Tải bản đầy đủ

Luận văn thạc sĩ Hành vi trách trong tiếng Việt

Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
___________________________________

HÀNH VI TRÁCH TRONG TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.01.02

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Văn Hiệp


HẢI PHÒNG - 2017


Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích
đẫn đúng quy định. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai
công bố trong bất kì công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN


Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

ii

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS. TS. Nguyễn Văn
Hiệp, người đã định hướng và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực
hiện luận văn.
Lòng biết ơn chân thành của tôi cũng xin được gửi đến các thầy cô ở
Viện Ngôn ngữ học, ở khoa Ngữ văn và phòng Đào tạo sau đại học của
Trường Đại học Hải Phòng, những người đã truyền cho tôi kiến thức, tạo điều
kiện, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập.
Nhân đây, tôi cũng chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và đặc biệt
dành sự trân trọng cho những quan tâm, động viên, giúp đỡ của các thành viên
trong gia đình.
Tôi sẽ không thể vượt qua những khó khăn về mọi mặt trong suốt thời
gian học tập và có được kết quả nghiên cứu này, nếu bên mình không ngập
tràn những quan tâm, giúp đỡ và yêu thương ấy!


Xin trân trọng cảm ơn!
Hải Phòng, tháng 4 năm 2017
TÁC GIẢ


iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................ i
LỜI CẢM ƠN ..................................................................................................... ii
MỤC LỤC .......................................................................................................... iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT .............................................................................. v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ...................................................................... vi
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ...................................................................... 10
1.1. Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ .................................................................. 10
1.1.1. Khái niệm hành vi ngôn ngữ ................................................................... 10
1.1.2. Phân loại hành vi ở lời ............................................................................ 12
1.1.3. Điều kiện thực hiện các hành vi ở lời ..................................................... 14
1.1.4. Hành vi ở lời trực tiếp và gián tiếp ......................................................... 15
1.1.5. Động từ ngữ vi ........................................................................................ 16
1.2. Lý thuyết hội thoại ..................................................................................... 17
1.2.1. Lượt lời và tham thoại ............................................................................. 17
1.2.2. Sự trao đáp .............................................................................................. 19
1.2.3. Quan hệ liên cá nhân trong hội thoại ...................................................... 20
1.2.4. Vấn đề lịch sự.......................................................................................... 21
1.3. Về hành vi trách ......................................................................................... 24
1.3.1. Khái niệm ................................................................................................ 24
1.3.2. Đặc điểm ................................................................................................. 25
1.3.3. Điều kiện sử dụng ................................................................................... 27
* Tiểu kết ........................................................................................................... 28
CHƯƠNG 2: NHẬN DIỆN HÀNH VI TRÁCH TRONG TIẾNG VIỆT........ 29
2.1. Nhận diện HVT qua phân biệt với những hành vi cận kề.......................... 29
2.1.1. Phân biệt hành vi trách với hành vi than ................................................. 29
2.1.2. Phân biệt hành vi trách với hành vi chê .................................................. 33
2.1.3. Phân biệt hành vi trách với hành vi chửi................................................. 35


iv

2.2. Nhận diện hành vi trách qua cấu trúc của lời trách.................................... 38
2.2.1. Dạng trực tiếp .......................................................................................... 38
2.2.2. Dạng gián tiếp ......................................................................................... 41
* Tiểu kết ........................................................................................................... 47
CHƯƠNG 3: HÀNH VI TRÁCH TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT .... 49
3.1. Mục đích sử dụng hành vi trách trong giao tiếp ........................................ 49
3.1.1. Sử dụng hành vi trách để khuyên nhủ, tác động đến đối tượng.............. 49
3.1.2. Sử dụng hành vi trách để tự lên án, thể hiện sự day dứt, ăn năn ............ 51
3.1.3. Sử dụng hành vi trách gây tổn thương thể diện của người bị trách ........ 51
3.1.4. Trách nhằm mục đích bày tỏ tình cảm, sự quan tâm .............................. 52
3.1.5. Sử dụng hành vi trách để bắt lỗi.............................................................. 53
3.1.6. Sử dụng hành vi trách để thể hiện sự giận dỗi ........................................ 53
3.1.7. Trách làm tăng mức độ nghiêm trọng sự việc ........................................ 54
3.1.8. Sử dụng hành vi trách để giải tỏa bực tức............................................... 54
3.2. Các tiểu loại hành vi trách và những chủ đề trách tiêu biểu ...................... 56
3.2.1. Trách cứ................................................................................................... 56
3.2.3. Trách mắng.............................................................................................. 60
3.2.4. Trách phạt................................................................................................ 61
3.2.5. Trách yêu ................................................................................................. 62
3.2.6. Tự trách ................................................................................................... 63
3.3. Hành vi trách thể hiện quan hệ giữa các vai giao tiếp .............................. 64
3.4. Vấn đề lịch sự trong sử dụng hành vi trách ............................................... 66
3.4.1. Mối quan hệ giữa hành vi trách và vấn đề lịch sự .................................. 67
3.4.2. Các hình thức phản ánh lịch sự trong hành động trách của người Việt.. 68
* Tiểu kết ........................................................................................................... 74
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 76
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ .............. 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 80
PHỤ LỤC .............................................................................................................a


