Tải bản đầy đủ

Sử dụng trò chơi dân gian trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn tại trường mầm non ngô quyền (2017)

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======

NGUYỄN THỊ KIỀU TRINH

SỬ DỤNG TRÒ CHƠI DÂN GIAN
TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN TẠI
TRƯỜNG MẦM NON NGÔ QUYỀN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ
Người hướng dẫn khoa học

TS. NGUYỄN THU HƯƠNG

HÀ NỘI - 2017


LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường ĐHSP Hà Nội 2,

các thầy cô giáo khoa giáo dục mầm non đã giúp đỡ em trong quá trình học
tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô
giáo - TS. Nguyễn Thu Hương, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em
trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khoá luận này.
Em xin chân thành cảm ơn toàn thể các cô giáo, cùng tất cả các cháu
mẫu giáo lớn trường mầm non Ngô Quyền đã giúp đỡ để em có được những
tư liệu để hoàn thành tốt khóa luận này.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đã luôn giúp
đỡ, động viên em trong quá trình học tập và thực hiện khóa luận.
Quá trình nghiên cứu đề tài, em không tránh khỏi những thiếu sót và
hạn chế. Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các
bạn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 04 năm 2017
Sinh viên

Nguyễn Thị Kiều Trinh


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, có sự hướng
dẫn của cô giáo - TS. Nguyễn Thu Hương. Những số liệu và kết quả trong
khóa luận là hoàn toàn trung thực. Đề tài chưa được công bố trong bất cứ một
công trình khoa học nào.
Nếu có phát hiện bất kì sự sai lệch nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm.
Hà Nội, tháng 04 năm 2017
Sinh viên

Nguyễn Thị Kiều Trinh


DANH MỤC VIẾT TẮT
ĐHSP

: Đại học sư phạm

NXB


: Nhà xuất bản

VD

: Ví dụ

C–V

: Chủ ngữ - vị ngữ

TCDG

: Trò chơi dân gian


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài............................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu........................................................................................ 3
3. Mục đích nghiên cứu..................................................................................... 5
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu .............................................................. 5
5. Phạm vi nghiên cứu....................................................................................... 5
6. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 6
7. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 6
8. Cấu trúc khóa luận ........................................................................................ 6
NỘI DUNG ....................................................................................................... 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN.............................. 7
1.1. Một số vấn đề về ngôn ngữ và phát triển ngôn ngữ................................... 7
1.1.1. Khái niệm về ngôn ngữ và phát triển ngôn ngữ..................................... 7
1.1.2. Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ.................................. 8
1.1.3. Đặc điểm về ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn ........................................ 10
1.1.4. Nhiệm vụ, nội dung và phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu
giáo lớn............................................................................................................ 15
1.1.5. Nội dung chương trình giáo dục mầm non về lĩnh vực phát triển ngôn
ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn................................................................................. 18
1.2. Một số vấn đề về trò chơi và trò chơi dân gian........................................ 18
1.2.1. Trò chơi ................................................................................................. 18
1.2.2. Trò chơi dân gian .................................................................................. 20
1.3. Đặc điểm của trẻ mẫu giáo lớn ................................................................ 27
1.3.1. Đặc điểm nhận thức .............................................................................. 27
1.3.2. Đặc điểm tâm lí ..................................................................................... 28
1.3.3. Đặc điểm sinh lí .................................................................................... 30


1.4. Thực trạng sử dụng trò chơi dân gian trong việc phát triển ngôn ngữ cho
trẻ mẫu giáo lớn tại trường mầm non Ngô Quyền .......................................... 30
1.4.1. Mục đích điều tra .................................................................................. 30
1.4.2. Đối tượng và địa bàn điều tra................................................................ 31
1.4.3. Nội dung điều tra................................................................................... 31
1.4.4. Phương pháp điều tra ............................................................................ 31
1.4.5. Phân tích và đánh giá kết quả điều tra .................................................. 31
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TRÒ CHƠI DÂN GIAN
NHẰM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN VÀ
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM.......................................................................... 39
2.1. Nguyên tắc lựa chọn biện pháp................................................................ 39
2.1.1. Đảm bảo phù hợp khả năng phát triển ở từng độ tuổi .......................... 39
2.1.2. Căn cứ theo chủ điểm giáo dục ............................................................. 39
2.1.3. Đảm bảo hướng tới thực hiện mục tiêu phát triển ngôn ngữ cho trẻ.. 40
2.1.4 . Phù hợp với hình thức tổ chức hoạt động ............................................
40
2.2. Hệ thống các biện pháp ............................................................................ 41
2.2.1. Biện pháp trình chiếu video mẫu trò chơi............................................. 41
2.2.2. Biện pháp hướng dẫn trẻ chơi theo nhạc............................................... 45
2.2.3. Tổ chức các hình thức thi đua trong trò chơi dân gian ......................... 49
2.2.4. Sáng tác lời đồng dao mới dựa trên bài đồng dao cổ............................ 51
2.2.5. Biện pháp dạy trẻ đọc thuộc lời đồng dao ............................................ 53
2.3. Thực nghiệm sư phạm.............................................................................. 55
2.3.1. Mục đích thực nghiệm .......................................................................... 55
2.3.2. Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm ...................................... 56
2.3.3. Tiêu chí đánh giá thực nghiệm.............................................................. 56
2.3.4. Nội dung và giáo án thực nghiệm ......................................................... 56
2.3.5. Kết quả thực nghiệm ............................................................................. 57


KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ................................................................. 65
1. Kết luận ....................................................................................................... 65
2. Khuyến nghị ................................................................................................ 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 68
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chúng ta đều biết giáo dục mầm non có một vị trí rất quan trọng. Nó là
mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là giai đoạn khởi đầu đặt
nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ em. Chính vì thế mà
bậc học mầm non luôn được Đảng, Nhà nước và xã hội quan tâm đặc biệt.
Thời kì mầm non được gọi là thời kì vàng của cuộc đời. Sự phát triển
của trẻ em trong thời kì này rất đặc biệt, chúng hồn nhiên, non nớt, khóc cười
theo ý thích. Những gì trẻ được học, được trang bị ở trường mầm non có thể
sẽ là những dấu ấn theo trẻ suốt cuộc đời. Theo như nhà giáo dục lỗi lạc Nga
những cơ sở căn bản của việc giáo dục trẻ, đã hình thành trước tuổi lên năm,
những điều dạy cho trẻ trong thời kì đó chiếm tới 90% tiến trình giáo dục trẻ.
Về sau giáo dục con người vẫn còn tiếp tục, nhưng đó chỉ là bước đầu đếm
hái quả, còn những nụ hoa thì được trồng năm năm đầu tiên.
Cũng vì lẽ đó mà trong chương trình chăm sóc – giáo dục trẻ, mục tiêu
chung đặt ra là giáo dục trẻ phát triển toàn diện: thể chất, tình cảm, trí tuệ,
thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị hành trang
cho trẻ vào lớp 1 và không thể thiếu trong hành trang ấy là ngôn ngữ.
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp; là công cụ để phát triển tư duy,
nhận thức. Hơn nữa, để có thể lớn lên và trưởng thành được trong xã hội, con
người nói chung và trẻ em nói riêng luôn luôn phải tiếp xúc với những quan
hệ và những cuộc giao tiếp. Mặt khác, trẻ em là lứa tuổi đánh dấu nhiều bước
phát triển về tư duy và ngôn ngữ. Vì vậy, phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm
non chính là tạo điều kiện cho trẻ phát triển.
Chúng tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu các nhóm phương pháp, biện pháp
phát triển ngôn ngữ cho trẻ và nhận thấy nhóm phương pháp trò chơi giữ một
vị trí quan trọng trong các nhóm phương pháp được tiến hành trong hoạt động

1


giáo dục ở trường mầm non. Thật vậy, chơi là một hoạt động chủ đạo ở
trường mầm non. Trong khi chơi, trẻ gặp tình huống cụ thể do đó thông qua
sự hướng dẫn của người lớn mà trẻ có thể lĩnh hội ngôn ngữ biểu đạt cả tình
huống trọn vẹn ấy hay khi chơi trẻ biết được tên gọi của đồ vật ở thế giới
xung quanh một cách tự nhiên nhất. Chơi là yếu tố, là điều kiện chính kích
thích trẻ phát triển ngôn ngữ một cách nhanh chóng. Trò chơi là phương tiện
giáo dục có mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động học ở trường mầm non, nó
góp phần thúc đẩy nhận thức và sự phát triển toàn diện của trẻ. Bên cạnh đó
Việt Nam là một đất nước nông nghiệp, người dân gắn bó sâu sắc với đồng
ruộng, trải qua nhiều thế hệ đã nảy sinh nhu cầu vui chơi giải trí và những trò
chơi dân gian xuất hiện. Trò chơi dân gian mang chủ đề nhất định, nó là dạng
trò chơi dễ chơi, dễ hòa nhập, chơi ở bất cứ đâu và đem lại cho trẻ tinh thần
sảng khoái. Nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định “Trò chơi dân gian là món ăn
tinh thần không thể thiếu của trẻ thơ.” Trò chơi dân gian thường gắn liền với
các bài ca dao, đồng dao, hò vè, câu đố…vui nhộn, mang vần điệu rất phù
hợp với lứa tuổi mầm non. Những bài ca dao, đồng dao, hò vè, câu đố là loại
hình nghệ thuật ngôn từ có ý nghĩa giáo dục cao, đặc biệt trong việc giáo dục
phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Vậy việc sử dụng trò chơi dân gian nhằm phát
triển ngôn ngữ cho trẻ là việc làm cần thiết.
Nhận thấy trò chơi dân gian có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển ngôn
ngữ của trẻ. Trong khi đó, việc hướng dẫn và tổ chức trò chơi dân gian để
phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở trường mầm non chưa khoa học, hợp lí cũng
như chưa đạt hiệu quả cao. Nhằm làm rõ thực trạng sử dụng trò chơi dân gian
trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở trường mầm non để từ đó định hướng
một số biện pháp tổ chức có hiệu quả hơn cho loại trò chơi này chúng tôi đã
xây dựng và thực hiện đề tài Sử dụng trò chơi dân gian trong việc phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn tại trường mầm non Ngô Quyền. Chúng tôi


