Tải bản đầy đủ

tổng hợp văn 12 cực chi tiết

Đề 1:
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Và:
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ.
(Trích Sóng – Xuân Quỳnh, Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam 2017, tr.155
– 156)
Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ trên. Từ đó, nhận xét về sự vận động của khát
vọng tình yêu trong tâm hồn nhân vật trữ tình.

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
• Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Xuân Quỳnh thuộc số những nhà thơ lớp đầu tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ trưởng
thành trong thời kì chống Mĩ cứu nước. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một phụ nữ có
nhiều trắc ẩn, luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc bình dị đời thường.
- Sóng được sáng tác năm 1967 trong một chuyến Xuân Quỳnh đi vùng biển Diêm Điền

(tỉnh Thái Bình). Sóng là một bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách
thơ Xuân Quỳnh.
• Phân tích hai đoạn thơ
Đoạn 1: Những cung bậc cảm xúc trong tình yêu
- Hai câu đầu: Tác giả tạo ra tiểu đổi để diễn tả biến thái phức tạp của sóng cũng là tâm
trạng của em bằng 4 tính từ “Dữ dội/ dịu êm” “Ồn ào/ lặng lẽ”. Cùng với đó, cách ngắt nhịp
2/3 và sự luân phiên các thanh bằng trắc đã nhấn mạnh những đối cực trong trạng thái của
sóng.
Điều đặc biệt, cách sửu dụng liên từ “và” cho thấy những trạng thái đối lập ấy vẫn song
song tồn tại, không mâu thuẫn mà đan xen, vận động và có sự chuyển hóa.
=> Những cung bậc cảm xúc phức tạp trong tâm hồn người con gái đang yêu.
- Hai câu sau: Điều đáng nói nhất ở đây là sự chủ động của người con gái khi yêu, dứt
khoát từ bỏ không gian nhỏ bé, chật hẹp để vươn tới cái rộng lớn, cao cả:
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể


Đó quả thực là một sự táo bạo.

Đoạn 2: Khát vọng dâng hiến trong tình yêu
- Mặc dù có những trăn trở trong tình yêu nhưng thơ Xuân Quỳnh không dẫn người ta đến
bế tắc, buồn chán mà thành khát vọng. Từ nhận thức, khám phá, Xuân Quỳnh đã mang đến
giải pháp:
“Làm sao được tan ra
...
Để ngàn năm còn vỗ”
+ Tan ra thành trăm con sóng: khát vọng được hòa quyện, được dâng hiến tình yêu của
mình vào tình yêu của mọi người. “Tan ra” không phải mất đi mà hoà giữa cái chung và cái
riêng. Tình yêu như thế không bao giờ cô đơn.
+ Để ngàn năm con vỗ: tình yêu tồn tại mãi mãi, trường tồn vĩnh cửu
Khát vọng mãnh liệt trong tình yêu – nét hiện đại trong thơ Xuân Quỳnh
* Nhận xét về sự vận động cảm xúc của nhân vật trữ tình
- Sự vận động cảm xúc của nhân vật trữ tình từ băn khoăn, không hiểu nổi mình đến hòa
mình vào biển lớn tình yêu để tìm thấy chính mình; từ khát vọng tình yêu từ đến khát khao
được hòa nhập vào cuộc đời chung rộng lớn để dâng hiến trọn vẹn.
- Qua đó, ta cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình: vừa chân thành, vừa say
đắm, vừa táo bạo, mãnh liệt, vừa truyền thống vừa hiện đại.
- Sự vận động cảm xúc của nhân vật trữ tình được thể hiện thành công qua thể thơ ngũ
ngôn giàu nhạc điệu; kết cấu song trùng hai hình tượng sóng và em; ngôn từ giản dị, trong
sang; hình ảnh giàu sức gợi; biện pháp so sánh, nhân hóa,…


• Tổng kết
Đề 2:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Và:
Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.
Cảm nhận của anh/chị về nỗi nhớ Tây Tiến trong đoạn thơ trên, từ đó làm nổi bật
những nét đặc sắc về ngôn ngữ và giọng điệu thơ Quang Dũng.


HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
• Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh và soạn nhạc. Nhưng Quang
Dũng trước hết là một nhà thơ mang hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa –
đặc biệt khi ông viết về người lính Tây Tiến và xứ Đoài (Sơn Tây) của mình.
- Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu cho đời thơ Quang Dũng, thể hiện sâu sắc phong cách nghệ
thuật của nhà thơ, được in trong tập Mây đầu ô (1986).
• Phân tích đoạn thơ
Đoạn 1
- Đoạn thơ mở đầu bằng hai câu thơ mang cảm xúc chủ đạo của toàn đoạn thơ. Cảm xúc
ấy là nỗi nhớ:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
+ Đối tượng của nỗi nhớ ấy là con Sông Mã, con sông gắn liền với chặng đường hành quân
của người lính.
+ Đối tượng nhớ thứ hai là nhớ Tây Tiến, nhớ đồng đội, nhớ bao gương mặt một thời chinh
chiến. Nỗi nhớ ấy được bật lên thành tiếng gọi tha thiết “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi” gợi lên
bao nỗi niềm lâng lâng khó tả.
+ Đối tượng thứ ba của nối nhớ đó là “nhớ về rừng núi” . Rừng núi là địa bàn hoạt động của
Tây Tiến với bao gian nguy, vất vả nhưng cũng thật trữ tình, lãng mạn.
- Nhưng nay, tất cả đã “xa rồi”. “Xa rồi” nên mới nhớ da diết như thế.
- Điệp từ “nhớ” được nhắc lại hai lần như khắc sâu thêm nỗi lòng của nhà thơ. Đặc biệt tình
cảm ấy được Quang Dũng thể hiện bằng ba từ “Nhớ chơi vơi”, cùng với cách hiệp vần “ơi”
ở câu thơ trên làm nổi bật một nét nghĩa mới: “Chơi vơi” là trạng thái trơ trọi giữa khoảng
không rộng, không thể bấu víu vào đâu cả. “Nhớ chơi vơi” có thể hiểu là một mình giữa thế
giới hoài niệm mênh mông, bề bộn, không đầu, không cuối, không thứ tự thời gian, không
gian. Đó là nỗi nhớ da diết, miên man, bồi hồi, bâng khuâng, sâu lắng làm cho con người có
cảm giác đứng ngồi không yên.
- Tác giả gợi nhắc nhiều địa danh xa lạ: Sài Khao, Mường Lát để đưa người đọc bước vào
những địa hạt heo hút, hoang dại theo bước chân quân hành của người lính Tây Tiến.
- Ấn tượng đầu tiên hiện ra trong nỗi nhớ của người lính Tây Tiến là sương núi mịt mù:
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Trên đỉnh Sài Khao, sương dày đến độ vùi lấp cả đường đi, vùi lấp cả đoàn quân trong mờ
mịt. Đoàn quân hành quân trong sương lạnh giữa núi rừng trùng điệp không tránh khỏi cảm
giác mệt mỏi rã rời. Con người trở nên hết sức bé nhỏ giữa biển sương dày đặc mênh
mông ấy…
- Giữa mịt mù sương lạnh, người lính Tây Tiến vẫn thấy con đường hành quân thật đẹp và
nên thơ:


Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Vẫn là sương khói ấy thôi, nhưng cách nói “hoa về” khiến sương không còn lạnh giá nữa
mà gợi sự quần tụ, sum vầy thật tình tứ và ấm áp => sự bay bổng, lãng mạn
Đoạn 2:
- Hai câu đầu là một lời thề son sắt thể hiện tinh thần “nhất khứ bất phục phản” (một đi
không trở lại) của những người lính Tây Tiến:
Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Chàng trai Tây tiến, khi ra đi đều không ước hẹn ngày về, đều sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn
"cảm tử cho tổ quốc quyết sinh".
- Hai câu thơ cuối là lời khẳng định chắc chắn dù có rời xa về không gian và lùi xa về thời
gian, nhưng nhưng tâm hồn tình cảm của những người lính Tây Tiên vẫn gắn bó máu thịt
với những ngày tháng, những địa điểm mà đoàn quân Tây Tiến đã đi qua:
+ Mùa xuân ấy chính là thời điểm mà binh đoàn Tây Tiến được thành lập – đầu năm 1947,
cũng chính là thời điểm mà nhà thơ Quang Dũng gia nhập binh đoàn vào cuối mùa xuân
+ Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi là một lời hứa hẹn thủy chung. Một phần tâm hồn của mỗi
người lính Tây Tiến đã ở lại với địa danh Sầm Nứa bên nước bạn.
* Nét đặc sắc về ngôn ngữ và giọng điệu
- Đặc sắc ngôn ngữ của Tây Tiến là sự phối hợp, hòa trộn của nhiều sắc thái phong cách
với ngôn ngữ những lớp từ vựng đặc trưng.
+ Có thứ ngôn ngữ trang trọng, mang màu sắc cổ kính, chủ yếu miêu tả hình ảnh Tây Tiến
và sự hi sinh bi tráng của họ.
+ Có lớp từ ngữ sinh động của tiếng nói hàng ngày, in đậm phong cách người lính.
+ Một nét sáng tạo trong ngôn ngữ là có những kết hợp từ độc đáo mới lạ tạo nghĩa mới
hoặc sắc thái mới : nhớ chơi vơi, đêm hơi, súng gửi trời, mưa sa khơi...
+ Sử dụng địa danh : tạo ấn tượng về tính cụ thể, xác thực của bức tranh thiên nhiên và
cuộc sống con người; gợi được vẻ hấp dẫn của xứ lạ phương xa.
- Giọng điệu thơ : Cả bài thơ được bao trùm trong nỗi nhớ. Nỗi nhớ ấy gợi về những kỉ
niệm, những hình ảnh với nhiều trạng thái cảm xúc khác nhau, được diễn tả bằng những
giọng điệu phù hợp với mỗi trạng thái cảm xúc.
+ Đọan 1 chủ đạo là gịong tha thiết, bồi hồi, được cất lên thành những tiếng gọi những từ
cảm thán.
+ Đọan 4 giọng điệu trầm hung, vĩnh quyết và khẳng định.
• Tổng kết
Đề3
Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng cây xà nu qua hai đoạn văn sau. Từ đó hãy
nhận xét về kết cấu của tác phẩm.


“Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc. Chúng nó bắn, đã thành lệ, mỗi ngày hai lần,
hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và sẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà
gáy. Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn. Cả rừng xà
nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang
nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão. Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề,
thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện
thành từng cục máu lớn.
Trong rừng ít có cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục,
đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu
trời. Cũng ít có loại cây ham ánh sáng mặt trời đến thế. Nó phóng lên rất nhanh để
tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn
thẳng tắp, lóng láng vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng. Có
những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người lại bị đại bác chặt đứt làm đôi. Ở
những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không lành được, cứ
loét mãi ra, năm mười hôm thì cây chết. Nhưng cũng có những cây vượt lên được
cao hơn đầu người, cành lá sum sê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ.
Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên
một thân thể cường tráng. Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã…
Cứ thế hai ba năm nay, rừng xà nu ưỡn tâm ngực lớn của mình ra, che chở cho
làng…
Đứng trên đồi xa nu ấy trông ra xa, đến hết tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài
những đồi xà nu nối tiếp chân trời.”
“…Tnú lại ra đi. Cụ Mết và Dít đưa anh ra đến rừng xà nu gần con nước lớn. Trận đại
bác đêm qua đã đánh ngã bốn năm cây xà nu to. Nhựa ứa ra ở những vết thương
đang đọng lại, lóng lánh nắng hè. Quanh đó vô số những cây con đang mọc lên. Có
những cây mới nhú khỏi mặt đất, nhọn hoắt như những mũi lê.
Ba người đứng ở đấy nhìn ra xa. Đến hút tầm mắt cũng không thấy gì ngoài những
rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời”.
(Trích: Rừng xa nu – Nguyễn Trung Thành – SGK Ngữ văn 12, tập 2, NXBGD 2008)

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Nguyễn Trung Thành là cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Ông được mệnh
danh là người viết hay nhất về Tây Nguyên, là người mở cửa đưa Tây Nguyên vào văn xuôi
hiện đại. Những sáng tác về Tây Nguyên làm nên phần hay nhất, tiêu biểu nhất cho văn
nghiệp của ông.
- Truyện ngắn Rừng xà nu được Nguyễn Trung Thành viết năm 1965, xuất hiện lần đầu tiên
trên tạp chí Văn nghệ quân giải phóng Trung Trung Bộ (số 2/1965). Sau đó in trong tập Trên
quê hương những anh hùng Điện Ngọc. Đây là tác phẩm nổi tiếng nhất trong số các sáng
tác của Nguyễn Trung Thành trong những năm chống Mĩ xâm lược.
2. Phân tích hình tượng xà nu trong hai đoạn trích ;
a. Đoạn 1
- Vị trí: Tả cây xà nu ở đoạn mở đầu tác phẩm.


* Tả thực: Cây xà nu là cây thuộc họ thông, mọc thành rừng ở Tây Nguyên, mọc thẳng, tán
lá vươn cao, thân cây vạm vỡ, có sức sống mãnh liệt.
- Mở đầu tác phẩm là cánh rừng xà nu trong tầm đại bác của giặc, chúng bắn đã thành lệ
mỗi ngày hai lần, hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn. Như
vậy, ngay trong câu đầu tiên của tác phẩm, Nguyên Ngọc đã dựng lên một sự sống trong tư
thế đối mặt với cái chết, một sự sinh tồn đang đứng trước mối đe doạ của diệt vong. Vậy,
liệu cây xà nu bị tàn phá như thế có bị diệt vong hay không?
- Không. Vì cây xà nu có sức sống mãnh liệt mà không đại bác nào có thể huỷ diệt được
(cạnh một cây ngã gục có 4, 5 cây con mọc lên hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời; nó
phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng;…)
* Nghĩa biểu tượng:
- Cánh rừng xà nu bị tàn phá dưới tầm đại bác của giặc trở thành biểu tượng cho đau
thương của những con người ở làng Xô Man. (Những con người sống dưới tầm đại bác,
cũng như xà nu thân thể và trái tim anh Xút bị treo cổ, bà Nhan bị chặt đầu, dân làng sống
trong sự lùng sục của bọ thằng Dục, Tnú bị giặc bắt và tra tấn,. ..)
- Cây xà nu còn biểu tượng cho sức sống bất diệt và những phẩm chất cao đẹp của người
dân làng Xô Man.
+ Sức sống bất diệt: Sức sống bất diệt của cây xà nu có ý nghĩa biểu tượng cho sức sống
bất diệt của những người ở làng Xô Man. Tác giả miêu tả 3 lứa cây xà nu tiêu biểu cho 3
thế hệ người dân làng Xô Man
• Cụ Mết có bộ ngực “căng như một cây xà nu lớn”, tay “sần sùi như vỏ cây xà nu”. Cụ Mết
chính là cây xà nu cổ thụ hội tụ tất cả sức mạnh của rừng xà nu.
• Tnú cường tráng như một cây xà nu được tôi luyện trong đau thương đã trưởng thành mà
không đại bác nào giết nổi.
• Dít trưởng thành trong thử thách với bản lĩnh và nghị lực phi thường cũng giống như cây
xà nu phóng lên rất nhanh tiếp lấy ánh mặt trời.
• Cậu bé Heng là mầm xà nu đang được các thế hệ đi trước truyền cho những tố chất cần
thiết để sẵn sàng thay thế trong cuộc chiến cam go còn có thể phải kéo dài “năm năm, mười
năm hoặc lâu hơn nữa”.
+ Phẩm chất cao đẹp: Cây xà nu trở thành biểu tượng cho lòng yêu tự do (cũng như cây xà
nu phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh mặt trời) ; tình yêu thương đoàn kết, sức mạnh của
Tây Nguyên (cũng như các cây xà nu tập hợp thành rừng, bảo vệ, che chở cho nhau)
=> Rừng xà nu mang nghĩa biểu tượng cho: Con ngư ời ở làng Xô Man hẻo lánh, cho Tây
Nguyên, cho cả miền Nam, cho cả dân tộc Việt Nam trong thời kì chiến đấu chống đế quốc
tuy đau thương nhưng quyết tâm làm tất cả để giành sự sống cho Tổ quốc mình.
=> Ở đoạn mở đầu ấn tượng còn lưu lại trong lòng người đọc là sức sống bất diệt của cây
xà nu, đó cũng là cảm hứng chủ đạo của nhà văn Nguyên Ngọc khi viết về hình ảnh cây xà
nu.
b. Đoạn 2
- Vị trí: ở cuối tác phẩm.


