Tải bản đầy đủ

Sử dụng phương pháp tự học trong dạy học môn GDCD lớp 10 ở trường THPT yên dũng số 2, tỉnh bắc giang hiện nay

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
===o0o===

NGUYỄN THỊ TÂM

SỬ DỤNG PHƢƠNG PHÁP TỰ HỌC
TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
LỚP 10 Ở TRƢỜNG THPT YÊN DŨNG SỐ 2,
TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHỆP ĐẠI HỌC
Chuyên nghành: Phƣơng pháp dạy học môn
Giáo dục công dân ở trƣờng THPT

HÀ NỘI, 2019


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
===o0o===


NGUYỄN THỊ TÂM

SỬ DỤNG PHƢƠNG PHÁP TỰ HỌC
TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
LỚP 10 Ở TRƢỜNG THPT YÊN DŨNG SỐ 2,
TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHỆP ĐẠI HỌC
Chuyên nghành: Phƣơng pháp dạy học môn
Giáo dục công dân ở trƣờng THPT
Ngƣời hƣớng dấn khoa học
ThS. Nguyễn Quang Thuận

HÀ NỘI, 2019


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian làm khóa luận cũng nhƣ học tập tại trƣờng, em nhận
đƣợc sự quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện của các thầy cô trong khoa Giáo dục
Chính trị cùng sự động viên khích lệ của gia đình, bạn bè. Em xin chân thành
cảm ơn sự giúp đỡ quý báu này. Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
đến thầy giáo Nguyễn Quang Thuận đã tận tình hƣớng dẫn, giúp đỡ em trong
suốt thời gian qua để em có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp đại học.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, do điều kiện hạn hẹp về thời gian
và do sự hạn chế về kiến thức của bản thân nên em không thể tránh khỏi
những thiếu sót khi hoàn thành khóa luận. Vì vậy, em rất mong nhận đƣợc sự
đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và của các bạn để đề tài của em đƣợc
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên

Nguyễn Thị Tâm


LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp đƣợc hoàn thành dƣới sự hƣớng dẫn của thầy giáo
Nguyễn Quang Thuận. Tôi xin cam đoan rằng:
Đây là kết quả học tập, nghiên cứu của riêng tôi.


Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên

Nguyễn Thị Tâm


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

STT

Từ viết tắt

Diễn giải

1

GDCD

Giáo dục công dân

2

GV

Giáo viên

3

HS

Học sinh

4

PPDH

Phƣơng pháp dạy học

5

PPDH GDCD

Phƣơng pháp dạy học Giáo dục công dân

6

SGK

Sách giáo khoa

7

THPT

Trung học phổ thông


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG
PHƢƠNG PHÁP TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 10 Ở
TRƢỜNG THPT YÊN DŨNG SỐ 2 TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY ........ 10
1.1. Cơ sở lý luận của việc sử dụng phƣơng pháp tự học trong trong dạy
học môn GDCD lớp 10 ............................................................................... 10
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng phƣơng pháp tự học trong dạy học
môn GDCD lớp 10 ở trƣờng THPT Yên Dũng số 2, tỉnh Bắc Giang ........ 19
1.3. Sự cần thiết phải sử dụng phƣơng pháp tự học trong dạy học môn
GDCD lớp 10 hiện nay................................................................................ 25
CHƢƠNG 2: QUY TRÌNH VÀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN QUY TRÌNH
SỬ DỤNG PHƢƠNG PHÁP TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD
LỚP 10 Ở TRƢỜNG THPT YÊN DŨNG SỐ 2, TỈNH BẮC GIANG ......... 27
2.1. Quy trình sử dụng phƣơng pháp tự học trong dạy học môn GDCD
lớp 10 ở trƣờng THPT Yên Dũng số 2 ....................................................... 27
2.2. Điều kiện thực hiện quy trình dạy học môn GDCD lớp 10 sử dụng
phƣơng pháp tự học cho học sinh THPT .................................................... 31
CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SỬ DỤNG PHƢƠNG PHÁP TỰ HỌC
TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 10 Ở TRƢỜNG THPT YÊN
DŨNG SỐ 2, TỈNH BẮC GIANG ................................................................. 36
3.1. Kế hoạch thực nghiệm ......................................................................... 36
3.2. Nội dung thực nghiệm.......................................................................... 37
3.3. Kết quả thực nghiệm ............................................................................ 54
3.4. Một số đề xuất nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT
trong dạy học môn GDCD lớp 10 ............................................................... 58
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 61
PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 3.1: Bảng kết quả học tập môn GDCD lớp thực nghiệm và lớp đối
chứng trƣớc khi tiến hành thực nghiệm .......................................... 54
Bảng 3.2: Bảng kết quả học tập môn GDCD lớp thực nghiệm và lớp đối
chứng sau khi tiến hành thực nghiệm ............................................. 56
Biểu đồ 3.1: Biểu đồ kết quả học tập môn GDCD lớp thực nghiệm và lớp
đối chứng trƣớc khi tiến hành thực nghiệm .................................... 55
Biểu đồ 3.2: Biểu đồ kết quả học tập môn GDCD lớp thực nghiệm và lớp
đối chứng sau khi tiến hành thực nghiệm ....................................... 57


