Tải bản đầy đủ (.docx) (14 trang)

ĐỀ CƯƠNG môn luật HNGĐ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (132.97 KB, 14 trang )

ĐỀ CƯƠNG MÔN

LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Câu 1. Hãy phân tích các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật HNGĐ năm
2014?
Kết hôn là việc hai bên nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định
của luật HNGĐ về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn. Điều kiện kết hôn là một
trong những nội dung quan trọng của LHNGĐ. Điều kiện kết hôn là chuẩn mực pháp
lý để xác lập quan hệ hôn nhân và xây dựng gia đình theo khuôn mẫu nhất định phù
hợp với lợi ích chung của nhà nước và xã hội. Các điều kiện kết hôn đã đi vào cuộc
sống và trở thành thói quen tốt đẹp của cuộc sống hôn nhân và gia đình ở nước ta.
Điều kiện kết hôn được quy định theo điều 8 luật HNGĐ năm 2014:
1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a, Nam từ ‘đủ 20t, nữ từ đủ 18t trở lên”
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “ Nam từ đủ 20t trở
lên, nữ từ đủ 18t trở lên” mới được phép đăng kí kết hôn. Trong xã hội tiến
bộ như ngày này, Luật quy định độ tuổi kết hôn nhằm đảm bảo sự phát triển
toàn diện về mọi mặt của người nam và nữ. Đủ chính chắn, trách nhiệm để
làm cha mẹ, con cái được sinh ra phải đủ tình thương của một gia đình, phải
được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và phát triển 1 cách bình thường. Đồng
thời việc quy định về độ tuổi này là để đảm bảo sức khỏe cộng đồng. Một số
nghiên cứu chỉ ra rằng: Các bà mẹ sinh con trước tuổi 18 thường hay gặp các
vấn đề về sức khỏe.
Việc quy định độ tuổi kết hôn có sự chênh lệnh giữa nam và nữ cũng là điều
thường thấy trong pháp luật Hôn nhân và Gia đình của các quốc gia. Hơn nữa,
chúng ta đều phải công nhận một thực tế rằng trong hầu hết các gia đình Việt
Nam thì người đàn ông thường đóng vai trò trụ cột. Để làm được như vậy đòi
hỏi người nam khi kết hôn phải đạt đến một mức độ phát triển nhất định về thể
chất và nhận thức.
Việc tính tuổi tròn như Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (nam từ đủ 20, nữ từ
đủ 18) sẽ tránh vận dụng tùy tiện các quy định về độ tuổi kết hôn. Trước đây,


chỉ cần bước sang tuổi 18 đối với nữ và 20 tuổi đối với nam là được phép kết
hôn. Điều đó dễ dàng tạo ra những khe hở nhất định để các bên kết hôn vi phạm
điều kiện về độ tuổi, tránh các trường hợp tảo hôn.
b, việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định.
Quy định này nhằm đề cao tính độc lập về suy nghĩ và sự tự nguyện, chủ
động quyết định dựa trên tình cảm, tình yêu của mỗi bên nam, nữ khi kết hôn.
Đây cũng là đặc điểm quan trọng của chế độ hôn nhân tiến bộ, khác với chế độ
hôn nhân cổ hủ thời phong kiến với quan niệm “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”,
ép buộc một bên hoặc cả 02 bên nam nữ phải kết hôn trái với ý chí, nguyện
vọng, tình cảm của mình. Đồng thể hiện sự bình đẳng giới trong vấn đề hôn
nhân, con gái không còn bị yếu thế, không còn hình ảnh các cô gái trong tình
tình trạng gọi là “ bắt vợ”. Tạo nên một cuộc sống hôn nhân tiến bộ, gia đình
hạnh phúc, vợ chồng cùng đồng thuận, tự do thể hiện ý chí của bản thân. Hôn
nhân 1 vợ 1 chồng.
1


Để đảm bảo việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện thì pháp luật cũng có một
số quy định như sau chấm:
+ Thứ nhất, Những người muốn kết hôn phải cùng có mặt tại cơ quan
đăng ký kết hôn nộp tờ khai đăng ký kết hôn và kí đủ 3 chữ kí.
+ Thứ hai, pháp luật không cho phép cử người đại diện trong việc đăng
ký kết hôn đồng thời cũng không cho phép những người kết hôn vắng mặt tại lễ
đăng ký kết hôn.
+ Thứ ba, pháp luật quy định việc kết hôn phải không có hành vi cưỡng
ép kết hôn, lừa dối để kết hôn hoặc cản trở việc kết hôn tự nguyện, tiến bộ.
c, Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
Người bị mất năng lực hành vi dân sự là người do bị bệnh tâm thần hoặc
mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình. Theo
yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu

quan, TA ra quyết định tuyên bố người này là người người mất năng lực hành vi
dân sự trên cơ sở kết luận giám đinh pháp y tâm thần.
Nếu người bị mất năng lực hành vi dân sự kết hôn với người khác sẽ không đạt
được mục tiêu xây dựng được gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; sẽ ảnh hưởng
đến khả năng quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ người bạn đời của mình cũng như
các thành viên khác trong gia đình. Chưa kể người bị mất năng lực hành vi dân
sự kết hôn với người khác có thể ảnh hưởng đến chức năng sinh sản. Sở dĩ pháp
luật quy định người mất năng lực hành vi dân sự thì không được phép kết hôn
xuất phát từ tính nhân đạo để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng,
của con cái và của các thành viên khác trong gia đình. bởi vì sau khi kết hôn thì
họ phải thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của một người vợ, người chồng đối
với người còn lại và trách nhiệm, nghĩa vụ của người cha, người mẹ đối với các
con của mình.Mặt khác nếu một người mất năng lực hành vi dân sự mà kết hôn
thì việc kết hôn của họ không thể nào mà xác định được là họ có tự nguyện kết
hôn hay không. bởi vì họ không có khả năng nhận thức, không có khả năng làm
chủ hành vi của mình thì sự thể hiện mong muốn tự nguyện kết hôn của họ
cũng là bất khả thi. Chính vì thế mà người mất năng lực hành vi dân sự không
thể kết hôn
d, việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy
định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.
Theo đó, Cấm các hành vi sau đây kết hôn:
a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;
b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ
chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung
sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về
trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với
con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con
dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của