v

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt

Giải thích

ĐTNV

Động từ ngữ vi

HĐT

Hành động trách

HVNN

Hành vi ngôn ngữ

HVT

Hành vi trách

PTNN

Phương tiện ngôn ngữ

NXB

Nhà xuất bản

SP1

Nhân vật hội thoại thứ nhất

SP2

Nhân vật hội thoại thứ hai

Tr

Trang


vi

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Số hiệu bảng

Tên bảng

Trang

2.1

Mô tả sự khác nhau giữa hai hành vi: trách - than

32

2.2

Mô tả sự khác nhau giữa hai hành vi: trách - chê

34

2.3

Mô tả sự khác nhau giữa hai hành vi: trách - chửi

37

3.1

Thống kê, mô tả mục đích sử dụng hành vi trách

55

trong giao tiếp của người Việt
3.2

Thống kê, mô tả các nội dung trách thường xuất

64

hiện trong giao tiếp của người Việt
3.3

Thống kê, mô tả việc sử dụng hành vi trách của
các vai giao tiếp

66


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với các chuyên ngành khác của ngôn ngữ học như từ vựng học,
ngữ âm học, ngữ pháp học thì trong những thập kỉ gần đây, ở nước ta, ngữ
dụng học đã có bước phát triển nhanh chóng với nhiều thành tựu đáng kể.
Ngữ dụng học là một chuyên ngành nghiên cứu gắn ngôn ngữ vào hoạt động
giao tiếp của con người, nghiên cứu những nhân tố ngữ cảnh tác động vào việc
thuyết giải nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ được dùng trong giao tiếp. Những
vấn đề được ngữ dụng học tập trung nghiên cứu là: hành vi (hành động) ngôn
ngữ, nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn, tiền giả định và hàm ý, chiếu vật và
chỉ xuất, nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái, mục đích phát ngôn, lí thuyết lập
luận, lí thuyết hội thoại… Trong đó, hành vi ngôn ngữ (HVNN) được xem là
một vấn đề cơ bản và trọng tâm, bởi lẽ lý thuyết về hành vi ngôn ngữ đặt ra
những vấn đề về quan hệ giữa người sử dụng ngôn ngữ với ngôn ngữ hay
hướng sự chú ý đến những hành động mà con người thực hiện khi sử dụng
ngôn ngữ để giao tiếp, giúp người sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp một cách
hiệu quả hơn. Các HVNN đều nhằm đến cái đích cuối cùng là hiệu lực giao
tiếp. Trong thực tế sử dụng, các hành vi ngôn ngữ phụ thuộc vào tâm thức của
từng dân tộc, từng xã hội, từng thời đại. Ngoài ra, việc sử dụng ngôn ngữ còn
chịu sự chi phối khá mạnh mẽ của cá nhân người nói về tâm lý, tình cảm, mục
đích… Xuất phát từ tâm thức chung cộng đồng đó, trong mỗi ngôn ngữ đã
hình thành nên những cách nói, cách diễn đạt có hiệu quả cao, phù hợp với
mục đích và hoàn cảnh giao tiếp.
Khi nghiên cứu về HVNN của người Việt, chúng tôi nhận thấy trách là
một trong những HVNN có tần số xuất hiện cao và được sử dụng thường
xuyên, phổ biến trong giao tiếp. Nó thúc đẩy tính hiệu quả và chuyển tải
mong muốn đạt được nhu cầu bộc lộ cảm xúc của người nói, qua đó người
nghe có thể hiểu được tâm tư, nguyện vọng và tình cảm của người nói, hiểu
được thói quen, văn hóa giao tiếp của cả một dân tộc. Bên cạnh hành động


2

khen, động viên, khuyến khích, cảm ơn… được sử dụng một cách dễ dàng, tự
nhiên thì hành động trách (HĐT) chứa nhiều yếu tố tinh tế, phức tạp, tiềm ẩn
sự đe dọa thể diện của người bị trách và có thể khiến cho quan hệ giữa người
trách và người tiếp nhận trách bị gián đoạn hoặc trở nên xa cách. Nhưng mặt
khác, nếu biết sử dụng HVT đúng lúc, đúng chỗ, chừng mực thì nó sẽ có khả
năng tác động đến đối tượng giao tiếp, giúp họ có thái độ và hành xử tốt hơn,
qua đó giúp cho quan hệ giữa những người giao tiếp thêm gần gũi, thân thiết,
gắn bó. Vì vậy, hiểu được bản chất, cấu trúc, cơ chế hoạt động và các tác
nhân quyết định hiệu quả và tính chất của HVT là rất quan trọng đối với
người sử dụng cũng như đối với người tiếp nhận, giúp cho người sử dụng và
tiếp nhận HVT có cơ sở để lựa chọn phương án tối ưu nhằm đạt mục đích
giao tiếp như mong muốn. Xuất phát từ lí do trên, chúng tôi chọn ”Hành vi
trách trong tiếng Việt” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn cao học của mình.
2. Lịch sử vấn đề
Ngữ dụng học được hiểu là dụng học vận dụng vào ngôn ngữ học, đã
xuất hiện trên thế giới từ nửa đầu thế kỷ XX. Công trình nghiên cứu “Những
cơ sở lý thuyết của ký hiệu” (1938) của nhà ký hiệu học Mỹ Charles W.
Morris được coi là cột mốc đánh dấu sự ra đời của lĩnh vực nghiên cứu này
khi đặt vấn đề xem xét ký hiệu trên ba bình diện: Kết học, Nghĩa học và Dụng
học (tức Ngữ dụng học), theo đó Dụng học quan tâm đến mối quan hệ giữa
người sử dụng ký hiệu với ký hiệu. Tuy nhiên, Ngữ dụng học chỉ phát triển
rực rỡ trong những thập niên gần đây. Sự phát triển của nó kéo theo sự phát
triển của các lý thuyết mới như Lý thuyết hành động ngôn từ - tiền đề lý
thuyết quan trọng nhất của đối tượng nghiên cứu.
Trên thế giới, phải kể đến tên tuổi của hai nhà ngữ dụng học kinh điển
về lý thuyết HVNN, đó là J.L.Austin và J.R.Searle. Hai ông đã xác nền tảng
của HVNN với nhiều vấn đề như: Phân loại HVNN, hành vi tại lời trực tiếp
và gián tiếp, điều kiện để dùng hành vi tại lời… Những vấn đề mà hai ông