mong muốn được đưa các trò chơi dân gian đến với các em nhỏ nhiều hơn
nữa nhằm kích thích việc phát triển ngôn ngữ cho các em.
2. Lịch sử nghiên cứu
Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt chỉ được sinh ra và phát
triển trong xã hội loài người. Như Mac đã nhận định ngôn ngữ là một sáng
tạo kì diệu của con người, ngôn ngữ cũng cổ xưa như con người. Nhờ có ngôn
ngữ mà con người có thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho nhau
những kinh nghiệm, những tình cảm yêu thương … Chính ngôn ngữ là công
cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người, là phương tiện nhận thức thế giới
xung quanh, là công cụ của tư duy. Sự phát triển của nó có mối quan hệ gắn
kết với sự phát triển tâm lí, ý thức, nhân cách của con người.
Vì thế trong nhiều thế kỷ qua ngôn ngữ luôn là đối tượng nghiên cứu
của nhiều ngành khoa học như: triết học, ngôn ngữ học, tâm lí học, sinh lí
học, xã hội học…
Vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ em là một trong những vấn đề được
nhiều nhà khoa học quan tâm như: I.Jrutxo,

J.Hpestoloji , I.Acomenxki,

K.Pusinssky, J.Piegie ...
Ở Việt Nam vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ em cũng được nhiều
nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu. Tác giả Hoàng Thị Oanh, Nguyễn Thị
Việt, Nguyễn Kim Đức trong giáo trình Phương pháp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ em dưới 6 tuổi đã xây dựng hệ thống phương pháp, bài tập thực hành
tạo cơ sở cho việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ tốt nhất.
Tác giả Nguyễn Xuân Khoa lựa chọn sự phát triển ngôn ngữ của trẻ
mẫu giáo làm đối tượng nghiên cứu của mình, trong giáo trình Phương pháp
phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo cũng đề xuất hệ thống phương pháp
phát triển ngôn ngữ (phương pháp trực quan, phương pháp dùng lời, phương
pháp thực hành trò chơi) [9, 41].


Với những góc độ nghiên cứu khác nhau nhưng các nhà khoa học đều
phát hiện ra “mảnh đất màu mỡ” cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Đó là
thông qua con đường thực hành trải nghiệm mà hoạt động vui chơi là chủ đạo,
trong đó trò chơi dân gian có ý nghĩa quan trọng.
Trò chơi dân gian là loại trò chơi đến với trẻ rất sớm, không những
thoả mãn nhu cầu chơi của trẻ mà trò chơi còn là phương tiện, nội dung, hình
thức giáo dục trẻ hiệu quả, đặc biệt là giáo dục ngôn ngữ. Tác giả Trương Thị
Kim Oanh đã xem trò chơi dân gian là một biện pháp dạy tiếng Việt cho trẻ
em dân tộc thiểu số (tạp chí giáo dục số 1 năm 2001).
Đồng tác giả Trần Hòa Bình và Bùi Lương Việt trong cuốn Trò chơi
dân gian trẻ em NXB giáo dục 2007 cho rằng văn hóa truyền thống của bất
kì dân tộc nào cũng có một bộ phận hợp thành đó là những trò chơi dân gian.
Trò chơi dân gian thường xuất hiện trong những lễ hội đặc trưng và được diễn
ra thường xuyên trong đời sống sinh hoạt cộng đồng. Bởi nó được nảy sinh từ
chính những hoàn cảnh sống sinh hoạt cộng đồng đó. Theo tác giả, trò chơi
dân gian đặc biệt gần gũi với trẻ em, trong cuốn sách này tác giả đã sưu tầm
được gần 80 trò chơi dân gian trẻ em, chia ra làm ba phần: Trò chơi trí tuệ, trò
chơi thẩm mĩ, trò chơi thể lực và có hướng dẫn cách tổ chức chơi.
Qua bài viết “Cuộc sống trẻ qua các trò chơi dân gian” trong báo Văn
Hóa số Xuân Bính Tuất 2006, Trịnh Quỳnh Hoa cũng có những nhận định về
đặc điểm và tác dụng của trò chơi dân gian, tác giả cho rằng thông qua trò
chơi dân gian đơn giản, dễ chơi, dễ tổ chức đã rèn luyện cho sự nhanh nhẹn,
khéo léo, phát triển cho những khả năng về óc phán đoán, khả năng tính toán,
tính kỉ luật.
Người có công lớn trong việc sưu tầm và giới thiệu “Trò chơi dân gian
trẻ em Việt Nam” là tác giả Hà Huy. Với nhiều trò chơi phong phú vùng
miền, đa dạng độ tuổi đã góp phần phục hồi, lưu giữ trò chơi giải trí lành