chồng;
Mọi
2


2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính
“Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới
tính”. Quy định như vậy có nghĩa là Nhà nước sẽ không cấm nhưng cũng
không công nhận mối quan hệ hôn nhân của những người cùng giới tính là hợp
pháp, không chấp nhận cho họ làm thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền. Những người cùng giới có thể làm lễ cưới, thực hiện các
nghi thức kết hôn như những cặp đôi nam nữ bình thường khác tuy nhiên pháp
luật lại không công nhận mối quan hệ của họ là hôn nhân hợp pháp, việc họ ăn
ở chung với nhau không làm phát sinh quyền, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm
như vợ chồng hợp pháp có đăng ký kết hôn. Việc nhà nước không thừa nhận
hôn nhân giữa những người đồng giới xuất phát từ chức năng duy trì nòi giống
của Hôn Nhân và xuất phát từ việc nếu công nhận hôn nhân đồng giới cũng có
nghĩa nhà nước đã trao quyền cho họ, việc đó buộc nhà nước phải có những
chính sách để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, cũng như có những sự
điều chỉnh trong những quy định của pháp luật nước mình cho phù hợp với việc
công nhận và việc này sẽ gây ra một sự xáo trộn rất lớn. Chính vì các lý do trên
mà nước ta không cấm cũng như không công nhận hôn nhân giữa những người
cùng giới tính
Từ những phân tích trên về điều kiện kết hôn chúng ta có thể thấy được rằng
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có sự điều chỉnh và hoàn thiện các quy
định của pháp luật về điều kiện kết hôn cho phù hợp với thực tiễn nước ta hiện nay.
Như vậy để việc kết hôn trong thời điểm này không trái với các quy định của pháp
luật thì hai bên khi đăng ký kết hôn phải đảm bảo được đầy đủ các điều kiện kết
hôn được quy định trong luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Câu 2. Nêu khái niệm kết hôn trái pháp luật, các trường hợp kết hôn trái pháp

luật và cách thức xử lí.
Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của
Luật HNGĐ về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn. Kết hôn trái pháp luật là hình
thức kết hôn không được pháp luật thừa nhận mặc dù trong chừng mực nào đó
hành vi kết hôn này có tuân thủ PL. Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng
ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi
phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật HNGĐ năm 2014.
Những trường hợp bị coi là kết hôn trái pháp luật:
Thứ nhất, vi phạm về độ tuổi khi kết hôn( tảo hôn). Tảo hôn là khi lấy vợ, lấy
chồng mà một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 8 của Luật này, cụ thể: Nữ kết hôn khi chưa đủ 18 tuổi Nam kết hôn
khi chưa đủ 20 tuổi.
Thứ hai, Tính tự nguyện kết hôn. Việc kết hôn giữa nam và nữ không dựa trên tinh
thần tự nguyện mà do Cưỡng ép kết hôn. Cưỡng ép kết hôn ở đây được hiểu là việc
đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác
để buộc người khác phải kết hôn trái với ý muốn của họ.
3


Thứ ba, Kết hôn khi bị mất năng lực hành vi dân sự: Theo quy định tại điều 22, bộ
luật Dân sự 2015, một người bị coi là mất năng lực hành vi dân sự khi người đó do
bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành
vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức
hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi
dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần. Nếu một trong hai người
tham gia kết hôn mà mất năng lực hành vi dân sự thì không được kết hôn.
Thứ tư, Vi phạm chế độ một vợ một chồng:
Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người
khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng
với người đang có chồng, có vợ thì vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng

theo quy định pháp luật.
Thứ năm, Kết hôn giả tạo: Theo khoản 11 điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm
2015, Kết hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập
quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc
để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình. Những
trường hợp trên không chỉ coi là kết hôn trái pháp luật, còn liên đới đến các nghĩa
vụ pháp lý liên quan khác mà luật cư trú, luật quốc tịch mà Việt Nam điều chỉnh.
Thứ sáu, Lừa dối kết hôn: Hành động được coi là lừa dối kết hôn bào gồm việc che
giấu thân phận thật và những thông tin hôn thú cá nhân của mình.
Thứ bảy, Kết hôn cận huyết: Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những
người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;
giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi,
cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế
với con riêng của chồng.
Qua trên , ta thấy được kết hôn trái pháp luật là việc kết hôn có đăng kí kết hôn
tại CQNN có thẩm quyền nhưng tại thời điểm kết hôn một hoặc cả hai bên tham
gia việc kết hôn vi phạm các điều kiện kết hôn do Luật định. Nói cách khác, việc
kết hôn này được cơ quan hộ tịch cấp giấy chứng nhận kết hôn nhưng việc kết hôn
đó không làm phát sinh quan hệ vợ chồng giữa nam và nữ do có vi phạm điều kiện
luật định. Việc kết hôn trái pháp luật sẽ không tạo dựng một gia đình hạnh phúc,
tiến bộ, sẽ phát sinh những hệ quả xấu về sau. Chính vì thế mà việc kết hôn trái
pháp luật sẽ bị xử lý theo quy định của PL và không được nhà nước bảo hộ như
việc kết hôn hợp pháp. Xử lý việc kết hôn trái pháp luật quy định ở điều 11 Luật
HNGĐ 2014
Người có hành vi vi phạm tùy theo tính chất và mức độ có thể bị xử lý theo dân
sự, hành chính hoặc xử lý hình sự.
Về mặt dân sự, nếu việc kết hôn vi phạm các điều kiện kết hôn theo quy định sẽ
bị nhà nước hủy việc kết hôn đó. Hủy việc kết hôn trái PL là chế tài nhằm xử lý
những hành vi vi phạm pháp luật hôn nhân và gia đình.
Việc xử lý hành chính sẽ theo Nghị định 110/2013/NĐ-CP ngày 24/09/2013 (có

