Tải bản đầy đủ

Vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học sinh học tế bào ở trường trung học phổ thông

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––––––––––––

NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

VẬN DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC
TRONG DẠY HỌC SINH HỌC TẾ BÀO
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2019
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––––––––––––


NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

VẬN DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC
TRONG DẠY HỌC SINH HỌC TẾ BÀO
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Sinh học
Mã ngành: 8140111

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Hằng

THÁI NGUYÊN - 2019
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu
trong luận văn là trung thực và chưa từng được bảo vệ trước bất kỳ hội đồng nào
trước đây.

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2019
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hương

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Thị Hằng - Người đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn;
Xin trân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sinh học, Phòng Đào tạo Trường
Đại học Sư Phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu;


Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, giáo viên môn Sinh học, học sinh khối
10 năm học 2018 - 2019 trường THPT Lưu Nhân Chú - Đại Từ, trường THPT Yên
Ninh - Phú Lương, trường THPT Thái Nguyên, trường THPT Lương Ngọc Quyến
tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra và thực
nghiệm sư phạm.
Xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn động viên, khuyến khích tôi
trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2019
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hương

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan ................................................................................................................. i
Lời cảm ơn .....................................................................................................................ii
Mục lục ........................................................................................................................ iii
Danh mục từ viết tắt...................................................................................................... iv
Danh mục các bảng ........................................................................................................ v
Danh mục các hình ....................................................................................................... vi
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 1
1. Lí do lựa chọn đề tài ................................................................................................. 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................................. 3
3. Đối tượng, khách thể nghiên cứu .............................................................................. 3
4. Nội dung nghiên cứu................................................................................................. 3
5. Giả thuyết khoa học .................................................................................................. 3
6. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................... 3
7. Đóng góp mới của đề tài ........................................................................................... 4
8. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ............................. 5
1.1. Tình hình nghiên cứu và vận dụng mô hình lớp học đảo ngược ........................... 5
1.1.1. Trên thế giới ........................................................................................................ 5
1.1.2. Ở Việt Nam ......................................................................................................... 7
1.2. Khái niệm về lớp học đảo ngược ........................................................................... 9
1.2.1. Lớp học đảo ngược là gì? ................................................................................... 9
1.2.2. Đặc điểm của mô hình lớp học đảo ngược ....................................................... 10
1.2.3. Các mô hình của lớp học đảo ngược ................................................................ 13
1.3. Mối quan hệ giữa dạy học đảo ngược với việc hình thành và phát triển năng
lực của học sinh .......................................................................................................... 14
1.4. Thực trạng dạy học môn Sinh học và dạy học theo mô hình lớp học đảo
ngược ở trường phổ thông .......................................................................................... 18
1.4.1. Mục đích và phương pháp điều tra ................................................................... 18
1.4.2. Kết quả điều tra ................................................................................................. 19
Kết luận chương 1 ....................................................................................................... 24
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


Chương 2: VẬN DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC TRONG DẠY
HỌC SINH HỌC SINH HỌC TẾ BÀO Ở TRƯỜNG THPT .............................. 25
2.1. Đặc điểm nội dung phần Sinh học tế bào (Sinh học 10 THPT) .......................... 25
2.1.1. Đặc điểm môn Sinh học ở trường THPT .......................................................... 25
2.1.2. Nội dung phần Sinh học tế bào ở trường THPT ............................................... 30
2.2. Thiết kế kế hoạch dạy học Sinh học tế bào theo mô hình lớp học đảo ngược .... 34
2.2.1. Nguyên tắc xây dựng bài học Sinh học theo mô hình lớp học đảo ngược ....... 34
2.2.2. Quy trình thiết kế kế hoạch lớp học đảo ngược ................................................ 35
2.2.3. Thiết kế các hoạt động dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược ................... 36
2.3. Tổ chức dạy học Sinh học tế bào theo mô hình lớp học đảo ngược .................... 41
2.3.1. Nguyên tắc tổ chức hoạt động học tập theo mô hình lớp học đảo ngược ........ 41
2.3.2. Phương pháp vận dụng lớp học đảo ngược trong dạy học Sinh học tế bào ..... 41
2.3.3. Tổ chức dạy học Sinh học tế bào theo mô hình lớp học đảo ngược ................. 41
2.3.4. Dự kiến phương án kiểm tra đánh giá cho lớp học đảo ngược trong dạy học
Sinh học tế bào ............................................................................................................ 42
Kết luận chương 2 ....................................................................................................... 45
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ................................................................ 46
3.1. Mục đích thực nghiệm ......................................................................................... 46
3.2. Phương pháp thực nghiệm ..................................................................................... 46
3.3. Đối tượng thực nghiệm sư phạm ......................................................................... 46
3.3.1. Chọn các trường thực nghiệm........................................................................... 46
3.3.2. Chọn các lớp thực nghiệm ................................................................................ 46
3.4. Nội dung thực nghiệm sư phạm ........................................................................... 46
3.5. Tiến trình thực nghiệm sư phạm .......................................................................... 47
3.6. Kết quả thực nghiệm sư phạm ............................................................................. 47
3.6.1. Kết quả phân tích định lượng bài kiểm tra ....................................................... 47
3.6.2. Kết quả phân tích định tính ............................................................................... 52
Kết luận chương 3 ....................................................................................................... 54
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ....................................................................................... 55
1. Kết luận ................................................................................................................... 55
2. Đề nghị .................................................................................................................... 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 56
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ

Thứ tự

Viết tắt

1.

CNTT

2.

DH

Dạy học

3.

ĐC

Đối chứng

4.

GD&ĐT

Giáo dục và đào tạo

5.

GDPT

Giáo dục phổ thông

6.

GV

Giáo viên

7.

HS

Học sinh

8.

LHĐN

Lớp học đảo ngược

9.

PPDH

Phương pháp dạy học

10.

SGK

Sách giáo khoa

11.

SHTB

Sinh học tế bào

12.

SV

Sinh viên

13.

TH

Thực hành

14.

THPT

15.

