Tải bản đầy đủ

BƯỚC đấu NGHIÊN cứu GIÁ TRỊ của kỹ THUẬT SÀNG lọc KHỒNG xâm lấn TRONG CHẨN đoán TRƯỚC SINH một số bất THƯỜNG NHIỄM sắc THỂ TẠIBỆNH VIỆN PHỤ sản hà nội năm 2016

1

SỞ Y TẾ HÀ NỘI
BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ

TÊN ĐỀ TÀI:
BƯỚC ĐẤU NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ CỦA KỸ THUẬT
SÀNG LỌC KHỒNG XÂM LẤN TRONG CHẨN ĐOÁN
TRƯỚC SINH MỘT SỐ BẤT THƯỜNG NHIỄM SẮC THỂ
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI NĂM 2016 - 2017

Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Nguyễn Duy Ánh
Nhóm nghiên cứu: Ths.Bs. Hoàng Hải Yến
Bs. Đinh Thúy Linh
Ths.Bs. Nguyễn Hồng Phượng
Ths.CNSH. Nguyễn Thị Vân Anh

NĂM 2018



2

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AF

Amniotic fluid

AFP

Alfa feto-protein

BoBs

BACs-on-Beads

BP

Base pair

cffDNA

Cell free fetal DNA

CMA

Chromosomal microarray-based analysis

CV

Chrionic villus

DNA

Deoxyribonucleic acid

DTBS

Dị tật bẩm sinh


FISH

Fluorescent in situ hybridization

NGS

Next generation sequencing

NIPS

Noninvasive prenatal testing

SNPs

Single nucleotide polymorphisms

NST

Nhiễm sắc thể

PAPP-A

Pregnancy – associated plasma protein A

PGD

Preimplantation Genetic Diagnosis

PN BoBs

Prenatal-BoBs

uE3

Unconjugated Estriol - Estriol không liên hợp

βhCG

Beta human chronic gonadotropin

MPS

Massively parallel sequencing

MPSS

Massively parallel shotgun sequencing

NCVs

Normalized chromosome values


3

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG


4

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC SƠ ĐỒ

DANH MỤC HÌNH


5

MỞ ĐẦU
Bất thường nhiễm sắc thể (NST) là nguyên nhân của 50% các trường
hợp sảy thai, là một trong số những nguyên nhân hàng đầu gây nên tử vong và
tàn tật cho trẻ sơ sinh trên toàn thế giới [1]. Chiếm khoảng 83% của những
bất thường này là do lệch bội NST 21, 18, 13 và NST giới tính gây ra hội
chứng Down, Edwards, Patau, Turner...., [2].
Cho đến nay, trên thế giới vẫn chưa có biện pháp nào phòng ngừa tình
trạng thai mắc các hội chứng do bất thường NST. Chính vì vậy, việc phát hiện
sớm bất thường NST bằng sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và tư vấn di truyền
là việc làm hết sức cần thiết nhằm giảm tỷ lệ sinh con bất thường NST. Các
phương pháp sàng lọc trước sinh truyền thống cho bất thường lệch bội NST
bao gồm siêu âm hình thái và phân tích huyết thanh từ máu mẹ trong thai kỳ 1
và thai kỳ 2. Tuy nhiên, tỷ lệ phát hiện lệch bội dao động từ 30-94% với tỷ lệ
dương tính giả trên 5% tùy thuộc vào phương pháp sàng lọc được sử dụng [3].
Để chẩn đoán xác định, các thai phụ có nguy cơ cao sẽ được thực hiện các thủ
thuật xâm lấn như sinh thiết gai rau hoặc chọc hút dịch ối để phân tích bộ
NST thai nhi, điều này mang lại nguy cơ mất thai với tỷ lệ 0.11% - 0.22% [4].
Do đó, rất cần có những phương pháp sàng lọc với tỷ lệ dương tính giả thấp
đồng thời tỷ lệ phát hiện cao hơn, thai phụ không cần chịu thủ thuật xâm lấn,
tránh được nguy cơ ảnh hưởng đến mẹ và thai [5].
Việc phát hiện DNA thai tự do (cell-free fetal DNA - cffDNA) có nguồn
gốc từ rau thai lưu hành trong máu mẹ của Denis Lo và cộng sự năm 1997 [6]
đã mở ra khả năng thực hiện xét nghiệm sàng lọc trước sinh không xâm lấn
(NIPS) phát hiện sớm thai lệch bội NST bằng phương pháp giải trình tự thế hệ
mới [7], [8], [9]. Hơn nữa, NIPS có tỷ lệ phát hiện trisomy 21 trên 99% với tỷ


6

lệ dương tính giả thấp 0.1% [11]. Do vậy cffDNA được coi là nguồn mẫu lý
tưởng cho xét nghiệm sàng lọc trước sinh phát hiện lệch bội nhiễm sắc thể thai.
Tại Việt Nam, lĩnh vực sàng lọc và chẩn đoán trước sinh cũng đang ngày
một phát triển với việc triển khai nhiều kỹ thuật mới. Bệnh viện Phụ sản Hà
Nội là bệnh viện chuyên khoa hàng đầu của Thủ đô, cùng với việc thành lập
và phát triển Trung tâm sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh, việc ứng
dụng các kỹ thuật mới nhằm nâng cao chất lượng sàng lọc là một vấn đề cấp
thiết. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài “Bước đầu nghiên cứu giá trị của kỹ
thuật sàng lọc không xâm lấn trong chẩn đoán trước sinh một số bất
thường nhiễm sắc thể tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2016 – 2017”
với 3 mục tiêu:
1

Xác định tỉ lệ thai có nguy cơ bất thường nhiễm sắc thể bằng kỹ thuật

2

sàng lọc không xâm lấn NIPS.
Xác định tỉ lệ bất thường nhiễm sắc thể 13, 18, 21và nhiễm sắc thể giới

3

tính trong nhóm thai phụ kết quả NIPS có nguy cơ.
Đánh giá giá trị kỹ thuật sàng lọc không xâm lấn NIPS trong sàng lọc
các bất thường nhiễm sắc thể 13, 18, 21, nhiễm sắc thể giới tính.