hiệu lực từ 11/11/2013) Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư
pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình,..Tùy hành vi vi phạm mà mức phạt
tiền thấp nhất là 300.000 đồng và cao nhất là 30.000.000 đồng (Điều 28 và Điều 48).
Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình chủ yếu nhằm
mục đích giáo dục để cá nhân, tổ chức vi phạm nhận thức được sai phạm, tự nguyện
4


sửa chữa, thực hiện nghĩa vụ mà PL quy định hoặc chấm dứt hành vi VPPL và để răn
de, phòng ngừa.
Nếu hành vi kết hôn trái pháp luật có đủ yếu tố cấu thành tội phạm sẽ bị xử lý hình sự
theo các tội danh tương ứng của Bộ luật hình sự 2015. Tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản
trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ (Điều 146 BLHS) sẽ bị phạt cảnh cáo, cải tạo không
giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm. Tội vi phạm chế độ một vợ,
một chồng (Điều 147 BLHS). Nếu thuộc khoản 1 bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam
giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm; thuộc khoản 2 bị phạt tù từ 6 tháng
đến 3 năm. Tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn (Điều 148 BLHS) sẽ bị phạt cảnh cáo, cải
tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm. Tội đăng ký kết hôn
trái pháp luật (Điều 149 BLHS) sẽ bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 2 năm
hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức
vụ nhất định từ 1 năm đến 5 năm.
Kết hôn trái PL là một hành vi trái với quy định của PL và đạo đức xã hội.
Chính vì thế để tạo một gia đình hạnh phúc và phát triển toàn diện, cần nghiêm cấm
các hành vi kết hôn trái PL.
Câu 3. Hãy trình bày quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng đối với tài sản chung
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, quan hệ vợ chồng là quan hệ hôn nhân
được hình thành và tồn tại từ sự kiện kết hôn cho đến khi chấm dứt hôn nhân. Để hôn
nhân ổn định, lâu dài, bền vũng và hạnh phúc thì vấn đề vô cùng quan trọng đó là đời
sống vật chất ,kinh tế và tài sản của vợ và chồng. Thời kì hôn nhân có ý nghĩa trong
việc xác định thời điểm phát sinh tài sản chung. Vợ và chồng có những quyền và nghĩa

vụ cơ bản đối với tài sản chung trong thời kì hôn nhân.
Theo luật HNGĐ 2014, tại điều 33 quy định khá cụ thể về quyền sở hữu tài sản
chung của của vợ chồng, được phân thành các nhóm cụ thể.
Tài sản chung là tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kì hôn nhân, thu nhập do
lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh trong thời kì hôn nhân. Đay là nhóm tài sản
chủ yếu của vợ chồng, để duy trì, phát triển tài sản chung, chăm lo cho cuộc sống gia
đình thì phần lớn phải dựa vào loại tài sản này. Tài sản chung của vợ chồng có thể
được tạo ra từ ba nguồn: do vợ tạo ra, do chồng tạo ra, do cả hai cùng tạo ra. Thế
nhưng pháp luật vẫn quy định quyền bình đẳng giữa vợ và chồng với khối tài sản
chung trong thời kì hôn nhân.
Các khoản thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kì hôn nhân. Ở đây
có thể hiểu là những khoản thu nhập không thuộc nhóm tài sản thứ nhất. Đó có thể là
số tiền do vợ, chồng: trúng số, tiền thưởng, tiền trợ cấp,… Các khoản thu hợp pháp
này có thể do một mình chồng hoặc vợ có dược và thời điểm có đượ c này là trong thời
gian họ đang là vợ chồng với nhau.
TS chung là tài sản mà vợ, chồng được thừa kế chung, được tặng cho chung. Đây
là tài sản mà vợ chồng được chủ sở hữu thể hiện ý chí chuyển giao quyền sở hữu lại
cho cả hai vợ chồng. Tôn trọng quyền định đoạt của chủ sở hữu tài sản, PL xác định
những tài sản này là của chung của hai vợ chồng.
5


TS riêng của vợ, chồng nhưng họ đồng ý nhập vào khối TS chung. Quy định này
thể hiện rõ quyền tự định đoạt của vợ, chồng đối với tài sran thuộc sở hữu của mình,
vừa thể hiện quyền của vợ chồng trong việc quyết định về phạm vi các tài sản thuộc sở
hữu chung, đồng thời thể hiện rõ quan điểm của nhà nước ta: ưu tiên và khuyến khích
xây dưng, củng cố chế độ tài sản chung của vợ chồng, đảm bảo để vợ chồng có những
điều kiện vật chất tốt nhất trong việc xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ,
hạnh phúc.
TS chung của vợ và chồng được dùng để đảm bảo nhu cầu thiết yếu của gia đình,