- Đưa tiễn Tnú ra đi sau một đêm về thăm làng, cụ Mết và Dít đưa anh ra đến rừng xà nu
cạnh con nước lớn. “Ba người đứng ở đấy nhìn ra xa. Đến hút tầm mắt cũng không thấy gì
khác ngoài những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời”
- Như vậy, kết thúc tác phẩm cũng là sức sống bất diệc của cây xà nu với hình ảnh “rừng xà
nu nối tiếp chạy tới chân trời”.
=> Trong truyện Rừng xà nu, cách thức mở đầu và kết thúc giống nhau nhằm nhấn mạnh
đến sức sống của cây xà nu biểu tượng cho sức sống bất diệt của con người Việt Nam nói
chung trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
c. Nhận xét về kết cấu của tác phẩm:
- Kết cấu đầu cuối tương ứng: Hình ảnh “rừng xà nu” mở đầu thiên truyện và cũng kết thúc
thiên truyện. Hình ảnh những cây rừng xà nu bị tàn phá ở đoạn đầu tác phẩm là biểu tượng
cho sự đau thương mất mát của con người, tuy nhiên, đoạn cuối tác phẩm lại khiến ta thấy
thấp thoáng ẩn hiện sau mỗi cây xà nu là sự gan góc, sức sống mạnh mẽ, mãnh liệt, sức
mạnh không ngừng lớn lên của những người dân Tây Nguyên.
- Kết cấu vòng tròn: khép lại câu chuyện này nhưng lại mở ra một câu chuyện khác. Một
mặt, người đọc cảm tưởng như kì tích của anh hùng Tnú, của dân làng mà tác giả vừa kể
chỉ là sự nối tiếp lịch sử ngàn xưa và câu chuyện sẽ còn được tiếp nối bởi những thế hệ
mới ở làng Xô Man. Mặt khác, dường như câu chuyện không chỉ bó hẹp trong không gian
của làng Xô Man mà được mở rộng ra khắp mọi miền đất nước.
- Kết cấu truyện lồng trong truyện: Truyện ngắn này có hai mạch truyện lồng ghép vào nhau.
Chuyện bắt đầu từ một lần về thăm làng Xô Man của Tnú sau ba năm xa làng đi bộ đội giải
phóng. Trong đêm ấy, quây quần quanh bếp lửa, cả dân làng được nghe cụ Mết kể lại câu
chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú và chuyện về cuộc nổi dậy của dân làng Xô Man. Quá khứ
của Tnú là quá khứ của một đời người, một thế hệ dân làng đau thương, khổ nhục dưới bàn
tay của kẻ thù. Chuyện về Tnú là tình tiết chính và cũng là cốt lõi của câu chuyện về cuộc
nổi dậy của dân làng Xô Man.
3. Tổng hợp đánh giá.
- Đặc sắc nghệ thuật (xây dựng hình tượng):
+ Sử dụng cái nhìn của điện ảnh
-> hình tượng hiện nên động và nét hơn.
+ Cảm xúc bộc lộ trực tiếp.
- Nội dung tư tưởng: Biểu tượng cho vẻ đẹp con người Tây Nguyên trong những năm tháng
chiến tranh.
-> mở cánh cửa đưa người đọc bước vào thế giới của con người Tây Nguyên.
ĐỀ 4
Cảm nhận của anh/chị về chất thép và chất trữ tình trong hình tượng người chiến sĩ
Tây Tiến qua các đoạn thơ sau:
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp


Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ…

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm…
(Trích “Tây Tiến” – Quang Dũng, Ngữ Văn 12, Tập một, NXBGD, 2008, tr.88)

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
• Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh và soạn nhạc. Nhưng Quang
Dũng trước hết là một nhà thơ mang hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa –
đặc biệt khi ông viết về người lính Tây Tiến và xứ Đoài (Sơn Tây) của mình.
- Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu cho đời thơ Quang Dũng, thể hiện sâu sắc phong cách nghệ
thuật của nhà thơ, được in trong tập Mây đầu ô (1986).
• Phân tích đoạn thơ
Đoạn 1: Chất thơ trong không khí hội hè rộn ràng vui vẻ trong một đêm liên hoan văn
nghệ của những người lính Tây Tiến có đồng bào địa phương đến góp vui
- Đêm liên hoan ấy có ánh sáng rực rỡ - đây là ấn tượng nổi bật nhất trong kí ức của nhà
thơ:
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
+ Chữ “bừng” được xem là nhãn tự của câu thơ, gợi ra ánh sáng của những ngọn đuốc
rừng rực như những bông hoa lửa. Trong ánh mắt nhìn lãng mạn của những người lính Tây
Tiến, những ngọn sáng ấy đã hợp lại thành hội đuốc hoa, phù hợp với cử chỉ e thẹn “e ấp”
của những sơn nữ giống như những cô dâu mới.
+ Ánh sáng còn tỏa ra từ xiêm áo lộng lẫy của những người đẹp vùng sơn cước.
+ Và ánh sáng còn bừng lên trong cả cái nhìn ngạc nhiên, ngỡ ngàng, mê say bởi người
đẹp xiêm áo tự bao giờ, lột xác thành những nàng thơ tuyệt mĩ. Hai chữ kìa em là tiếng reo
vui phát hiện ẩn chứa ánh sáng ấy.
- Đêm liên hoan còn có âm thanh náo nức của tiếng khèn rộn ràng, réo rắt, tình tứ tạo lên
man điệu riêng vô cùng hấp dẫn. Thứ âm thanh đặc trưng của vùng cao đã khiến cho tâm
hồn của những chàng trai Hà thành rung động:
Khèn lên man điệu nàng e ấp
- Nổi bật giữa ánh sáng và âm thanh ấy là hình ảnh diễm lệ của những thiếu nữ Mường,
thiếu nữ Thái và những cô gái Lào trong những bộ xiêm áo lộng lẫy như bước ra từ huyền
thoại, vừa e thẹn vừa tình tứ trong một điệu múa đậm sắc xứ lạ. Họ đã trở thành linh hồn
của đêm văn nghệ


- Đằng sau tất cả những vẻ đẹp phương xa xứ lạ ấy là ánh nhìn chiêm ngưỡng, say sưa,
ngây ngất, đa tình của người lính Tây Tiến. Điệu nhạc chơi vơi cùng vũ điệu lăm – vông của
các cô gái đã làm say đắm các chàng trai Hà Nội, khiến họ trong phút chốc biến thành thi sĩ:
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
→ Cái phần hào hoa, thanh lịch được nâng niu, lưu giữ ở đâu đó trong tâm hồn người lính
Tây Tiến bỗng được gõ cửa, gợi dậy bởi vẻ đẹp của không gian mới. Bóng dáng của chiến
tranh đã bị xóa nhòa trong khoảnh khắc tuyệt vời hiếm hoi này. Lòng người như mềm lại
sau bao nhiêu những gân guốc, gồng mình vượt qua thử thách…
=> Có thể nói đây là một trong những đoạn thơ trữ tình nhất trong văn bản. Khung cảnh
đêm liên hoan rực rỡ, vui tươi làm vơi bớt đi những cực nhọc về hành trình mà người lính
vừa trải qua. Chất trữ tình đó cũng là động lực tiếp thêm cho họ sức mạnh để tiếp tục con
đường cứu nước.
Đoạn 2: Hình ảnh người lính Tây Tiến vừa gân guốc, rắn rỏi (chất thép) vừa hào hoa,
lãng mạn (chất trữ tình)
a. Chất thép
* Ngoại hình (bi thương): được khắc hoạ bằng một nét vẽ rất gân guốc, lạ hoá nhưng lại
được bắt nguồn từ hiện thực:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
- Không mọc tóc, quân xanh màu lá đều là hậu quả của những trận sốt rét rừng khủng khiếp
mà người nào cũng phải trải qua. Trong hồi ức của những người lính Tây Tiến trở về, đoàn
quân tử vong vì sốt rét rừng nhiều hơn là vì đánh trận bởi rừng thiêng nước độc mà thuốc
men không có.
- Quang Dũng không hề che giấu những gian khổ, khó khăn…, chỉ có điều nhà thơ không
miêu tả một cách trần trụi. Hiện thực ấy được khúc xạ qua bút pháp lãng mạn của Quang
Dũng, trở thành cách nói mang khẩu khí của người lính Tây Tiến, cách nói rất chủ động:
không mọc tóc chứ không phải tóc không thể mọc vì sốt rét tạo nên nét dữ dội, ngang tàng,
cứng cỏi của người lính Tây Tiến; cái vẻ xanh xao vì đói khát, vì sốt rét của những người
lính qua ngòi bút Quang Dũng lại toát lên vẻ oai phong, dữ dằn của những con hổ nơi rừng
thiêng “quân xanh màu lá dữ oai hùm”.
* Ẩn sau ngoại hình ấy là sức mạnh nội tâm (hào hùng):
- Đoàn binh gợi lên sự mạnh mẽ lạ thường của "Quân đi điệp điệp trùng trùng" (Tố Hữu),
của "tam quân tì hổ khí thôn ngưu" (ba quân mạnh như hổ báo nuốt trôi trâu) (Phạm Ngũ
Lão).
- Dữ oai hùm là khí phách, tinh thần của đoàn quân ấy, như mang oai linh của chúa sơn lâm
rừng thẳm
- Mắt trừng là chi tiết cực tả sự giận dữ, phẫn nộ, sôi sục hướng về nhiệm vụ chiến đấu
→ Thủ pháp đối lập được sử dụng đắc địa trong việc khắc hoạ sự tương phản giữa ngoại
hình ốm yếu và nội tâm mãnh liệt, dữ dội, ngang tàng.
b. Chất trữ tình
Thế giới tâm hồn đầy mộng mơ thể hiện qua nỗi nhớ (lãng mạn):


Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
- Những người lính Tây Tiến không phải là những người khổng lồ không tim, bên trong cái
vẻ oai hùng, dữ dằn của họ là những tâm hồn, những trái tim rạo rực, khát khao yêu đương
“đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Dáng kiều thơm gợi vẻ đẹp yêu kiều, thướt tha thanh lịch
của người thiếu nữ Hà thành, là cái đẹp hội tụ sắc nước hương trời. Những giấc mơ mang
hình dáng kiều thơm đã trở thành động lực để giúp người lính vượt qua mọi khó khăn, gian
khổ; đã thúc giục họ tiến lên phía trước; và cũng là sợi dây thiêng liêng của niềm tin mang
họ vượt qua bom đạn trở về.
=> Đoạn thơ thứ hai là sự hòa điệu giữa chất thép và chất trữ tình. Người lính vừa mang vẻ
đẹp gan dạ, dũng cảm, kiên cường, không sợ hiểm nguy, gian khổ. Nhưng đằng sau đó ta
vẫn thấy vẻ đẹp của tâm hồn lãng mạn, tinh tế và hết sức tài hoa.
*Giá trị nội dung và nghệ thuật
- Giá trị nội dung:
+ Vẻ đẹp hào hùng và hào hoa của người lính Tây Tiến.
+ Vẻ đẹp vừa dữ dội vừa thơ mộng, trữ tình của thiên nhiên Tây Bắc.
- Giá trị nghệ thuật:
+ Kết hợp hài hòa giữa bút pháp lãng mạn và tinh thần bi tráng trên cái nền hiện thực.
+ Sáng tạo về hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu,…
• Tổng kết
Đề bài 5: Cảm nhận của anh/chị về nhân vật Hồn Trương Ba trong đoạn trích sau:
Hồn Trương Ba: Ông Đế Thích ạ, tôi không thể tiếp tục mang thân anh hàng thịt được
nữa, không thể được!
Đế Thích: Sao thế? Có gì không ổn đâu!
Hồn Trương Ba: Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn
được là tôi toàn vẹn.
Đế Thích: Thế ông ngỡ tất cả mọi người đều được là mình toàn vẹn cả ư? Ngay cả tôi
đây. Ở bên ngoài, tôi đâu có được sống theo những điều tôi nghĩ bên trong. Mà cả
Ngọc Hoàng nữa, chính người lắm khi cũng phải khuôn ép mình cho xứng với danh
vị Ngọc Hoàng. Dưới đất, trên trời đều thế cả, nữa là ông. Ông đã bị gạch tên khỏi sổ
Nam Tào. Thân thể thật của ông đã tan rữa trong bùn đất, còn chút hình thù gì của
ông đâu!
Hồn Trương Ba: Sống nhờ vào đồ đạc của cải người khác, đã là chuyện không nên,
đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là
cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết.
(Trích cảnh VII, Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt
Nam, 2018, tr. 149)
Từ đó, hãy nhận xét triết lí nhân sinh mà tác giả Lưu Quang Vũ gửi gắm qua nhân vật.


HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
• Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích
- Lưu Quang Vũ là cây bút xuất sắc của nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông là hiện tượng
đặc biệt của sân khấu kịch trường những năm tám mươi của thế kỉ XX và là một trong
những nhà soạn kịch tài năng nhất của văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại.
- Hồn Trương Ba, da hàng thịt là tác phẩm tiêu biểu trong sự nghiệp của ông. Tác phẩm
được viết năm 1981 nhưng đến năm 1984 mới ra mắt công chúng, là một trong những vở
kịch đặc sắc nhất của Lưu Quang Vũ, đã công diễn nhiều lần trên sân khấu trong và ngoài
nước.
- Đoạn trích trên thuộc cảnh VII của tác phẩm.
• Giới thiệu nhân vật
*Ông Trương Ba:
- Hiền đức, có tâm hồn cao khiết, sống mẫu mực: yêu vợ, thương con, quý cháu, tốt bụng
với láng giềng,…
- Là người làm vườn chăm chỉ, khéo léo, có tình yêu cây cỏ, nâng niu từng cảnh cây ngọn
cỏ.
- Chơi cờ rất giỏi, nước cờ khoáng hoạt, thâm sâu, dũng mãnh -> khí chất, nhân cách con
người.
*Tình huống bi kịch của nhân vật:
- Do sự tắc trách của Nam Tào, Bắc Đẩu: gạch sổ nhầm -> chết oan.
- Được sống lại: hồn Trương Ba, da hàng thịt -> khập khiễng, trớ trêu, nghịch cảnh éo le
-> đối mặt với những đau khổ.
• Cảm nhận về nhân vật Hồn Trương Ba trong đoạn trích
*Nhân vật khát khao được thoát khỏi tình huống bi kịch của mình:
+ Ý thức được tình cảnh trớ trêu là phải sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo.
+ Thấm thía nỗi đau khổ và không chấp nhận tình trạng vênh lệch giữa hồn và xác.
+ Kiên quyết, dứt khoát muốn thoát khỏi tình trạng trớ trêu: tôi không thể tiếp tục mang thân
anh hàng thịt được nữa, không thể được!
*Nhân vật bày tỏ khát vọng được sống là chính mình:
+ Muốn là mình một cách toàn vẹn; thể xác và linh hồn hòa hợp; bên trong và bên ngoài,
suy nghĩ và hành động thống nhất: Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được.
Tôi muốn được là tôi toàn vẹn.
+ Mong muốn một cuộc sống có ý nghĩa, không chấp nhận sự dung tục, tầm thường: Ông
chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!
* Đánh giá


- Khát vọng của Hồn Trương Ba đã cho ta thấy vẻ đẹp tâm hồn của con người trong cuộc
đấu tranh chống lại sự dung tục, giả tạo; bảo vệ quyền được sống là chính mình; hướng
đến sự hoàn thiện nhân cách.
- Khát vọng của Hồn Trương Ba được thể hiện sâu sắc nhờ ngôn ngữ kịch hấp dẫn, giàu
sức khái quát và tính triết lí.
* Triết lí nhân sinh tác giả gửi gắm qua nhân vật: Được sống làm người là quý giá thật,
nhưng được sống đúng là mình, sống trọn vẹn những giá trị mình vốn có và theo đuổi còn
quý giá hơn. Sự sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người được sống tự nhiên với sự hài
hòa giữa thể xác và tâm hồn. Con người phải luôn luôn biết đấu tranh với những nghịch
cảnh, với chính bản thân, chống lại sự dung tục, để hoàn thiện nhân cách và vươn tới
những giá trị tinh thần cao quý.
- Sống là chính mình nghĩa là khi con người sống đúng với những giá trị bản thân, với
những cảm xúc, khát vọng của chính mình, với đam mê và nhiệt huyết của bản thân.
- Vì sao con người cần được sống là chính mình?
+ Mỗi người chỉ được sống có một lần bởi thế ta cần sống chân thật thì mới có hạnh phúc.
Hơn nữa, cuộc đời thực khác với những thứ ảo ảnh, phù phiếm, không ai có thể diễn kịch
cho bản thân trong vai diễn cuộc đời. Mỗi người có một tính cách khác nhau, nhu cầu khác
nhau. Không thể áp đặt lối sống, phong cách của người này đối với người khác. Sống đích
thực với bản thân khiến con người ta thoải mái hơn, tự nhiên và tự tin hơn.
+ Trái ngược với sống đích thực, sống đúng với bản thân là cách sống giả tạo, sống hình
thức nghĩa là mỗi người tự tạo cho mình một lớp vỏ bọc giả dối để đánh lừa người khác,
nhằm thõa mãn thú vui nhất thời của bản thân và hậu quả cuối cùng là người đó tự đào thải
chính mình ra khỏi xã hội.
- Làm thế nào để con người được sống là chính mình: đối với mỗi sinh viên, mỗi bạn trẻ
trong hành trang vào đời của mình phải trang bị những tri thức, kĩ năng để luôn chủ động,
linh hoạt trước những biến thiên của cuộc sống, luôn giữ vững cá tính và phong cách của
bản thân. Sống hoà nhập nhưng không hoà tan, sống theo cá tính, phong cách riêng nhưng
không lập dị, khác thường, con người sẽ có được hạnh phúc thực sự.
• Tổng kết
Đề bài: 6
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Và:
Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.


Cảm nhận của anh/chị về nỗi nhớ Tây Tiến trong đoạn thơ trên, từ đó làm nổi bật
những nét đặc sắc về ngôn ngữ và giọng điệu thơ Quang Dũng.

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
• Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh và soạn nhạc. Nhưng Quang
Dũng trước hết là một nhà thơ mang hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa –
đặc biệt khi ông viết về người lính Tây Tiến và xứ Đoài (Sơn Tây) của mình.
- Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu cho đời thơ Quang Dũng, thể hiện sâu sắc phong cách nghệ
thuật của nhà thơ, được in trong tập Mây đầu ô (1986).
• Phân tích đoạn thơ
Đoạn 1
-