TN

Công nghệ thông tin

Trung học phổ thông
Thực nghiệm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Lợi ích của các hoạt động trong mô hình lớp học đảo ngược .................... 11
Bảng 1.2. Mô hình lớp học truyền thống và lớp học đảo ngược ................................ 15
Bảng 1.3. Kết quả điều tra hoạt động học tập môn Sinh học của học sinh ................ 20
Bảng 1.4. Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học ............................................... 21
Bảng 1.5. Nhận thức về vai trò của mô hình lớp học đảo ngược ............................... 22
Bảng 1.6. Những khó khăn khi vận dụng dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược ........ 23
Bảng 2.1. Chương trình Sinh học ở trường THPT hiện hành .................................... 25
Bảng 2.2. Nội dung cốt lõi môn Sinh học trong chương trình GDPT mới ................ 27
Bảng 2.3. Một số điểm khác biệt trong chương trình Sinh học hiện hành và
chương trình Sinh học mới ...................................................................... 28
Bảng 2.4. Nội dung cơ bản phần Sinh học tế bào môn Sinh học cấp THPT.............. 30
Bảng 2.5. Nội dung cụ thể và yêu cầu cần đạt của phần Sinh học tế bào .................. 30
Bảng 2.6. Gợi ý mô tả biến đổi của tế bào qua các kì của chu kì tế bào .................... 37
Bảng 2.7. Hoạt động nhóm ở giai đoạn trong lớp học ............................................... 39
Bảng 3.1. Đối tượng tham gia thực nghiệm ............................................................... 46
Bảng 3.2. Bảng thống kê điểm số bài kiểm tra .......................................................... 48
Bảng 3.3. Tần suất điểm kiểm tra lần 1 ...................................................................... 48
Bảng 3.4. Bảng tần suất hội tụ tiến điểm bài kiểm tra 1............................................. 49
Bảng 3.5. So sánh các tham số đặc trưng bài kiểm tra lần 1 ...................................... 49
Bảng 3.6. Tần suất điểm kiểm tra lần 2 ...................................................................... 50
Bảng 3.7. Bảng tần suất hội tụ tiến điểm bài kiểm tra lần 2 ....................................... 51
Bảng 3.8. So sánh các tham số đặc trưng bài kiểm tra 2 ............................................ 51
Bảng 3.9. Nhận thức của học sinh về vai trò của mô hình lớp học đảo ngược .......... 52
Bảng 3.10. Kết quả thực hiện các kỹ năng học tập qua hoạt động học tập ................ 53

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Các mức độ của hoạt động trong lớp học truyền thống và LHĐN ............. 15
Hình 1.2. Các mức độ nhận thức và năng lực tư duy trong LHĐN............................ 17
Hình 1.3. Biểu đồ thái độ của học sinh đối với môn Sinh học ................................... 19
Hình 1.4. Biểu đồ đánh giá vai trò của môn Sinh học ................................................ 19
Hình 1.5. Biểu đồ mức độ tìm hiểu của giáo viên về mô hình LHĐN ....................... 22
Hình 2.1. Quy trình thiết kế lớp học đảo ngược ......................................................... 35
Hình 3.1. Biểu đồ tần suất điểm kiểm tra lần 1 .......................................................... 48
Hình 3.2. Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm bài kiểm tra 1 ........................................... 49
Hình 3.3. Biểu đồ tần suất điểm bài kiểm tra lần 2 .................................................... 50
Hình 3.4. Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm các bài kiểm tra 2 ..................................... 51

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


MỞ ĐẦU
1. Lí do lựa chọn đề tài
1.1. Xuất phát từ định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông
Đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT không những là đòi hỏi tất yếu của thời
đại mà còn là nhu cầu tự thân của nền giáo dục Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế [1].
Nghị quyết trung ương số 29-NQ/TW đã xác định đổi mới căn bản toàn diện về
mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, thiết bị và đánh giá chất lượng
giáo dục. Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 28/11/2014, Quốc hội khóa XIII
đã ban hành Nghị quyết số 88/2014/QH13 về đổi mới chương trình, SGK GDPT [11].
Trong định hướng đổi mới đó, Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo tiếp tục đổi mới PPDH nhằm
phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học và vận dụng
kiến thức, kỹ năng của HS (Theo công văn số 3535/BGDĐT - GDTrH ngày
27/05/2013 về áp dụng phương pháp “Bàn tay năn bột” và các phương pháp DH tích
cực khác) [2]. Đổi mới đánh giá giờ dạy GV cũng được thay đổi, đẩy mạnh việc vận
dụng DH giải quyết vấn đề, DH theo dự án,…, tích cực ứng dụng CNTT phù hợp với
nội dung bài học [3].
Trong Chương trình GDPT tổng thể, mục tiêu chung của các môn học là góp
phần hình thành và phát triển ở HS các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung cốt lõi và
năng lực chuyên môn.
1.2. Xuất phát từ ưu điểm của mô hình lớp học đảo ngược
LHĐN nói về sự đảo chiều của phương pháp giảng dạy truyền thống, là nơi mà
HS có sự tiếp xúc đầu tiên với các tài liệu mới bên ngoài lớp học, thường là qua các
bài đọc hoặc video bài giảng, sau đó thời gian trên lớp sẽ được sử dụng để giải quyết
vấn đề khó hơn là lĩnh hội kiến thức thông qua các chiến lược như giải quyết vấn đề,
thảo luận hoặc tranh luận. Bản chất giờ học trên LHĐN tập trung giải quyết các nội
dung vốn trước đây được coi là bài tập về nhà và dành nhiều thời gian hơn cho việc
thảo luận, đào sâu kiến thức.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