3

đưa ra có giá trị như những tiền đề lý thuyết giúp cho người nghiên cứu về
HVNN cụ thể có hướng đi đúng đắn.
Ở Việt Nam, các công trình về Ngữ dụng học đã bàn tới HVNN, nhưng
đều trên cơ sở lí thuyết, quan điểm về HVNN của J.L.Austin và J.R.Searle để
vận dụng vào phân tích HVNN trong tiếng Việt. Có thể kể đến một số tác giả
tiêu biểu như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Đỗ Thị Kim Liên, Nguyễn
Thiện Giáp, Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Văn Khang, Đỗ Việt Hùng… (dẫn
theo [27, tr.2]):
- Tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Đại cương ngôn ngữ học” tập II –
NXBGD. 1993 đã dành hẳn một chương viết về HVNN. Trong đó, tác giả đã
đề cập đến việc phân chia các loại HVNN, cấu trúc của HVNN, phân biệt
HVNN với biểu thức ngữ vi… nhưng chỉ dừng ở mức độ lý thuyết chung,
khái quát chứ không đi sâu vào cụ thể một HVNN nào trong số những HVNN
mà ông đã phân chia.
- Tác giả Nguyễn Đức Dân trong cuốn “Ngữ Dụng học” tập I –
NXBGD. 1998, đã trình bày một cách khá đầy đủ về lý thuyết ngữ dụng học.
Riêng phần lý thuyết về HVNN, tác giả giới thiệu quan điểm, cách phân chia
các loại HVNN của hai nhà ngữ dụng học nổi tiếng là J.L.Austin và
J.R.Searle. Ở đây, tác giả cũng chỉ dừng lại ở mức độ khái quát chung, không
đi sâu vào nghiên cứu HVNN cụ thể nào.
- Tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong cuốn “Ngữ nghĩa lời hội thoại” NXBGD. 1999 đã đi sâu nghiên cứu ngữ nghĩa lời hội thoại, cụ thể là những
vấn đề ngữ nghĩa của câu trả lời trong sự tương tác với câu hỏi, cấu trúc và
phương diện thể hiện câu trả lời phủ định, ngữ nghĩa câu trao trong sự tương
tác với câu đáp, cách thức biểu hiện lời trao - lời đáp. Đây là những vấn đề có
liên quan trực tiếp đến lý thuyết HVNN.
- Tác giả Nguyễn Văn Khang trong cuốn “Ngôn ngữ học xã hội Những vấn đề cơ bản” - NXBKHXH. 1999, khi trình bày về tính xã hội của
sự nói năng đã nêu khái quát lý thuyết của J.L.Austin và J.R.Searle và hướng


4

nghiên cứu HVNN như một hành vi xã hội của một số nhà nghiên cứu như
Reinach...
- Tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “Dụng học Việt ngữ” NXBĐHQG. 2000 đã trình bày một số vấn đề về ngữ dụng học ứng dụng vào
tiếng Việt.
- Tác giả Nguyễn Văn Hiệp trong cuốn “Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú
pháp” - NXBGD. 2008, khi trình bày về nghĩa mục đích phát ngôn (một
trong bốn cơ sở ngữ nghĩa của việc phân tích và miêu tả cú pháp câu tiếng
Việt: nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái, nghĩa chủ đề, nghĩa mục đích phát ngôn)
đã nêu khái quát lý thuyết về hành vi ngôn từ của J.L.Austin, phân loại
HVNN và đặc biệt tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa đánh dấu mục đích
phát ngôn và đánh dấu kiểu câu, vai trò của các tiểu từ tình thái tiếng Việt
trong việc hình thành hiệu lực ở lời của phát ngôn.
- Tác giả Đỗ Việt Hùng trong cuốn “Ngữ dụng học” - NXBGD. 2011,
ngoài phần trình bày những lý thuyết chung về HVNN, tác giả cho rằng sự
kiện lời nói được tạo bởi một nhóm các HVNN, thống nhất với nhau để thực
hiện một hành động ngôn ngữ trung tâm.
- Tác giả Nguyễn Thị Thuận trong cuốn giáo trình “Ngữ dụng học” NXBĐHSP. 2014, đã dành một chương viết về hành động nói...
Những công trình nghiên cứu trên là cơ sở lý thuyết vô cùng bổ ích,
thiết thực đối với chúng tôi trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài của
mình. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tiếp thu được những thành quả nghiên cứu
từ nhiều cách tiếp cận khác nhau về HVT và những hành vi cận kề hành vi
trách của các tác giả đi trước, như: Sự kiện lời nói chê trong tiếng Việt (cấu
trúc và ngữ nghĩa) (Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Hoàng Yến, 2007); Biểu
thức ngữ vi thể hiện hành động khen, cám ơn, xin lỗi qua lời thoại nhân vật
(Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn của Nguyễn Thị Thủy, 2009); Hành vi trách và
thanh minh trong tiếng Việt (Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngôn ngữ học của
Phạm Thị Hạ, 2010). Hành động bác bỏ trong tiếng Việt (Luận văn Thạc sĩ