mạnh, đậm đà bản sắc dân tộc này. Và đưa nó đến với trẻ thơ như một món ăn
tinh thần không thể thiếu và là một phương thức giáo dục hiệu quả.
Ngoài ra, còn có một số tác giả khác cũng có những bài viết tâm huyết
về đồng dao và trò chơi dân gian trẻ em Việt Nam trên các tạp trí Giáo dục
Mầm non, tạp trí Văn học.
Như vậy, các nhà nghiên cứu đã quan tâm tới trẻ em và dày công
nghiên cứu vấn đề trò chơi với sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ; tới sự tồn tại và
phát triển của những trò chơi dân gian trong đời sống trẻ em nói riêng và
trong sinh hoạt hằng ngày của người Việt Nam nói chung. Tuy nhiên, vẫn
chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về vấn sử dụng trò chơi dân gian
nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại trường mầm non. Đề tài của chúng tôi sẽ
đi theo một hướng mới để làm sâu sắc vấn đề này.
3. Mục đích nghiên cứu
Đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao việc sử dụng trò chơi dân gian
trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Sử dụng trò chơi dân gian trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu
giáo lớn tại trường mầm non Ngô Quyền.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo ở trường
Mầm Non.
5. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu việc sử dụng trò chơi dân gian nhằm phát
triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn tại trường mầm non Ngô Quyền – Thành
phố Vĩnh Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc.


6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về ngôn ngữ và trò chơi dân gian đối với
việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn.
- Tìm hiểu thực trạng sử dụng trò chơi dân gian nhằm phát triển ngôn
ngữ cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non Ngô Quyền.
- Đưa ra một số biện pháp sử dụng tốt trò chơi dân gian nhằm phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
- Phương pháp quan sát, điều tra
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp thống kê.
8. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung khóa luận gồm 2
chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Một số biện pháp sử dụng trò chơi dân gian nhằm phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn và thực nghiệm sư phạm.


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Một số vấn đề về ngôn ngữ và phát triển ngôn ngữ
1.1.1. Khái niệm về ngôn ngữ và phát triển ngôn ngữ
1.1.1.1. Khái niệm ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ
bản và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng người.
Ngôn ngữ là một hệ thống các tín hiệu có cấu trúc, các quy tắc và ý
nghĩa được sử dụng trong giao tiếp. Các kí hiệu có thể được kết hợp, được tổ
chức để truyền đạt một khối lượng thông điệp vô cùng đa dạng và phức tạp.
Vì là một hệ thống tín hiệu đặc biệt nên ngôn ngữ có phạm vi sử dụng vô
cùng to lớn và có những đặc trưng riêng. Ngôn ngữ luôn luôn có tính sáng
tạo. Ngôn ngữ còn là một nhân tố thuộc quá trình tâm lí. Các nhà tâm lí học
cho rằng: “Ngôn ngữ là quá trình con người sử dụng thực tiễn tiếng nói để
giao tiếp với người khác”. Trong quá trình giao tiếp con người biểu hiện ý
nghĩ và xúc cảm nhờ tiếng nói, do đó hiểu nhau để cùng tiến hành hoạt động,
nhu hàng ngày mỗi cá nhân sử dụng một thứ ngôn ngữ để giao lưu, đối với
từng đặc điểm ngôn ngữ được thể hiện ở cách phát âm, ở cấu trúc của câu, ở
sự lựa chọn từ…
1.1.1.2. Phát triển ngôn ngữ
Khái niệm phát triển: Theo từ điển tiếng Việt thì phát triển là mở mang
từ nhỏ thành to, từ yếu thành mạnh, phát triển cũng có thể được hiểu là diễn
biến khi nó đứng trong cụm từ “Tình hình phát triển”. Phát triển còn được
hiểu là biến đổi hoặc làm cho biến đổi theo chiều hướng tăng từ ít đến nhiều,
từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.
Phát triển ngôn ngữ là một quá trình mở rộng, làm tăng vốn từ. Ngôn
ngữ bao gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách vì thế phát triển ngôn