để thực hiện các nhiệm vụ chung của vợ và chồng. Mục đích sử dụng tài sản chung của
vợ chồng, trước hết nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt trong gia đình như để ăn, ở,
mua sắm đồ dùng sinh hoạt,… phục vụ cho đời sống các thành viên trong gia đình về
vật chất và tinh thần, đồng thời dùng để thực hiện các nghĩa vụ về tài sản của cả hai vợ
chồng. Theo quy định này, về nguyên tắc vợ chồng không được lấy tài sản chung để
thỏa mãn các nhu cầu riêng, các bên chỉ có thể thực hiện điều này khi có sự thỏa thuận
của cả hai vợ chồng.
Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có
tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung. Đây là
quy định có ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn giải quyết tranh chấp về tài sản giữa vợ và
chồng. Quy định này là cơ sở pháp lý bảo vệ quyền tài sản của vợ chồng, họ phải cân
nhắc chính chắn, chuẩn bị kĩ lưỡng nếu xác định chứng cứ, lý lẽ mình đưa ra thuyết
phục cho yêu cầu của mình, mới quyết định khởi kiện. Như vậy sẽ tránh được kiện
tụng kéo dài, mất thời gian, tiền bạc của các bên.
Không những vậy vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với TS
chung( cùng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt TS chung, bình đẳng với nhau không phân
biệt giữa lao động trong gia đình hay lao động có thu nhập. Việc xác lập, thực hiện
các giao dịch dân sự liên quan đến TS chung của vợ, chồng cần phải được sự đồng ý
của cả vợ và chồng.Tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của mỗi gia đình mà có sự bàn
bạc, thỏa thuận, phân công giữa vợ và chồng trong việc quản lý tài sản chung. Việc
quản lý tài sản chung của vợ chồng đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tiến bộ.
Vợ, chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với các giao dịch do một bên thực
hiện. Về nguyên tắc, khi vợ hoặc chồng thực hiện một giao dịch liên quan đến tài sản
chung, phải có sự đồng ý của hai vợ chồng. Tuy nhiên để đáp ứng một cách kịp thời
quyền lợi cho các thành viên trong gia đình, trong một số trường hợp, giao dịch của
vợ, chồng liên quan đến tài sản chung có thể chỉ do một bên thực hiện, phía bên kia
cho dù không biết hoặc biết nhưng không đồng ý vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm.
Đối với các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn, tài sản
chung là nguồn sống duy nhất của đình hoặc dùng tài sản chung để kinh doanh phải có
sự bàn bạc, thỏa thuận của hai vợ chồng.

Theo quy định tại điều 37 luật HNGĐ 2014 quy định nghĩa vụ của của vợ chồng
đối với tài sản. Ngoài ra vợ chồng còn có quyền trong việc yêu cầu phân chia tài sản
6


chung trong thời kì hôn nhân quy định tại Điều 38 Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2014. Tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung nhất có thể phân chia,
do đó, trong thời kì hôn nhân, vợ, chồng có quyền yêu cầu phân chia tài sản chung của
mình. Tuy nhiên, quyền yêu cầu chia tài sản chung của các bên chỉ được PL thừa nhận
nếu họ chứng minh được việc phân chia này là có căn cứ, cụ thể là để đầu tư kinh
doanh riêng; thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác. Vợ chồng
có quyền tự thỏa thuận với nhau trong việc phân chia tài sản chung. Trong trường hợp
không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu TA phân chia. Vợ chồng có thể yêu cầu
phân chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung.
Vợ chồng có quyền lựa chọn chế độ tài sản. Dù áp dụng chế độ tài sản nào đi
nữa thì cũng phải tuân thủ những nguyên tắc chung đó là: đảm bảo quyền bình đẳng
với nhau về quyền và nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng tài sản. Đảm
bảo được lợi ích chung của gia đình. Và cuối cùng là đảm bảo quyền lợi của người thứ
ba ngay tình. Tất cả đều hướng đến mục đích xây dựng một gia đình bình đẳng, đầy
đủ, hạnh phúc, tiến bộ. Và vợ chồng đều có những quyền và nghĩa vụ cơ bản về tài sản
chung trong thời kì hôn nhân.
Câu 4. Hãy trình bày quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng đối với tài sản riêng
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, quan hệ vợ chồng là quan hệ hôn nhân
được hình thành và tồn tại từ sự kiện kết hôn cho đến khi chấm dứt hôn nhân. Để hôn
nhân ổn định, lâu dài, bền vũng và hạnh phúc thì vấn đề vô cùng quan trọng đó là đời
sống vật chất, kinh tế và tài sản của vợ và chồng. Thời kì hôn nhân có ý nghĩa trong
việc xác định thời điểm phát sinh tài sản. Vợ và chồng ngoài có những quyền và nghĩa
vụ cơ bản đối với tài sản chung trong thời kì hôn nhân. Thì còn có những quy định về
tài sản riêng.
Điều 43 Luật HNGĐ 2014 quy định tài sản riêng của vợ chồng. Theo đó được

hiểu tài sản riêng của vợ, chồng có trước khi kết hôn. Tài sản mà vợ, chồng được thừa
kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kì hôn nhân. Tài sản chung của vợ và chồng
nhưng họ đã chia riêng. Tài sản phục vụ cho nhu cầu thiết của vợ, chồng (đồ dùng cá
nhân và tư trang). Vợ chồng được toàn quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt TS của
mình ( phù hợp với quy định của PL). Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ,
chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi lợi tức phát sinh từ tài sản riêng
trong thời kì hôn nhân.
Với việc thừa nhận quyền có tài sản riêng của vợ, chồng Luật HNGĐ còn quy
định vợ ( chồng) có quyền được sáp nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản
chung theo quy định của PL hiện hành hoặc không sáp nhập. Việc sáp nhập được thực
hiện theo thỏa thuận của vợ, chồng, khi nhập vào tài sản chung thì tất cả những nghĩa
vụ phát sinh sau này sẽ được thực hiện theo quy định của luật về tài sản chung.
Theo điều 44 Luật HNGĐ quy định chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng.
Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, định đoạt, sử dụng tài sản riêng theo ý chí của mình
miễn là không làm thiệt hại hoặc ảnh hưởng đến lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng,
quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Tuy nhiên, xuất phát từ lợi ích chung của
gia đình, do đó trong trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng các nhu cầu
7