7

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Bất thường nhiễm sắc thể ở thai thường gặp trong sàng lọc, chẩn
đoán trước sinh
1.1.1. Tần suất, các dạng bất thường nhiễm sắc thể thai
1.1.1.1. Tần suất
Bất thường nhiễm sắc thể (NST) là nguyên nhân của 50% các trường
hợp sảy thai, là một trong số những nguyên nhân hàng đầu gây nên tử vong và
tàn tật cho trẻ sơ sinh trên toàn thế giới [1]. Chiếm khoảng 83% của những
bất thường này là do lệch bội NST 21, 18, 13 và NST giới tính gây ra hội
chứng Down, Edwards, Patau, Turner...., [2].
Tại Trung Quốc, mỗi năm có khoảng 16 triệu trẻ mới sinh, trong đó dị tật
bẩm sinh chiếm khoảng 4-6%. Bất thường nhiễm sắc thể chiếm tỷ lệ 1:160 trẻ
sinh sống [12],[13]. Thống kê của ngành y tế cho thấy, mỗi năm Việt Nam có
khoảng gần 1.5 triệu trẻ em mới được sinh ra, trong đó tỷ lệ dị tật bẩm sinh
chiếm khoảng 1.5-2% trẻ sinh sống. Đáng lưu ý, mỗi năm có khoảng 1.4001.800 trẻ bị mắc bệnh Down, khoảng 250-250 trẻ mắc hội chứng Edwards..
Theo nghiên cứu của tác giả Phùng Như Toàn năm 2003 tại Bệnh viện Từ Dũ,
tỷ lệ bất thường NST là 11.2%. Năm 2004, tỷ lệ bất thường NST tại Bệnh
viện Phụ sản Trung Ương là 17.5% theo nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị
Ngọc Lan và cộng sự, nghiên cứu của tác giả Trần Danh Cường năm 2005 là
11.6% trên những thai phụ có nguy cơ cao (tuổi thai phụ >35 tuổi, có tiền sử
mang thai hay sinh con bị bất thường số lượng nhiễm sắc thể), trong đó lệch
bội NST 21 chiếm 50,79% [14].


8

1.1.1.2. Các dạng bất thường NST thai thường gặp
Các bất thường NST là nguyên nhân của 50% các trường hợp sảy thai
tự nhiên trong 3 tháng đầu thai kỳ và là nguyên nhân của 7% tử vong sơ sinh
và khoảng 0,6% trẻ lúc sinh phát hiện có bất thường NST. Tuy nhiên, chiếm
đến 83% các trường hợp bất thường về NST là lệch bội NST 21, 18, 13, X và
Y vẫn có thể sống sót đến khi sinh ra. Hội chứng Down chiếm tỷ lệ cao nhất
là 53%, tiếp đến là hội chứng Edwards là 13%, hội chứng Patau chiếm 5%,
hội chứng Turner 8%, bất thường NST giới tính XXX, XXY, XYY chiếm 4%,
còn lại là các bất thường hiếm gặp khác (Hình 1) [2].
Hình 1.1: Tỉ lệ bất thường các NST được chẩn đoán khi trẻ <1 tuổi
Hội chứng Down (Trisomy 21)
Hội chứng Down là bất thường số lượng NST 21 (47,XX,+21; 47,XY,
+21) hay gặp nhất trên lâm sàng. Hội chứng Down gây ra chậm phát triển tâm
thần không sửa chữa được và tần suất mắc trong quần thể là 1/700 trẻ sinh
sống [15].

Hình 1.2: Trẻ mắc hội chứng Down (Trisomy 21)
Hội chứng Down được đặt theo tên của John Landon Down, một bác sỹ
người Anh đã mô tả hội chứng này vào năm 1866. Phải đến năm 1959, hội
chứng Down mới được xác định là do bất thường về số lượng NST 21 bởi bác


9

sỹ J. Lejeune. Các biểu hiện lâm sàng điển hình của hội chứng Down bao
gồm: trán nhỏ, gáy rộng và dẹt, chỏm đầu dẹt, mặt tròn, khe mắt xếch, lông mi
ngắn và thưa, gốc mũi dẹt vì giảm sản xương sống mũi, môi dày, lưỡi dày, hay
thè ra, tai nhỏ, tròn, dị tật tim, những thay đổi nếp vân da bàn tay. Luôn kèm
theo chậm phát triển tâm thần vận động. Chỉ số IQ của người mắc hội chứng
Down thường <50. Ở tuổi 21, người mắc hội chứng Down có chỉ số IQ khoảng
42, tương đương với trẻ 5 tuổi [16].
Hội chứng Patau (Trisomy 13) [17],[18]
Hội chứng Patau là bất thường số lượng NST 13 (47,XX,+13; 47,XY,
+13). Lần đầu tiên được Patau cùng các cộng sự mô tả đầy đủ vào năm 1960.
Bệnh gặp với tần số 1:5000 đến 1:10000 trẻ sống. Tỷ lệ bệnh gặp ở nữ nhiều
hơn nam. Các trẻ mắc hội chứng Patau có trọng lượng khi sinh thấp hơn mức
trung bình khoảng 900g và thường sinh thiếu tháng. Các dấu hiệu lâm sàng
bên ngoài của hội chứng này rất điển hình đến mức có thể dựa vào đó để nhận
dạng và chẩn đoán bệnh. Các bất thường đặc trưng biểu hiện ở sọ và mặt: chu
vi hộp sọ thường bị giảm, đầu bé cùng với trán thấp và nghiêng, khe mắt hẹp,
gốc mũi rộng, tai mọc thấp với vành tai biến dạng, khoảng cách giữa hai mắt
giảm, da đầu thường bị loét, có u mạch máu ở vùng đầu và chẩm.
Một trong những dấu hiệu điển hình nhất của hội chứng Patau là khe hở
môi trên và vòm miệng, các khe hở thường là ở cả hai phía. Trong số các bất
thường của hệ thống cơ xương, hay gặp nhất là tật nhiều ngón ở cả hai tay và
hai chân. Ngoài ra, các dị tật bẩm sinh ở tim chiếm 80% các trường hợp, ở hệ
thống bài tiết trên 60%, ở hệ thống cơ quan sinh sản 75%.
Do có quá nhiều dị tật nặng nề, nên những trẻ trisomy 13 không sống
được lâu, 90% bệnh nhân chết trong vòng 1 tuổi, trong đó 40% là chết chu
sinh [17],[18].
Hội chứng Edwards (Trisomy 18)


