh. Quan hệ từ là dấu hiệu biểu thị
các quan hệ cú pháp giữa các thực từ và hư từ một cách tường minh. Về khả năng
kết hợp và chức năng cú pháp, quan hệ từ được dùng nối kết các từ, các kết hợp từ,
các câu và các đoạn văn có quan hệ cú pháp [4, tr.152].
1.1.2. Các loại quan hệ từ
Dựa vào các kiểu ý nghĩa quan hệ (quan hệ cú pháp) được thể hiện bằng quan
hệ từ, có thể chia thành hai lớp: lớp quan hệ từ chính phụ và lớp quan hệ từ đẳng
lập.
Quan hệ từ chính phụ chỉ ý nghĩa quan hệ chính phụ, được dùng để nối kết
thành tố phụ và thành tố chính trong câu. Do đó, quan hệ từ chính phụ thường có xu
hướng gắn với thành tố phụ, nó gồm hai nhóm là quan hệ từ hạn định và quan hệ từ
phụ thuộc. Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ mang tính quy ước, căn cứ vào phạm vi
hoạt động của chúng.
- Nhóm quan hệ từ hạn định là quan hệ từ đứng trước thành tố phụ để nối kết
thành tố phụ và thành tố chính. Một số quan hệ từ hạn định thường gặp như: của,


cho, bằng, để, mà, ở, với, đối với, cùng, cùng với, về, đến, tới, từ, trong, ngoài, trên,
dưới, giữa, như…
- Nhóm quan hệ từ phụ thuộc là quan hệ từ dùng trước thành phần phụ ở bậc
câu (trong quan hệ với thành phần chính) gồm quan hệ từ phụ thuộc là từ đơn và
quan hệ từ phụ thuộc là cặp từ phối hợp.
+ Quan hệ từ phụ thuộc là từ đơn dùng kèm với thành phần phụ của câu, nối
kết thành phần phụ của câu với nòng cốt câu là một cụm chủ – vị. Một số thường
gặp như: vì, do, bởi, tại, mà, nhưng, như, để mà, để cho…
+ Quan hệ từ phụ thuộc là cặp từ phối hợp đứng trước cả thành phần phụ lẫn
thành phần chính. Trong nhiều trường hợp có thể lược bỏ đi một trong hai quan hệ
từ đi kèm các thành phần này. Các cặp từ thường gặp như: tuy/dù.mặc dù…
nhưng…; nếu/ giá/ hễ/ giả thử (là)… thì/ là/ thì là…; vì/ bởi/ tại/ do… nên/ cho nên/
mà…
Quan hệ từ đẳng lập chỉ ý nghĩa quan hệ đẳng lập, được dùng để nối kết các
từ, các kết hợp từ và không gắn bó với bất cứ thành tố nào trong một kết hợp có
quan hệ đẳng lập. Một số quan hệ từ đẳng lập thường gặp như: và, với, cùng, hay,
hoặc, rồi, là, rằng là, hình như, thì, cũng như, chứ…
1.2. Khái quát về quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện hệ quả trong tiếng Việt
1.2.1. Đặc điểm của quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện - hệ quả
Quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hê quả có đặc điểm là biểu thị quan hệ
chính phụ (nối kết thành tố chính và thành tố phụ).
Trong câu ghép, quan hệ từ thường đứng ở đầu vế chính và đầu vế phụ đánh
dấu vế chỉ điều kiện và vế chỉ hệ quả. Trong nhiều trường hợp có thể lược bỏ đi qua
hệ từ đứng trước thành phần chính hoặc quan hệ từ đứng trước thành phần phụ.
1.2.2. Các loại quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện - hệ quả
Về vấn đề phân loại các quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệ quả, cho
đến nay vẫn có nhiều cách phân loại khác nhau. Quan hệ điều kiện – hệ quả trong
câu tiếng Việt gồm 2 thành tố, thành tố chỉ điều kiện và thành tố chỉ hệ quả. Đi cùng