Trong LHĐN, HS được lựa chọn cách thức, thời gian, địa điểm học tập phù hợp
với mình, được linh hoạt trong đánh giá, đánh giá quá trình và đánh giá kết quả. Trên
lớp có thể sử dụng nhiều phương pháp tích cực hóa hoạt động người học như hoạt
động nhóm, giải quyết vấn đề… để nghiên cứu vấn đề sâu sắc hơn. Nội dung DH
được người dạy thiết kế có định hướng nhằm giúp người học có thể tự nghiên cứu
trong thời gian ngoài lớp học [10].
1.3. Xuất phát từ đặc điểm dạy học Sinh học tế bào ở trường THPT
Môn Sinh học phát triển ở HS năng lực tìm hiểu tự nhiên, bao gồm các năng lực
nhận thức kiến thức sinh học, năng lực tìm tòi khám phá thế giới sống dưới góc độ
sinh học và năng lực vận dụng kiến thức sinh học vào thực tiễn [5].
Trong Chương trình GDPT môn Sinh học, phần SHTB bao gồm các nội dung
khái quát về tế bào, thành phần hóa học, cấu trúc, trao đổi chất và chuyển hóa năng
lượng, thông tin trong tế bào, kiến thức về chu kì tế bào và phân bào, công nghệ tế
bào, công nghệ enzyme và một số thành tựu. Phần lớn những nội dung này cũng được
thể hiện trong chương trình, SGK Sinh học 10 hiện hành.
Tuy nhiên, việc thực hiện chương trình, SGK hiện hành của các môn học ở
trường phổ thông hiện nay đang được tiến hành theo từng bài/tiết. Các nội dung được
phân chia thành những đơn vị kiến thức cụ thể, theo từng bài học và được sắp xếp
tuần tự, phù hợp với tiến trình lĩnh hội kiến thức cho HS. Cách thiết kế này thuận lợi
cho việc tổ chức DH trên lớp cũng như quản lý việc DH và phân phối chương trình
hiện đang được áp dụng. Nhưng không phát huy được năng lực học tập của HS, HS
còn bị động trong việc lĩnh hội tri thức, dẫn đến việc lưu giữ kiến thức không bền
vững và việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn gặp khó khăn.
Vậy để tiếp cận với chương trình giáo dục mới, chúng ta cần áp dụng các
PPDH nào mang lại hiệu quả DH Sinh học nói chung và DH SHTB nói riêng?
Tiếp cận mô hình LHĐN có ý nghĩa như thế nào trong tiến trình đổi mới PPDH
môn học ở trường THPT?
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Vận
dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học Sinh học tế bào ở trường
trung học phổ thông”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


2. Mục tiêu nghiên cứu
- Thiết kế được kế hoạch DH vận dụng mô hình LHĐN trong DH SHTB ở
trường THPT.
- Vận dụng được kế hoạch đã thiết kế vào thực tiễn DH.
3. Đối tượng, khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mô hình LHĐN trong DH SHTB ở trường THPT.
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình DH Sinh học ở trường THPT.
4. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của mô hình LHĐN và điều tra thực trạng DH Sinh
học theo mô hình LHĐN.
- Nghiên cứu nội dung chương trình, kiến thức SHTB để xác định các nội dung
DH phù hợp với mô hình LHĐN.
- Xây dựng quy trình và kế hoạch DH mô hình LHĐN trong DH SHTB.
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng và đánh giá tính khả thi và hiệu quả của
kế hoạch DH SHTB theo mô hình LHĐN.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế và vận dụng được mô hình LHĐN trong DH SHTB thì sẽ nâng cao
hiệu quả học tập và năng lực tự học của HS.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu các Văn kiện, Nghị quyết của Đảng, Chính phủ, Văn bản của Bộ
giáo dục và đào tạo về thực hiện đổi mới giáo dục ở trường phổ thông.
Nghiên cứu các tài liệu về mô hình LHĐN, về tâm lý học, giáo dục học, về DH
theo định hướng phát triển năng lực người học để xác định cơ sở khoa học của đề tài.
Nghiên cứu các tài liệu giáo khoa, tài liệu tham khảo về SHTB để xây dựng
quy trình DH theo mô hình LHĐN và vận dụng quy trình đó trong DH SHTB ở
trường THPT.
6.2. Phương pháp điều tra sư phạm
Điều tra thực trạng DH môn Sinh học và DH theo mô hình LHĐN ở trường phổ
thông để làm cơ sở thực tiễn của đề tài.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


6.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành DH theo mô hình LHĐN có ĐC để kiểm định tính phù hợp và hiệu
quả của giả thuyết khoa học.
6.4. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng toán thống kê để xử lý, phân tích, tổng hợp các kết quả điều tra và TN
sư phạm.
7. Đóng góp mới của đề tài
- Thiết kế và vận dụng được kế hoạch DH theo mô hình LHĐN trong DH SHTB
ở trường THPT.
- Kết quả của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các GV, HS, SV
trong quá trình dạy và học theo mô hình LHĐN tại trường THPT.
8. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Bước đầu nghiên cứu, thiết kế kế hoạch và tổ chức DH 3 nội dung thuộc phần
SHTB vận dụng mô hình LHĐN.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tình hình nghiên cứu và vận dụng mô hình lớp học đảo ngược
1.1.1. Trên thế giới
Mô hình LHĐN được xác định là có vai trò cần thiết cho người học trong thời
hiện đại, được áp dụng ngày càng phổ biến ở một số nước có nền giáo dục phát triển
như Australia, Mỹ, các nước châu Âu,…
Khái niệm “đảo ngược” một lớp học xuất hiện từ những năm 90 của thập kỉ XX.
Alison King (1993) đã tập trung vào tầm quan trọng của việc sử dụng thời gian trong
lớp học để xây dựng ý nghĩa thay vì truyền tải thông tin, được trích dẫn như một động
lực cho một sự đảo ngược, tạo một không gian giáo dục cho việc học tập tích cực. Năm
1997, Eric Mazur đã xuất bản cuốn sách có tựa đề Peer Instruction: A User's Manual,
trong đó ông cho thấy phương pháp được ông sử dụng đã chuyển tải thông tin ra khỏi
lớp học, thay vì giảng bài, ông thường xuyên thảo luận và trao đổi với SV [17].
LHĐN chính thức được áp dụng từ năm 2006 khi Bill Brantley đưa ra hình thức
học tập đảo ngược ở hội thảo DH chính trị, khoa học của Mỹ. Trước đó, từ năm 2004,
khái niệm về LHĐN cũng đã được Tenneson và McGlass đưa ra trong DH thực tiễn.
Trong bài báo có tựa đề được tạm dịch là “Đảo ngược lớp học: Cánh cổng tạo ra
môi trường học tập hòa nhập”, Lage, Platt và Treglia đã thảo luận về các LHĐN ở
cấp đại học ngành kinh tế, cho thấy có thể tận dụng thời gian trên lớp nhờ phương
pháp đảo ngược lớp học. Các tác giả cho rằng có thể chuyển bài thuyết trình ra khỏi
lớp học sang phương tiện truyền thông như máy tính hoặc VCR để đáp ứng được nhu
cầu của SV với nhiều phong cách học tập đa dạng [19].
Năm 2004, Học viện Khan được thành lập bởi Salman Khan, xuất phát từ việc
người anh em họ đang được Khan dạy kèm cảm thấy những bài học được ghi chép lại
thật phiền chán, Khan cần phải quay video bài học cho họ rồi cùng thảo luận vấn đề
học tập gây nhiều phiền toái. Đây là một dạng của phương pháp học tập đảo ngược
[21]. Bên cạnh đó, trung tâm tập trung vào nghiên cứu và ứng dụng “học tập đảo
ngược và pha trộn) cũng được ra đời bởi Wisconsin. Cấu trúc lớp học theo yêu cầu
của họ là lớp học chứa công nghệ và không gian học tập thân thiện cho sự cộng tác,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