5

Ngôn ngữ học của Vũ Thị Kỳ Hương, 2010) Hoạt động của nhóm động từ
ngữ vi trong việc thể hiện vị thế các vai giao tiếp trong diễn ngôn tiếng Việt
(Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học của Phan Thị Bích Hường, 2012); Hành vi
ngôn ngữ thề trong tiếng Việt (Luận án Tiến sĩ Ngữ văn của Nguyễn Thu
Nga, 2013). Hành vi nịnh trong tiếng Việt (Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học của
Nguyễn Thị Thanh Huệ, 2015)…
Nhìn chung, có thể thấy HVNN là một vấn đề trung tâm của lý thuyết
Ngữ dụng học. Bức tranh toàn cảnh về việc nghiên cứu HVNN đã khá phong
phú, nhiều tác giả có công trình nghiên cứu về một HVNN cụ thể trong tiếng
Việt hoặc so sánh một HVNN trong tiếng Việt với loại hành vi đó trong một
ngôn ngữ khác. Đối với hành động ngôn ngữ trách tuy không phải là một đề
tài mới hoàn toàn vì trước đó đã có tác giả đề cập tới song cho đến nay, chưa
có một công trình nào đi sâu tìm hiểu một cách có hệ thống và toàn diện về
HVT đặt trong hoạt động hành chức của nó. Tiếp thu thành quả nghiên cứu
của các tác giả trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài của mình với mong
muốn đóng góp những hiểu biết nhỏ bé về HVNN nói chung và về HVT trong
tiếng Việt nói riêng. Giúp người sử dụng và tiếp nhận HVT có thể hiểu và lí
giải được vấn đề trong quá trình giao tiếp để lựa chọn, sử dụng HVT một cách
phù hợp nhất, nhằm đạt hiệu quả giao tiếp như mong muốn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu HVT trong tiếng Việt
để góp phần minh chứng cho lý thuyết Ngữ dụng học về HVNN và làm rõ
bản chất của HVT trong tiếng Việt từ các phương diện: Khái niệm, đặc điểm,
điều kiện sử dụng, phương pháp nhận diện HVT và HVT trong sử dụng của
người Việt.
Để đạt được mục đích trên, chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên cứu
của luận văn gồm:


6

1. Hệ thống hóa lại các quan niệm của các nhà nghiên cứu về lý thuyết
hành động ngôn từ, lý thuyết hội thoại giúp người nghiên cứu có cơ sở lý
thuyết để có thể vận dụng xử lý nguồn tư liệu thu thập được.
2. Xây dựng khái niệm HVT và từ đó rút ra các đặc trưng của hành vi
này.
3. Giải quyết, xử lý một cách khoa học, chính xác các cứ liệu thu thập
được để khái quát hóa, tìm ra các dạng cấu trúc của lời trách.Tiến hành phân
biệt HVT với một vài hành vi cận kề với HVT.
4. Hành vi trách trong sử dụng của người Việt.
5. Tìm hiểu mối quan hệ giữa trách và lịch sự.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hành vi trách trong tiếng Việt.
5. Phạm vi nghiên cứu
Vai trò của các phương tiện phi ngôn ngữ đối với hiệu quả của HVT là
rất lớn vì cùng với việc dùng lời nói, người trách còn có những cử chỉ và hành
động thích hợp đi kèm với nó. Thông thường thì người trách Sp1 hay hờn
giận, buồn bực, ấm ức, oán thán trước người bị trách Sp2. Những hành động
như ánh mắt buồn bã ngấn lệ hay giận dỗi, môi mím lại, hai tay nắm nhẹ kèm
theo tiếng gọi. Hay cùng một câu trách nhưng với cách nói lên trầm xuống
bổng hoặc cách nhấn nhá của Sp1 thì hiệu quả trách cũng được nâng lên rất
nhiều. Tất cả những cử chỉ và hành động này của người trách giúp cho Sp1 dễ
dàng đạt được mục đích trách của mình nhưng cũng chính những cử chỉ hành
động đó lại khiến cho Sp2 hay những người thứ ba dễ dàng nhận diện ra đây
là ý đồ trách của Sp1.
Tuy các phương tiện phi ngôn ngữ có vai trò rất lớn đối với HVT
nhưng do hạn chế về mặt thời gian và dung lượng nên trong luận văn này, xét
về phạm vi nghiên cứu, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu HVT ở mặt ngôn
ngữ thể hiện và một số nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng HVT của người
Việt; tiến hành khảo sát HVT trên hai phương diện:


7

- Nhận diện hành vi trách trong tiếng Việt.
- Hành vi trách trong sử dụng của người Việt.
6. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa trên quan điểm của Ngữ dụng học và Ngữ
pháp chức năng, nghĩa là nghiên cứu hành động trách trong hoạt động hành
chức của nó đặt trong một ngữ cảnh cụ thể. Cụ thể, chúng tôi sẽ sử dụng các
phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:
6.1. Phương pháp phân tích diễn ngôn
Với giả định nền tảng là các hành vi ngôn ngữ chỉ có thể được nghiên
cứu thấu đáo khi đặt trong diễn ngôn, phương pháp này được sử dụng trong
quá trình phân tích các phát ngôn có HVT nhằm tìm hiểu đặc điểm, các yếu tố
ngôn ngữ liên quan đến HVT để từ đó phân tích và miêu tả hành vi này.
6.2. Phương pháp miêu tả
Phương pháp này được sử dụng để mô tả các PTNN thực hiện HVT,
chủ đề của HVT, phân tích sự thể hiện các quan hệ liên nhân trong HVT.
6.3. Phương pháp phân tích hội thoại
Phương pháp này dùng để phân tích các tình huống giao tiếp chứa
HVT. Tình huống giao tiếp ở đây bao gồm các lượt lời của người trách và
người tiếp nhận HVT. Dựa vào phân tích này, luận văn giải thích về sự xuất
hiện của các PTNN thực hiện HVT; mục đích, nội dung trách thường thấy
trong các cuộc hội thoại.
6.4. Thủ pháp thống kê, phân loại
Thủ pháp này được dùng để thống kê, phân loại các phát ngôn chứa
HVT nhằm mục đích xác định các chủ đề, nội dung thường xuất hiện trong
HVT và tần số xuất hiện cụ thể của các chủ đề đó. Bên cạnh đó, thủ pháp
phân loại còn được sử dụng để phân loại các kiểu từ ngữ xưng hô, các trợ từ
tình thái ... xuất hiện trong HVT, phục vụ cho việc phân tích các PTNN thực
hiện HVT.