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tự học là điều cần thiết trong quá trình tiếp nhận tri thức, là hoạt động
có mục đích của con ngƣời. Anhxtanh - nhà khoa học lớn của thế kỷ XX đã
từng khẳng định: "Ai không còn tò mò người đó sẽ chết", V.I.Lênin sau này
cũng nói: "Học, học nữa, học mãi". Tự học có vai trò đặc biệt quan trọng, là
một trong những yếu tố quyết định tạo nên trí tuệ của con ngƣời. Trong tác
phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “ …lấy tự
học làm cốt” [10,tr.34]. Tƣ tƣởng về tự học qua hàng ngàn đời nay vẫn luôn
đƣợc con ngƣời coi trọng nhƣ một phƣơng pháp để rèn luyện trí tuệ và nhân
cách của mỗi ngƣời.
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nƣớc, sự thách
thức của quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu đòi hỏi phải tạo ra nguồn nhân
lực, ngƣời lao động có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của xã hội
trong giai đoạn mới. Ngƣời lao động phải có khả năng thích ứng, khả năng
thu nhận và vận dụng linh hoạt, sáng tạo tri thức của nhân loại vào điều kiện
và hoàn cảnh thực tế, tạo ra những sản phẩm đáp ứng yêu cầu của xã hội. Để
có năng lực đó con ngƣời phải học tập không ngừng, học tập suốt đời, ở mọi
nơi thông qua nhiều hình thức, trong đó phải lấy tự học làm cốt. Do đó, cần
phải bồi dƣỡng và phát triển năng lực tự học cho học sinh ngay từ khi còn ở
trƣờng phổ thông. Xây dựng đƣợc năng lực tự học cho học sinh ở trƣờng phổ
thông là tạo nền tảng cho học sinh phát triển năng lực tự học ở mức độ cao
hơn ở các cấp học và xa hơn nữa là đào tạo đƣợc những con ngƣời có khả
năng tự học, tự nghiên cứu trong một xã hội học tập suốt đời.”
Tuy vậy, phƣơng pháp dạy học ở một số trƣờng phổ thông hiện nay vẫn
chủ yếu theo phƣơng pháp dạy học truyền thống, theo kiểu đọc – chép hay
truyền thụ một chiều, có kết hợp với đàm thoại. Giáo viên chƣa phải là ngƣời
tổ chức cho học sinh hoạt động, học sinh chƣa biết phƣơng pháp tự học theo

1


hƣớng tích cực. Hoặc thay vì phải minh họa cho học sinh hiểu kỹ về một vấn
đề nào đó thì giáo viên chỉ đọc cho học sinh ghi chép những nội dung chính
của bài học; thay vì hƣớng dẫn học sinh luyện tập, rèn luyện những kỹ năng
thì giáo viên chỉ yêu cầu học sinh lặp lại theo mẫu một cách máy móc,…
Phƣơng pháp dạy học này dẫn đến sự thụ động của ngƣời học, nặng về ghi
nhớ lý thuyết, thiếu kĩ năng thực hành áp dụng, chƣa phát huy tinh thần tự học
và tự duy sáng tạo của ngƣời học.”
Với đặc thù là môn khoa học xã hội , môn GDCD có vị trí rất quan trọng
trong việc hình thành thành nhân cách, phẩm chất, năng lực cho học sinh
THPT và cung cấp hệ thống tri thức toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… bao gồm kiến thức của nhiều môn
học khác. Môn GDCD góp phần hình thành và phát triển phẩm chất năng lực
ngƣời học; phát triển hoàn thiện các mặt: Đức, trí, thể, mĩ. Tuy nhiên với vị trí
và vai trò của mình, môn GDCD ở trƣờng THPT lại chƣa đƣợc coi trọng
trong việc hình thành và phát triển cho HS năng lực tự học, tự nghiên cứu
trong trƣờng học lẫn ngoài trƣờng học dẫn đến hiệu quả học tập không cao và
HS không có kĩ năng và phƣơng pháp tự học hiệu quả.
Trong quá trình thực hiện đổi mới giáo dục, nhiều quốc gia trên thế giới
trong đó có Việt Nam đã bắt đầu chú trọng vào việc sử dụng phƣơng pháp tự
học trong dạy học. Ngƣời giáo viên không chỉ thuyết giảng trên lớp mà còn
phải định hƣớng cho học sinh có khả năng tự học ở trƣờng, ở nhà và xã hội
kết hợp với tri thức giáo viên cung cấp để tạo nên sự hiểu biết từ đó giúp các
em phát triển toàn diện về kiến thức lẫn kỹ năng. Trên thực tế hiện nay, hoạt
động tự học của học sinh vẫn còn nhiều hạn chế, trong đó nhiều học sinh chƣa
dành nhiều thời gian cho việc tự học, chƣa xây dựng và rèn luyện kỹ năng tự
học cho bản thân,… một phần ngƣời giáo viên chƣa biết định hƣớng, dẫn dắt
hoạt động tìm hiểu hiểu kiến thức thông qua các nhiệm vụ học tập đƣợc giao
và phân công cho học sinh, dẫn đến việc học sinh không hiểu bài và không