còn người tham gia chương trình được đặt vào các chiến lược giảng dạy phi truyền
thống như LHĐN. Mô hình “Flipped-Mastery” được hình thành từ năm 2007 và phát
triển bởi các GV hóa học thuộc trường trung học Woodland Park Jonathan
Bergmann. Họ đã ghi lại các bài giảng của mình và đăng chúng lên mạng, tạo cơ hội
học tập cho các HS bỏ lỡ lớp học [18].
Trên trang báo điện tử của news.zing.vn giới thiệu mô hình LHĐN ở Mỹ. Ở Mỹ,
phần lớn các cơ sở giáo dục đã đảo ngược quy trình nghe giảng bài trên lớp, về nhà làm
bài tập. Mô hình DH mới này được gọi là Flipped Classroom (LHĐN). Theo một cuộc
khảo sát do Sophia Learning và Flipped Learning Network tiến hành, số lượng GV áp
dụng mô hình Flipped Classroom trong giảng dạy ở Mỹ tăng lên 78% trong năm 2014,
so với 48% vào năm 2012. Trong đó, các GV tham gia khảo sát đều đồng ý rằng mô
hình này giúp thái độ học tập trong lớp được cải thiện rất nhiều và điểm số của HS tăng
lên 67% so với cách học truyền thống. Ngoài ra, 3/4 trong tổng số 180.000 HS trung
học tham gia cuộc khảo sát Speak Up năm 2013 cũng đồng ý rằng Flipped Classroom
mang lại hiệu quả học tập cao hơn so với bình thường [24]. Các giáo sư tại Đại học
Graz đã tiến hành một nghiên cứu các bài giảng video được ghi lại theo cách mà SV có
thể truy cập chúng trong suốt học kỳ của một khóa học dựa trên bài giảng về tâm lý
giáo dục. Các giáo sư đã khảo sát cách các SV sử dụng các công cụ giáo dục của họ:
tham dự các bài giảng và xem hoặc tua lại video. Sau đó, SV được xếp hạng (theo
thang điểm từ 1 = không đến 6 = gần như tất cả) mức độ thường xuyên họ sử dụng các
tài liệu này. Phần lớn các SV (68,1%) dựa vào việc xem các postcard nhưng có tỷ lệ
tham gia thấp so với việc sử dụng postcard của họ. Phần còn lại, các SV hiếm khi xem
postcard (19,6%) hoặc phần nào sử dụng postcard (12,3%), nhưng cả hai đều có bài
giảng tương tự. Những SV đã xem các video nhiều hơn các bạn đồng trang lứa của họ
thực hiện tốt hơn những người chọn khác [20].
Không chỉ các trường đại học sử dụng mô hình LHĐN, các trường phổ thông
cũng áp dụng phương pháp này. Trường trung học Clintondale của Michigan từ năm
2011 đã sử dụng PPDH đảo ngược trong lớp học. Theo đó, GV xây dựng kế hoạch
cho các LHĐN. Họ tiến hành thử nghiệm và so sánh giữa hai lớp được cung cấp tài
liệu và bài tập giống hệt nhau, nhưng 1 lớp thực hiện theo kế hoạch DH truyền thống,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


1 lớp thực hiện theo kế hoạch LHĐN. Sau 20 tuần học, HS trong LHĐN đã có kết
quả học tập vượt trội so với lớp thông thường.
Vào ngày 27 tháng 6 năm 2016, Jonathan Bergmann , một trong những người
khởi xướng việc học đảo ngược, đã đưa ra sáng kiến Toàn cầu học tập theo mô hình
lớp LHĐN, do Errol St.Clair Smith lãnh đạo. Vào ngày 26 tháng 1 năm 2018, Sáng
kiến này đã giới thiệu Khoa Quốc tế của mình, được tạo ra để cung cấp một tiêu
chuẩn đào tạo nhất quán và hỗ trợ liên tục cho các trường học và hệ thống trường học
trên khắp thế giới [24].
Với nhiều ưu điểm nổi bật, LHĐN đã được nhiều cơ sở giáo dục trên thế giới áp
dụng trong giảng dạy, từ cấp trung học đến đại học.
1.1.2. Ở Việt Nam
Do LHĐN được ứng dụng dựa trên sự phát triển của công nghệ E-Learning và
phương pháp đào tạo hiện đại nên ở nước ta, việc nghiên cứu và áp dụng mô hình DH
này còn chưa phổ biến.
Mô hình LHĐN được biết đến trong vài năm gần đây, chủ yếu là các bài viết
giới thiệu trên các trang web, trang tin của các trường hoặc cơ sở đào tạo [23], [26],
[27], [28]. Một số cơ sở giáo dục sử dụng mô hình LHĐN trong giảng dạy như Đại
học FPT, Anh ngữ Việt Mỹ VATC, Trung tâm Anh ngữ Quốc tế Apollo, trường học
Vinschool, trường THCS Đức Trí, THPT Trần Khai Nguyên và trang web giáo dục
trực tuyến Zuni.vn,..
Trường THPT Trần Khai Nguyên (TP. HCM) đã thử nghiệm ứng dụng mô hình
LHĐN vào giảng dạy môn Giáo dục công dân. Để có tiết học này, GV đã tận dụng
Facebook của mỗi lớp và tải lên đó đoạn phim ngắn bài giảng - thường là tình huống
thực tế (khoảng 10 phút). HS theo dõi video và được phân công công việc theo nhóm,
có thể giải quyết tình huống bằng cách giới thiệu và giải thích những kiến thức cơ bản
hoặc có thể diễn tiểu phẩm, hoặc có thể viết các câu khẩu hiệu, vẽ tranh cổ động,…
tùy theo sở trường của mỗi nhóm. Trước khi kết thúc tiết học, GV gợi mở để HS thảo
luận và đưa ra những thắc mắc cần giải đáp. Cách tổ chức này đã gây được sự hứng
thú của HS, tránh sự khô khan của nội dung môn học [27].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