10

Hội chứng Edwards là bất thường số lượng NST 18 (47,XX,+18;
47,XY,+18). Lần đầu tiên được một nhóm các nhà di truyền học người Anh
đứng đầu là Edwards mô tả đầy đủ năm 1960. Bệnh xuất hiện với tần suất
1:5000 trẻ sinh ra [19]. Đây là hội chứng bất thường số lượng NST đứng thứ 2
sau hội chứng Down.
Trẻ Trisomy 18 được sinh ra thường thiếu cân (trọng lượng trung bình
khoảng 2kg), trong khi thai lại thường bị già tháng. Các biểu hiện lâm sàng ở
hội chứng này cũng đa dạng như ở hội chứng Patau.
Các tổn thương cấu tạo của mặt và hệ thống cơ xương là ổn định, ở các
trường hợp kinh điển, sọ não có dạng kéo dài nghiêng dần từ xương trán tới
vùng thóp, hàm dưới và lỗ miệng bé, các khe mắt hẹp và ngắn. Vành tai bị biến
dạng và trong phần lớn các trường hợp có tai mọc thấp. Các tật ở chi trên là sự
xếp lộn xộn của xương bàn, bất thường khớp giữa ngón Ι, bất thường ở bàn chân
cũng có tới 80% các trường hợp. Khe hở môi được gặp ở 50% các trường hợp,
nhưng khác với hội chứng Patau là chỉ khe hở môi ở một phía [20].
Do có nhiều dị tật ở nhiều hệ thống cơ quan, nên thời gian sống của các
trẻ Trisomy 18 không được lâu. 95% thai có hội chứng Edwards chết trước
khi sinh. Khoảng 60% trẻ sinh ra bị chết trước 2 tháng tuổi (trong đó 30% là
trước 1 tháng). Chỉ 5-10% trẻ bị bệnh là sống được đến 1 tuổi [21].
Bất thường số lượng nhiễm sắc thể X, Y
Bất thường NST giới tính X, Y gây nên hội chứng Kilinefelter, Tuner và
trisomy X...
Hội chứng Klinefelter (47,XXY) [22],[23]
Là dạng bệnh NST giới tính hay gặp nhất ở nam giới với tần số khoảng
1:500 đến 1:1000 lần trẻ sơ sinh nam và thường gặp trong các trường hợp
người mẹ lớn tuổi, trung bình là 32.3 tuổi. Ở tuổi trưởng thành mới thấy rõ
những dấu hiệu phát triển lệch lạc về giới tính đàn ông như tinh hoàn bé, mào


11

tinh đôi khi lớn hơn tinh hoàn, mềm, bóp không đau, không thấy tinh trùng
trong tinh dịch nên vô sinh. Ngoài ra, còn thấy các bất thường của sự phát
triển các dấu hiệu sinh dục phụ kiểu nữ như tuyến vú phát triển ở 25 - 50%
các trường hợp, lớp mỡ dưới da dày, vai hẹp, hông rộng.
Hội chứng XYY (47, XYY) [24]
Hội chứng XYY được Evans và cộng sự phát hiện năm 1977 khi phân
tích định loại NST ở các bé trai sơ sinh. Tần số người có 47,XYY trong quần
thể là 1:1000 nam giới nhưng tần số này tăng cao ở nơi giam giữ các phạm
nhân, vì vậy thừa NST Y được gắn cho cái tên là NST tội phạm. Lúc nhỏ, biểu
hiện ngoài bình thường, thường có nhiều mụn trứng cá ở mặt. Lúc dậy thì hầu
hết trẻ lớn nhanh, dậy thì muộn hơn trẻ bình thường khoảng 6 tháng. Răng
lớn, gốc mũi nhô cao và không cân xứng, tai thấp. Mặc dù người cao nhưng
có xu hướng kém phát triển cơ ngực, cơ vai và cơ thắt lưng. Có trường hợp
sinh dục kém phát triển, tinh hoàn nhỏ, tinh hoàn lạc chỗ và lỗ đái lệch thấp.
Hầu hết có trí tuệ bình thường, một số chậm phát triển tâm thần.
Hội chứng trisomy X (47,XXX)[25],[26]
Hội chứng trisomy X xuất hiện với tần số chung là khoảng 1:1000 trẻ
gái. Những biểu hiện bên ngoài rất khó phân biệt người bệnh với những người
bình thường do không có những biến đổi rõ ràng về hình thái cũng như trí tuệ
và thể lực. Tuy nhiên, một số người bệnh cũng có một số bất thường về chức
năng sinh sản ở phụ nữ như vô kinh thứ phát, rối loạn kinh nguyệt, mãn kinh
sớm, tỷ lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt cao. Những phụ nữ Trisomy X vẫn có
khả năng sinh đẻ bình thường song nguy cơ các bất thường các NST ở con cái
cao hơn những người khác.
Hội chứng Monosomy X (Hội chứng Turner)[27]
Hội chứng Turner (45,X) hay gặp ở nữ giới với tần suất xuất hiện là
1:2500 trẻ sơ sinh gái. Hầu hết các trường hợp thai mắc hội chứng Turner


12

thường bị sảy thai tự nhiên, chỉ có một số ít sống đến khi sinh. Người bệnh có
kiểu hình là nữ giới thường đi khám vì các triệu chứng như lùn, vô kinh nguyên
phát, các biểu hiện của bệnh khác nhau ở các giai đoạn khác nhau:
-

Ở trẻ sơ sinh: trọng lượng khi sinh thấp, phù bạch huyết ở mu bàn tay, bàn
chân, phù cứng, không viêm và thường đến tuổi thứ hai thì hết phù, tai vểnh

-

ra phía sau.
Ở trẻ em gái và thanh niên: người lùn, chậm lớn và có những biểu hiện bất
thường như khe mắt cụp, sụp mi, mép xệ, khẩu cái hình cung nhọn. Tai thấp và
vểnh ra sau, tóc mọc thấp. Cổ ngắn và rộng vì có nếp da hình cánh bướm nối
liền từ xương chũm đến mỏm cùng vai. Cẳng tay cong ra ngoài, ngắn. Lồng
ngực hình lá chắn, hai núm vú kém phát triển và xa nhau. Cơ quan sinh dục có
rất ít hoặc không có lông mu, không có lông nách, đôi khi có dấu hiệu nam
hóa với âm vật phì đại. Tuyến sinh dục không phát triển, soi ổ bụng thấy 1 dải
nhỏ màu trắng nhạt, trường hợp điển hình thấy tổ chức xơ. Tử cung nhỏ, có
thể chẻ đôi. Giới tính thứ cấp không phát triển, tuyến vú không phát triển, vô
kinh nguyên phát.
1.1.2. Hậu quả
Thai nhi có bất thường nhiễm sắc thể thường có nguy cơ sẩy thai sớm,
thai lưu hoặc thai chết ngay sau sinh. Khoảng 50% các trường hợp sảy thai
ngẫu nhiên là do bất thường NST thai. Mặc dù có rất nhiều loại bất thường
nhiễm sắc thể nhưng hầu hết đều có biểu hiện chung như: Tình trạng phát
triển chậm về tâm thần và vận động, có những biểu hiện bất thường đặc thù
trên khuôn mặt, lùn có thể kèm theo nhẹ cân, gia tăng tần số của các dị tật
bẩm sinh, đặc biệt là các dị tật bẩm sinh gây gánh nặng cho gia đình và xã hội
1.2. Phương pháp sàng lọc, chẩn đoán trước sinh bất thường NST
1.2.1. Các phương chẩn đoán trước sinh