Đoạn thơ mở đầu bằng hai câu thơ mang cảm xúc chủ đạo của toàn đoạn thơ. Cảm
xúc ấy là nỗi nhớ:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
+ Đối tượng của nỗi nhớ ấy là con Sông Mã, con sông gắn liền với chặng đường hành quân
của người lính.
+ Đối tượng nhớ thứ hai là nhớ Tây Tiến, nhớ đồng đội, nhớ bao gương mặt một thời chinh
chiến. Nỗi nhớ ấy được bật lên thành tiếng gọi tha thiết “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi” gợi lên
bao nỗi niềm lâng lâng khó tả.
+ Đối tượng thứ ba của nối nhớ đó là “nhớ về rừng núi” . Rừng núi là địa bàn hoạt động của
Tây Tiến với bao gian nguy, vất vả nhưng cũng thật trữ tình, lãng mạn.
- Nhưng nay, tất cả đã “xa rồi”. “Xa rồi” nên mới nhớ da diết như thế.
- Điệp từ “nhớ” được nhắc lại hai lần như khắc sâu thêm nỗi lòng của nhà thơ. Đặc biệt tình
cảm ấy được Quang Dũng thể hiện bằng ba từ “Nhớ chơi vơi”, cùng với cách hiệp vần “ơi”
ở câu thơ trên làm nổi bật một nét nghĩa mới: “Chơi vơi” là trạng thái trơ trọi giữa khoảng
không rộng, không thể bấu víu vào đâu cả. “Nhớ chơi vơi” có thể hiểu là một mình giữa thế
giới hoài niệm mênh mông, bề bộn, không đầu, không cuối, không thứ tự thời gian, không
gian. Đó là nỗi nhớ da diết, miên man, bồi hồi, bâng khuâng, sâu lắng làm cho con người có
cảm giác đứng ngồi không yên.
- Tác giả gợi nhắc nhiều địa danh xa lạ: Sài Khao, Mường Lát để đưa người đọc bước vào
những địa hạt heo hút, hoang dại theo bước chân quân hành của người lính Tây Tiến.
- Ấn tượng đầu tiên hiện ra trong nỗi nhớ của người lính Tây Tiến là sương núi mịt mù:
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Trên đỉnh Sài Khao, sương dày đến độ vùi lấp cả đường đi, vùi lấp cả đoàn quân trong mờ
mịt. Đoàn quân hành quân trong sương lạnh giữa núi rừng trùng điệp không tránh khỏi cảm
giác mệt mỏi rã rời. Con người trở nên hết sức bé nhỏ giữa biển sương dày đặc mênh
mông ấy…


-

Giữa mịt mù sương lạnh, người lính Tây Tiến vẫn thấy con đường hành quân thật
đẹp và nên thơ:

Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Vẫn là sương khói ấy thôi, nhưng cách nói “hoa về” khiến sương không còn lạnh giá nữa
mà gợi sự quần tụ, sum vầy thật tình tứ và ấm áp => sự bay bổng, lãng mạn
Đoạn 2:
-

Hai câu đầu là một lời thề son sắt thể hiện tinh thần “nhất khứ bất phục phản” (một đi
không trở lại) của những người lính Tây Tiến:

Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Chàng trai Tây tiến, khi ra đi đều không ước hẹn ngày về, đều sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn
“cảm tử cho tổ quốc quyết sinh”.
-

Hai câu thơ cuối là lời khẳng định chắc chắn dù có rời xa về không gian và lùi xa về
thời gian, nhưng nhưng tâm hồn tình cảm của những người lính Tây Tiên vẫn gắn
bó máu thịt với những ngày tháng, những địa điểm mà đoàn quân Tây Tiến đã đi
qua:

+ Mùa xuân ấy chính là thời điểm mà binh đoàn Tây Tiến được thành lập – đầu năm 1947,
cũng chính là thời điểm mà nhà thơ Quang Dũng gia nhập binh đoàn vào cuối mùa xuân
+ Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi là một lời hứa hẹn thủy chung. Một phần tâm hồn của mỗi
người lính Tây Tiến đã ở lại với địa danh Sầm Nứa bên nước bạn.
* Nét đặc sắc về ngôn ngữ và giọng điệu
- Đặc sắc ngôn ngữ của Tây Tiến là sự phối hợp, hòa trộn của nhiều sắc thái phong cách
với ngôn ngữ những lớp từ vựng đặc trưng.
+ Có thứ ngôn ngữ trang trọng, mang màu sắc cổ kính, chủ yếu miêu tả hình ảnh Tây Tiến
và sự hi sinh bi tráng của họ.
+ Có lớp từ ngữ sinh động của tiếng nói hàng ngày, in đậm phong cách người lính.
+ Một nét sáng tạo trong ngôn ngữ là có những kết hợp từ độc đáo mới lạ tạo nghĩa mới
hoặc sắc thái mới : nhớ chơi vơi, đêm hơi, súng gửi trời, mưa sa khơi...
+ Sử dụng địa danh : tạo ấn tượng về tính cụ thể, xác thực của bức tranh thiên nhiên và
cuộc sống con người; gợi được vẻ hấp dẫn của xứ lạ phương xa.
-

Giọng điệu thơ : Cả bài thơ được bao trùm trong nỗi nhớ. Nỗi nhớ ấy gợi về những
kỉ niệm, những hình ảnh với nhiều trạng thái cảm xúc khác nhau, được diễn tả bằng
những giọng điệu phù hợp với mỗi trạng thái cảm xúc.

+ Đọan 1 chủ đạo là gịong tha thiết, bồi hồi, được cất lên thành những tiếng gọi những từ
cảm thán.
+ Đọan 4 giọng điệu trầm hung, vĩnh quyết và khẳng định.
• Tổng kết
Đề baì7: Trong cuộc chiến với người lái đò, sông Đà hiện lên:


Còn xa lắm mới đến cải thác dưới. Nhưng đã nghe thấy tiếng nước réo gần mãi lại
réo to mãi lên. Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại
như là khiêu khích, giọng gần mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn
con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vẩu rừng tre nứa nổ lửa, đang phải tuông
rừng lứa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng...
Nhưng khi đã qua những ghềnh thác, dòng sông lại mang vẻ đẹp:
Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện
trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói
mùi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên sông Đà,
tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước sông Đà. Mùa xuân
đồng xanh ngọc bích, chứ nước sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông
Gâm, sông Lô. Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì
rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về...
(Trích Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân, Ngữ Văn 12, Tập 1, tr 187, 191)
Cảm nhận vẻ đẹp của sông Đà qua hai đoạn văn trên. Từ đó nhận xét những đặc sắc
trong nghệ thuật miêu tả của nhà văn Nguyễn Tuân.

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
I. Mở bài
- Dẫn dắt giới thiệu hình tượng Sông Đà.
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
II. Thân bài
a) Cảm nhận hình tượng Sông Đà qua đoạn văn thứ nhất- Một Sông Đà hung bạo
Sự hung bạo của Sông Đà được tác giả tái hiện lần lượt ở cảnh đá bờ sông dựng vách
thành, ở ghềnh đá, ở những cái hút nước; nhưng sức mạnh khủng khiếp nhất của sông Đà
dồn tụ lại ở trận địa thác đá. Bằng sự cảm nhận của giác quan thính giác -> nhận ra dấu
hiệu đầu tiên của trận địa thác đá là âm thanh tiếng nước thác:
- Âm thanh phong phú: lúc thì nghe như là oán trách, lúc như van xin, khi thì khiêu khích,
giọng gằn mà chế nhạo, đặc biệt có lúc rống lên
- Âm thanh rống lên gầm thét là sự cộng hưởng của:
+ tiếng một ngàn con trâu mộng, lại đang trong giây phút đối mặt với cái chết, lồng lộn tìm
đường thoát thân giữa rừng lửa bao vây
+ tiếng nổ lửa, phá tuông của cả rừng vầu, rừng tre nứa.
+ Thêm nữa, sự hợp sức của số nhiều (một nghìn con trâu mộng, cả rừng vầu rừng tre nứa)
khiến cho âm thanh tiếng nước thác đang “réo to mãi lên” thật là kinh sợ
+ Những vế câu dài liên tiếp đã góp phần gợi cảm giác dồn đuổi lấn lướt của lửa cháy bùng
bùng
=> Dòng sông biến thành một sinh thể dữ dằn, gào thét trong những âm thanh cuồng nộ,
ghê sợ để trấn áp con người.


b) Cảm nhận hình tượng Sông Đà qua đoạn văn thứ hai – Một Sông Đà trữ tình
Tác giả đã phát huy cao độ trí tưởng tượng phong phú cùng với những liên tưởng bất ngờ
mà thú vị để tái hiện hình ảnh Sông Đà:
-

Từ trên cao nhìn xuống, dòng chảy uốn lượn của con sông như mái tóc của người
thiếu nữ “con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc
ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn
mù khói núi Mèo đốt nương xuân”.