Vischool là trường học thường xuyên tổ chức những chương trình tọa đàm, trao
đổi về những kinh nghiệm, phương pháp giáo dục hiện đại và cách áp dụng trong môn
học của mình. Một trong những phương pháp gây được ấn tượng là phương pháp
LHĐN. Một số môn học được áp dụng như Ngữ văn, Mỹ thuật,… cho thấy nguyên lý
chung là HS tự tìm hiểu về nội dung bài học ở nhà qua mạng, sau đó trình bày tại lớp,
tương tác cùng GV và các bạn khác để củng cố nội dung kiến thức. Nhờ đó, HS có
thêm sự hứng thú trong việc tìm hiểu bài, phát huy các kĩ năng, đồng thời cho phép GV
có thêm thời gian để củng cố kiến thức, đi sâu hơn vào nội dung bài học [23].
Những áp dụng mô hình LHĐN ở các trường học ở nước ta chủ yếu vẫn mang
tính thử nghiệm. Tác giả Nguyễn Hoài Nam, Vũ Thái Giang đã giới thiệu nội hàm
lớp học đảo trình dựa trên các lý thuyết học tập và đề xuất mô hình LHĐN trong bồi
dưỡng kỹ năng CNTT cho SV sư phạm. Tác giả đã giới thiệu tiến trình áp dụng
LHĐN gồm 4 bước (Phân tích → Thiết kế → Tổ chức/vận hành → Đánh giá/thu
nhận phản hồi) và phân tích tính khả thi, nhấn mạnh vai trò chủ động, tích cực của
người học [10]. Tuy nhiên, tác giả chưa làm nổi bật được tính chất “đảo ngược” trong
quy trình này. Tác giả Nguyễn Quốc Vũ, Lê Thị Minh Thanh, giới thiệu khả năng
ứng dụng việc dạy học với mô hình LHĐN trong dạy học chuyên đề kĩ thuật số theo 3
bước là trước giờ học trên lớp, trong giờ học trên lớp, sau giờ học trên lớp ở trường
Đại học Đồng Tháp. Nghiên cứu đã cho thấy mô hình này tạo hứng thú học tập, nâng
cao kết quả học tập và giúp sinh viên phát triển năng lực tư duy sáng tạo [12]. Tuy
nhiên, nghiên cứu chưa cho thấy sự hình thành và phát triển năng lực tự học của
người học.
Vận dụng mô hình LHĐN nhằm phát triển năng lực và năng lực tự học cho HS
được đánh giá là khá hiệu quả trong dạy học một số môn học trường phổ thông.
Trương Thị Phương Chi trong luận án nghiên cứu sử dụng E-learning hỗ trợ dạy - tự
học theo mô hình LHĐN đã thiết kế tiến trình bồi dưỡng năng lực tự học với hệ thống
E-learning và thực nghiệm trong dạy học kiến thức Hạt nhân nguyên tử Vật lí 12 cho
thấy HS có sự yêu thích và hình thành được năng lực tự học, có thể tự học suốt đời
[7]. Nghiên cứu của Phan Đức Duy và Nguyễn Văn Nhật về phối hợp phương pháp
dạy học đảo ngược và dạy học trực tuyến trong phần Sinh thái học, Sinh học 12 đã
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


xác định quy trình 3 giai đoạn, trong đó ở bước 1 và bước 3 của giai đoạn 2, HS học,
trao đổi trực tuyến, tự học, HS có nhiều điều kiện để trải nghiệm, thảo luận kiến thức,
thể hiện thái độ, rèn luyện kỹ năng và đặt trong những tình huống thực tế, giúp HS
hình thành và phát triển năng lực [9].
Như vậy, LHĐN được xem là một mô hình DH có hiệu quả cao, đã được nghiên
cứu và áp dụng trong DH ở trường phổ thông, trường đại học ở Việt Nam, đều đánh
giá cao hiệu quả áp dụng mô hình này trong việc phát triển năng lực của HS. Tuy
nhiên, nghiên cứu vận dụng cụ thể về việc áp dụng mô hình này trong dạy học Sinh
học nói chung, dạy học phần Sinh học tế bào nói riêng cần được quan tâm hơn nghiên
cứu đầy đủ hơn.
1.2. Khái niệm về lớp học đảo ngược
1.2.1. Lớp học đảo ngược là gì?
Đã có nhiều quan niệm khác nhau về LHĐN:
Theo Garrison và Kanuka (2004): Mô hình LHĐN đã tạo ra được môi trường
học thực học (deep learning), học có ý nghĩa (meaningful learning) cũng như phát
triển tư duy phê phán và hình thức học cấp cao, nó cũng tạo ra môi trường làm việc
độc lập và tự kiểm soát việc học” [18].
Theo Strayer (2012): LHĐN (Flipped classroom) là một phương thức thiết kế
DH theo mô hình kết hợp, đã và đang phát triển tại nhiều quốc gia trên thế giới và có
cách thức tổ chức dạy-học đảo ngược so với lớp học truyền thống” [22].
Theo Flipped Learning Network: Học tập đảo ngược (Flipped Learning) là một
phương pháp sư phạm, ở đó việc hướng dẫn trực tiếp chuyển từ không gian học theo
nhóm sang không gian học cá nhân và do đó không gian nhóm trở thành môi trường
học tập năng động và tương tác, nơi nhà giáo hướng dẫn SV áp dụng các khái niệm
và tham gia một cách sáng tạo vào các vấn đề [26].
Các quan điểm tuy khác nhau về LHĐN nhưng đều nói về sự đảo chiều của
PPDH truyền thống, là nơi mà HS có sự tiếp xúc đầu tiên với các tài liệu mới bên
ngoài lớp học, thường là qua các bài đọc hoặc video bài giảng, sau đó thời gian trên
lớp sẽ được sử dụng để giải quyết vấn đề khó hơn là lĩnh hội kiến thức thông qua các
chiến lược như giải quyết vấn đề, thảo luận hoặc tranh luận. Bản chất giờ học trên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