2


yêu thích môn học làm hoạt động dạy và học kém hiệu quả và chất lƣợng
không cao. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của việc sử dụng phƣơng pháp tự
học nhằm phát triển bản thân ngƣời học, Nghị quyết 29 NQ-TW về đổi mới
căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu lên mục tiêu cụ thế “Đối với
giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm
chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng
nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú
trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học,
năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển
khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”[5,tr.3] Trên tinh
thần ấy, Đảng ta đã coi trong việc phát triển toàn diện các năng cho HS
trong đó năng lực tự học là một trong những năng lực quan trọng nhất trong
quá trình đất nƣớc hội nhập toàn cầu ngày nay. Việc phát triển năng lực tự
học là việc cần thiết phả đƣợc diễn ra trong quá trình dạy học của cả GV lẫn
HS, đây đƣợc xem là vấn đề mấu chốt có vị trí cực kì quan trọng trong chiến
lƣợc giáo dục - đào tạo của đất nƣớc. Xuất phát từ những lí do trên, em xin
chọn đề tài : “Sử dụng phương pháp tự học trong dạy học môn GDCD lớp
10 ở trường THPT Yên Dũng số 2, tỉnh Bắc Giang hiện nay” làm đề tài khóa
luận tốt nghiệp.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
2.1. Nghiên cứu về tự học trên thế giới
“Trong nền giáo dục Phƣơng Tây cổ đại, ý tƣởng dạy học coi trọng ngƣời
học và trao quyền tự chủ cho ngƣời học đã đƣợc chú ý đến từ khá sớm trong
đó có phƣơng pháp giảng dạy của Heraclitus (530 - 475 TCN), Socrate (469390 TCN), Aristote (384-322 TCN) nhằm mục đích phát hiện “chân lý” bằng
cách đặt câu hỏi để ngƣời học tự tìm ra kết luận. Sau đó cùng với những diễn
biến thăng trầm của lịch sử và sự phát triển nhận thức xã hội mà ý tƣởng này
tiếp tục phát triển.”

3


“N.A.Rubakin (1862- 1946) trong tác phẩm “Tự học như thế nào”[12] đã
trình bày nhiều vấn đề về phƣơng pháp tự học, đặc biệt là phƣơng pháp sử
dụng tài liệu và ông nhấn mạnh việc giáo dục động cơ đúng đắn là điều kiện
cơ bản để tích cực, chủ động trong tự học, phải tự mạnh dạn đặt ra câu hỏi và
tự mình lấy câu trả lời đó mới là phƣơng pháp tự học. Ông cũng cho rằng,
nhiệm vụ của ngƣời thầy phải xây dựng đƣợc các bài tập nghiên cứu”là một
trong các biện pháp hình thành và phát triển năng lực tự học.
Một tác giả khác là Raja Roy Singh trong cuốn “Nền giáo dục cho thế kỷ
21- Những triển vọng của Châu Á- Thái Bình Dương”[14],“đã đƣa ra những
nghiên cứu về vai trò của năng lực tự học trong việc học tập thƣờng xuyên và
học tập suốt đời, ông đề cao vai trò chuyên gia cố vấn của ngƣời thầy trong
việc học tập thƣờng xuyên, học tập suốt đời. Ông quan niệm học tập do ngƣời
học điều khiển và nhấn mạnh hoạt động học, vai trò của ngƣời học trong hoạt
động học. Ông cho rằng làm thế nào để cá nhân hóa quá trình học tập, để cho
tiềm năng của mỗi cá nhân đƣợc bộc lộ, phát triển đầy đủ đang là thách thức
chủ yếu đối với giáo dục.”
Công trình “Học tập một cách thông minh” [13] của Michael Shayer và
Philip Adey ( Bản tiếng anh: Learning Intelligence) đã đƣa ra nhiều biện pháp
giúp học sinh học tập một cách thông minh. Các tác giả chú trọng vào tìm
hiểu nhu cầu, mong muốn của học sinh từ đó đƣa ra những gì cần giúp đỡ các
em trong quá trình tự học. Bên cạnh đó 2 tác giả còn quan tâm đến giao tiếp
của học sinh khi hoạt động nhóm thông qua những ghi chép về các đoạn hồi
thoại của các emcó thể kết luận mức hiểu bài cũng nhƣ mức độ tích cực của
học sinh khi tự học.
Richard Smith, giáo sƣ tại đại Đại học Warwick, trong cuốn sách “Tự
học”[15], ông lại cho rằng tự học có nghĩa là ngƣời học tự chủ. Theo ông đây
không hẳn là một phƣơng pháp trong dạy học mà là một mục tiêu quan trọng
trong giáo dục. Ý tƣởng về tự chủ của ngƣời học không phải là mới, ông còn