chung trong gia đình thì vợ, chồng phải dùng tài sản riêng của mình để đáp ứng các
nhu cầu đó. Việc sáp nhập tài sản riêng vào tài sản chung nhằm mục đích lo cho nhu
cầu sinh hoạt của gia đình. Đối với các tài sản mà vợ, chồng đã chi dùng cho gia đình
và không còn nữa, vợ, chồng không có quyền đòi lại.
Tài sản riêng của các bên vợ, chồng do họ tự quản lý; trong trường hợp vợ hoặc
chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người
khác quản lý, PL dành cho người chồng hoặc người vợ của họ có quyền quản lý. Xuất
phát từ việc đảm bảo quyền định đoạt của vợ, chồng đối với tài sản riêng, đồng thời
đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các thành viên trong gia đình, LHNGĐ yêu cầu vợ,
chồng nếu đưa tài sản riêng vào sử dụng chung trong gia đình, mà hoa lợi, lợi tức từ tài

sản đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải có
sự thỏa thuận của 2 vợ chồng. Sự thỏa thuận trong trường hợp này phải được thể hiện
bằng văn bản và có chữ kí của hai vợ chồng, văn bản đồng ý này phải được công
chứng, chứng thực theo quy định của PL. Qua đó, ta thấy được vợ và chồng có những
nghĩa vụ riêng về tài sản, được qui định tại điều 45 Luật HNGĐ 2014.
Tất cả những điều trên cho thấy vợ chồng trong thời kì hôn nhân vẫn có thể có
tài sản riêng và PL tôn trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng về tài sản riêng của
mình. Vợ chồng có quyền lựa chọn chế độ tài sản. Dù áp dụng chế độ tài sản nào đi
nữa thì cũng phải tuân thủ những nguyên tắc chung đó là: đảm bảo quyền bình đẳng
với nhau về quyền và nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng tài sản. Đảm
bảo được lợi ích chung của gia đình. Và cuối cùng là đảm bảo quyền lợi của người thứ
ba ngay tình.
Câu 5. Ai có quyền yêu cầu ly hôn? Ai có thẩm quyền giải quyết ly hôn
Trong cuộc sống hôn nhân không phải ai cũng may mắn có được một gia đình
hạnh phúc trọn vẹn. Có những gia đình khi hôn nhân đã không còn hạnh phúc, cuộc
sống vợ chồng không còn cơm ngon canh ngọt thì họ thường chọn hướng giải quyết
duy nhất đó là ly hôn. Theo Điều 3 Luật HN & GĐ năm 2014 quy định: “Ly hôn là
việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án”.
Theo Điều 51 Luật HN & GĐ quy định người có quyền yêu cầu ly hôn:
1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi 1
bên vợ, chồng do bị tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm
chủ hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ
của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần
của họ.
3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có có thai,
sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng
Từ đó ta thấy các trường hợp về quyền yêu cầu ly hôn như sau:
Thuận tình ly hôn, được quy định tại Điều 55 Luật này. Thuận tình ly hôn là trường
hợp vợ chồng cùng yêu cầu TA giải quyết ly hôn. Như vậy, chỉ khi nào có đơn của cả

8


hai vợ chồng xin ly hôn thì tòa án mới có cơ sở để thụ lý xem xét vụ việc dưới góc độ
là trường hợp thuận tình ly hôn. Thuận tình ly hôn không được đặt ra trong trường
hợp: một bên xin ly hôn và sau đó bên kia (vợ hoặc chồng) mới chấp thuận tại phiên
tòa.
Thẩm quyền giải quyết các vụ việc của TA trong lĩnh vực các quan hệ HNGĐ,
theo quy định của Bộ luật TTDS được chia ra hai trường hợp: Những tranh chấp về
hôn nhân và gia đình( hay còn gọi là vụ án dân sự); những yêu cầu về hôn nhân và gia
đình ( hay còn gọi là việc dân sự). Khi giải quyết việc công nhận thuận tình ly hôn, TA
không phải tiến hành thủ tục hòa giải. TA chỉ ra quyết định công nhận ly hôn khi có
các điều kiện sau:
Thứ nhất: hai bên vợ chồng thật sự tự nguyện ly hôn
Thứ hai: hai bên đã thỏa thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài
sản; việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con.
Thứ ba: sự thỏa thuận của các bên về tài sản và con trong TH cụ thể này là bảo
đảm quyền và lợi ích chính đáng của vợ và con.
Ly hôn theo yêu cầu của một bên. Ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng là
trường hợp chỉ có vợ hoặc chồng có đơn xin ly hôn. Nói cách khác là việc ly hôn xuất
phát từ một bên. Nguyên nhân dân đến tình trạng ly hôn theo yêu cầu của một bên
được quy định rõ tại điều 56 luật này.
-

Khi một người mong muốn được ly hôn và có căn cứ về việc vợ, chồng của
mình có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa
vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống
chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, mà hòa giải tại
Tòa án cũng không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn


-

Khi người có vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố mất tích muốn yêu cầu ly hôn thì
Tòa án giải quyết cho ly hôn.

 Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn từ cha mẹ hay người thân thích của
người bị mất năng lực hành vi dân sự, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia
đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính
mạng, sức khỏe, tinh thần của ng kia
Ly hôn theo yêu cầu của một bên theo quy định của BLTTDS là một vụ án dân sự: bên
nộp đơn xin ly hôn là nguyên đơn, bên còn lại là bị đơn. Sau khi tòa án tiến hành thủ
tục hòa giải thì có thể xuất hiện hai trường hợp:
Một là hòa giải thành công: khi các bên đương sự thỏa thuận được với nhau các vấn
đề giải quyết trong vụ án thì thẩm phán hoặc thư kí tòa lập biên bản hòa giải thành,
biên bản sẽ gửi đến các đương sự tham gia hòa giải. Hết hạn 7 ngày, kể từ ngày lập
biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thảo thuận đó
9


thì thẩm phán chủ trì phiên hòa giải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự.
Hai là hòa giải không thành. Khi hòa giải không thành TA phải xét xử vụ án ly hôn.
Trong quá tình xét xử, TA phải làm rõ thực chất quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng.
Chỉ khi xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống không để kéo dài, mục đích hôn nhân
không đạt được thì TA mới xử cho ly hôn.
Như vậy, trong TH ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng, khi giải quyết TA
phải căn cứ vào căn cứ ly hôn được PL quy định để giải quyết cho họ ly hôn hoặc bác
đơn ly hôn của họ.
Ly hôn với người bị TA tuyên bố mất tích là TH ly hôn theo yêu cầu của một bên, tuy
nhiên trình tự, thủ tục giải quyết ly hôn với người bị TA tuyên bố mất tích không giống

với TH ly hôn theo yêu cầu của một bên trong trường hợp cả hai cùng có mặt tại nơi
cư trú. Đối với trường hợp này không cần tiến hành thủ tục hòa giải theo thủ tục tố tục.
Khi người vợ ( chồng) của người bị TA tuyên bố mất tích xin ly hôn thì quyết định
tuyên bố người vợ ( chồng) mất tích của TA là bằng chứng pháp lý, là căn cứ để tòa án
ra quyết định ly hôn mà không cần xem xét đến căn cứ ly hôn khác được PL quy định.
Ngoài ra còn có một số trường hợp hạn chế ly hôn:
Khoản 3 Điều 51 Luật này quy định đối với trường hợp vợ đang mang thai,
sinh con, đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì người chồng không có quyền yêu cầu ly
hôn. Quy định này nhằm bảo về quyền lợi của người mẹ và con sơ sinh, cũng là trách
nhiệm của người chồng trong hôn nhân. Trường hợp hạn chế quyền yêu cầu ly hôn
trên chỉ áp dụng đối với trường hợp xin ly hôn của người chồng, mà không áp dụng
đối với TH ly hôn của người vợ. Người vợ vẫn còn quyền yêu cầu ly hôn khi họ đang
mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Tuy vậy nhưng điều kiện hạn chế vẫn giữ
nguyên đối với người chồng.
Đối với yêu cầu ly hôn có yếu tố nước ngoài, cũng được pháp luật quy định , theo
Điều 127, thì việc giải quyết ly hôn tùy vào từng trường hợp để giải quyết như áp dụng
luật của Việt Nam hay theo luật của nơi họ thường trú. Nhưng trên vẫn đảm bảo được
quyền yêu cầu ly hôn của mỗi người như:
+ Người Việt Nam ở trong nước xin ly hôn đối với người Việt Nam đã ra nước
ngoài.
+ Người Việt Nam ở nước ngoài kết hôn với người nước ngoài, nay người Việt
Nam về nước và người nước ngoài xin ly hôn.
+ Người Việt Nam xin ly hôn với người nước ngoài đang cư trú ở nước ngoài.

 Kết Luận: Quy định của pháp luật rất rộng đối với quyền yêu cầu ly hôn của mỗi
người, trên cơ sở tôn trọng những mong muốn, mục đích chính đáng của mỗi chủ
thể đối với cuộc sống hôn nhân. Theo pháp luật Việt Nam, Tòa án là cơ quan duy
10



nhất có thẩm quyền giải quyết ly hôn, dù có yếu tố nước ngoài thì cũng là ủy thác
cho Tòa án và theo luật của nước đó
Câu 6. Hãy trình bày và nêu hậu quả pháp lý của việc ly hôn
Trong cuộc sống hôn nhân không phải ai cũng may mắn có được một gia đình
hạnh phúc trọn vẹn. Có những gia đình khi hôn nhân đã không còn hạnh phúc, cuộc
sống vợ chồng không còn cơm ngon canh ngọt thì họ thường chọn hướng giải quyết
duy nhất đó là ly hôn. Theo Điều 3 Luật HN & GĐ năm 2014 quy định: “Ly hôn là
việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án”.
Khi TA ra quyết định hoặc bản án xử cho vợ chồng ly hôn, điều đó thể hiện PL
chính thức công nhận sự chấm dứt tồn tại của một gia đình. Sự tan vỡ của một gia đình
luôn gây ra hậu quả không mong muốn cho vợ chồng và các chủ thể quan hệ trực tiếp
có liên quan đến quan hệ hôn nhân. Hậu quả pháp lý của ly hôn là nội dung quan
trọng của chế định ly hôn. Nó giúp ta giải quyết và ổn định các quan hệ sau ly hôn,
giảm nhẹ những ảnh hưởng tác động không tốt đến các chủ thể liên quan và xã hội.
Thời điểm bản án hay quyết định cho ly hôn của TA có hiệu lực PL chính là thời điểm
phát sinh giải quyết các hậu quả pháp lý của nó.
Về quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng:
Quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng vốn là mối quan hệ thiêng liêng, về bản chất quan
hệ này không mang tính vụ lợi, vợ chồng sẵn sàng chia sẻ và hi sinh vì nhau. Mục đích
của hôn nhân là xây dựng một gia đình bền vững, vợ chồng sẽ sống bên nhau suốt đời.
Thế nhưng, không phải mọi quan hệ hôn nhân đều đạt được mục đích tốt đẹp. Khi các
bên vợ chồng có lý do không muốn duy trì cuộc sống gia đình thì sẽ dẫn đến ly hôn.
Khi bản án hoặc quyết định ly hôn của TA có hiệu lực PL thì các đương sự chấm dứt
quan hệ vợ chồng, các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng chấm dứt hoàn
toàn. Họ không còn nghĩa vụ chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc nhau. Kể từ
thời điểm này, người vợ, người chồng trở thành chủ thể độc lập.
Về quan hệ tài sản.
Khi quan hệ hôn nhân chấm dứt, việc giải quyết vấn đề tài sản khi vợ chồng ly hôn là
một trong những cơ sở để hình thành các tranh chấp phức tạp và khó giải quyết trong
hậu quả pháp lý của ly hôn.