13

Muốn chẩn đoán xác định thai bất thường số lượng NST phải dựa vào
các xét nghiệm di truyền. Các xét nghiệm này có thể phân tích ở mức độ tế
bào (phân tích NST), ở mức độ phân tử (phân tích DNA, RNA) hoặc cả ở
mức độ tế bào và phân tử (kỹ thuật FISH). Tất cả xét nghiệm này cần phải lấy
được tế bào hoặc DNA có nguồn gốc từ thai NST sử dụng thủ thuật xâm lấn
như sinh thiết gai rau trong 3 tháng đầu và chọc hút dịch ối trong 3 tháng giữa
thai kỳ.
Việc chẩn đoán trước sinh các bất thường NST bằng kỹ thuật nuôi cấy
tế bào ối và sau đó là tế bào gai rau với mục đích xác lập bộ nhiễm sắc thể đồ
(karyotype) của thai đã được thực hiện trên toàn thế giới vào cuối những năm
thập niên 60 và đầu thập niên 70, kỹ thuật này thực hiện mất rất nhiều công
sức và thời gian [28]. Sau đó khoảng những năm giữa của thập niên 90 thế kỷ
20, kỹ thuật FISH lai huỳnh quang tại chỗ ra đời, giúp khảo sát nhanh NST
13, 18, 21, X, Y từ mẫu máu, gai rau hoặc dịch ối, thường cho kết quả từ 4872 giờ nhưng độ nhạy tương đối thấp, chi phí tốn kém và mất nhiều công sức
[29],[30]. Đến khoảng 2001, kỹ thuật di truyền phân tử QF-PCR (quantitative
fluorescent polymerase chain reaction) đã được chấp nhận giúp chẩn đoán
nhanh các bất thường NST bằng cách khảo sát và định lượng các trình tự STR
(short tandem repeat) đặc trưng của NST bằng các cặp mồi gắn huỳnh quang
[31]. Phương pháp này cho kết quả nhanh trong vòng 48 giờ, có độ nhạy và
độ đặc hiệu cao, với ưu điểm nổi bật là năng suất cao và giá thành thấp.
Để có mẫu nghiệm phẩm phục vụ chẩn đoán xác định cho các trường
hợp thai có nguy cơ cao phát hiện qua sàng lọc, các thai phụ sẽ được thực
hiện các thủ thuật xâm lấn như sinh thiết gai nhau, chọc hút dịch ối, hay lấy
máu cuống rốn. Các thủ thuật này có thể ảnh hưởng đến sự phát triển thai
hoặc gây sẩy thai từ 0,5% đến 1 hay 2% tùy phương pháp. Tỉ lệ dương tính
giả 5 - 7% của xét nghiệm sàng lọc có nghĩa là sẽ có 5 đến 7% thai phụ phải
làm xét nghiệm chẩn đoán xâm lấn không cần thiết, dẫn đến tăng số thai phụ


14

bị sẩy thai do thủ thuật ngoài ý muốn. Ngoài ra các hạn chế về tỉ lệ dương tính
giả cao và tỉ lệ phát hiện thấp gây khó khăn cho bác sĩ khi tư vấn và làm cho
thai phụ và gia đình lo lắng, hoang mang không cần thiết. Do đó, phát triển
các phương pháp sàng lọc không xâm lấn có tỉ lệ phát hiện cao hơn với tỉ lệ
dương tính giả thấp hơn là hết sức cần thiết và là ưu tiên của lĩnh vực sản
khoa [5].
1.2.2. Các phương pháp sàng lọc truyền thống
Ở thập niên 80, sàng lọc trước sinh chủ yếu dựa vào tuổi mẹ nhưng chỉ
phát hiện được khoảng 30% các trường hợp lệch bội NST (trisomy). Năm
1987, thử nghiệm triple test là phương pháp phối hợp tuổi mẹ với ba xét
nghiệm hoá sinh trong máu mẹ gồm AFP (alpha fetoprotein), βhCG (beta
human chorionic gonadotropin) và uE3 (unconjugated estriol) khi thai từ 15
đến 20 tuần 6 ngày tuổi, đã được nghiên cứu và ứng dụng ở nhiều nước trên
thế giới đặc biệt là Hoa Kỳ, Canada [32],[33]. Sau đó, các phương pháp sàng
lọc tiến thêm một bước quan trọng khi kết hợp siêu âm đo độ mờ da gáy
(Nuchal translucency – NT) của thai khi thai từ 11 tuần đến 13 tuần 6 ngày
cùng với xét nghiệm double test là PAPP-A (pregnancy-associated plasma
protein A) và fb-hCG trong máu mẹ, gọi là xét nghiệm kết hợp hay combined
test [32]. Các xét nghiệm này được đưa vào chương trình chăm sóc trước sinh
nhằm sàng lọc, phát hiện sớm các thai phụ có nguy cơ cao bị bất thường NST
21, 18, 13, và đặc biệt là NST 21 ngay trong ba tháng đầu thai kỳ. Tuy nhiên
các xét nghiệm này chỉ có tỉ lệ phát hiện khoảng 65% (triple test) đến 85%
(combined test) với tỉ lệ dương tính giả từ 5 - 7% [3]. Trong khi còn có nhiều
tranh luận về thời điểm nên sàng lọc ở ba tháng giữa hay ba tháng đầu của
thai kỳ, thì năm 1999, chiến lược sàng lọc trước sinh phối hợp các XN cả ba
tháng đầu và ba tháng giữa thai kỳ thành một bộ XN tích hợp (integrated test)
để sàng lọc các tật dị bẩm sinh gồm T21, T18 và khuyết tật ống thần kinh