4


gọi thuật ngữ này với cách gọi khác nhƣ: cá nhân hóa, ngƣời học độc lập.
Điều này có nghĩa là ngƣời học phải có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm
và ra quyết định đối với việc học của mình.
“Nhƣ vậy, tự học là một khái niệm đƣợc ra đời rất sớm, lịch sử nghiên
cứu về tự học bắt đầu muộn hơn và nó gắn liền với việc nghiên cứu ngƣời học
là trung tâm của quá trình giáo dục, cho đến ngày nay vấn đề tự học vẫn đƣợc
tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn nữa đặc tính của ngƣời tự học, tuy
nhiên với những thành công nghiên cứu bƣớc đầu, các tác giả đã xác định
đƣợc tự học không hẳn là học một mình, tự học nên đƣợc diễn ra trong các cơ
sở giáo dục, vị trí để học thì do ngƣời học tự quyết định. Các tác giả đã tập
trung vào quá trình nhận thức của chủ thể ngƣời học, tìm ra những yếu tố chi
phối đến quá trình tự học để từ đó đề ra các biện pháp tác động tích cực đến
quá trình tự học của ngƣời học.”
2.2. Nghiên cứu ở trong nước
“Ở Việt Nam, hoạt động tự học đƣợc chú ý từ thời phong kiến khi mà
giáo dục chƣa phát triển. Năng lực tự học đƣợc ghi nhận ở từng cá nhân kiệt
xuất, tự học thành tài, nổi bật nhƣ thời nhà Trần có trạng nguyên Nguyễn
Hiền đỗ trạng nguyên ở tuổi 13; Mạc Đĩnh Chi đƣợc xem là thần đồng nho
học ở thế kỉ XIV hay thế kỉ XIX có Nguyễn Khuyễn - đốt lá đọc sách,… Đến
thời kì thực dân Pháp đô hộ, giáo dục nƣớc ta vẫn còn rất hạn chế, phƣơng
pháp dạy học vẫn chỉ là truyền thụ kiến thức một chiều, ngƣời học chỉ cần học
thuộc lòng, cần ghi nhớ chính xác nội dung mà không cần độc đáo. Vấn đề tự
học, năng lực tự học vẫn chƣa đƣợc quan tâm nghiên cứu. Khi nền giáo dục
cách mạng ra đời (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngƣời đầu tiên phát động
nghiên cứu và nêu cao tấm gƣơng về tinh thần tự học cũng nhƣ phƣơng pháp
dạy học. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Bác viết “Trong cách học phải
lấy tự học làm cốt ”[10,tr.34]. Thời kì ấy tự học không phải chỉ là định hƣớng
cho con ngƣời vƣợt qua khó khăn của đời sống hiện tại mà còn là chú trọng

5


nâng cao trình độ của bản thân để đáp ứng với thế giới ngày càng đổi mới và
nhân dân Việt Nam ngày càng tiến bộ. Tự học đƣợc xác định là một nhiệm vụ
chính trị.”
“Từ những năm 90 của thế kỉ XX những nghiên cứu về tự học đã đƣợc
nhiều tác giả trình bày trực tiếp hoặc gián tiếp trong các công trình tâm lí học,
giáo dục học, phƣơng pháp dạy học bộ môn. Một số tác giả có công trình tiêu
biểu là tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Thái Duy Tuyên, Trần Bá
Hoành…”
Tác giả Trần Bá Hoành, khi bàn về khái niệm tự học, tác giả cũng liệt kê
các dấu hiệu của ngƣời tự học nhƣ: Ngƣời học tích cực chủ động, tự mình tìm
ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình[8].
Tác giả Nguyễn Kỳ cũng bàn về tự học: “Tự học là người học tích cực
chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự
thể hiện mình. Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên
cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải
pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”[9,tr.23].
Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn trong“Luận bàn về kinh nghiệm tự học”“nêu
lên đặc điểm của ngƣời tự học đó là tự mình động não suy nghĩ, say mê, kiên
trì, không ngại khó ngại khổ để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nào đó. Tác
giả cũng chia tự học thành hai mức đó là tự học có hƣớng dẫn và tự học hoàn
toàn” [18].
“Trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lượng dạy học tổ chức,
GS Trần Phƣơng cho rằng, học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức
là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến
thức của mình, tự cải tạo tƣ duy của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng thực
hành những tri thức ấy”[11].
“Những nội dung nghiên cứu về tự học nêu trên, các tác giả Việt Nam đã
chung một quan điểm đó là tự học là một quá trình học tập độc lập của ngƣời