8

7. Ngữ liệu nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, chúng tôi chọn được 500 phát ngôn được xem là
biểu hiện của HVT trong tiếng Việt. Các ngữ liệu này được thu thập từ các
nguồn sau:
- Kênh văn bản: lời thoại trong một số tác phẩm văn học trên sách, báo.
- Hội thoại thực tế: Thu thập một số ngữ liệu trong thực tế giao tiếp
hằng ngày bằng ghi chép.
- Thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam.
8. Đóng góp của luận văn
Việc nghiên cứu một HVNN cụ thể đặt trong sự hành chức của nó,
đặc biệt là một HVNN tiềm ẩn tính đe dọa thể diện đối với người tiếp nhận
như HVT là một thử nghiệm. Khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi mong muốn
sẽ đóng góp thiết thực cho việc đưa ra một cái nhìn bao quát và cụ thể về
HVT và lời trách trong tiếng Việt. Nó giúp cho việc nhận diện và khu biệt
HVT với một vài hành vi ngôn ngữ khác trong tiếng Việt.
Việc tìm ra những nét riêng trong sử dụng HVT của người Việt sẽ
giúp cho người sử dụng và tiếp nhận HVT có cơ sở để lựa chọn phương án tối
ưu nhằm đạt mục đích giao tiếp; đồng thời những cấu trúc của lời trách mà
luận văn chỉ ra có thể được ứng dụng như nguồn tài nguyên trong giảng dạy
ngôn ngữ, phân tích hội thoại, luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt. Đặc biệt, với
những đối tượng học tiếng Việt như học sinh phổ thông hay người nước
ngoài… thì những cấu trúc của lời trách, những vấn đề liên quan đến việc sử
dụng và tiếp nhận HVT sẽ là những tri thức quan trọng giúp người học nắm
được cách sử dụng và tiếp nhận HVT một cách hiện quả.
Luận văn cũng góp phần chỉ ra một số nét văn hóa giao tiếp trong sử
dụng HVT của người Việt Nam.


9

9. Bố cục của luận văn
Ngoài Phần mở đầu (9 trang), Kết luận, thư mục Tài liệu tham khảo,
Ngữ liệu nghiên cứu, Phụ lục, luận văn bao gồm 66 trang chính văn với 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận (19 trang).
Trong chương này, luận văn trình bày 3 vấn đề lớn: Lý thuyết hành
động ngôn từ; lý thuyết hội thoại; khái niệm, đặc điểm và điều kiện sử dụng
hành vi trách.
Chương 2: Nhận diện hành vi trách trong tiếng Việt (20 trang).
Chương này nghiên cứu, phân biệt sự khác nhau giữ HVT với các hành
vi cận kề với nó như: than, chê, chửi; mô tả cấu trúc lời trách.
Chương 3: Hành vi trách trong giao tiếp của người Việt (27 trang).
Chương này nghiên cứu về mục đích, nội dung, các tiểu loại HVT tiêu
biểu mà người Việt thường sử dụng trong giao tiếp và mối quan hệ giữa trách
với lịch sự, trách với các vai giao tiếp.


10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ
1.1.1. Khái niệm hành vi ngôn ngữ
Như chúng ta đã biết, giao tiếp là hoạt động tiếp xúc, trao đổi giữa các
thành viên trong một cộng đồng bằng nhiều phương tiện, cách thức khác
nhau, trong đó giao tiếp bằng ngôn ngữ là quan trọng nhất. “Ngôn ngữ là
phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người” (Lê Nin). Ngôn ngữ là
phương tiện để biểu đạt ý nghĩ của mỗi người. Khi bạn muốn nói chuyện hoặc
trao đổi thông tin với ai đó, bạn phải thực hiện rất nhiều hành động khác nhau
bằng cách sử dụng ngôn ngữ để truyền tải những thông điệp mà bạn muốn
bày tỏ. Các hành động này tuy được thể hiện hết sức đa dạng nhưng đều được
gọi chung là các hành vi ngôn ngữ (HVNN). Đây cũng là vấn đề trung tâm
của lý thuyết Ngữ dụng học.
Theo Đỗ Hữu Châu: “Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một
người nói (hoặc viết) Sp1 nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc
người đọc) Sp2 trong ngữ cảnh C” [3, tr.88].
Trong thực tế giao tiếp, bên cạnh những câu về hình thức và ngữ nghĩa
đều đánh giá được theo tiêu chuẩn đúng - sai, có những phát ngôn mà xét về
hình thức cũng rất giống những câu kia nhưng lại không thể đánh giá được
theo tiêu chuẩn đó, ví dụ:
(1) Tôi nói chân thành, anh nên bỏ thuốc lá đi. [20]
(2) Tôi cuộc với anh là đội Đan Mạch sẽ thắng đội Đức đấy. [20]
Austin cho rằng những phát ngôn này không phải là những phát ngôn
giả - khẳng định, cũng không vô nghĩa, chúng được phát ra nhằm những mục
đích nhất định. Mục đích đó có thể là đánh cuộc, bộc lộ cảm xúc… của người
nói và ông gọi những phát ngôn này là phát ngôn ngữ vi - phát ngôn mà khi ta
nói ra thì đồng thời ta đã thực hiện ngay cái việc được hiển thị trong phát
ngôn. Theo ông đây chính là HVNN, ông cũng cho rằng người ta thực hiện