15

[33]. Đây được coi là một giải pháp tối ưu, nâng tỉ lệ phát hiện lên tới 94%
với tỉ lệ dương tính giả 5%. Nếu giảm tỉ lệ dương tính giả xuống từ 0,8% đến
1,5% thì tỉ lệ phát hiện tương ứng sẽ là từ 85% đến 87%. Số chênh mang thai
có HC Down ở thai phụ có sàng lọc nguy cơ cao (Odds of being Affected
Positive Result - OAPR) là 1:7, vượt trội so với XN bộ ba sàng lọc triple test
OAPR 1:77 và combined test 1:35 [33]. Như vậy các XN sàng lọc trước sinh
trên vẫn bị giới hạn bởi độ nhạy và độ đặc hiệu chưa tối ưu, xét nghiệm phải
thực hiện nhiều bước kể cả phải siêu âm đo NT mà chỉ được thực hiện bởi các
bác sĩ có chứng nhận đo NT của Hiệp hội Y khoa thai nhi Fetal Medicine
Foundation – FMF). Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, xét nghiệm sàng lọc và
chẩn đoán trước sinh tập trung chủ yếu ở ba tháng đầu thai kỳ, với hy vọng
phát hiện sớm các trường hợp nguy cơ cao để có thể đình chỉ thai nghén các
trường hợp thai bị khuyết tật nặng nề một cách an toàn.
Bảng 1.1 là phân tích tổng hợp tỷ lệ phát hiện và tỷ lệ dương tính giả
trisomy 21 của các xét nghiệm sàng lọc bất thường NST 21 của Nicolaides
năm 2003 [3].
Bảng 1.1: Tỷ lệ phát hiện trisomy 21 và tỷ lệ dương tính giả của các xét
nghiệm sàng lọc
Xét nghiệm sàng lọc
DR (%)
FPR (%)
Tuổi mẹ (TM)
30 (hoặc 50)
5 (hoặc 15)
Double test
60
5
TM + độ mờ da gáy của thai nhi ở tuần
75 (hoặc 70)
5 (hoặc 2)
thai thứ 11 – 14
TM + độ mờ da gáy + xương mũi của thai
90
5
ở tuần thai thứ 11 – 14
Combined test
90 (hoặc 80)
5 (hoặc 2)
Combined test + xương mũi của thai
97 (hoặc 95)
5 (hoặc 2)
Triple test
60 - 70
5
Siêu âm để phát hiện các khuyết tật và
các dấu ấn chỉ điểm (markers) ở thai nhi
75
10 - 15
vào tuần thai thứ 16 – 23
DR: Tỷ lệ phát hiện; FPR: tỷ lệ dương tính giả


16

Sự ra đời của các hệ thống giải trình tự gen thế hệ mới (Next
Generation Sequencing – NGS) đã giúp việc nghiên cứu các trường hợp bệnh
lý đa gen như ung thư (gan, vú, phổi…) hay các bệnh di truyền ngày càng đơn
giản hoá với chi phí tối ưu. Nổi bật trong đó phải kể đến là ứng dụng của
NGS trong các xét nghiệm sàng lọc trước sinh, dựa trên các nghiên cứu của
Dennis Lo và cộng sự phát hiện được DNA thai tự do (cell free fetal DNA cffDNA) lưu hành trong máu người mẹ được phát hiện lần đầu vào năm 1997
để từ đó có thể phát hiện các trường hợp thai phụ mang thai lệch bội NST 21,
18 và 13 với chỉ 10 ml máu mẹ.
1.3. Phương pháp sàng lọc trước sinh từ DNA thai tự do trong máu mẹ
Năm 1997, Dennis Lo và cộng sự nghiên cứu tìm DNA của NST Y
trong máu của 43 thai phụ (gồm 30 thai nam và 13 thai nữ) và 10 người phụ
nữ không mang thai [34]. Kết quả cho thấy các phụ nữ không mang thai và
thai phụ mang thai nữ không có NST Y trong máu. Trong khi đó, NST Y lại
có trong 80% các mẫu huyết tương, 70% các mẫu huyết thanh và 17% mẫu tế
bào máu có nhân của 30 thai phụ mang thai kỳ nam [35]. Đây là phát hiện
mang tính bước ngoặt gợi ý khả năng ứng dụng phát hiện DNA tự do thai
trong máu mẹ (cffDNA) trong việc phát hiện một số bất thường của thai trong
lĩnh vực xét nghiệm trước sinh không xâm lấn. Phương pháp này trở thành xu
hướng tiên tiến, được ủng hộ rộng rãi vì phân lập và phân tích cffDNA không
cần phải thực hiện các thủ thuật xâm lấn như chọc hút dịch ối, sinh thiết gai
nhau hoặc lấy máu cuống rốn nên không gây biến chứng trên mẹ và thai [36].
Đã có nhiều xét nghiệm trước sinh không xâm lấn (NIPS) được phát
triển dựa trên cffDNA/RNA nhằm sàng lọc sớm nhiều tình trạng và bệnh lý
khác nhau. Ứng dụng cffDNA đầu tiên trong chẩn đoán trước sinh là xét
nghiệm kiểu gen RhD trong nhóm máu Rh và giới tính của thai nhằm chẩn
đoán nguy cơ mắc các bệnh di truyền liên kết NST X. Sau đó, cffDNA tiếp


17

tục được nghiên cứu để chẩn đoán xác định các bệnh đơn gen như:
Thalassemia, Huntington, xơ nang và loạn dưỡng cơ Duchenne [37]. Tuy
nhiên, ứng dụng mang ý nghĩa lớn nhất của cffDNA chính là việc cho phép
sàng lọc các bất thường NST của thai đặc biệt các trường hợp trisomy 21, 18
và 13 với độ nhạy và độ đặc hiệu cao ở giai đoạn rất sớm (từ tuần thai thứ 10).
Điều này mở ra hướng đi mới cho việc xây dựng các phác đồ sàng lọc và chẩn
đoán các trường hợp thai bệnh lý cho các thai phụ.
Trước khi phương pháp giải trình tự gen thế hệ mới ra đời, đã có một
vài phương pháp dựa trên PCR sử dụng cffDNA/RNA như (1) phương pháp
tính tỉ lệ alen RNA/SNP: dựa trên cffRNA, đây là phương pháp có độ nhạy và
độ đặc hiệu cao trong việc tầm soát lệch bội NST 21. Phương pháp này tính tỉ
số alen cho một SNP trong các phân tử mRNA có nguồn gốc rau thai hiện
diện trong máu mẹ. Chiến lược RNA/SNP chỉ phù hợp với các thai phụ có
thai dị hợp tử đối với SNP được nghiên cứu. Phương pháp này có thể dựa trên
phương pháp phổ khối (MS) hoặc digital PCR giúp tăng cường độ chính xác.
(2) Phương pháp dựa trên chỉ thị methyl hóa của thai: dựa trên sự khác biệt
về đặc điểm methyl hoá bộ gen giữa thai nhi và người mẹ để xác định sự lệch
bội NST. Nhược điểm của phương pháp này là lượng cffDNA chỉ chiếm
khoảng 3-10% lượng cfDNA trong máu mẹ, vì vậy rất khó khăn cho việc
phân tích kết quả và làm tăng giá trị dương tính giả. Các xét nghiệm dựa trên
nguyên lý PCR này có hạn chế về tính đặc hiệu và độ nhạy của các cặp mồi
PCR. Đồng thời, do đa số cfDNA có nguồn gốc từ mẹ và hơn 90% đồng hợp
tử giữa mẹ và thai dẫn đến khó khăn thường gặp phải là “tín hiệu nền” DNA
người mẹ quá cao làm nhiễu thông tin di truyền của thai và đòi hỏi nhiều thời
gian, công sức [38],[39]. Đây chính là trở ngại rất lớn khi khảo sát lệch bội ở
thai. Để nhận diện và xác định số lượng các NST của thai trong máu mẹ cần
phải phân tích hàng loạt các đặc điểm đa hình của NST thai và NST mẹ, so