6


học và liệt kê các dấu hiệu để nhận diện ngƣời có khả năng tự học nhƣng tự
học chịu chi phối bởi những yếu tố nào thì chƣa đƣợc làm sáng tỏ.”
Trong môn GDCD, hoạt động tự học đƣợc thực hiện chủ yếu thông qua
việc cá nhân lĩnh hội tri thức từ GV trên lớp và thực hiện tự học thông qua các
nhiệm vụ, bài tập đƣợc giao về nhà từ GV, theo phƣơng pháp tự học truyền
thống. Hoạt động tự học chỉ chú trọng vào việc HS tự giác hoàn thành nhiệm
vụ từ GV mà không có những hoạt động tƣơng tác giữa GV – HS, HS – GV
trên lớp học và ngoài lớp học. Với phƣơng pháp tự học theo kiểu truyền thống
nhƣ vậy sẽ làm giảm sự hứng thú môn học từ HS và không đem lại hiệu quả
giảng dạy cao.
Hiện nay việc đi sâu nghiên cứu về sử dụng phƣơng pháp tự học trong dạy
học một môn học cụ thể kết hợp với việc giáo viên sử dụng các phƣơng pháp,
phƣơng tiện dạy học để phát triển toàn diện năng lực cho HS đặc biệt là năng
lực tự học đang dần đƣợc chú ý, với mục đích tạo cho HS có thật nhiều cơ hội
đƣợc học tập, trải nghiệm một cách tự nhiên, thoải mái, không bị gò bó với
nhiều hình thức, biện pháp học tập đa dạng phát huy tính tích cực và nhận
thức trong học tập của học sinh. Việc sử dụng phƣơng pháp tự học trong việc
giảng dạy ở các nhà trƣờng đang ngày càng đƣợc quan tâm không chỉ đại học
mà còn ở các bậc trung học. Vì vậy, đề tài vận dụng phương pháp tự học
trong dạy học môn GDCD lớp 10 trường THPT Yên Dũng số 2, tỉnh Bắc
Giang nhằm kết hợp việc sử dụng các PPDH tích cực nâng cao hiệu quả tự
học, tự nghiên cứu của HS trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
“Đề tài nghiên cứu việc sử dụng phƣơng pháp tự học trong dạy học môn
GDCD nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng phƣơng pháp tự học trong dạy học
môn GDCD và phát triển đƣợc năng lực tự học của HS trƣờng THPT Yên
Dũng số 2, tỉnh Bắc Giang.”

7


3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận tập chung nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng phƣơng pháp
tự học trong dạy học môn GDCD lớp 10 trƣờng THPT Yên Dũng số 2, tỉnh
Bắc Giang;
- Xây dựng quy trình và điều kiện thực hiện quy trình sử dụng phƣơng
pháp tự học trong dạy học môn GDCD.
- Tiến hành thực nghiệm dạy học sử dụng phƣơng pháp tự học cho học
sinh và đối chiếu rút ra kết quả.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu việc sử dụng phƣơng pháp tự học trong
dạy học môn GDCD lớp 10 trƣờng THPT Yên Dũng số 2, tỉnh Bắc Giang.
Đối tƣợng khảo sát: Học sinh lớp 10 trƣờng THPT Yên Dũng số 2 và
giáo viên dạy GDCD của trƣờng THPT Yên Dũng số 2.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2019
Phạm vi nội dung nghiên cứu: Giới hạn trong nội dung môn GDCD lớp
10 trƣờng THPT Yên Dũng số 2.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Khóa luận lấy phƣơng pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và một số phƣơng pháp:
Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích – tổng hợp, trừu tƣợng hóa,
khái quát hóa nhằm nghiên cứu nội dung cơ sở lí luận của đề tài; so sánh,
phƣơng pháp duy vật biện chứng nhằm tiến hành thực nghiệm sƣ phạm giữa
các lớp…
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phƣơng pháp quan sát nhằm tìm
hiểu hoạt động dạy và học của GV và HS, phƣơng pháp thực nghiệm nhằm

8


dạy học với giáo án 2 lớp, phƣơng pháp điều tra bằng phiếu hỏi, phƣơng pháp
thống kê toán học, thu thập tài liệu…
6. Ý nghĩa của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
- Góp phần hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn về
việc sử dụng phƣơng pháp tự học trong dạy học môn GDCD lớp 10 ở trƣờng
THPT Yên Dũng số 2.
- Tiến hành thực nghiệm việc sử dụng phƣơng pháp tự học trong dạy học
môn GDCD lớp 10 trƣờng THPT Yên Dũng số 2, tỉnh Bắc Giang.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Khóa luận có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và
giảng dạy môn GDCD.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, nội dung khóa luận bao gồm 3 chƣơng, 9 tiết.