với hai thành tố ấy là quan hệ từ biểu thị điều kiện và quan hệ từ biểu thị hệ quả.
Tuy nhiên, do đặc trưng về ngữ pháp có các câu khuyết thiếu hoặc rút gọn nên vấn
đề phân loại quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện - hệ quả trở nên phức tạp và chưa
đi đến thống nhất. Có thể phân chia quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệ quả
theo 2 tiêu chí:
* Tiêu chí 1: Căn cứ vào hình thức, chúng tôi chia làm hai loại:
- Loại 1: Theo vị trí của quan hệ từ, chia làm hai dạng:
+ Dạng 1: Quan hệ từ chỉ thành tố điều kiện đứng trước thành tố chỉ hệ quả.
Ví dụ: (1)Giá con tham tâm, thì con lấy rồi.[16,tr.534]
+ Dạng 2: Quan hệ từ chỉ thành tố điều kiện đứng sau thành tố chỉ hệ quả. Ví
dụ: (2) Tôi thương hại thằng bé, nếu nó gặp nạn.”[16, tr.536]
- Loại 2: Theo sự hiện diện của quan hệ từ, chia làm hai dạng:
+ Dạng đơn: Chỉ có quan hệ từ đứng trước thành tố chỉ nguyên nhân hoặc
đứng trước thành tố chỉ hệ quả trong câu.Ví dụ:
(3) Vì nếu anh không nín, ông bà ở nhà nghe tiếng khóc, nó sẽ phải đòn, phải
chửi. [16, tr.592]
+ Dạng kép: quan hệ từ xuất hiện thành cặp: giá/hễ/nếu…thì…Ví dụ:
(4) Mà nếu gặp người phu xe thực thà hoặc ngu ngốc thìbà có thể lấy lại số
tiền. [16, tr.530]
* Tiêu chí 2: Căn cứ vào nội dung ý nghĩa, có thể chia quan hệ từ biểu thị
quan hệ điều kiện – hệ quả ra làm 2 loại:
- Điều kiện – hệ quả hiện thực, tức là có thể thực hiện được trong thực tế.Ví


dụ:
(5)Nếu ta thả một hòn đá vào nước, nó sẽ chìm.
- Điều kiện – hệ quả giả định, chỉ là mong muốn và không thực hiện được
trong thực tế.Ví dụ:
(6) Giá còn, tao cho thêm mày một vài đồng nữa. [16, tr.352]
Tuy nhiên, phải nói rằng mọi sự phân chia các kiểu loại quan hệ từ chỉ là
tương đối. Trên đây chúng tôi đã phân loại các quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện


– hệ quả theo 3 tiêu chí và sẽ tiến hành khảo sát cách dùng cũng như chức năng của
các quan hệ từ này được sử dụng trong câu tiếng Việt.
1.3. Lí thuyết ba bình diện trong ngôn ngữ học
Trước đây khi nghiên cứu câu tiếng Việt, ngữ pháp truyền thống chỉ tập trung
miêu tả mối quan hệ giữa câu với câu ở mặt cấu trúc. Ngày nay trong sự phát triển
của hàng loạt các lý thuyết mới, câu bắt đầu được nghiên cứu ở cả ba bình diện, đặc
biệt là bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng.
Nghiên cứu câu trên ba bình diện xuất phát từ lí thuyết kí hiệu học của
Peircevà Morris. Hai ông cho rằng kí hiệu học phải được nghiên cứu trên ba bình
diện: kết học, nghĩa học, dụng học.
- Kết học: là lĩnh vực của các quy tắc hình thức kết hợp tín hiệu thành một
thông điệp. Nói vắn tắt, kết học nghiên cứu tín hiệu trong mối quan hệ với tín hiệu
khác.
- Nghĩa học: là lĩnh vực của chức năng miêu tả, của những thông tin miêu tả,
thông tin sự vật. Nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệu với hiện thực bên ngoài mà
tín hiệu biểu thị.
- Dụng học: nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệu và việc sử dụng tín hiệu
(người sử dụng, mục đích, hoàn cảnh sử dụng…).
Quan hệ từ biểu thị quan hệ điều kiện – hệ quả được chúng tôi khảo sát chủ
yếu trong câu ghép. Vì lẽ đó, lí thuyết ba bình diện của câu sẽ là “tiền đề” giúp
chúng tôi tìm hiểu chức năng của quan hệ từ được biểu hiện qua ba bình diện đó.
1.3.1. Bình diện ngữ pháp
Đây là bình diện hình thức của câu có nhiệm vụ nghiên cứu mối quan hệ giữa
các thành tố tạo nên câu: từ và từ, cụm từ và cụm từ. Ở bình diện này, những vấn đề
được quan tâm nghiên cứu là các chức vụ cú pháp của các yếu tố ngôn ngữ tạo
thành cấu trúc cú pháp của câu (thành phần câu) và kiểu cấu tạo ngữ pháp của câu
(cấu trúc câu).Ví dụ:


(7) Sáng nay,/tại giảng đường,/lớp chúng tôi/ học Ngữ pháp tiếng Việt.
TN1

TN2

CN

VN

1.3.1.1. Các thành phần câu
Theo ngữ pháp truyền thống, tổ chức của câu được miêu tả thông qua hệ thống
các thành phần câu như chủ ngữ, vị ngữ, định ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ… Mỗi thành
phần này có những đặc trưng riêng về ý nghĩa và hình thức ngữ pháp. Từ trước tới
nay, vấn đề thành phần câu luôn được quan tâm chú ý khi nghiên cứu về cú pháp
tiếng Việt, nhưng cho đến nay nó vẫn là vấn đề gây nhiều tranh cãi và chưa đi đến
thống nhất. Trong khóa luận này, chúng tôi xin được chia sẻ quan niệm về thành
phần câu của hai tác giả Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp, cho rằng:
thành phần câu là những từ tham gia nòng cốt câu (bắt buộc có mặt để đảm bảo
tính trọn vẹn của câu) hoặc phụ thuộc trực tiếp vào nòng cốt câu [13, tr.57 ]. Tuy
nhiên, khác với quan điểm về sự phân chia thành phần câu của hai tác giả này,
chúng tôi cho rằng để phân loại thành phần câu một cách chi tiết đồng thời để thuận
lợi cho các thao tác khi phân tích câu về mặt hình thức, thành phần câu tiếng Việt
được chia thành bốn kiểu, đó là:
a, Thành phần chính của câu
Đây là thành phần nòng cốt đảm bảo cho câu được trọn nghĩa và thực hiện
được chức năng giao tiếp, ngay cả trong trường hợp câu tồn tại độc lập, tách biệt
với văn cảnh hoặc hoàn cảnh sử dụng. Có hai quan niệm về phân chia thành phần
chính:
+ Quan niệm thứ nhất của Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp: các
thành phần chính gồm chủ ngữ, vị ngữ và bổ ngữ bắt buộc.Ví dụ:
(8) Tôi đến trườ ng .
CN VN BN
+ Quan niệm thứ hai, câu có hai thành phần chính: chủ ngữ và vị ngữ.
Ở đây chúng tôi theo quan niệm thứ hai, câu gồm hai thành phần chủ ngữ và
vị ngữ.