ngữ cho trẻ là việc mở rộng vốn từ, khả năng đặt câu, giúp trẻ nghe hiểu lời
nói của loài người, và có thể sử dụng hệ thống kí hiệu từ ngữ thành thạo, từ
đó trẻ nhận thức được về xã hội loài người.
1.1.2. Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ
1.1.2.1. Ngôn ngữ là công cụ để giao tiếp
“Bản chất con người là tổng thể hài hòa của các mối quan hệ xã hội”
(Marx).
“Con người muốn tồn tại thì phải gắn bó với cộng đồng. Giao tiếp là
một đặc trưng quan trọng của con người. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp
quan trọng nhất . Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể hiểu được nhau, cùng
nhau hành động vì mục đích chung: lao động, đấu tranh, xây dựng và phát
triển xã hội.
Không có ngôn ngữ, không thể giao tiếp được, thậm chí không thể tồn
tại được, nhất là trẻ em, một sinh thể yếu ớt rất cần đến sự chăm sóc, bảo vệ
của người lớn.
Ngôn ngữ chính là một trong những phương tiện thúc đẩy trẻ trở thành
một thành viên của xã hội loài người. Ngôn ngữ là công cụ hữu hiệu để trẻ có
thể bày tỏ những nguyện vọng của mình khi còn rất nhỏ để người lớn có thể
chăm sóc, điều khiển, giáo dục trẻ là một điều kiện quan trọng để trẻ tham gia
vào mọi hoạt động và trong hoạt động hình thành nhân cách trẻ.
1.1.2.2. Ngôn ngữ là công cụ phát triển tư duy, nhận thức
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ
cho trẻ. Tác giả Usinxky trong Phát triển ngôn ngữ trẻ em nhận định: “Tiếng
mẹ đẻ là cơ sở cho mọi sự phát triển, là vốn quý của mọi tri thức” (Nguyên
bản tiếng Nga, NXB Matxcơva, tr.13).
Quá trình trưởng thành của trẻ bên cạnh thể chất là trí tuệ. Công cụ để
phát triển tư duy, trí tuệ chính là ngôn ngữ. Ngôn ngữ chính là hiện thực (sự


hiện hữu) của tư duy. Tư duy của con người có thể hoạt động được (nhất là tư
duy trừu tượng) cũng chính là nhờ có phương tiện ngôn ngữ. Tư duy và ngôn
ngữ có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nếu không có ngôn ngữ thì quá trình
tư duy của con người không thể diễn ra được. Ngôn ngữ làm cho các kết quả
của tư duy được cố định lại, do đó có thể khách quan hóa nó cho người khác
và cho bản thân chủ thể tư duy. Ngược lại, nếu không có tư duy với các sản
phẩm của nó thì ngôn ngữ chỉ là những âm thanh vô nghĩa.
Phát triển ngôn ngữ không chỉ có mục đích tự thân. Có ngôn ngữ, tư
duy của trẻ được phát triển. Đây là hai mặt của một quá trình biện chứng có
tác động qua lại ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhau. Ngôn ngữ phát triển làm cho
tư duy phát triển. Ngược lại, tư duy phát triển cũng đẩy nhanh sự phát triển
của ngôn ngữ.
Ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập, vui chơi: những hoạt động chủ yếu
của trường mầm non. Giống như việc dạy trẻ tiếng mẹ đẻ ở các cấp học khác,
phát triển lời nói, ngôn ngữ cho trẻ ở trường mầm non thực hiện mục tiêu
“kép”. Đó là, trẻ học để biết tiếng mẹ đẻ đồng thời sử dụng nó như một công
cụ để vui chơi, học tập. Ngôn ngữ được tích hợp trong tất cả các loại hình
hoạt động giáo dục, ở mọi lúc, mọi nơi. Như vậy, ngôn ngữ cần cho tất cả các
loại hoạt động và ngược lại, mọi hoạt động tạo cơ hội cho ngôn ngữ trẻ phát
triển.
1.1.2.3. Ngôn ngữ là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện
Sự phát triển toàn diện của trẻ bao gồm có sự phát triển về đạo đức,
chuẩn mực hành vi văn hóa: điều gì tốt, điều gì xấu: cần phải ứng xử giao tiếp
như thế nào cho phù hợp… không chỉ là sự bắt chước máy móc. Ngôn ngữ
phát triển sẽ giúp trẻ mở rộng giao tiếp. Điều này giúp trẻ có điều kiện học
hỏi những gì xung quanh. Cô giáo bằng lời cũng sẽ dễ dàng hơn trong việc