11

đến 3 loại HVNN khi nói ra một phát ngôn, đó là: Hành vi tạo lời, hành vi ở
lời và hành vi mượn lời.
- Hành vi tạo lời là hành vi người nói sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như
từ ngữ, cấu trúc và phát âm theo một cách thức nhất định để tạo ra một phát
ngôn hoàn chỉnh về hình thức và chuyển tải một nội dung nhất định.
- Hành vi mượn lời là hành vi thông qua PTNN để gây ra một hiệu quả
ngoài ngôn ngữ, tác động xa hơn đến tâm lí, hành vi, thái độ, tình cảm của
người nghe, người nhận hoặc chính người nói.
- Hành vi ở lời là những hành động được thực hiện ngay trong lời nói
và bằng việc sử dụng ngôn ngữ, phát ngôn để tạo ra hiệu quả thuộc ngôn ngữ,
có nghĩa là chúng gay ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở
người nhận. Đó là những hành vi như: Hỏi, mời, chào, chúc, khuyên, than,
trách, ra lệnh, đề nghị.., ví dụ:
(3) Trời ơi! Sao thân tôi lại khổ thế này! [20]
(4) Làm gì mà gắt gỏng thế ông Lý! [ 2, tr.11]
(5) Anh đừng nghĩ về việc đó nữa. [20]
- Ví dụ (3) là một lời than, nó thể hiện hành vi ở lời là than.
- Ví dụ (4) là một lời trách, nó thể hiện hành vi ở lời là trách.
- Ví dụ (5) là một lời khuyên, nó thể hiện hành vi ở lời là khuyên.
O.Ducrot nói rõ thêm về các hành vi ở lời. Theo ông, “hành vi ở lời
khác với hành vi tạo lời và hành vi mượn lời ở chỗ chúng thay đổi tư cách
pháp nhân của người đối thoại. Chúng đặt người nói và người nghe vào
những nghĩa vụ và quyền lợi mới so với tình trạng của họ trước khi thực hiện
hành vi ở lời đó”. (dẫn theo [3, tr.90])
Có thể nói rằng những tư tưởng trên đã tạo nền móng vững chắc cho lý
thuyết HVNN. Ngữ dụng học quan tâm trước hết các hành vi ở lời. Hầu như
các HVNN được bàn đến trong các công trình nghiên cứu trước đây và HVT
được nghiên cứu trong luận văn này là loại HVNN ở lời. Trong phạm vi luận


12

văn này chúng tôi tập trung nghiên cứu về một loại HVNN ở lời, cụ thể là
hành vi trách trong tiếng Việt.
1.1.2. Phân loại hành vi ở lời
Cách phân loại hành vi ở lời khá đa dạng. Trong luận văn này, chúng
tôi quan tâm đến hai cách phân loại phổ biến nhất theo quan điểm của Austin
(1962) và Searle (1975).
1.1.2.1. Sự phân loại theo quan điểm của Austin
Theo Austin, các hành vi ngôn ngữ được chia thành 5 loại lớn. Đó là:
1. Phán xử (verditives, verditifs): đây là những hành vi đưa ra những
lời phán xét hay đánh giá về một sự kiện hoặc giá trị dựa trên những chứng cứ
hoặc lí lẽ vững chắc như: xử trắng án, xem là, tính toán, miêu tả, phân loại,
phân tích, cho là, nêu đặc điểm…
2. Hành xử (exercitives, exercitifs): đây là những hành vi đưa ra những
quyết định thuận lợi hay bất lợi chống lại chuỗi hành động nào đó như: ra
lệnh, chỉ huy, khẩn cầu, giới thiệu, bổ nhiệm, bế mạc, cảnh cáo…
3. Cam kết (commisives, commissifs): đây là những hành vi ràng buộc
người nói vào những hành động nhất định như: hứa hẹn, giao ước, bảo đảm, bày
tỏ, thề nguyền, thông qua các quy ước…
4. Trình bày (expositives, expositifs): đây là những hành vi dùng để
trình bày các quan niệm, dẫn dắt lập luận, giải thích cách dùng các từ như:
khẳng định, phủ định, chối, trả lời, phản bác, dẫn thí dụ…
5. Ứng xử (behabitive): đây là những hành vi phản ứng với cách ứng xử
của người khác đối với những sự kiện liên quan như: xin lỗi, cám ơn, khen
ngợi, chào mừng, chia buồn, phê phán, ban phước, nguyền rủa, nâng cốc,
chống lại, thách thức.
1.1.2.2. Sự phân loại của Searle
Searle cho rằng trước hết phải phân loại các hành vi ở lời chứ không
phải phân loại các động từ gọi tên chúng. Ban đầu Searle liệt kê ra 12 điểm
khác biệt giữa các HVNN có thể dùng làm tiêu chí phân loại các HVNN.


13

Trong 12 tiêu chí đó, Searle vận dụng 4 tiêu chí mà ông cho là quan trọng
nhất là: đích tại lời, hướng khớp ghép lời - hiện thực, trạng thái tâm lý được
biểu hiện, nội dung mệnh đề để chia HVNN thành 5 loại lớn:
1. Tái hiện (representative): Hành vi này trước đó được Searle gọi là
xác tín (assertives). Đây là hành vi mà đích ở lời miêu tả lại một sự tình đang
được nói đến. Lớp này gồm các hành vi như: kể, tự sự, miêu tả, mách, khoe…
2. Điều khiển (directive, directifs): Đây là hành vi mà đích ở lời là đặt
người nghe vào trách nhiệm thực hiện một hành động tương lai. Các hành vi
thuộc lớp này là: ra lệnh, yêu cầu, cho phép, hỏi…
3. Cam kết (commissives, commissifs): Đây là hành vi mà đích ở lời là
trách nhiệm phải thực hiện hành động tương lai mà Sp1 bị ràng buộc. Các
hành vi thuộc lớp này là: hứa hẹn, tặng, biếu…
4. Biểu lộ (expressives, expressifs): Đây là hành vi mà đích ở lời là bày
tỏ trạng thái tâm lí phù hợp với hành vi ở lời. Các hành vi thuộc lớp này là:
cảm thán, than thở, cảm ơn, xin lỗi, khen, chê…
5. Tuyên bố (declarations, declaratifs). Đây là hành vi mà đích ở lời là
nhằm làm cho nội dung của hành vi hướng khớp ghép vừa là lời – hiện thực,
vừa là hiện thực - lời. Các hành vi thuộc lớp này là: tuyên bố, tuyên án, buộc
tội, kết tội…
Dựa theo sự phân loại của hai tác giả trên, chúng tôi nhận thấy hành vi
trách trong tiếng Việt có thể xếp vào nhóm ứng xử hay biểu lộ và 4 tiêu chí cụ
thể của nhóm này là:
- Đích ở lời: người phát thông qua phát ngôn của mình bày tỏ trạng thái
tâm lý;
- Hướng khớp ghép lời: đối với các hành vi thuộc nhóm biểu lộ thì
không có hướng khớp ghép;
- Trạng thái tâm lý: thay đổi theo từng loại hành vi như vui thích, mong
muốn, bực bội…;