LHĐN tập trung giải quyết các nội dung vốn trước đây được coi là bài tập về nhà và
dành nhiều thời gian hơn cho việc thảo luận, đào sâu kiến thức.
Trong môi trường LHĐN, GV hướng dẫn HS áp dụng các khái niệm vào thực tế
và tham gia các hoạt động sáng tạo trong các chủ đề. Đồng thời tổ chức này còn đưa
ra 4 trụ cột của học tập đảo ngược được thể hiện theo các chữ cái đầu tiên trong thuật
ngữ F-L-I-P [25]. Đặc điểm của 4 chữ cái này được diễn tả như sau:
F - FLEXIBLE ENVIRONMENT - Môi trường linh hoạt: LHĐN cho phép kết
hợp nhiều cách thức học tập. GV thường sắp xếp lại không gian học tập trong lớp học
để có thể hỗ trợ cho HS làm việc theo nhóm hoặc cá nhân. HS có thể chọn không
gian để trao đổi, thảo luận và học tập. Việc đánh giá và tự đánh giá giúp cho HS và
GV hiểu được các vấn đề để kịp thời điều chỉnh, khắc phục.
L - LEARNING CULTURE - Văn hóa học tập: Trong mô hình LHĐN, cách tiếp
cận là lấy HS làm trung tâm, thời gian học tập trên lớp không còn là việc giảng giải
thuần túy mà là nơi để HS được khám phá sâu hơn về chủ đề học. Qua đó, HS sẽ tích
cực tham gia xây dựng kiến thức và đánh giá việc học của mình một cách ý nghĩa.
I - INTENTIONAL CONTENT - Nội dung có chủ ý: GV thường xác định
những gì cần để giúp HS tiếp cận bài học, để giúp HS tự mình khám phá. Việc thiết
kế nội dung bài học theo hướng cá nhân hóa hoặc một nhóm sẽ giúp việc học của HS
được tốt hơn.
P - PROFESSIONAL EDUCATOR - Chuyên gia giáo dục: GV trong mô hình
LHĐN không phải là người truyền thụ kiến thức mà là những chuyên gia về tri thức và
tâm lý học. Suốt thời gian lên lớp, GV liên tục quan sát, cung cấp cho SV những thông
tin về kiến thức, kỹ năng, thái độ và những chính sách liên quan đến kiểm tra đánh giá.
1.2.2. Đặc điểm của mô hình lớp học đảo ngược
Hiện nay, chúng ta đã khá quen thuộc cách học của HS là đến trường để lĩnh hội
kiến thức rồi về nhà làm bài tập. Nhưng LHĐN lại trái ngược hoàn toàn với mô hình
lớp học truyền thống đó ở chỗ nội dung DH thường diễn ra bên ngoài lớp học và đem
bài tập vào trong lớp, trọng tâm của các buổi học là duy trì sự tham gia tích cực của
người học, do đó cần thiết kế các nhiệm vụ trước và sau giờ học [13], [15], [16].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


Trong mô hình LHĐN, bài giảng của GV được chuyển tải để nghiên cứu trước
khi đến lớp, thời gian trên lớp được dành cho các hoạt động tích cực của HS, các kĩ
năng giao tiếp, học tập độc lập, tư duy phản biện, giải quyết vấn đề, cũng như tương
tác giữa GV với HS, giữa HS với HS được tăng cường. Mô hình LHĐN tạo ra môi
trường học tập linh hoạt, uyển chuyển, các kĩ năng để học tập suốt đời, suy nghĩ sâu
và nhiều phẩm chất tích cực, người học được tham gia nhiều với bài giảng [14].
Với những địa phương có điều kiện về công nghệ thì việc áp dụng LHĐN khá
hiệu quả. HS có thể học mọi lúc, mọi nơi với những thiết bị smartphone. Trong lớp
học, một số công cụ hỗ trợ cho mô hình này là:
- Các công cụ trình chiếu: Zoho Show; 280 Slides; PowerPoint; Wondershare
PPT2Flash Professional.
- Công cụ học tập xã hội: Những công cụ này sử dụng sức mạnh của phương
tiện truyền thông xã hội giúp cho việc học tập và kết nối được dễ dàng hơn: Edmodo,
Moodle, Grockit, EduBlogs, Skype, Wikispaces, Pinterest; Schoology, Quora, Ning,
OpenStudy, ePals, WiZiQ, Adobe Acrobat Connect Pro, Edublogs.
- Công cụ học tập: Những công cụ giúp GV chuẩn bị bài giảng thú vị và hiệu
quả: Khan Academy, MangaHigh, FunBrain, Educreations, Animoto, Socrative,
Knewton, Kerpoof, StudySync, CarrotSticks. Ngoài ra, có thể sử dụng Facebook,
Zalo, Group Mail... để hỗ trợ mô hình LHĐN.
1.2.2.1. Ưu điểm của lớp học đảo ngược
Trong mô hình LHĐN, có khá nhiều các hoạt động. Những lợi ích của các hoạt
động trong mô hình LHĐN được thể hiện trong bảng 1.1.
Bảng 1.1. Lợi ích của các hoạt động trong mô hình lớp học đảo ngược
MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC
NGOÀI LỚP
LỢI ÍCH
TRÊN LỚP
Các tài liệu giảng dạy
Cung cấp cho GV
Thời gian trên lớp được sử
truyền thống trên lớp (như nhiều thời gian trên lớp dụng để tham gia nội dung bài
bài giảng) được cung cấp để làm việc với từng giảng sâu hơn, GV cung cấp
ngoài lớp học thông qua HS và cho phép các HS các hướng dẫn thông qua: Các
các tài liệu trên mạng như: tự chủ học tập và thành dự án hợp tác, giải quyết vấn
Videos, các minh họa và thạo nội dung bài học đề theo nhóm và cá nhân, các
trợ giảng, các mô phỏng và
hoạt động học tập giữa các
trò chơi.
HS.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