18

sánh, đối chiếu, thống kê, định lượng tỉ lệ giữa các NST này. Việc này yêu cầu
phải sử dụng phương pháp giải trình tự gen thế hệ mới với năng suất cao và
công nghệ tin sinh học (bioinformatics). Trong bối cảnh đó, việc áp dụng
phương pháp giải trình tự thế hệ mới (next generation sequencing - NGS)
nhằm khảo sát bất thường NST thai đã mở ra triển vọng mới cho các nhà
nghiên cứu di truyền trong lĩnh vực sản và nhi [40],[41].
1.3.1. Đặc điểm DNA thai tự do trong máu mẹ
DNA tự do (cell free DNA - cfDNA) lưu hành trong huyết tương của
người được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1948 [42]. Đây là các đoạn DNA
ngắn, đa số có kích thước khoảng 150 - 200bp và có nguồn gốc từ các tế bào
có nhân chết theo chương trình [43]. Đến năm 1997, Lo và cộng sự đã phát
hiện được cfDNA của thai nhi (cffDNA) trong máu thai phụ. Hầu hết cffDNA
trong máu mẹ có nguồn gốc từ tế bào gai rau thai và một phần nhỏ từ hệ
thống tạo máu của thai [34]. Các mảnh cffDNA được tạo thành và giải phóng
vào máu mẹ trong quá trình chết tự nhiên của các tế bào có nhân của gai rau
và có thể được phát hiện trong máu mẹ từ tuần thứ 7 của thai kỳ. Tỉ lệ
cffDNA của thai tăng dần theo tuổi thai và thường thay đổi trong khoảng 3 19% tổng số cffDNA trong máu mẹ, trung bình 10% [39]. Thời gian bán hủy
trung bình của cff-DNA là 16,3 phút (từ 4 - 30 phút), và mất sau khi sinh 2
giờ [44]. Đây là đặc tính rất hữu ích trong chẩn đoán thai kỳ hiện tại vì tránh
được nhầm lẫn với các thai kỳ trước.


19

Hình 1.3: DNA tự do lưu hành trong máu mẹ
1.3.2. Các phương pháp tiếp cận tin sinh học để xác định hàm lượng cffDNA
Một loạt các phương pháp tiếp cận NIPS sử dụng giải trình tự thế hệ mới
(NGS) đã được phát triển nhanh chóng trong y học lâm sàng hiện nay. Trong
những phương pháp tiếp cận như vậy, hàm lượng cffDNA là một thông số
quan trọng để đảm bảo độ chính xác cho kết quả xét nghiệm. Hàm lượng
cffDNA có thể xác định bằng phương pháp PCR định lượng hay giải trình tự
đồng thời toàn bộ DNA (massive parrallel sequencing - MPS) trong mẫu
huyết tương thai phụ, sau đó hàm lượng cffDNA có thể được xác định bằng
các phương pháp như đếm số lượng đoạn trình tự được đọc (reads), trình tự
khác biệt về trạng thái methyl hoá, hoặc các điểm đa hình đơn nucleotide
(SNPs) đặc trưng cho thai nhi.
Trong sàng lọc lệch bội NST thì hàm lượng cffDNA thấp hơn 4% trong
huyết tương thai phụ cần phải được kiểm tra qua các bước kiểm chuẩn chất
lượng, bởi hàm lượng cffDNA quá thấp sẽ gây kết quả âm tính giả trong lúc
phát hiện và phân tích NST bất thường [51]. Vì vậy, điều quan trọng là phải
xác định chính xác hàm lượng cffDNA, đảm bảo hàm lượng cffDNA phải lớn
hơn ngưỡng tiêu chuẩn (4%) nhằm đảm bảo số lượng DNA thai cần thiết
trong quá trình giải trình tự. Thêm vào đó, cffDNA đã được đưa vào các thuật
toán tin sinh học trong nhiều phòng thí nghiệm trên thế giới [52].
Hiện nay có nhiều thuật toán được nhiều công ty thương mại phát triển
và lượng cffDNA của mỗi thuật toán cũng khác nhau. Các thuật toán xác định
hàm lượng DNA thai tự do phụ thuộc vào phương pháp tiếp cận của từng mô
hình [49]. Phương pháp điển hình dựa vào sự tồn tại của NST Y (Y
chromosome-based) để tính toán hàm lượng DNA thai chỉ áp dụng cho những
thai phụ mang thai nam. Phương pháp dựa vào sự khác biệt về trạng thái
methyl hoá một số vùng trong bộ gen giữa mẹ và thai (methylation-based) với


20

nhược điểm xử lý bisulfite toàn bộ hệ gen quá tốn kém và không thể áp dụng
cho xét nghiệm NIPS thường quy. Phương pháp dựa vào sự khác biệt của một
số điểm đa hình giữa thai và mẹ (SNP-based) để ước lượng hàm lượng DNA
thai, với nhược điểm cần thông tin về các điểm đa hình khảo sát của cả bố và
mẹ; Phương pháp dựa vào kích thước của cfDNA (size-based) dựa trên lí
thuyết các phân mảnh DNA thai thường ngắn hơn cfDNA của mẹ, sự phân bổ
của DNA thai thường nằm trong khoảng 100-150bp trong khi đó thì DNA mẹ
thường nằm trong khoảng 163-169bp. Tỉ số giữa 2 phân đoạn này cho mối
tương quan với giá trị ước lượng của hàm lượng DNA thai, nhược điểm của
phương pháp phải thực hiện giải trình tự 2 chiều (paired-end sequencing) để
xác định chiều dài của các đoạn DNA [55]; Phương pháp dựa vào đếm số
lượng đoạn đọc (count-based hay SeqFF) là mô hình ước lượng hàm lượng
DNA thai dựa trên trực tiếp dữ liệu giải trình tự của mẫu, chỉ cần giải trình tự
1 đầu (single-end sequencing), trình tự bộ gen được chia thành nhiều vùng
(bin) có kích thước 50kb, trên mỗi bin cho thấy được tỉ số kích thước của
phân đoạn DNA (tỉ số số reads có kích thước <150bp (thai) và số reads có
kích thước <600bp (mẹ)) [19]. Sau khi thực hiện một số thuật toán bù trừ cho
tình trạng GC bias, tỉ số này sẽ đại diện cho hàm lượng cffDNA trong mô
hình hồi quy được xây dựng với nhóm mẫu đã biết trước hàm lượng cffDNA
thai (nhóm mẫu sử dụng để đào tạo mô hình hồi quy).
1.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả phân tích DNA thai tự do
Tỉ lệ cffDNA càng thấp, mức độ chênh lệch giữa NST quan tâm và
NST tham khảo càng giảm, hay sự khác biệt giữa NST quan tâm và NST tham
khảo (NST thường) là không rõ ràng, làm giảm độ nhạy. Tỉ lệ phần trăm
cffDNA trong huyết tương thai phụ là một giá trị biến động và có thể bị ảnh
hưởng bởi rất nhiều yếu tố khác nhau. Thao tác kĩ thuật xử lý mẫu và phân lập
DNA có thể ảnh hưởng tới độ biến động của hàm lượng DNA thai tự do. Các