Việc chia tài sản của vợ chồng thường được tiến hành ngay khi sau ly hôn. Khi
ly hôn việc chia tài sản của vợ chồng được tiến hành theo luật HNGĐ, cụ thể tại điều
59 luật này quy định nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Tài sản
trong thời kì hôn nhân gồm có tài sản riêng và tài sản chung.
Việc giải quyết tài sản riêng của vợ, chồng thì tài sản riêng bên nào thì thuộc QSH
bên đó. Trường hợp một bên vợ hoặc chồng đó là tài sản riêng nhưng không đủ
chứng cứ chứng minh thì tài sản tranh chấp đó sẽ xác định là tài sản chung của vợ
chồng. Nếu vợ chồng đã tự nguyện nhập tài sản riêng thành tài sản chung rồi thì
người có tài sản riêng có không có quyền đòi lại hoặc đền bù.
Đối với tài sản chung của vợ chồng thì được chia theo thỏa thuận của các bên. Có thể
chia thành hai phần bằng nhau hoặc chia theo các tỷ lệ nhất định trên cơ sở thống
11


nhất ý chí của vợ và chồng. Nếu không thể thỏa thuận được thì họ có quyền yêu cầu
TA giải quyết chia theo quy định của PL.
Đối với việc chia QSD đất. QSD đất riêng của mỗi bên vợ, chồng khi ly hôn đất riêng
của bên nào thì thuộc về bên đó. QSD đất chung của vợ, chồng vì đất không phải là
loại tài sản thông thường nên việc chia QSD đất là tài sản chung của vợ chồng được
thực hiện tùy thuộc vào từng loại đất và điều kiện của vợ, chồng và được chia trên cở
sở PL quy định.
Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng. Nghĩa vụ chung của vợ
chồng là nghĩa vụ phát sinh trong các giao dịch dân sự do vợ chồng cùng xác lập và
tham gia. Đây còn có thể là nghĩa vụ bồi thường những thiệt hại mà họ hoặc con họ
chưa thành niên gây ra cho người khác…PL quy định về việc thanh toán nghĩa vụ
chung về tài sản của vợ chồng do cả 2 thỏa thuận, nếu không thỏa thuận thì yêu cầu
TA giải quyết.
Ngoài ra, khy ly hôn nếu 1 bên khó khăn có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính
đáng thì bên còn lại có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình.
Việc trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con cái.

Trừ những cặp vợ chồng chưa có con chung thì các cặp vợ chồng khác khi ly hôn
còn gặp phải một vấn đề đó là con cái. Sau khi ly hôn, vợ chồng vẫn có nghĩa vụ
chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị
tàn tật, MNLHVDS, không có khả năng lao động.
Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên khi
ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì TA quyết định giao con cho bên
trực tiếp nuôi con có quyền lợi mọi mặt cho con. Nếu con từ 9t trở lên thì phải xem
xét nguyện vọng của con. Về nguyên tắc, con dưới 3t được giao cho mẹ trực tiếp
nuôi, nếu các bên không có thỏa thuận khác.
Cùng với việc giao con cho ai nuôi dưỡng, TA đồng thời phải giải quyết việc cấp
dưỡng đối với người không sống chung với con.
Câu 7. Quyền thừa kế
Vợ chồng có quyền thừa kế di sản của nhau khi một bên chết. Việc thừa kế có
thể theo di chúc, theo PL và trường hợp thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di
chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015.
Vợ, chồng là hàng thừa kế thứ nhất của nhau theo luật, cùng với cha, mẹ và con
của người chết.
Để được thừa kế di sản của nhau thì tại thời điểm vợ hoặc chồng chế, hai người vẫn
được pháp luật thừa nhận là vợ chồng của nhau. Chính quy định này của luật nên
trường hợp hai vợ chồng đnag được tòa giải quyết cho ly hôn, thậm chí tòa đã ra
phán quyết cho 2 người ly hôn, nhưng bản án, quyết định của tòa chưa có hiệu lực
pháp lý nếu vợ hoặc chồng chết trong thời gian này, người còn sống dĩ nhiên vẫn có
quyền thừa kế bởi lẽ lúc này họ vẫn được xem là vợ chồng của nhau,
Một điểm đáng chú ý trong việc thừa kế khi vợ hoặc chồng chết đó là quyền
yêu cầu hạn chế chia di sản thừa kế cho một bên vợ hoặc chồng còn sống. Theo đó,
việc chia di sản thừa kế ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng
còn sống và gia điình thì bên còn sống có quyền yêu cầu toàn án xác định phần di sản
12