9


CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG
PHƢƠNG PHÁP TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 10 Ở
TRƢỜNG THPT YÊN DŨNG SỐ 2 TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY
1.1. Cơ sở lý luận của việc sử dụng phƣơng pháp tự học trong trong dạy
học môn GDCD lớp 10
1.1.1. Quá trình dạy học môn GDCD ở trường THPT
“Quá trình dạy học là một hệ thống những hành động liên tiếp và thâm
nhập vào nhau của thầy và trò dƣới sự hƣớng dẫn của thầy, nhằm đạt đƣợc
mục đích dạy học qua đó làm phát triển nhân cách của trò. Quá trình dạy học
bao gồm nhiều thành tố nhƣ: Mục đích và nhiệm vụ dạy học, phƣơng pháp và
phƣơng tiện dạy học, thầy với hoạt động dạy và trò với hoạt động học, kết quả
dạy học,…”
Trong dạy học nói chung và môn GDCD nói riêng, việc xác định mục
tiêu là thành tố quan trọng trong quá trình dạy học. Nếu không có mục tiêu
xác định, sẽ không có bất kì cơ sở nào để lựa chọn nội dung giảng dạy,
phƣơng pháp giảng dạy và càng không thể đánh giá đƣợc hiệu quả, giá trị của
một bài giảng. Khi mục tiêu đƣợc xác định rõ giúp GV có thể lựa chọn và sắp
xếp nội dung, phƣơng pháp truyền tải đến ngƣời học một cách tốt nhất. Đồng
thời là cơ sở để GV đánh giá đƣợc sự tiến bộ của HS theo chiều hƣớng và
mức độ nào. Mục tiêu là cái đích mà cả GV và HS cần hƣớng tới. GV cần xác
đinh mục tiêu một bài học trên 3 phƣơng diện bao gồm: Mục tiêu về kiến
thức, mục tiêu về kĩ năng và mục tiêu về thái độ. Một hệ mục tiêu đƣợc đặt ra
đầy đủ cả về mặt kiến thức, kĩ năng, thái độ sẽ hƣớng toàn bộ quá trình dạy
học đạt tới một hiệu quả dạy học tốt nhất.
Môn GDCD ở trƣờng THPT có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc hình
thành thế giới quan khoa học, phƣơng pháp luận biện chứng và cung cấp tri
thức, kĩ năng sống cho ngƣời học, giúp hình thành nhân cách tốt đẹp. Vì vậy,
để nâng cao hứng thú học tập cho HS học môn GDCD đã có nhiều phƣơng

10


pháp dạy học đƣợc áp dụng nhƣ: Phƣơng pháp thuyết trình, phƣơng pháp đàm
thoại, phƣơng pháp trực quan, phƣơng pháp tự hoc, phƣơng pháp thảo luận
nhóm, phƣơng pháp đóng vai, phƣơng pháp dự án,… Các phƣơng pháp dạy
học này kết hợp với phƣơng tiện dạy học nhƣ: sơ đồ, bảng biểu, đèn chiếu
sáng, ti vi, ngôn ngữ của GV,… đã góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy
môn GDCD trong trƣờng THPT.
Trong quy trình dạy học môn GDCD, để có thể thành công trong dạy
học, cần đòi hỏi cao trong sự chuẩn bị của cả ngƣời dạy và ngƣời học. GV cần
chuẩn bị kĩ lƣỡng từ kiến thức, giáo án bài giảng đến phƣơng tiện dạy học
phục vụ cho bài giảng của mình đồng thời sự chuẩn bị của HS cũng đóng vai
trò quan trọng không kém, giúp cho bài giảng của GV đạt đƣợc hiệu quả cao
trong việc xác định mục tiêu bài học.
Tất cả quy trình dạy học đều đƣợc hiện thực hóa bằng hoạt động dạy của
GV và hoạt động học của HS. Hai hoạt động này thống nhất, biện chứng với
nhau. Sự tác động qua lại giữa ngƣời dạy và học, phản ánh tính chất hai mặt
của quá trình dạy học. Thành công của quá trình dạy học phụ thuộc nhiều vào
các hoạt động dạy ở trên lớp của GV. Ngƣời dạy phải điều khiển, suy nghĩ, ra
quyết định và lƣạ chọn những hƣớng đi cụ thể để dẫn dắt, định hƣớng ngƣời
học theo những hoạt động đã chuẩn bị sẵn. Trong khi ngƣời học phải thực
hiện quá trình học tập theo sự định hƣớng của GV. Sau mỗi bài giảng GV cần
đánh giá, tổng kết để rút kinh nghiệm cho tiết giảng. Hoạt động này giúp cho
ngƣời dạy biết đƣợc điểm mạnh và hạn chế của bản thân mình và HS từ đó có
sự điểu chỉnh, cân nhắc và bổ sung cho những lần tiếp theo.
1.1.2. Sử dụng phương pháp tự học trong dạy học cho học sinh THPT
1.1.2.1. Một số khái niệm cơ bản
Phương pháp là một thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp – “Methodos”
nghĩa là “con đường nghiên cứu”, “cách thức nhận thức”, nguyên văn là con
đƣờng đi tới một cái gì đó; có nghĩa là cách thức đạt tới mục đích.