21

yếu tố sinh học từ mẹ hoặc thai cũng có thể ảnh hưởng đáng kể. Trong đó có
bốn nguyên nhân chính trực tiếp tác động tới hàm lượng DNA thai tự do gồm
có cân nặng thai phụ, tuổi thai, đa thai và thai bị lệch bội.
1.3.3.1. Cân nặng của thai phụ
Cân nặng và/hoặc chỉ số trọng lượng cơ thể (BMI) của thai phụ là yếu
tố ảnh hưởng nhiều nhất tới hàm lượng DNA thai tự do. Béo phì trong giai
đoạn thai kì là nguyên nhân dẫn tới hàm lượng DNA thai tự do thấp, rất nhiều
nghiên cứu độc lập đã chứng minh điều này [3],[57]. Hàm lượng DNA thai tự
do thấp ở thai phụ bị béo phì có thể do bị hiệu ứng pha loãng từ sự tăng hàm
lượng cfDNA của thai phụ trong hệ tuần hoàn. Hơn nữa, gia tăng lượng
cfDNA của thai phụ được giải phóng từ quá trình apoptosis/necrosis của tế
bào thành mạch nền và tế bào mô mỡ ở những thai phụ béo phì [57].
1.3.3.2. Tuổi thai
Tuổi thai cũng là một yếu tố tác động hàm lượng cffDNA. Nghiên cứu
của Wang và cộng sự đã ghi nhận mức độ DNA thai tự do tăng trong suốt giai
đoạn thai kì, với mức tăng ban đầu là 0,1% mỗi tuần từ tuần 10 đến tuần 20 và
tăng nhanh với mức 1% mỗi tuần kể từ tuần 21 trở đi [57]. Nhiều nghiên cứu
cho thấy có thể phát hiện cffDNA từ tuần thứ 7 của thai kì, tuy nhiên do hàm
lượng cffDNA rất thấp, làm cho kết quả có nguy cơ cao là âm tính giả [48].
Chính vì vậy, họ đề nghị chỉ nên thực hiện các xét nghiệm tầm soát liên quan
đến cffDNA từ tuần thứ 10 trở đi sẽ cho kết quả đáng tin cậy với độ chính xác
cao [54].
1.3.3.3. Lệch bội nhiễm sắc thể thai nhi
Lệch bội nhiễm sắc thể của thai nhi cũng ảnh hưởng tới hàm lượng
cffDNA, tuỳ thuộc vào bất thường của từng nhiễm sắc thể. Trường hợp thai
nhi bị lệch bội nhiễm sắc thể 21 thường có hàm lượng DNA tự do không thay


22

đổi so với trường hợp thai bình thường. Nhưng trong trường hợp lệch bội
nhiễm sắc thể 13 và 18 và đơn bội nhiễm sắc thể X thì hàm lượng DNA thai
tự do lại có xu hướng giảm (p=0.004). Nguyên nhân của thay đổi hàm lượng
DNA thai với trường hợp T18 và T13 có thể do chu trình tế bào nhau thai dài
hơn bình thường [57]. Chính vì hàm lượng DNA thai khác nhau giữa các
trường hợp bất thường lệch bội nên độ chính xác của NIPS trong sàng lọc T21
thường chính xác hơn so với T18 và T13 [59].
1.3.3.4. Đa thai
Tỷ lệ cffDNA sẽ cao hơn ở trường hợp đơn thai. Ở thai phụ mang thai
đôi, tỷ lệ cfDNA của từng thai thấp hơn khoảng 30-50% so với những trường
hợp mang thai đơn lẻ [94],[95]. Gromminger và cộng sự [96] cho rằng tỷ lệ
cfDNA tối thiểu trong trường hợp thai đôi là 8%, nghĩa là cffDNA/thai
thường thấp hơn thai đơn khi đánh giá độ chính xác của NIPS [89]. cffDNA
của mỗi thai là khác nhau, do vậy không nên chia đều cho 2 thai. Trong
trường hợp thai phụ mang thai đôi, một thai chết trong tử cung, kết quả là còn
một thai đơn độc gọi là vanishing twin. Vanishing Twin xảy ra ở 27-41% thai
phụ. DNA rau thai của thai chết có thể tồn tại ít nhất 8 tuần sau đó, tuy nhiên
vẫn chưa có nghiên cứu rõ ràng rằng sau bao lâu thì cffDNA này tiêu biến
trong huyết tương mẹ [119]. Nếu việc một trong 2 thai chết sẽ gây ra sự mất
cân bằng, điều này có thể gây ra kết quả dương tính giả [119].
1.3.3.5. Hiện tượng khảm ở rau thai (CPM: Confined Placental Mosaicism)
cffDNA có nguồn gốc từ tế bào lá nuôi rau thai, xuất hiện trước khi có
tuần hoàn thai [103]. Bởi vì nguồn gốc cffDNA là từ rau thai, NIPS có thể đưa
ra kết quả dương tính cho hiện tượng khảm ở rau thai (CPM). Trong CPM,
một vài hoặc tất cả tế bào nuôi bao gồm trisomy, trong khi thai lại là disomic.
CPM được báo cáo vào khoảng 1-2% trong thai kỳ 1 [104]. CPM hay gặp trên


23

NST 21, 18, 13, các NST khác ít gặp hơn [105],[106].
Mặc dù đưa ra kết quả sai lệch do hiện tượng khảm ở rau thai và không
đại diện cho NST thai, tuy nhiên phát hiện này vẫn có ý nghĩa lâm sàng. CPM
có thể liên quan đến rối loạn chức năng rau thai (ví dụ, dẫn đến chứng giảm
dịch ối) và có thể gây hạn chế phát triển thai trong buồng tử cung (IUGR),
tăng huyết áp thai kỳ, sinh non [50],[107],[108].