- Chủ ngữ và vị ngữ là hai thành phần chính của câu có mối quan hệ qua lại
với nhau, trong đó chủ ngữ nêu lên đối tượng được nói tới còn vị ngữ nói về nội
dung của đối tượng đó. Thông thường chủ ngữ đứng trước vị ngữ nhưng cũng có
nhiều trường hợp đứng sau vị ngữ (do sự tri nhận, điểm nhìn của người nói, người
viết).
- Chủ ngữ và vị ngữ có thể do danh từ, động từ, tính từ, đại từ hoặc số từ đảm
nhiệm.Ví dụ:
(9)Tôi là sinh viên (chủ ngữ là đại từ, vị ngữ là danh từ)
(10) Hà rất xinh đẹp ( chủ ngữ là danh từ, vị ngữ là tính từ)
- Cấu tạo của chủ ngữ và vị ngữ: có thể được cấu tạo từ một từ hay một cụm
từ.Ví dụ:
(11)Tôi và anh là bạn. (chủ ngữ là một cụm đẳng lập, vị ngữ là một từ).
(12)Cô ấy thông minh và chăm chỉ. (chủ ngữ là một từ, vị ngữ là một cụm
đẳng lập).
b, Thành phần phụ của từ
Thành phần phụ của từ là thành phần đóng vai trò bổ sung ý nghĩa cho một
thực từ (danh từ, động từ, tính từ) trong câu. Đó là hai thành phần: định ngữ và bổ
ngữ.
Định ngữ và bổ ngữ có thể do danh từ, động từ, tính từ, số từ hay đại từ đảm
nhận.Ví dụ:
(13) Học hát. ( bổ ngữ là động từ)
(14)Thành phố Hà Nội là thành phố vì hòa bình. (định ngữ là danh từ)
c, Thành phần phụ của câu
Thành phần phụ của câu là thành phần nằm ngoài nòng cốt câu, bổ sung ý
nghĩa tình huống cho nòng cốt câu. Sự có mặt của chúng, nhìn chung không đóng
vai trò quyết định tới tính trọn vẹn về ý nghĩa và tính tự lập về ngữ pháp của câu.
Thành phần phụ của câu bao gồm:trạng ngữ, đề ngữ và vị ngữ phụ.
d, Thành phần biệt lập


Thành phần biệt lập là thành phần không nằm trong cấu trúc ngữ pháp cơ bản
của câu, không tham gia vào việc biểu hiện nghĩa sự việc của câu, đồng thời thường
được tách biệt khỏi phần còn lại của câu bằng ngữ điệu. Bao gồm: tính thái ngữ,
phụ chú ngữ, hô ngữ, liên ngữ.
1.3.1.2 . Phân loại kiểu câu theo cấu tạo
Trong câu tiếng Việt, mỗi kiểu cấu trúc đều được xây dựng thành một mô
hình khái quát. Trong tiếng Việt, phần đông các nhà nghiên cứu đều dựa vào số
lượng kết cấu chủ - vị để phân biệt cấu trúc câu thành ba phạm trù: câu đơn, câu
phức và câu ghép.
- Câu đơn: được cấu tạo bằng một kết cấu chủ – vị nòng cốt. Với nòng cốt như
vậy, câu đơn đáp ứng được nhu cầu tối thiểu về tư duy và giao tiếp.
- Câu phức: có hai kết cấu chủ – vị trở lên, trong đó chỉ có một kết cấu chủ –
vị làm nòng cốt, các kết cấu chủ – vị còn lại bị bao chứa và góp phần tạo nên một
thành phần nào đó trong câu (chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ…). Cụm chủ – vị
bị bao trùm tạo nên thành phần nào thì phức thành phần đó.
- Câu ghép: là kiểu câu có từ hai kết cấu chủ – vị trở lên, trong đó không có
kết cấu chủ – vị nào bao chứa kết cấu chủ - vị nào. Các kết cấu chủ – vị có tính độc
lập tương đối so với nhau, không là thành tố cấu tạo của nhau, tuy vậy vẫn có quan
hệ với nhau cả về ý nghĩa và ngữ pháp.
Trong mỗi phạm trù cấu trúc trên lại phân biệt thành một số tiểu loại cấu trúc
nhỏ hơn. Chẳng hạn, trong câu đơntiếp tục phân thành câu đơn bình thường và câu
đơn đơn đặc biệt; trong câu phức lại phân thành: câu phức thành phần chủ ngữ, câu
phức thành phần vị ngữ, câu phức thành phần trạng ngữ…; trong câu ghép lại phân
thành câu ghép chính phụ và câu ghép đẳng lập. Ví dụ:
(15) Chao ôi! (câu đơn đặc biệt danh từ ghi lại cảm xúc)
(16) Cấm hút thuốc. (câu đơn đặc biệt vị từ biểu thị sự cấm đoán)
(17) Ông Bụt xuất hiện khiến cho cô Tấm bàng hoàng. (câu phức chủ ngữ)
(18) Tôi thấy cô gái đang đến gần. (câu phức vị ngữ)
(19) Nếu trời mưa thì đường lầy lội. (câu ghép chính phụ)