11


“PPDH là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của GV và HS
nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu và nhiệm vụ dạy học.” [6,tr.13]
“PPDH GDCD là một khoa học, thuộc chuyên nghành khoa học giáo
dục, một bộ phận của lý luận dạy học, là cách thức hoạt động phối hợp thống
nhất của giảng viên và sinh viên nhằm phát hiện những quy luật của quá trình
dạy học môn GDCD, xây dựng hệ thống các nguyên tắc, hình thức và PPDH
cụ thể để tổ chức thành công hoạt động dạy học môn GDCD ở trường Trung
học.”[6,tr.13]
Tự học theo GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn là “ Tự mình dùng các giác quan
để thu thập thông tin rồi tự mình động não, sử dụng các năng lực trí tuệ
(quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng
công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân
sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh cho được một lĩnh vực hiểu biết nào
đó, một kỹ năng nào đó, một số phẩm chất nào đó của nhân loại hay cộng
đồng rồi biến chúng thành sở hữu của mình”[18, tr.80]. Phát minh ra cái mới
cũng có thể coi là hình thức tự học cao cấp. Thông qua những hoạt động tự
học làm ngƣời học phát triển năng lực tự học phục vụ cho việc nghiên cứu và
học tập.
Tác giả Nguyễn Kì cũng bàn về khái niệm tự học, ông cho rằng“tự học
là ngƣời học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng
hành động của mình, tự thể hiện mình. Tự học là tự đặt mình vào tình huống
học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử
nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học[9].”
Trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lượng dạy học GS Trần
Phƣơng cũng đƣa ra quan điểm về tự học: “Học bao giờ và lúc nào cũng chủ
yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân
loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho
mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy”[11,tr.21].

12


“Từ những quan niệm trên đây có thể nhận thấy rằng, khái niệm tự học
luôn đi cùng, gắn bó chặt chẽ với khái niệm tự thân. Tri thức, kinh nghiệm, kĩ
năng của mỗi cá nhân chỉ đƣợc hình thành bền vững và phát huy hiệu quả
thông qua các hoạt động tự thân ấy. Để có đƣợc, đạt tới sự hoàn thiện thì mỗi
HS phải tự thân tiếp nhận tri thức từ nhiều nguồn; Tự thân rèn luyện các kĩ
năng; Tự thân bồi dƣỡng tâm hồn của mình ở mọi nơi mọi lúc.”
1.1.2.2. Các hình thức tự học và vai trò của tự học
Tự học bao gồm 2 hình thức cơ bản là tự học dƣới sự hƣớng dẫn của GV
và tự học không có sự hƣớng dẫn của GV.
Với hình thức thứ nhất là tự học có sự hƣớng dẫn của GV, quá trình học
tập trên lớp là quá trình căn bản, cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản,
khái quát về vấn đề đƣợc học. GV giữ vai trò quan trọng trong việc định
hƣớng cho HS, hƣớng dẫn cho HS phƣơng pháp nghiên cứu, tự học ở nhà
giúp cho HS chủ động, nắm vững và chiếm lĩnh đƣợc trọn vẹn tri thức liên
quan đến vấn đề đã học trên lớp. Ngoài ra, với việc định hƣớng cho HS, GV
còn có một vai trò quan trọng trong việc giám sát, kiểm tra kết quả đạt đƣợc
của HS sau khi HS tự nghiên cứu ở nhà thông qua các buổi vấn đáp tại lớp.
Tự học theo hình thức này sẽ gắn liền với nội dung bài học, theo sự sắp xếp
và giám sát của GV, nó sẽ giúp cho HS xác định đƣợc phƣơng hƣớng, mục
tiêu và giải pháp tốt nhất để hoàn thành bài học cũng nhƣ bổ sung thêm kiến
thức liên quan đến vấn đề đã đƣợc học.
Hình thức thứ hai là tự học không có sự hƣớng dẫn của GV. Ngoài việc
tự học theo sự hƣớng dẫn của GV, HS cũng phải tự chủ động tìm kiếm, học
hỏi những vấn đề khác không liên quan đến bài học hay không đƣợc GV định
hƣớng nhƣng những vấn đề đó lại có thể bổ trợ tốt cho việc định hƣớng nghề
nghiệp mình theo đuổi sau này. Hình thức này sẽ kích thích sự ham học hỏi,
tìm tòi của HS giúp HS hoàn thiện bản thân nhiều hơn, có thêm nhiều kiến
thức khác tạo thêm sự tự tin cho HS khi học tập. Việc không có hƣớng dẫn
của GV giúp HS không bị gò bó, không bị ràng buộc nên có thể chủ động tƣ
duy, khám phá ra những kiến thức, giá trị mới cho bản thân. Tuy nhiên, HS