+ Vừa mới đây thôi sông Đà còn là nơi hội tụ của những dữ dằn, hung bạo; vậy mà trong
chốc lát sóng nước đã xèo xèo tan trong trí nhớ để hiện hình trước mắt người đọc trong một
dáng vẻ hoàn toàn khác lạ.
+ Mái tóc tuôn tài tuôn dài tưởng chừng như bất tận, nó trập trùng ẩn hiện giữa mây trời Tây
Bắc, nó bồng bềnh uốn lượn quanh co thướt tha duyên dáng… Mái tóc ấy như đang ôm lấy
dáng hình thanh tân trẻ trung gợi cảm đầy sức sống của người thiếu nữ Tây Bắc.
+ Màu trắng tinh khiết của hoa ban, màu đỏ rực rỡ của hoa gạo điểm vào suối tóc ấy khiến
nó thêm phần kiều diễm làm say lòng người. Tác giả dùng lối đảo trật tự câu “bung nở hoa
ban hoa gạo tháng hai” để nhấn mạnh thêm sức sống tràn căng của thiên nhiên Tây Bắc
vào thời điểm giữa mùa xuân, tô điểm thêm cho vẻ đẹp của suối tóc Sông Đà
+ Hình ảnh “cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân” đã tạo nên cái sương khói hư ảo
như ẩn giấu đi gương mặt đẹp bí ẩn của người thiếu nữ càng làm tăng thêm sức hấp dẫn…
-

Nhìn ngắm sông Đà từ nhiều thời gian khác nhau, tác giả đã phát hiện ra những sắc
màu tươi đẹp và đa dạng của dòng sông. Màu nước biến đổi theo mùa, mỗi mùa có
vẻ đẹp riêng trong cách so sánh rất cụ thể:

+ mùa xuân, nước sông Đà xanh màu “xanh ngọc bích”, tươi sáng, trong trẻo, lấp lánh, khác
với màu xanh canh hến của nước sông Gâm, sông Lô
+ mùa thu, nước sông Đà lại “lừ lừ chín đỏ”, như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa,
như màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn, bực bội. Dường như nhà văn không phải đang
miêu tả một dòng sông mà miêu tả diện mạo một con người trong sự biến thiên của cuộc
đời
-> sắc nước tuy biến ảo linh hoạt theo mùa, nhưng đều là thứ màu sắc gợi cảm, đầy ấn
tượng.
=> sông Đà mang gương mặt, dáng vóc và nhan sắc của một mĩ nhân, có sức gợi cảm,
cuốn hút đến vô cùng.
* Đánh giá, tổng hợp
Giá trị nội dung
- Nhân vật Sông Đà dưới ngòi bút sáng tạo của nhà văn lấp lánh hai nét tính cách: hung bạo
và trữ tình. Lúc hung bạo, con sông “mang diện mạo và tâm địa của một thứ kẻ thù số một”
của con người. Lúc trữ tình, dòng chảy ấy lại tràn đầy, sóng sánh chất thơ, là một công trình
nghệ thuật tuyệt vời của tạo hóa, trở một “mĩ nhân” đầy gợi cảm và hấp dẫn.
-> Qua đây tác giả cũng kín đáo thể hiện tình cảm yêu nước tha thiết và niềm say mê, tự
hào với thiên nhiên của quê hương xứ sở mình
Đặc sắc nghệ thuật


- Hai trích đoạn đã cho thấy công phu lao động nghệ thuật nghiêm túc, khó nhọc của nhà
văn. Nguyễn Tuân đã phải dành nhiều tâm huyết và công sức để làm hiện lên những vẻ đẹp
và sắc thái khác nhau của thiên nhiên Tây Bắc
- Nhà văn đã huy động tối đa các giác quan thị giác, xúc giác, thính giác và vận dụng tri thức
của nhiều lĩnh vực để tái hiện hình ảnh sông Đà gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc
- Nhà văn cũng đã thể hiện tài năng điêu luyện của một người nghệ sĩ ngôn từ trong việc tái
tạo những kì công của tạo hóa
III. Kết luận
- Khẳng định giá trị tác phẩm
- Khẳng định vị trí tác giả trên văn đàn
Đề bài: Trong cuộc chiến với người lái đò, sông Đà hiện lên:
Còn xa lắm mới đến cải thác dưới. Nhưng đã nghe thấy tiếng nước réo gần mãi lại
réo to mãi lên. Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại
như là khiêu khích, giọng gần mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn
con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vẩu rừng tre nứa nổ lửa, đang phải tuông
rừng lứa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng...
Nhưng khi đã qua những ghềnh thác, dòng sông lại mang vẻ đẹp:
Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện
trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói
mùi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên sông Đà,
tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước sông Đà. Mùa xuân
đồng xanh ngọc bích, chứ nước sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông
Gâm, sông Lô. Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì
rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về...
(Trích Người lái đò sông Đà - Nguyễn Tuân, Ngữ Văn 12, Tập 1, tr 187, 191)
Cảm nhận vẻ đẹp của sông Đà qua hai đoạn văn trên. Từ đó nhận xét những đặc sắc
trong nghệ thuật miêu tả của nhà văn Nguyễn Tuân.

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
I. Mở bài
- Dẫn dắt giới thiệu hình tượng Sông Đà.
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
II. Thân bài
a) Cảm nhận hình tượng Sông Đà qua đoạn văn thứ nhất- Một Sông Đà hung bạo
Sự hung bạo của Sông Đà được tác giả tái hiện lần lượt ở cảnh đá bờ sông dựng vách
thành, ở ghềnh đá, ở những cái hút nước; nhưng sức mạnh khủng khiếp nhất của sông Đà
dồn tụ lại ở trận địa thác đá. Bằng sự cảm nhận của giác quan thính giác -> nhận ra dấu
hiệu đầu tiên của trận địa thác đá là âm thanh tiếng nước thác:


- Âm thanh phong phú: lúc thì nghe như là oán trách, lúc như van xin, khi thì khiêu khích,
giọng gằn mà chế nhạo, đặc biệt có lúc rống lên
- Âm thanh rống lên gầm thét là sự cộng hưởng của:
+ tiếng một ngàn con trâu mộng, lại đang trong giây phút đối mặt với cái chết, lồng lộn tìm
đường thoát thân giữa rừng lửa bao vây
+ tiếng nổ lửa, phá tuông của cả rừng vầu, rừng tre nứa.
+ Thêm nữa, sự hợp sức của số nhiều (một nghìn con trâu mộng, cả rừng vầu rừng tre nứa)
khiến cho âm thanh tiếng nước thác đang “réo to mãi lên” thật là kinh sợ
+ Những vế câu dài liên tiếp đã góp phần gợi cảm giác dồn đuổi lấn lướt của lửa cháy bùng
bùng
=> Dòng sông biến thành một sinh thể dữ dằn, gào thét trong những âm thanh cuồng nộ,
ghê sợ để trấn áp con người.
b) Cảm nhận hình tượng Sông Đà qua đoạn văn thứ hai - Một Sông Đà trữ tình
Tác giả đã phát huy cao độ trí tưởng tượng phong phú cùng với những liên tưởng bất ngờ
mà thú vị để tái hiện hình ảnh Sông Đà:
- Từ trên cao nhìn xuống, dòng chảy uốn lượn của con sông như mái tóc của người thiếu
nữ “con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong
mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt
nương xuân”.
+ Vừa mới đây thôi sông Đà còn là nơi hội tụ của những dữ dằn, hung bạo; vậy mà trong
chốc lát sóng nước đã xèo xèo tan trong trí nhớ để hiện hình trước mắt người đọc trong một
dáng vẻ hoàn toàn khác lạ.
+ Mái tóc tuôn tài tuôn dài tưởng chừng như bất tận, nó trập trùng ẩn hiện giữa mây trời Tây
Bắc, nó bồng bềnh uốn lượn quanh co thướt tha duyên dáng… Mái tóc ấy như đang ôm lấy
dáng hình thanh tân trẻ trung gợi cảm đầy sức sống của người thiếu nữ Tây Bắc.
+ Màu trắng tinh khiết của hoa ban, màu đỏ rực rỡ của hoa gạo điểm vào suối tóc ấy khiến
nó thêm phần kiều diễm làm say lòng người. Tác giả dùng lối đảo trật tự câu “bung nở hoa
ban hoa gạo tháng hai” để nhấn mạnh thêm sức sống tràn căng của thiên nhiên Tây Bắc
vào thời điểm giữa mùa xuân, tô điểm thêm cho vẻ đẹp của suối tóc Sông Đà
+ Hình ảnh “cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân” đã tạo nên cái sương khói hư ảo
như ẩn giấu đi gương mặt đẹp bí ẩn của người thiếu nữ càng làm tăng thêm sức hấp dẫn…
- Nhìn ngắm sông Đà từ nhiều thời gian khác nhau, tác giả đã phát hiện ra những sắc màu
tươi đẹp và đa dạng của dòng sông. Màu nước biến đổi theo mùa, mỗi mùa có vẻ đẹp riêng
trong cách so sánh rất cụ thể:
+ mùa xuân, nước sông Đà xanh màu “xanh ngọc bích”, tươi sáng, trong trẻo, lấp lánh, khác
với màu xanh canh hến của nước sông Gâm, sông Lô
+ mùa thu, nước sông Đà lại “lừ lừ chín đỏ”, như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa,
như màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn, bực bội. Dường như nhà văn không phải đang
miêu tả một dòng sông mà miêu tả diện mạo một con người trong sự biến thiên của cuộc
đời