1.3.3.6. Thai phụ
Thai phụ có bất thường NST như hội chứng siêu nữ (47,XXX), bệnh ác
tính như ung thư cổ tử cung và ung thư vú, u da ác tính, u lympho... [116]
hoặc mức thấp khảm NST [111], đây là nguyên nhân hiếm gặp gây kết quả
NIPS dương tính giả.
1.3.4. Ứng dụng lâm sàng của cffDNA trong huyết tương mẹ
Phương pháp định lượng cffDNA trong huyết tương mẹ đã được ứng
dụng trong lâm sàng để sàng lọc trước sinh không xâm lấn phát hiện lệch bội
NST thai đặc biệt là hội chứng Down. Ngoài ra, cffDNA còn được ứng dụng
trong xác định giới tính thai, chẩn đoán tiền sản giật, chẩn đoán kiểu gen Rh
của thai và một số bệnh di truyền đơn gen.
1.3.4.1. Xác định giới tính thai
Việc xác định giới tính thai được sử dụng để theo dõi quản lý thai phụ
có nguy cơ mang thai mắc các bệnh di truyền liên kết NST giới tính X như
bệnh tăng sản thượng thận bẩm sinh... Sàng lọc trước sinh không xâm lấn
giúp xác định giới tính thai có thể thực hiện từ tuần thai thứ 7 [71]. Sử dụng
cffDNA xác định giới tính thai nhi dựa vào việc phát hiện các trình tự SRY
hoặc DYS14 trong huyết tương mẹ từ NST Y có khả năng làm giảm tỷ lệ thai


24

phụ bị yêu cầu làm thủ thuật xâm lấn, do vậy giảm giá thành khi phải thực
hiện thêm thủ thuật xâm lấn [53]. Bên cạnh đó, cffDNA xác định giới tính có
thể là một trợ giúp cực kỳ hữu ích cho các chẩn đoán siêu âm của một số hội
chứng di truyền có nhiều bất thường, đặc biệt là sự mơ hồ về bộ phận sinh
dục [73].
1.3.4.2. Xác định nhóm máu RhD của thai
Phân tích cfDNA trong huyết tương mẹ còn được ứng dụng để xác định
nhóm máu RhD thai ở những bà mẹ mang thai có RhD (-). Khi người mẹ RhD
(-) mang thai RhD (+) có nguy cơ tạo ra kháng thể chống lại hồng cầu có RhD
(+) của thai có thể qua rau thai và sẽ hủy hoại các hồng cầu và gây ra bệnh tan
máu (HD - hemolytic disease) trầm trọng, vàng da nặng cho thai và trẻ sơ sinh
có thể dẫn đến tử vong. Việc phát hiện RhD bằng cffDNA đã được sử dụng
rộng rãi trong nhiều năm trên toàn thế giới ở những phụ nữ mang thai có nguy
cơ cao về bệnh tan máu giúp cho việc quản lý thai nghén [74].
1.3.4.3. Phát hiện các trường hợp mang thai có nguy cơ tiền sản giật
Tiền sản giật là một hội chứng sản khoa xảy ra từ tuần 20 thai kỳ bao
gồm các dấu hiệu tăng huyết áp, phù và protein niệu, nếu không phát hiện và
điều trị kịp thời sẽ gây biến chứng thậm chí tử vong cho cả mẹ và thai. Cho
đến nay, vẫn chưa có một thông số nào đáng tin cậy nào được sử dụng để dự
đoán sự phát triển của tiền sản giật, nhiều nhà nghiên cứu đang cố gắng tìm ra
các kỹ thuật mới nhằm phát hiện sớm tiền sản giật. Sau khi phát hiện ra
cffDNA bởi Lo và cộng sự vào năm 1997, hai năm sau đó, trong một nghiên
cứu trên 20 thai phụ bị tiền sản giật, đã chứng minh rằng nồng độ cffDNA
trên thai phụ tiền sản giật tăng cao gấp 5 lần so với thai phụ bình thường [76].
Quan trọng hơn, nồng độ cffDNA dường như tăng trước khi xuất hiện các


25

triệu chứng lâm sàng của bệnh và có thể được sử dụng như là một dấu hiệu dự
báo tiền sản giật, ít nhất là đối với loại nặng và giai đoạn cấp bệnh tiền sản
giật [68]. Có rất nhiều có chế phức tạp gây ra bệnh lý tiền sản giật trong đó có
sự kết hợp của apoptosis, thiếu oxy và các con đường của quá trình viêm.
1.3.4.4. cffDNA và hội chứng thai chậm phát triển trong buồng tử cung
(intrauterine growth restriction - IUGR)
Hội chứng thai chậm phát triển trong buồng tử cung (IUGR) là một rối
loạn phức tạp của thai kỳ do nhiều nguyên nhân khác nhau. IUGR đặc trưng
bởi việc chậm phát triển của thai bao gồm trọng lượng thai tại thời điểm thăm
khám và sự phát triển của thai và có liên quan đến bệnh suất và tử vong chu
sinh, cũng như bệnh tim mạch khi trưởng thành [88]. Mặc dù có rất nhiều
nguyên nhân khác nhau gây ra IUGR, tuy nhiên rối loạn chức năng rau thai là
một trong những nguyên nhân chủ yếu. Một nghiên cứu của Smid và cộng sự
năm 2006 cho thấy nồng độ cffDNA tăng cao ở thai IUGR [90]. Nồng độ
cffDNA cao hơn rõ rệt ở những phụ nữ mang thai IUGR so với thai phụ bình
thường [91],[92], có thể liên quan đến sự thiếu dinh dưỡng rau thai [92].
1.3.4.5. cffDNA và sinh non
Sinh non là sinh trước tuần thứ 37 của thai kỳ, là nguyên nhân chính gây
tử vong sơ sinh và những biến chứng lâu dài ở trẻ sơ sinh [93]. Một số yếu tố
sinh lý đã được cho là liên quan tới sự phát triển của bệnh, chẳng hạn như sự
suy yếu do xâm lấn mạch - lá nuôi phôi và kích thích vật lý [94],[95],[96].
Việc phát hiện cffDNA sử dụng như là một chỉ điểm tiên đoán về rối
loạn chức năng giảm ôxy máu rau thai gây sinh non đã được chú ý nhiều năm
qua. Năm 2005, Farina và cộng sự đã chứng minh rằng nồng độ cffDNA tăng


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×