14

- Nội dung mệnh đề: là hành động hoặc tính chất nào đó có tư cách là
nguồn gây ra cảm xúc của người phát ngôn.
1.1.3. Điều kiện thực hiện các hành vi ở lời
Hành vi ở lời, cũng giống như các hành vi khác của con người, chỉ
được thực hiện thành công với những điều kiện nhất định. Mỗi hành vi ở lời
như chào, kể, bác bỏ, từ chối, sai khiến, cầu xin, hứa, dặn dò, chê, trách… đều
có những điều kiện riêng. Austin cho rằng điều kiện sử dụng các hành vi ở lời
là những điều kiện “may mắn”. Trên cơ sở những điều kiện may mắn của
Austin, Saerle đã điều chỉnh, bổ sung thành các điều kiện sử dụng hành vi ở
lời, như sau:
1.1.3.1. Điều kiện nội dung mệnh đề
Điều kiện này chỉ ra bản chất nội dung của hành vi. Nội dung mệnh đề
có thể là một mệnh đề đơn giản (khảo nghiêm, xác tín, miêu tả) hay một hàm
mệnh đề (đối với các câu hỏi khép kín có /không). Nội dung mệnh đề có thể là
một hành động của người nói hay một hành động của người nghe.
1.1.3.2. Điều kiện chuẩn bị
Điều kiện này bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn về năng
lực, lợi ích, ý định của người nghe về các mối quan hệ giữa người nói, người
nghe.
1.1.3.3. Điều kiện chân thành
Đây là điều kiện chỉ ra trạng thái tâm lí tương ứng của người phát
ngôn.
1.1.3.4. Điều kiện căn bản
Đây là điều kiện đưa ra kiểu trách nhiệm mà người nói hoặc người nghe
bị ràng buộc khi hành vi ở lời đó được phát ra. Trách nhiệm có thể rơi vào
hành động sẽ được thực hiện (lệnh, hứa hẹn) hoặc đối với tính chân thực của
nội dung (một lời xác tín buộc người nói phải chịu trách nhiệm về tính đúng
đắn của điều nói ra). [3, tr.117]


15

Theo Searle, mỗi hành vi ở lời đòi hỏi phải thỏa mãn những điều kiện
(còn gọi là những quy tắc) trên, để cho việc thực hiện hành vi đạt hiệu quả
đúng với đích của nó. Mỗi điều kiện là một điều kiện cần, còn lại toàn bộ hệ
điều kiện là điều kiện đủ. Trong 4 điều kiện trên, mỗi điều kiện lại được biểu
hiện khác nhau tùy theo từng phạm trù, từng loại và từng hành vi ở lời cụ thể.
1.1.4. Hành vi ở lời trực tiếp và gián tiếp
Những hành vi được thực hiện đúng với đích ở lời, đúng với những
điều kiện sử dụng của chúng được gọi là những HVNN (hành vi ở lời) trực
tiếp hay chân thực. Nhưng trong thực tế giao tiếp, không phải bao giờ các
HVNN cũng được dùng đúng với đích ở lời và đúng với các điều kiện sử
dụng của chúng. Khi đó, xuất hiện những HVNN gián tiếp, ví dụ:
1.1.3.1. Hành vi ở lời trực tiếp
Hành vi ở lời trực tiếp của một phát ngôn là hành vi tại lời chỉ định một
cách trực tiếp về dạng thức ngữ pháp và từ ngữ của câu được phát ngôn ra.
(6) Bố Mai vừa mua cho cháu đôi giày đỏ.
(7) Giá trúng xổ số bây giờ nhỉ!
(8) Anh có thể mua cho em quyển sách này được không?
Hành vi ở lời trực tiếp của ví dụ (6) là khảo nghiệm (còn được gọi là
“trần thuật” hay “xác tín”); ví dụ (7) là mong muốn; ví dụ (8) là hỏi.
Nhìn chung hành vi ở lời trực tiếp là các HVNN chân thực, đúng với
đích ở lời của mỗi phát ngôn khi phát ra.
1.1.3.2. Hành vi ở lời gián tiếp
Theo Searle “một hành vi ở lời được thực hiện gián tiếp qua một hành
vi ở lời khác sẽ được gọi là một hành vi gián tiếp”. Định nghĩa này được Đỗ
Hữu Châu cụ thể hơn như sau: “Một hành vi được sử dụng gián tiếp là một
hành vi trong đó người nói thực hiện một hành vi ở lời này nhưng lại nhằm
làm cho người nghe dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ
chung cho cả hai người, suy ra hiệu lực ở lời của một hành vi khác” [3,
tr.146]. Hành vi trách được thực hiện gián tiếp qua hành vi hỏi, ví dụ:


16

(9) Bà Lý: Cả nhà ăn tết, chỉ có đồng bạc, thầy nó định lấy đem vào quan
hay sao? [9, tr. 15]
Ở ví dụ (9), SP1 (Bà Lý) gián tiếp trách SP2 (ông Lý), khi ông định lấy
đồng bạc duy nhất để sắm tết cho cả nhà đi tết quan, qua hành vi hỏi.
Trong giao tiếp, hiệu lực ở lời gián tiếp được xem là cái thêm vào cho
hiệu lực ở lời trực tiếp. Muốn nhận biết được hiệu lực ở lời gián tiếp thì người
nghe trước hết phải nhận biết hiệu lực ở lời của hành vi trực tiếp. Bởi vì “hầu
như tất cả các hành vi ở lời đều có thể được dùng để thực hiện gián tiếp các
hành vi khác” [3, tr.149]. Vì vậy, muốn sử dụng và nhận biết được các hành
vi ở lời gián tiếp thì phải biết tất cả biểu thức ngữ vi và hiệu lực ở lời của tất
cả các hành vi ở lời. Nhận biết được hành vi ở lời gián tiếp là kết quả của quá
trình hoạt động suy ý từ hành vi trực tiếp nghe được (đọc được).
1.1.5. Động từ ngữ vi
Động từ ngữ vi là những động từ có thể được thực hiện trong chức năng
ngữ vi, tức thực hiện trong chức năng tại lời. Hầu hết các tác giả đều có cách
hiểu giống nhau về nội hàm cũng như ngoại diên của nhóm động từ này. Đây
là nhóm động từ mà khi phát âm chúng trong phát ngôn (với những điều kiện
nhất định) là người nói thực hiện luôn cái hành vi tại lời do chúng biểu hiện.
Nói cách khác, mỗi một ĐTNV biểu hiện một HVNN, và hành vi đó được
thực hiện thông qua việc người nói nói ra động từ đó, còn nội dung của hành
vi thì được thể hiện ở ngay phần tiếp sau của động từ. Khi ta phát ngôn “Cháu
chào bác ạ!” hoặc “Tôi hỏi cô chuyện này được không?” tức là người nói đã
thực hiện hành vi chào và hành vi hỏi tại thời điểm phát ngôn. Như vậy, động
từ chào và hỏi được xem là ĐTNV.
Trong thực tế giao tiếp, không phải khi nào các ĐTNV cũng được dùng
với chức năng ngữ vi. Austin cho rằng, ĐTNV chỉ được dùng trong chức
năng ngữ vi khi nó thỏa mãn những điều kiện: chủ thể phát ngôn ở ngôi thứ
nhất, thời của động từ ở thời hiện tại (hiện tại phát ngôn), thể của động từ là


17

thể chủ động, thức thực thi, bổ ngữ trực tiếp gắn với người đối thoại và phải ở
ngôi thứ hai.
Về sau, một số công trình nghiên cứu liên quan tiếp tục cụ thể hóa các
điều kiện cần và đủ để một động từ trở thành ĐTNV, theo đó một ĐTNV phải
là động từ biểu thị hành động, được thực hiện bằng cách nói nó ra, là động từ
mà khi nói xong thì hành động mà nó biểu thị cũng được thực hiện xong,
ĐTNV cũng phải nằm trong mệnh đề chính của cấu trúc nòng cốt biểu thị lõi
sự tình, không đứng sau các từ phủ định hay hàm ý phủ định. Ví dụ:
(10) Tôi chúc mừng anh!
(11) Tôi đã chúc mừng anh.
Chúc mừng ở ví dụ (10) là động từ ngữ vi, còn chúc mừng ở ví dụ (11)
không phải vì nó không thỏa mãn được một trong ba điều kiện nêu trên, vì
động từ trong phát ngôn này được dùng ở thời quá khứ.
1.2. Lý thuyết hội thoại
Trong cuộc sống hàng ngày, con người phải thường xuyên giao tiếp,
trao đổi thông tin với nhau. Quá trình giao tiếp này được thực hiện bằng nhiều
phương tiện và dưới nhiều hình thái khác nhau, trong đó giao tiếp hội thoại là
hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của con người. Theo Đỗ Hữu
Châu: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn
ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác” [3,
tr.201].
1.2.1. Lượt lời và tham thoại
1.2.1.1. Lượt lời
Theo Đỗ Hữu Châu: “Chuỗi đơn vị ngôn ngữ được một nhân vật hội
thoại nói ra, kể từ lúc bắt đầu cho đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại
kia nói chuỗi của mình là một lượt lời (turn at talk)” [3, tr.629].
Nguyên tắc luân phiên về lượt lời đòi hỏi phải nhường lời cho người
hội thoại với mình, không cướp lời khi người đối thoại chưa dứt, phải nối tiếp
lời của người tham gia hội thoại kịp thời, không để khoảng im lặng quá dài.


18

1.2.1.2. Tham thoại
“Tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp
thoại nhất định” [3, tr.316].
Tham thoại và lượt lời không trùng với nhau. Một lượt lời có thể chỉ
gồm một tham thoại. Ví dụ:
- Sp1: Xin chào!
- Sp2: Chào!
- Sp1: Dạo này thế nào?
Nhưng cũng có thể có lượt lời gồm nhiều tham thoại. Ví dụ:
(12) Sp2: Bình thường. Còn cậu thì sao?.
Tham thoại được cấu tạo nên từ HVNN và HVNN là nòng cốt của tham
thoại. Các tham thoại hồi đáp và các tín hiệu kèm diễn ngôn trong hội thoại
đều căn cứ vào HVNN nòng cốt của tham thoại dẫn nhập. Xét về tổ chức nội
tại, một tham thoại có thể do một HVNN hoặc một số HVNN tạo nên. Trong
trường hợp có nhiều HVNN tạo nên có một HVNN nòng cốt (còn gọi là
HVNN chủ hướng), các HVNN khác được gọi là HVNN phụ thuộc. Trong
trường hợp đó, HVNN nòng cốt của tham thoại là HVNN quyết định tham
thoại, quyết định hướng hồi đáp của tham thoại hồi đáp. Ví dụ: Cô giáo vào
lớp 5D trong giờ ra chơi và hỏi học sinh:
(13)

Sp1: Xin lỗi các con, các con có biết bạn Thùy Dương đâu không?
Bạn Thùy Dương mà mới được huy chương vàng giải bơi thành
phố ấy.
Sp2: Bạn ấy vừa xuống phòng hội đồng gặp thầy tổng phụ trách rồi cô ạ!

Tham thoại dẫn nhập (13) trên có 3 HVNN: xin lỗi, hỏi và giải thích
nhưng HVNN nòng cốt quyết định đây là tham thoại hỏi và cũng quyết định
hướng hồi đáp của Sp2.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×