Qua bảng 1, nhận thấy, cách hiểu đơn giản nhất về LHĐN là “chuyển đổi những
sự kiện diễn ra trong lớp học truyền thống ra bên ngoài lớp học và ngược lại” [19].
Một số ưu điểm của LHĐN:
- HS luôn nhận được sự trợ giúp bất cứ lúc nào khi học tập đảo ngược. Vì một
trong những thách thức lớn nhất của lớp học truyền thống là thông qua một bài giảng
về kiến thức mới ở trên lớp, các câu hỏi vận dụng được đưa về nhà để áp dụng những
điều đã học trên lớp mà không có bất cứ sự trợ giúp nào. Do vậy HS thường gặp khó
khăn với bài tập. Trong một LHĐN, công việc thực hiện tại nhà là xem một video bài
giảng và khi gặp khó khăn thì HS đặt câu hỏi, sau đó khi lên lớp thảo luận với GV thì
HS được giải đáp thắc mắc. Tư duy bậc cao được phát huy trong lớp học.
- Tương tác giữa GV và HS được nâng cao: Ở lớp học truyền thống, GV thường
giảng trực tiếp ở trên lớp, mang tính “thuyết trình”. Nhưng ở LHĐN, GV di chuyển
bài giảng đó ra ngoài lớp nên tiết kiệm được nhiều thời gian cho GV, để GV có thể
tương tác với HS hoặc trong nhóm nhỏ với các HS. Kết quả là GV có thời gian thảo
luận với mỗi HS trong mỗi bài học.
- LHĐN phù hợp với sự khác biệt giữa mỗi HS : Với LHĐN, nhu cầu cá nhân
của người học dễ dàng được đáp ứng. Những HS kém hơn được chú ý và những HS
xuất sắc được giao những nhiệm vụ thích hợp với khả năng để tiến bộ.
- Tạo ra bầu không khí học thực sự: Trung tâm của hoạt động học tập là hỏi đáp
thắc mắc, từ đó giúp HS tập trung vào chủ đề học tập. Tạo bầu không khí “học tập”
hơn là “giảng dạy” nên sẽ đạt mục tiêu bài học tốt hơn. HS chủ động trong việc lĩnh
hội tri thức và làm chủ việc học của bản thân.
- HS học theo tiến độ của bản thân: Khi giảng bài mới trên lớp GV thường nói
quá nhanh (thường đối với HS kém) hoặc quá chậm (đối với HS học tốt). Khi học qua
video ngoài giờ lên lớp, HS có thể điều chỉnh tốc độ bài giảng phù hợp với bản thân.
- Do có sự tương tác giữa các HS trong khi thực hiện nhiệm vụ học tập nên mối
quan hệ giữa các HS sẽ tốt hơn, GV có thời gian quan sát HS nên có thể hiểu về cá
nhân từng HS hơn. GV có thể trò chuyện và lắng nghe vấn đề của HS. GV nhận biết
được đơn vị kiến thức mà HS đang gặp khó khăn và hướng dẫn HS. Giúp cho GV có
thể giải đáp cho HS vào đúng vấn đề tại thời điểm mà HS cần.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


1.2.2.2. Hạn chế của lớp học đảo ngược
- Không phải bài học nào cũng có thể sử dụng hình thức học tập đảo ngược.
- Phương pháp này gắn bó chặt chẽ với phương pháp E-learning nên GV phải
giỏi về công nghệ, vững về phương pháp, bởi vậy khó áp dụng rộng rãi.
- Phụ thuộc vào phong cách học tập của HS và không phải HS nào cũng hứng
thú hợp tác và có đủ công nghệ để thực hiện bài học E-learning.
- GV mất nhiều thời gian, công sức cho việc soạn bài.
- Với điều kiện ở trường phổ thông của nước ta hiện nay, phương pháp này cần
cân nhắc về tính khả thi vì số lượng môn học nhiều và khối lượng kiến thức khổng lồ
trong năm học của HS.
- Kiểm tra đánh giá chưa có tiêu chí rõ ràng, toàn diện nên GV vẫn đang trong
thực trạng “thi gì dạy nấy”, kế hoạch DH của GV chưa đồng bộ.
1.2.3. Các mô hình của lớp học đảo ngược
LHĐN chuẩn mực/thông thường: Người học được giao “bài tập về nhà” xem video
các giờ giảng và đọc các tài liệu liên quan đến buổi học ngày hôm sau. Trong giờ học,
người học TH điều các em đã học được thông qua bài tập ở trường theo truyền thống,
với GV được giải phóng, dành thời gian cho việc hỗ trợ thêm mang tính cá nhân.
LHĐN chú trọng vào thảo luận/Discussion-Oriented Flipped Classroom: GV
giao các video bài giảng, cũng như các video hay tài liệu tham khảo khác liên quan
đến giờ học hôm đó — hãy nghĩ đến những chương trình như TED Talks, YouTube
videos và các nguồn khác. Khi đó, thời gian trên lớp học được dành cho thảo luận và
khám phá về chủ đề/môn học. Đây là cách tiếp cận đặc biệt hiệu quả đối với những
môn học mà bối cảnh có thể là bất cứ thứ gì – hãy nghĩ đến lịch sử, nghệ thuật hay
tiếng Anh.
LHĐN chú trọng vào việc thể hiện/trình diễn/Demonstration-Focused Flipped
Classroom: Đây là dạng lớp học đặc biệt phù hợp đối với những môn học đòi hỏi
người học phải ghi nhớ và lặp lại các hoạt động một cách chính xác — hãy nghĩ đến
Hóa học, Vật lý, và mọi giờ Toán — sẽ rất hữu ích nếu có một video để có thể tua và
xem lại. Trong mô hình này, GV sử dụng phần mềm ghi lại màn hình (screen
recording software) để trình diễn hoạt động theo cách cho phép HS/SV học theo tốc
độ của chính các em.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


LHĐN Faux/The Faux-Flipped Classroom: Một ý tưởng tuyệt vời mà
EducationDrive khám phá ra rất phù hợp với lứa tuổi nhỏ, độ tuổi mà bài tập về nhà
theo đúng nghĩa là không thích hợp. Mô hình LHĐN theo cách này thay bằng việc
yêu cầu người học xem video ở lớp thì cho các em cơ hội đọc/xem tài liệu theo tốc độ
của riêng mình, GV đi từ em này sang em khác và hỗ trợ mỗi HS nhỏ tuổi theo cách
các em cần.
LHĐN dựa vào nhóm/The Group-Based Flipped Classroom: Mô hình này bổ
sung yếu tố mới để giúp SV/HS học được từ nhau/hỗ trợ nhau học. Lớp học bắt đầu
như mọi lớp học khác, với video bài giảng và những nguồn học liệu khác được chia
sẻ từ trước đó. Sự thay đổi xảy ra khi SV/HS đến lớp, ghép thành nhóm để giải quyết
bài tập ngày hôm đó. Hình thức này cho phép SV/HS học từ nhau và giúp nhau
không chỉ tìm ra câu trả lời đúng mà còn học được cách giải thích cho bạn tại sao câu
trả lời lại đúng.
LHĐN ảo: Đối với những SV/HS lâu năm hơn và trong một vài khóa học,
LHĐN có thể loại bỏ hoàn toàn nhu cầu về thời gian cho lớp học. Một số giảng viên
ở trường đại học và cao đẳng hiện nay chia sẻ bài giảng cho SV xem, giao bài tập và
nhận bài thông qua các hệ thống quản lý trực tuyến và chỉ cần người học gặp trực tiếp
một thầy một trò dựa trên nhu cầu của từng cá nhân.
“Đảo ngược” giáo viên: Tất cả video được tạo ra cho LHĐN không nhất thiết
phải bắt đầu và kết thúc với GV. HS cũng có thể sử dụng video để thể hiện tốt hơn
trình độ và khả năng của mình. GV có thể giao nhiệm vụ cho mỗi SV/HS các hoạt
động đóng vai/TH để thể hiện năng lực hoặc yêu cầu mỗi SV/HS quay phim bản thân
trình bày một chủ đề hoặc kỹ năng mới như một cách để "dạy GV".
Điều quan trọng là người GV phải phân tích để áp dụng được mô hình LHĐN
một cách hợp lý, khoa học đối với môn học của mình.
1.3. Mối quan hệ giữa dạy học đảo ngược với việc hình thành và phát triển năng
lực của học sinh
Mô hình lớp học truyền thống khá quen thuộc đối với chúng ta: HS hàng ngày
đến trường, nghe thầy cô giảng bài, ghi chép và về nhà làm bài tập. Bởi vậy, trong
một khía cạnh nào đó, lớp học truyền thống không phù hợp với phong cách học tập
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