giải thích, nêu gương, thuyết phục trẻ, giáo dục những hành vi đạo đức cho
trẻ.
Ngôn ngữ phát triển giúp trẻ sớm tiếp thu những giá trị thẩm mĩ trong
thơ ca, truyện kể, những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ đầu tiên người lớn có
thể đem đến cho trẻ những ngày thơ ấu. Sự tác động của lời nói nghệ thuật
như một phương tiện hữu hiệu để giáo dục thẩm mĩ cho trẻ.
1.1.3. Đặc điểm về ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn
1.1.3.1. Đặc điểm ngữ âm
Ở thời kì này trẻ hoàn thiện dần về mặt ngữ âm, các phụ âm đầu, âm
cuối, âm đệm, thanh điệu dần dần được định vị. Trẻ phát âm đúng hết các âm
vị của tiếng mẹ đẻ, kể cả các âm, vần khó (iêu, ươu, uông…).
Trẻ biết điều chỉnh nhịp điệu, cường độ của giọng nói khi giao tiếp để
phù hợp với từng hoàn cảnh, lời nói của trẻ đã rõ ràng, dứt khoát hơn. Tuy
vậy, ở tuổi này trẻ vẩn còn mắc một số lỗi về phát âm, còn nhầm lẫn khi phát
âm một vài phụ âm và nguyên âm (x-s, ch-tr,… ươ, uô, ie) và thanh điệu (?
/~).
Trẻ 3-4 tuổi hay nói chậm và kéo dài giọng, còn ậm ừ, ê, a không liên
tục, không mạch lạc.
Trẻ 4-5 tuổi ít ậm ừ, e, a hơn, song trẻ vẫn phát âm sai thanh ngã, âm
đệm và âm cuối.
Trẻ 5-6 tuổi phạm vi tiếp xúc rộng, vốn từ và sự hiểu biết của trẻ
phong phú hơn nên trẻ phát âm đúng hơn, trẻ phát âm được những âm khó
như: loanh quanh, nghênh ngang…
Đến cuối 6 tuổi về cơ bản trẻ phát âm đúng, trừ một số trường hợp do
khuyết tật bẩm sinh của cơ quan phát âm, hoặc do ảnh hưởng của môi trường
sống (do những người xung quanh trẻ phát âm sai dẫn đến trẻ bắt chước và
phát âm sai theo).


1.1.3.2. Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn
*Về số lượng
So với nhà trẻ, trẻ mẫu giáo có số lượng từ nhiều hơn hẳn. Về số lượng
từ của trẻ mẫu giáo, các nhà ngôn ngữ học và tâm lý học có đưa ra những số
liệu khác nhau:
ND.Levitốp

: 3.5 tuổi: 1000 từ

YU.U.Pratuxevich : 4 tuổi: 1900 từ
M. Becgiơrông

: 3.5 tuổi: 1222 từ

Theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Khoa về ngôn ngữ của trẻ nội thành
Hà Nội thì vốn từ của trẻ mẫu giáo là:
Trẻ 4 tuổi 1900-2000 từ
Trẻ 5 tuổi 2500-2600 từ
Trẻ 6 tuổi 3000-4000 từ
Mặc dù số lượng từ do các nhà ngôn ngữ học và tâm lý học đưa ra
không khớp nhau, nhưng sự chênh lệch không lớn lắm và các tác giả khẳng
định: số lượng từ của trẻ phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố khác nhau, trong
đó quan trọng nhất là các tác động của môi trường như: Sự tiếp xúc ngôn ngữ
thường xuyên của những người xung quanh, trình độ của bố, mẹ.
* Về từ loại
Theo Xtecnơ, lớp từ loại xuất hiện nhiều và trước hết trong vốn từ của
trẻ là danh từ, động từ và sau đó mới đến từ loại khác.
Theo Lưu Thị Lan ở ngôn ngữ của trẻ em mẫu giáo tỷ lệ từ loại như
tính từ, trạng từ, quan hệ từ được tăng lên, nhưng động từ lại giảm đi so với
trẻ tuổi nhà trẻ.
Nếu trẻ 3 tuổi: Danh từ 40,2 %
Tính từ chiếm 7,8%
Trạng từ chiếm 2,4%


Thì ở trẻ 5 tuổi: Danh từ chiếm 35,52%
Tính từ chiếm 8,64%
Trạng từ chiếm 3,73%
Và ở trẻ 6 tuổi: Danh từ giảm 34,47% xuống 30,97%
Tính từ tăng 9,94% lên 11,64%
Trẻ mẫu giáo nói nhiều chưa phải là nói hay, vì vậy cần phải mở rộng
các loại từ để trẻ biết nói hay, biết sử dụng từ gợi cảm, từ văn học. Trẻ mẫu
giáo cũng bắt đầu bộc lộ những nét riêng: có trẻ dùng tính từ, trạng từ,…
nhiều hơn những trẻ khác.
Về danh từ: nội dung ý nghĩa của từ được mở rộng, phong phú hơn ở
những từ có ý nghĩa rộng.
VD: từ “quả” có khoảng 15 loại quả khác nhau (cũng như từ “phương
tiện giao thông”, “đô gỗ”, “cá”, “cây”,…)
Những từ chỉ nghề nghiệp của người lớn tăng, ở trẻ còn có những danh
từ mang tính văn học. VD: áng mây, đóa hoa,…
Trẻ biết sử dụng một số từ chỉ những khái niệm trừu tượng. VD: kiến
trúc tài năng… mặc dù trẻ chưa hiểu hết nghĩa của những từ đó.
Về động từ: Phần lớn là những động từ gần gũi, tiếp tục phát triển thêm
những nhóm từ mới như: nhảy nhót, ngo ngoe, rơi lộp bộp, leng keng,…
những động từ chỉ sắc thái khắc nhau như: chạy vèo vèo, chạy lung tung, chạy
loạn xạ,… xuất hiện thêm những động từ có nghĩa trừu tượng: giáo dục,
khánh thành,…
Về tính từ: Phát triển về số lượng cũng như chất lượng tính từ. Trẻ sử
dụng nhiều những từ có tính gợi cảm: chua chua, chua loét, ngọt lịm, to đùng,
tròn vo, tròn xoe, đỏ lòm,…
Từ tượng hình, từ tượng thanh: bập bùng, rì rào,…