mà những người thừa kế được hưởng, nhưng chưa chia trong một khoảng thời gian
nhất định.
Ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống và gia đình là
trường hợp nếu chia si sản thì bên còn sống và gia đình không thể duy trì cuộc sống
bình thường. Thời hạn mà PL quy định hạn chế chia di sản thừa kế là 3 năm theo điều
66 Luật HNGĐ 2014.
Quy định trên nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho người vợ hoặc người chồng
còn sống và gia đình của họ, đảm bảo cho những người này có được những điều kiện
cần thiết để duy trì cuộc sống bình thường của mình. Tuy nhiên, khi 1 bên vợ hoặc
chồng chết sẽ phát sinh quyền thừa kế của những người có liên quan, do đó cũng cần
tính đến quyền lợi của những người thừa kế khác. Vì vậy, PL đã quy định: tỏng
trường hợp người thừa kế của bên vợ hoặc chồng mà túng thiếu, không có khả năng
lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác để cấp dưỡng thì
tòa án xem xét, quyết định về việc cho chia di sản thừa kế trên cơ sở cân nhắc quyền
lợi của bên vợ hoặc chồng còn sống và quyền lợi của những người thừa kế khác.
Trường hợp tòa án ra quyết định hạn chế phân chia di sản thừa kế, thì bên vợ
hoặc chồng còn sống có quyền sử dụng, khai thác để hưởng hoa lợi, lợi tức phát sinh
từ di sản. Bên cạnh đó phải có nghĩa vụ giữ gìn, bảo quản di sản như đối với tài sản
của chính mình; không được thực hiện các giao dịch có liên quan đến định đoạt di
sản, nếu không được sự đồng ý của người thừa kế khác. Vì thời hạn hạn chế chia di
sản Pl ấn định là 3 năm, nên khi hết thời hạn mà tòa án xác định thì các bên thừa kế
khác có quyền yêu cầu phân chia si sản thừa kế. Tuy nhiên, trong TH chưa hết thời
hạn hạn chế phân chia di sản thừa kế mà bên vợ hoặc chồng còn sống đã kết hôn với
người khác hay thực hiện các giao dịch nhằm tẩu tán, phá tán hoặc làm mất hu hỏng
di sản thì những người thừa kế khác còn quyền yêu cầu phân chia di sản.

NHẬN ĐỊNH.
1. A và B chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2012, không đăng kí kết hơn.
Đến năm 2016, A quen biết C. A đăng kí kết hôn với C là vi phạm chế độ một vợ
một chồng

 SAI. Vì Theo quy định của luật HNGĐ hiện hành, cụ thể tại điều 14: “ Nam,
nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật này sống chung như vợ
chồng với nhau mà không đăng kí kết hôn thì không làm phát sinh quyền và
nghĩa vụ vợ chồng.
Theo đó, tại thời điểm A và B chung sống với nhau là năm 2012. Luật HNGĐ
2000 đnag hiện hành quy định tại điều 11: Nam, nữ không đăng kí kết hôn mà
chung sống với nhau như vợ chồng thì không được PL côn nhận là vợ chồng
Vì vậy, A không vi phạm chế độ 1 vợ 1 chồng
2. Mọi trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
thì ko được pháp luật thừa nhận là vợ chồng.
 SAI: Quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 nếu chưa đăng
ký kết hôn mà chung sống với nhau nhưvợ chồng thì vẫn được pháp luật
13


công nhận là vợ chồng và chỉ khuyến khích chứ không bắt buộc đăng ký kết
hôn.
3. Trong mọi trường hợp, vợ đều có quyền đơn phương xin ly hôn
 Sai. Vì trong trường hợp vợ bị tâm thần, MNLHVDS hoặc trường hợp
chồng mất tích, mà chưa có quyết định của TA tuyên bố mất tích thì không
được đơn phương ly hôn.
4. Khi vợ hoặc chồng bị toà án tuyên bố mất tích bằng 1 quyết định co hiệu lực
pháp luật thì quan hệ vợ chồng sẽ chấm dứt.
 SAI: Quan hệ hôn nhân trong trường hợp này chỉ thực sự chấm dứt khi có
yêu cầu xin ly hôn của người có vợ hoặc chồng đã bị tòa án tuyên bố mất
tích trước đó được tòa án công nhận bằng một quyết định độc lập. Hay còn
gọi là chỉ khi nào người kia đơn phương xin ly hôn khi có quyết định mất
tích thì mới chấm dứt quan hệ vợ chồng
5.Khi ly hôn, tài sản chung của vợ chồng được chia đều cho vợ, chồng và các con
 SAI. Vì khi ly hôn, tài sản chung của vợ chồng được chia theo thỏa thuận.

Trong một số trường hợp không thể thỏa thuận thì chia theo quy định PL.
Theo quy định PL thì vấn đề chia tài sản chung không đề cập đến con cái.
6.A và B tổ chức đám cưới vào ngày 15/10/2010. Quan hệ vợ chồng giữa A và B
phát sinh từ ngày 15/10/2010
 SAI. Vì quan hệ vợ chồng giữa A và B chỉ phát ính khi cả 2 cùng đến đăng
kí kết hôn và kí vào giấy xác nhận, được trao giấy chứng nhận kết hôn là đã
trở thành vợ chồng. Còn tổ chức đám cưới chỉ là hình thức báo tin.
7. B ( giới tính nam) sinh ngày 10/10/1990. B đủ tuổi kết hôn từ 1/1/2018.
 SAI. Vì tính đến ngày 1/1/2018, B chỉ tròn 18 tuổi. Theo quy định của Luật
HNGĐ 2000 độ tuổi đăng kí kết hôn của nam là từ 20t trở lên, nữ từ 18t trở
lên.
Đến 10/10/2009, B chỉ mới 19t nhưng từ ngày 11/10/2009 B mới được 20t.
8.Khi vợ hoặc chồng thực hiện những giao dịch phục vụ cho nhu cầu thiết yếu
của gia đình mà không có sự đồng ý của bên kia thì người thực hiện giao dịch đó
phải thanh toán bằng tài sản riêng của mình.
 SAI: Đối với những giao dịch phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình do
1 bên thực hiện mà không có sự đồng ýcủa bên kia thì TS chung của vợ
chồng sẽ được chi dùng để thanh tóan.
9. Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân chỉ được coi là
có hiệu lực pháp lý khi được toà án công nhận.
 SAI: Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân trong
trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ DS riêng
hoặc có lý do chính đáng khác thì chỉ cần vợ chồng có thỏa thuận phân chia
TS chung bằng văn bản mà không cần thông qua tòa án

14




Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×