của HS. Còn theo mô hình LHĐN, HS xem bài giảng ở nhà qua Internet và làm các
bài tập (thường bài tập mức thấp), đến lớp, HS làm bài tập (mức cao) và thực hiện
một số hoạt động mang tính tương tác. Nhờ đó, HS tự tin hơn, GV có nhiều thời gian
hơn với từng cá nhân HS chưa hiểu kỹ bài giảng (Hình 1.1).
Vai trò của GV và HS trong mô hình lớp học truyền thống và mô hình LHĐN
có sự khác nhau, được trình bày ở bảng 1.2.
Ở lớp học truyền thống, HS đến lớp ngồi nghe giảng thụ động, GV có nhiệm vụ
truyền đạy kiến thức mới - theo thang tư duy Bloom thì được xếp vào mức “Biết” và
“Hiểu”. Trong LHĐN, GV định hướng việc tìm hiểu kiến thức, HS phải thực hiện
nhiều hoạt động, sẽ hình thành các mức nhận thức cao hơn (vận dụng, phân tích, đánh
giá, sáng tạo).

Hình 1.1. Các mức độ của hoạt động trong lớp học truyền thống và LHĐN
Bảng 1.2. Mô hình lớp học truyền thống và lớp học đảo ngược
Điểm so sánh Lớp học truyền thống
Lớp học đảo ngược
Vai trò của GV

GV giảng giải, truyền GV hướng dẫn bài giảng tại nhà thông
thụ, đánh giá

qua video, học liệu

HS ghi chép, làm đúng HS tự học, thảo luận tích cực, hiểu sâu
theo những gì GV nêu hơn các khái niệm, ứng dụng và có sự
Vai trò của HS

ra

kết hợp nội dung đã tạo ra khi thảo
luận trên lớp và nhận được sự hỗ trợ cá
nhân khi cần thiết.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


Như vậy, LHĐN có điều kiện để hình thành và phát triển năng lực của HS:
- Năng lực tìm hiểu kiến thức: Mô hình LHĐN đã tạo điều kiện giải phóng
người thầy khỏi áp lực về thời gian, có nhiều cơ hội tương tác, động viên để HS tiến
bộ hơn, HS hình thành thói quen tự lực nghiên cứu tài liệu trước khi tới lớp
Hoạt động tự học ở nhà sẽ giúp HS hình thành thói quen tự nghiên cứu tài liệu
trước khi đến lớp. Để hình thành được thói quen này, HS cần phải nhận biết, hiểu,
phân tích, tổng hợp, so sánh sự vật hiện tượng được tiếp xúc và hiểu biết đã có để tự
mình lĩnh hội kiến thức. Rèn luyện thói quen khám phá, tìm tòi, nâng cao dần lên HS
sẽ chủ động, tự lực nghiên cứu, độc lập tự giác trong học tập và tăng dần là học được
nề nếp làm việc khoa học.
- Năng lực đặt câu hỏi: Khi tự học trước ở nhà sẽ có nhiều nội dung HS chưa
thực sự hiểu rõ. Với những vấn đề chưa hiểu, HS chủ động hỏi thầy về những gì mình
có nhu cầu. Khi biết mình cần hỏi gì, hỏi đúng trọng tâm chính là HS đã biết cách đặt
câu hỏi
Trong LHĐN, HS được thỏa mãn nhu cầu trao đổi, tương tác với bạn, với thầy.
HS có thể bộc lộ sản phẩm học của mình qua thảo luận, biện luận, phản biện về các
sản phẩm mới kiến tạo, để mỗi HS được chia sẻ thông tin, học hỏi lẫn nhau; qua diễn
đạt (lập luận) và hỏi lại (phản biện) tự soi xét lại sản phẩn mới học được của mình, bổ
sung, chỉnh sửa và rút kinh nghiệm về cách học.
- Hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ: Trong mô hình LHĐN, giờ học ở
lớp sẽ được GV tận dụng tối đa tổ chức cho HS vận dụng, TH kiến thức, thảo luận
nhóm hoặc triển khai các dự án, giải quyết các vấn đề mở. Trong các hoạt động này,
HS được rèn luyện các kĩ năng phát biểu ý kiến trước nhiều người (nhóm học tập,
lớp, các GV), kĩ năng tham gia, trao đổi ý kiến trong học tập dưới hình thức thảo
luận, xemina, TH theo nhóm, biết sử dụng ngôn ngữ và giao tiếp với từng cá nhân
khác nhau với tư cách cá nhân hay tư cách là người đại diện cho nhóm. Ngoài ra, HS
có thể học thêm các kĩ năng tự phê bình và phê bình, kĩ năng làm việc cùng nhau
trong nhóm hợp tác. Khi được rèn luyện các kĩ năng trên, HS sẽ dần hình thành và
phát triển năng lực ngôn ngữ. GV có thể hướng dẫn HS cách tổng hợp, đánh giá, bằng
nhiều hình thức khác nhau: bằng lời văn, bảng biểu, sơ đồ, bản đồ tư duy…bằng ngôn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×