-> sắc nước tuy biến ảo linh hoạt theo mùa, nhưng đều là thứ màu sắc gợi cảm, đầy ấn
tượng.
=> sông Đà mang gương mặt, dáng vóc và nhan sắc của một mĩ nhân, có sức gợi cảm,
cuốn hút đến vô cùng.
* Đánh giá, tổng hợp
Giá trị nội dung
- Nhân vật Sông Đà dưới ngòi bút sáng tạo của nhà văn lấp lánh hai nét tính cách: hung bạo
và trữ tình. Lúc hung bạo, con sông “mang diện mạo và tâm địa của một thứ kẻ thù số một”
của con người. Lúc trữ tình, dòng chảy ấy lại tràn đầy, sóng sánh chất thơ, là một công trình
nghệ thuật tuyệt vời của tạo hóa, trở một “mĩ nhân” đầy gợi cảm và hấp dẫn.
-> Qua đây tác giả cũng kín đáo thể hiện tình cảm yêu nước tha thiết và niềm say mê, tự
hào với thiên nhiên của quê hương xứ sở mình
Đặc sắc nghệ thuật
- Hai trích đoạn đã cho thấy công phu lao động nghệ thuật nghiêm túc, khó nhọc của nhà
văn. Nguyễn Tuân đã phải dành nhiều tâm huyết và công sức để làm hiện lên những vẻ đẹp
và sắc thái khác nhau của thiên nhiên Tây Bắc
- Nhà văn đã huy động tối đa các giác quan thị giác, xúc giác, thính giác và vận dụng tri thức
của nhiều lĩnh vực để tái hiện hình ảnh sông Đà gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc
- Nhà văn cũng đã thể hiện tài năng điêu luyện của một người nghệ sĩ ngôn từ trong việc tái
tạo những kì công của tạo hóa
III. Kết luận
- Khẳng định giá trị tác phẩm
- Khẳng định vị trí tác giả trên văn đàn
NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
Đề bài: Viết về nối nhớ của những con người cách mạng trong bài thơ “Việt Bắc”,
nhà thơ Tố Hữu viết:
“…Nhớ gì như nhớ người yêu,
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương.
Nhớ từng bản khói cùng sương,
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Nhớ từng rừng nứa bờ tre,
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy…”
(Việt Bắc – Tố Hữu, Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục, 2007 tr.89)
Cảm nhận của em về đoạn thơ trên? Từ đó, liên hệ với đoạn thơ trong bài “Sóng” của
nhà thơ Xuân Quỳnh để thấy được cách thể hiện của mỗi nhà thơ về nỗi nhớ:
“…Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước


Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức…”
(Sóng – Xuân Quỳnh, Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục, 2007, tr.155)

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
*Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập một văn bản
nghị luận văn học.
*Cách giải:
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận văn học: có đủ các phẩn, trong đó phẩn Mở bài nêu được
vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận:
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết
hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Trên cơ sở những hiểu biết về tác giả, tác phẩm cũng
như cách hiểu về vẻ đẹp lãng mạn và tinh thần bi tráng, thí sinh có thể triển khai theo nhiều
cách nhưng phải bám sát vấn đề nghị luận và cần làm rõ một số ý cơ bản sau.
• Giới thiệu tác giả, tác phẩm, ý kiến
- Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca Cách mạng Việt Nam. Đường Cách mạng, đường thơ Tố
Hữu gắn liền với các chặng đường của cách mạng Việt Nam.
- Tập thơ Việt Bắc là một trong những thành tựu xuất sắc của văn học những năm kháng
chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954). Tập thơ là tiếng ca hùng tráng, thiết tha về cuộc
kháng chiến chống Pháp xâm lược, phản ánh những chặng đường gian lao, anh dũng và
thắng lợi của dân tộc.
• Phân tích đoạn thơ
*Đoạn thơ là hình ảnh Việt Bắc thanh bình trong hồi tưởng của tác giả:
- Hình ảnh so sánh “như nhớ người yêu” thể hiện sự gắn bó tha thiết trong tình cảm.
- Những hình ảnh gợi cảm đầy thi vị: trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương, bản khói
cùng sương, bếp lửa, rừng nứa, bờ tre... gợi nhớ những vẻ đẹp nên thơ rất riêng của miền
rừng núi
- Những địa danh ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê không chỉ trải dài trên bản đồ địa lí của Việt
Bắc; không chỉ được khắc ghi trong lịch sử Cách mạng- là nơi đã diễn ra nhiều chiến công
oanh liệt; mà còn ghi dấu bao kỉ niệm của người ra đi.
• Liên hệ đoạn thơ trong bài thơ “Sóng”
*Giới thiệu về Xuân Quỳnh


- Xuân Quỳnh là cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của
một phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da
diết trong khát vọng về hạnh phúc bình dị đời thường.
- Sóng được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình).
Bài thơ in trong tập Hoa dọc chiến hào.
*Phân tích đoạn thơ
Đoạn thơ diễn tả nỗi nhớ da diết, cháy bỏng trong tình yêu:
- Nỗi nhớ da diết, giày vò: bao trùm mọi không gian, hiện diện cả tầng sâu lẫn bề rộng “dưới
lòng sâu, trên mặt nước”; choán ngợp cả vũ trụ bao la “Dẫu xuôi về phương Bắc / Dẫu
ngược về phương Nam”.
- Nỗi nhớ mãnh liệt, khắc khoải, triền miên, giày vò thao thức theo thời gian từ ngày sang
đêm, mọi lúc mọi nơi như những con sóng triền miên, giày vò thao thức theo thời gian từ
ngày sang đêm, mọi lúc mọi nơi như những con sóng triền miên, dào dạt, không bao giờ
ngưng lặng; nỗi nhớ tồn tại trong ý thức và cả tiềm thức: “Ôi con sóng nhớ bờ / Ngày đêm
không ngủ được / Lòng em nhớ đến anh / Cả trong mơ còn thức”
- Cảm xúc vô cùng phong phú: có khi được bộc lộ trực tiếp, có khi bộc lộ gián tiếp để diễn tả
nỗi nhớ vô biên tuyệt đích của một tình yêu chân thành, mãnh liệt.
*Giống và khác trong việc diễn tả nỗi nhớ:
- Giống:
+ Cả hai đều diễn tả tình cảm nhớ nhung chân thành của chủ thể trữ tình
+ Nỗi nhớ đều được diễn tả bằng những hình ảnh đặc trưng
-

Khác:

+ Đoạn thơ trong bài thơ Việt Bắc là nỗi nhớ của người chiến sĩ cách mạng với mảnh đất
mình từng gắn bó – tình cảm quân dân tha thiết, mặn nồng. Tính chất trữ tình chính trị được
thể hiện rõ nét.
+ Đoạn thơ trong bài thơ Sóng là nỗi nhớ trong tình yêu da diết, mãnh liệt được diễn tả qua
hình tượng sóng – đó cũng chính là cung bậc cảm xúc của người phụ nữ trong tình yêu.
Chất lãng mạn được thể hiện đầy đủ nhất.
• Tổng kết
NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
Đề bài: Đọc hai đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc (Tố Hữu):
Đoạn 1:
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về
Đoạn 2:


Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay
(Trích Việt Bắc, SGK Ngữ Văn 12, tập 1, NXB GD, 2016)
Anh/chị hãy cảm nhận hai đoạn thơ để thấy được “Việt Bắc” vừa là bản tình ca vừa là
bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Từ đó nêu nhận xét
về nội dung thơ trữ tình – chính trị của Tố Hữu.

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận văn học: có đủ các phẩn, trong đó phẩn Mở bài nêu được
vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận.
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết
hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Trên cơ sở những hiểu biết về tác giả, tác phẩm cũng
như cách hiểu về vẻ đẹp lãng mạn và tinh thần bi tráng, thí sinh có thể triển khai theo nhiều
cách nhưng phải bám sát vấn đề nghị luận và cần làm rõ một số ý cơ bản sau.
• Giới thiệu tác giả, tác phẩm, ý kiến
- Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca Cách mạng Việt Nam. Đường Cách mạng, đường thơ Tố
Hữu gắn liền với các chặng đường của cách mạng Việt Nam.
- Tập thơ Việt Bắc là một trong những thành tựu xuất sắc của văn học những năm kháng
chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954). Tập thơ là tiếng ca hùng tráng, thiết tha về cuộc
kháng chiến chống Pháp xâm lược, phản ánh những chặng đường gian lao, anh dũng và
thắng lợi của dân tộc.
- Ý kiến “ “Việt Bắc” vừa là bản tình ca vừa là bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến và con
người kháng chiến”
• Phân tích hai đoạn trích
*Đoạn 1:
- Đoạn thơ là hình ảnh Việt Bắc thanh bình trong hồi tưởng của tác giả:
+ Hình ảnh so sánh “như nhớ người yêu” thể hiện sự gắn bó tha thiết trong tình cảm.
+ Những hình ảnh gợi cảm đầy thi vị: trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương, bản khói
cùng sương, bếp lửa, rừng nứa, bờ tre... gợi nhớ những vẻ đẹp nên thơ rất riêng của miền
rừng núi
*Đoạn 2:
- Đoạn thơ tái hiện khung cảnh Việt Bắc trong chiến đấu với không gian núi rừng rộng lớn;
những hình ảnh hào hùng mạnh mẽ, sôi động, rung chuyển của núi rừng trước chiến dịch
Điện Biên Phủ lịch sử - cả nước cùng ra trận chiến cuối cùng này.
- Tính chất của cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện hiện diện rất đậm nét:


+Những đoàn quân chủ lực hành quân nối tiếp vô tận ra mặt trận với khí thế khẩn trương,
đông đảo trùng trùng điệp điệp với ý chí quyết tâm cao độ của những người lính. Lý tưởng
sống cao đẹp như thăng hoa, bay bổng giữa không gian rừng đêm Ánh sao đầu mũ bạn
cùng mũ nan.
+Những đoàn dân công tiếp lương tải đạn suốt ngày đêm, nối tiếp bước chân của những
đội quân chủ lực vào mặt trận với khí thế hừng hực, ý chí quyết tâm mạnh mẽ, không gì lay
chuyển được Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.
• Nhận xét nội dung thơ trữ tình – chính trị của Tố Hữu
- Thơ trữ tình – chính trị của Tố Hữu thường đề cập đến những vấn đề lớn, có ý nghĩa đối
với cộng đồng, dân tộc
- Tình cảm được đề cập đến trong những vần thơ này là tình cảm lớn: tình yêu lí tưởng, tình
yêu đất nước,…
- Giọng thơ mang tính tâm tình, tự nhiên, đằm thắm, chân thành
• Tổng kết
NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

Đề bài: Trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông?, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc
Tường đã ví vẻ đẹp sông Hương với vẻ đẹp của người con gái. Ở thượng nguồn
dòng chảy: Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình
như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại. Khi đến thành phố Huế: Hình như
trong khoảnh khắc chừng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người
tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya.
(Hoàng Phủ Ngọc Tường – Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2009, tr. 198
và tr. 200)
Anh (chị) hãy phân tích hình tượng sông Hương trong hai lần miêu tả trên, từ đó
nhận xét về vẻ đẹp khác nhau của dòng sông này.