Trẻ biết dùng những từ trái nghĩa: dày – mỏng, khỏe – yếu, đẹp – xấu,
cao – thấp, ngoan – hư,…
Về trạng từ: trẻ được mở rộng, trẻ sử dụng đúng các trạng từ: ngày xưa,
hồi trước, lúc nãy, hôm qua,…
Về quan hệ từ: Trẻ biết nhiều từ đơn hơn từ ghép, trẻ hiểu nhiều từ láy
và biết sử dụng chúng.
Vậy ta thấy, trẻ mẫu giáo và đặc biệt là mẫu giáo lớn tiếp thu được hết
những biểu thị, tên gọi của sự vật, hiện tượng, đặc điểm, tính chất, trạng thái,
hành động của các sự vật, hiện tượng gần gũi với trẻ. Còn những từ biểu thị
những khái niệm trừu tượng thì trẻ không có hoặc trẻ có sử dụng những
không hiểu ý nghĩa của chúng.
Vốn từ của trẻ mang tính chất cá nhân rõ rệt, cùng một lứa tuổi nhưng
có trẻ vốn từ rất nghèo nàn, có trẻ vốn từ rất phong phú. Điều đó phụ thuộc
vào sự tiếp xúc ngôn ngữ thường xuyên của những người xung quanh, đặc
biệt là trình độ của bố mẹ và phụ thuộc vào những yếu tố khác.
1.1.3.3. Đặc điểm ngữ pháp
Qua điều tra vốn ngôn ngữ của trẻ các nhà khoa học đã rút ra nhận xét:
Tỉ lệ câu nói ngữ pháp, câu mở rộng thành phần, câu ghép được tăng dần theo
độ tuổi. Các câu có cấu trúc đơn giản giảm dần.
Trẻ 13-18 tháng câu 1 từ chiếm 50%, câu cụm từ chiếm 46,21% Trẻ
19-21 tháng câu cụm từ chiếm 42,21%, câu C-V chiếm24,29% Trẻ
25-30 tháng câu C-V chiếm 29,42%, câu C-V-B chiếm 19,57% Trẻ
31-36 tháng câu C-V chiếm 19,57%, câu C-V-B chiếm 22,84%
Câu ghép đẳng lập chiếm 25,57%.
Trẻ đã có những tiến bộ lớn trong việc tiếp nhận và sử dụng các loại
câu trong hệ thống câu tiếng Việt, xong trẻ vẫn còn mắc một số lỗi khi cấu
trúc câu như từ trong câu sắp xếp sai trật tự, không rõ ràng hay thiếu từ trong


câu, diễn đạt thiếu rõ ràng (VD: Trẻ nói: “Ông bà bánh”; câu cần nói: “Ông
đưa bánh cho bà”).
Bước sang giai đoạn 4-6 tuổi thì trẻ rất ít sử dụng câu 1 từ mà thường
dùng các loại câu: Câu cụm từ, câu đơn đầy đủ thành phần (C-V), câu đơn mở
rộng thành phần, câu ghép đẳng lập và câu ghép chính phụ.
Xét về loại hình câu thì số lượng không tăng nhưng thành phần trong
từng loại câu đều có sự mở rộng, phát triển.
Nếu trẻ 3 tuổi nói câu đơn c-v ( c là một từ), VD: Áo đẹp
Thì trẻ 4-6 tuổi đã nói câu có cụm từ làm chủ ngữ hoặc làm vị ngữ (Ví
dụ: Quả bóng này rất nảy.)
Thành phần trạng ngữ, bổ ngữ cũng được mở rộng (Ví dụ: Hôm nay ở
lớp, con ăn cơm với thịt, với rau.)
Các loại câu phức cũng được mở rộng. Trẻ biết nói các câu hoàn chỉnh
để kể lại nội dung câu chuyện hoặc diễn tả sự hiểu biết, diễn tả điều mong
muốn.
Ví dụ: Cháu và mẹ cháu với em Hùng đi đu quay. Cháu thích ngồi xem
đu hổ. Bé Hùng cung cười khi ngồi đu quay. Mẹ cháu đứng xem.
Các câu phức chính phụ của trẻ đã đủ các từ chỉ quan hệ, ý của các câu
được diễn đạt rõ ràng mạch lạc hơn.
Ví dụ: Bố đánh cháu vì cháu đánh em Hùng.
Trẻ đã có bước tiến khá xa trong việc sử dụng các loại câu so với tuổi
nhà trẻ, nhưng trẻ mẫu giáo vẫn còn hạn chế: Từ dùng trong câu nhiều khi
chưa chính xác, khi thừa, khi thiếu, vị trí sắp xếp các từ trong câu cũng chưa
đúng nên câu dài mà nghĩa không rõ ràng.
1.1.3.4. Đặc điểm ngôn ngữ mạch lạc
Ở tuổi mẫu giáo lớn, trẻ tích cực tham gia trò chuyện với người lớn, với
bạn hơn. Trẻ có thể đàm thoại về những gì trẻ biết hoặc đã được nghe, đọc từ