(20) Bố tôi là bộ đội còn mẹ tôi là giáo viên. (câu ghép đẳng lập)
1.3.2. Bình diện ngữ nghĩa
Bình diện ngữ nghĩa nghiên cứu nội dung của câu, hay nói cách khác, đây là
bình diện nghiên cứu mối quan hệ giữa câu xét ở mặt âm thanh với các sự vật, hiện
tượng liên quan mà câu biểu hiện.
1.3.2.1. Nghĩa miêu tả (nghĩa sự việc, nghĩa biểu hiện, nghĩa mệnh đề)
a, Nghĩa sự tình
Nghĩa sự tình là thành phần nội dung phản ánh sự vật, sự việc, hiện tượng,
hành động, tính chất, trạng thái trong thực tế hiện thực khách quan được biểu hiện
trong câu qua lăng kính chủ quan của người nói hoặc người viết.
Có 3 loại sự tình:
- Sự tình thuộc về vật chất. Ví dụ:
(21) Mèo vồ chuột.
- Sự tình thuộc về tinh thần, tồn tại trong tư tưởng, trạng thái, cảm nghĩ. Ví dụ:
(22) Tôi đang nghĩ về mẹ.
- Sự tình quan hệ. Ví dụ:
(23) Tôi là giáo viên.
Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ mang tính tương đối vì trên thực tế còn một
loại sự tình trung gian (đó là sự tình tồn tại).
b, Cấu trúc nghĩa miêu tả
Sự tình trong câu được phản ánh nhờ thành phần nghĩa miêu tả. Thành phần
này được ví như một màn kịch nhỏ mà động từ, vị ngữ là trung tâm của màn kịch
ấy. Song, xung quanh động từ, vị ngữ là các tham thể (tham tố). Mỗi tham thể đảm
nhiệm một vai nghĩa nhất định trong đó chủ ngữ cũng là một trong những tham thể
và nó được xem là tham thể quan trọng nhất. Cấu trúc của nghĩa miêu tả gồm 2
thành phần: vị tố trung tâm (có thể là động từ, danh từ, tính từ) và tham thể (là các
nhân tố tham gia vào sự tình, thường được biểu thị bằng danh từ, cụm danh từ, đại
từ).


b1)Vị tố
Vị tố là thành phần cốt lõi nằm ở đỉnh sự tnh và đòi hỏi số lượng tham thể
xoay xung quanh nó. Trên thực tế có những vị tố không đòi hỏi một tham thể nào,
đó là những vị tố trong câu đặc biệt nhưng xuất hiện ít và được gọi là vô trị. Ví dụ:
(24) Nóng quá!
(25) Đẹp!
Ngoài ra các vị tố đều đòi hỏi các tham thể, số lượng các tham thể do vị tố
đòi hỏi không ngang hàng nhau. Vị tố đòi hỏi một tham thể (đơn trị), đây là loại vị
tố mang ý nghĩa trạng thái, tính chất, đặc điểm hay hành động. Ví dụ:
(26)Tôi buồn.
Vị tố đòi hỏi hai tham thể (song trị), xuất hiện trong các vị tố tác động: làm
cho vật bị hủy diệt, thay đổi trạng thái, tâm lý, hoạt động rời chuyển... Ví dụ:
(27) Tôi xây một ngôi nhà.
Ở đây “tôi” là chủ thể, “xây” là vị tố tác động và “một ngôi nhà” là đối thể.
Vị tố đòi hỏi ba tham thể (tam trị) là những vị tố trao tặng, vị tố sai khiến.Ví


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×