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

Phương pháp: phân tích, lý giải, tổng hợp
Cách giải:
• Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Hoàng Phủ Ngọc Tường là cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại, là một trong
những nhà văn chuyên về bút kí. Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là ở sự kết hợp nhuần
nhuyễn giữa chất trí tuệ và tính trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được
tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí,… Tất cả được thể
hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa.
- Ai đã đặt tên cho dòng sông? Là bút kí xuất sắc, viết tại Huế, ngày 4 -1 – 1981, in trong tập
sách cùng tên. Bài bút kí có ba phần, văn bản dưới đây trích phần thứ nhất.


• Phân tích hai chi tiết
a) Sông Hương được so sánh với “một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”- vẻ đẹp
của dòng sông ở thượng nguồn, khi nằm giữa không gian núi rừng Trường Sơn
- Ở nơi khởi nguồn của dòng chảy, gắn liền với đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, con sông
giống như bản trường ca của rừng già, toát lên vẻ đẹp vừa hùng tráng (“rầm rộ giữa bóng
cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực
bí ẩn”) vừa trữ tình (“cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói
lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”), mang một sức sống mãnh liệt
- Biện pháp so sánh kết hợp nhân hóa đã gợi ra vẻ đẹp hoang dại nhưng cũng rất tình tứ
của dòng sông. Nó hiện lên như một con người có cá tính và tâm hồn “rừng già đã hun đúc
cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng”
-> sông Hương ở thượng nguồn hoang dại, phóng khoáng nhưng không kém phần trữ tình,
dịu dàng, bí ẩn. Tác giả đã thực sự kì công để khám phá và hết sức tinh tế để thấu hiểu cái
phần đời mà “dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném
chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng”
b) Sông Hương được liên tưởng với “người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya” – vẻ đẹp của
dòng sông được cảm nhận từ góc nhìn văn hóa
- Cái nhìn này trước hết có cơ sở từ thực tế: Sông Hương là dòng sông âm nhạc, đây cũng
là nét riêng không thể lẫn của sông Hương với các dòng sông khác của đất nước.
- Điểm gặp gỡ của cả nền âm nhạc cổ điển cũng như những câu hò dân gian là đều đã
được sinh thành trên mặt nước sông Hương, nên nó chỉ vang lên hay nhất “trong một
khoang thuyền nào đó, giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya”. Điều này
càng rõ hơn khi tác giả đã từng trải nghiệm cảm giác thất vọng khi nghe nhạc Huế giữa ban
ngày, hoặc trên sân khấu nhà hát.
- Theo tác giả, sở dĩ “những bản đàn đã đi suốt đời Kiều” hay đến thế, làm thổn thức lòng
người đến thế là do Nguyễn Du đã “bao năm lênh đênh trên quãng sông này, với một phiến
trăng sầu” để cảm nhận và truyền tải được cái thần cái hồn của nền âm nhạc Huế trong đó.
Cho nên có “một người nghệ nhân già, từng chơi đàn hết nửa thế kỉ, một buổi tối ngồi nghe
con gái đọc Kiều “Trong như tiếng hạc bay qua- Đục như tiếng suối mới sa nửa vời”… Đến
câu ấy, người nghệ nhân chợt nhổm dậy vỗ đùi, chỉ vào trang sách Nguyễn Du mà thốt lên
“Đó chính là Tứ đại cảnh” (một bản nhạc cổ Huế tương truyền do Tự Đức sáng tác)
* Nhận xét:
+ Bằng những so sánh, liên tưởng độc đáo, tác giả đã tái hiện vẻ đẹp phong phú của sông
Hương từ góc nhìn địa lí và góc nhìn văn hóa:
. từ góc nhìn địa lý, theo thủy trình từ thượng nguồn về hạ lưu, dòng sông mang một vẻ đẹp
trọn vẹn, hài hòa giữa hình dáng bên ngoài với tâm hồn sâu thẳm bên trong
. từ góc nhìn văn hóa, con sông của xứ Huế vốn đã rất đẹp ở diện mạo, dáng vẻ lại càng
đằm thắm và đầy sức mê hoặc ở chiều sâu tâm hồn
+ Thiên nhiên xứ Huế và dòng sông Hương luôn gắn bó, gần gũi với con người. Qua điệu
chảy của dòng sông nhà văn thấy được tính cách con người xứ Huế. HPNT đã nhìn sông
Hương như một thiếu nữ xinh đẹp và tài hoa, dịu dàng và cũng đầy cá tính. Vẻ đẹp nữ tính
ấy của sông Hương giống như đời sống, như tâm hồn của con người xứ Huế.


+ Qua hình tượng sông Hương, người đọc còn thấy được vẻ đẹp của người cầm bút: một
tình yêu say đắm với dòng sông, với quê hương xứ sở, và trên hết là với đất nước mình.


Đặc sắc nghệ thuật

+ Sức hấp dẫn của hình tượng sông Hương trước hết đến từ ngòi bút của HPNT: một cây
bút tài hoa giàu trí tuệ, am hiểu sâu rộng về văn hóa, lịch sử, địa lí và văn chương; một sức
liên tưởng, tưởng tượng phong phú và sáng tạo.
+ Các biện pháp nghệ thuật: ẩn dụ, so sánh, nhân hóa… gắn liền với những liên tưởng bất
ngờ, thú vị cũng đã tạo nên những góc nhìn đa sắc về sông Hương, đưa người đọc đi từ
thích thú này đến thích thú khác
+ Nhà văn đã sáng tạo được những trang văn đẹp, được dệt nên bởi một kho từ vựng
phong phú, uyển chuyển và rất giàu hình ảnh
• Tổng kết
Đề bài: Trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”, nhà văn Tô Hoài đã miêu tả về nhân vật
Mị:
…Ở lâu trong cái khổ, Mị cũng quen khổ rồi. Bây giờ Mị tưởng mình cũng là con trâu,
mình cũng là con ngựa. Con ngựa chỉ biết ăn cỏ, biết đi làm mà thôi. […] Mỗi ngày Mị
càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. Ở buồng Mị nằm kín mít, có
một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng
trắng, không biết là sương hay là nắng. Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ
vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi.
Và:
…Đám than đã vạc hẳn lửa. Mị không thổi, cũng không đứng lên. Mị nhớ lại đời mình.
Mị tưởng tượng như có thể một lúc nào, biết đâu A Phủ chẳng đã trốn được rồi, lúc
ấy bố con thống lý sẽ đổ là Mị đã cởi trói cho nó, Mị liền phải trói thay vào đấy. Mị
chết trên cái cọc ấy. Nghĩ thế nhưng làm sao Mị cũng không thấy sợ…
Lúc ấy, trong nhà đã tối bưng, Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt, nhưng Mị
tưởng như A Phủ đương biết có người bước lại… Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút
dây mây. A Phủ thở phè từng hơi, không biết mê hay tỉnh. Lần đầu, đến lúc gỡ được
hết dây trói ở người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng. Mị chỉ thì thào được một tiếng “Đi
ngay…” rồi Mị nghẹn lại. A Phủ bỗng khuỵu xuống không bước nổi. Nhưng trước cái
chết có thể đến nơi ngay, A Phủ lại quật sức vùng lên, chạy.
Mị đứng lặng trong bóng tối.
Rồi Mị cũng vụt chạy ra. Trời tối lắm. Mị vẫn băng đi. Mị đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy
xuống tới lưng dốc…
(Trích Vợ chồng A Phủ, Ngữ Văn 12, tập Hai, NXBGDVN 2016, tr. 6 – 13 – 14)
Phân tích sự thay đổi của nhân vật Mị trong hai lần miêu tả trên, từ đó làm nổi bật nét
độc đáo trong tư tưởng nhân đạo của nhà văn Tô Hoài.

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
• Giới thiệu tác giả, tác phẩm


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×