trước. Trẻ có thể tranh luận, đưa ra ý kiến của mình.
Tư duy của trẻ phát triển hơn, trẻ có thể nhận biết những dấu hiệu,
đặc điểm, đặc trưng, có thể đưa ra những phân tích đầy đủ về sự vật, hiện
tượng. Bằng ngôn ngữ, trẻ có thể diễn đạt rõ ràng, mạch lạc ý nghĩ, sự hiểu
biết của
mình.
Trẻ biết xây dựng câu chuyện tương đối liên tục, rõ ràng, phong phú
theo đề tài cho sẵn hoặc kể theo tranh, đồ chơi, đồ vật. Nhưng trẻ vẫn cần
có mẫu câu của giáo viên.
1.1.4. Nhiệm vụ, nội dung và phương pháp phát triển ngôn ngữ cho
trẻ mẫu giáo lớn
1.1.4.1. Nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn
Để đạt được mục tiêu phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn
cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
Giáo dục chuẩn mực ngữ âm tiếng Việt.
Phát triển vốn từ cho trẻ.
Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp.
Phát triển lời nói mạch lạc.
Chuẩn bị cho trẻ đọc, viết ở trường phổ thông.
Phát triển lời nói nghệ thuật thông qua việc cho trẻ tiếp xúc với thơ,
truyện.
Dạy trẻ giao tiếp ngôn ngữ một cách có văn hóa.
1.1.4.2. Nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn
a. Luyện cho trẻ phát âm đúng, rõ ràng, biểu cảm âm thanh tiếng mẹ
đẻ
Nghĩa là dạy trẻ biết phát âm chính xác những thành phần của âm tiết
(thanh điệu, phụ âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối), các đơn vị được tách
bạch rõ ràng. Đồng thời dạy trẻ biết điều chỉnh âm lượng (không nói


quá nhanh hoặc quá chậm, quá to hoặc quá nhỏ), biết thể hiện đúng sắc
thái, ngữ


điệu, có tác phong văn hoá trong quá trình giao tiếp
b. Làm giàu, củng cố, tích cực hoá vốn từ cho trẻ
Lời nói của trẻ được phát triển qua quá trình giao tiếp với mọi người và
qua quá trình tiếp xúc với môi trường thiên nhiên. Muốn mở rộng vốn từ cho
trẻ trước hết phải tổ chức cho trẻ làm quan với môi trường xung quanh để
mở rộng hiểu biết. Sau đó giúp trẻ hiểu được nghĩa của từ, từ đó tích cực
hoá vốn từ cho trẻ.
c. Dạy trẻ nói đúng các cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt
Tức là dạy trẻ nói đúng quy luật ngữ pháp mẹ đẻ: Câu đơn, câu ghép…
trong các tình huống giao tiếp khác nhau. Bên cạnh đó sửa các câu sai,
câu què, câu cụt, câu sai logic ngữ nghĩa… Đồng thời dạy trẻ nói đúng kết
hợp hành vi biểu cảm phù hợp.
d. Dạy trẻ nói mạch lạc
Ngôn ngữ mạch lạc là sản phẩm cuối cùng mà trẻ đạt được, đây là hình
thức ngôn ngữ khó nhất, phức tạp nhất đối với trẻ. Dạy trẻ nói mạch lạc
thông qua hai hình thức ngôn ngữ, đó là hình thức độc thoại và hình thức đối
thoại.
Đối với hình thức đối thoại: Cần dạy trẻ biết nghe, hiểu lời nói đối
thoại. Biết nói chuyện, biết trả lời câu hỏi, đặt ra câu hỏi trong quá trình nói
chuyện và biết điều khiển hành vi có văn hoá trong đối thoại.
Đối với hình thức độc thoại: Cần dạy trẻ biết kể lại chuyện đã được
nghe, được xem. Đồng thời dạy trẻ tự đặt nhiều câu chuyện đơn giản mà nội
dung, hình thức câu chuyện phải thể hiện được tnh độc lập sáng tạo của trẻ.
e. Dạy trẻ làm quen với các chữ cái ghi âm tiếng Việt
Nội dung này thực hiện cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi. Cho trẻ làm
quen với các chữ cái ghi âm tiếng Việt nghĩa là giúp cho trẻ nhận biết cấu tạo


chữ cái, cách phát âm. Từ đó giúp trẻ có kỹ năng, tâm thế cần thiết trước khi
vào lớp 1.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×