13


cũng nên hỏi GV nếu cảm thấy có vƣớng mắc hoặc chƣa hiểu hết nội dung
liên quan đến vấn đề mình đang học tập để tránh tƣ duy lạc đƣờng, có sáng
tạo nhƣng không phù hợp dẫn đến hiểu sai vấn đề gây ảnh hƣởng không tốt
đến kết quả tự học của bản thân. Ngoài ra, HS còn có thể tự học ở nhà theo sở
thích, đam mê của bản thân. Có thể đang theo học ban tự nhiên nhƣng vẫn
hoàn toàn có thể tìm hiểu những kiến thức liên quan đến ban xã hội khác chỉ
cần cảm thấy nó thú vị, bổ ích. Việc tự học này sẽ giúp HS có một kiến thức
tổng hợp, sâu rộng ở nhiều môn học khác nhau.
Hoạt động tự giác, tích cực của cá nhân trong quá trình tự học đóng vai
trò quyết định đến việc hình thành, phát triển nhân cách ngƣời học. GS Tạ
Quang Bửu đã khẳng định vai trò của tự học đối với sự phát triển nhân cách:
Tự học là khởi nguồn của phong cách tự đào tạo, đồng thời là cái nôi nuôi
dƣỡng trí sáng tạo. Ai giỏi tự học ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trƣờng thì
ngƣời đó sẽ tiến xa. Việc tự học của HS có vai trò hết sức quan trọng đối với
sự phát triển trí tuệ và nhân cách của các em. Trí tuệ của HS đƣợc phát triển
trong quá trình tự học của các em bởi lẽ khi tự học các em luôn luôn phải
động não, tìm tòi, các thao tác tƣ duy nhƣ so sánh, phân tích, tổng hợp, suy
luận logic,… thƣờng xuyên đƣợc sử dụng đã mài sắc trí tuệ của HS. Tƣ duy
độc lập của HS cũng đƣợc phát triển trong quá trình tự học của các em. Việc
tự học của HS cũng góp phần không nhỏ tới sự phát triển nhân cách, tính kiên
trì, bền bỉ, theo đuổi mục đích đến cùng; Sự trung thực, say mê trong học tập
cũng là những phẩm chất nhân cách nổi bật của HS THPT. Đây chính là hành
trang cho các em sau khi tốt nghiệp THPT và chuyển lên các bậc học cao hơn
tại các trƣờng trung cấp, cao đẳng, đại học.
1.1.2.3. Những năng lực hướng tới hình thành cho học sinh THPT trong
chương trình giáo dục phổ thông mới
Chƣơng trình giáo dục phổ thông tổng thể đã công bố (26/12/2018), mục
tiêu giáo dục cho học sinh phổ thông nhằm rèn luyện tốt cho các em 5 phẩm
chất và 10 năng lực, đây sẽ là mục tiêu hƣớng đến trong chƣơng trình các
môn học, sách giáo khoa và phƣơng pháp giảng dạy trong đó có môn GDCD.

14


Cụ thể, chƣơng trình giáo dục phổ thông môn GDCD giúp học sinh“hình
thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu: yêu nƣớc, nhân ái, chăm chỉ, trung
thực và trách nhiệm. Những phẩm chất đạo đức này đƣợc hình thành, phát
triển gắn liền với quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của ngƣời công dân Việt
Nam. Gắn bó trực tiếp với chƣơng trình GDCD lớp 10 (phần 2: Công dân với
đạo đức).”
Giúp học sinh hình thành, phát triển các năng lực của ngƣời công dân
Việt Nam đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và cộng đồng xã hội theo
yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nƣớc trong bối cảnh toàn cầu hoá
và cách mạng công nghiệp mới, đặc biệt là yêu cầu của sự nghiệp xây dựng
nhà nƣớc pháp quyền và nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa.
Đó là: năng lực phát triển bản thân; năng lực điều chỉnh hành vi đạo đức,
năng lực điều chỉnh hành vi pháp luật; năng lực giải quyết vấn đề về kinh tế.
Đây là năng lực chuyên biệt trong môn GDCD mới.”
Năng lực tự học là một trong những năng lực chung đƣợc hƣớng đến
hình thành ở học sinh và đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển các
năng lực khác trong dạy học môn GDCD nói riêng và các bộ môn nói chung.
Vì vậy bồi dƣỡng năng lực tự học trong môn GDCD bằng việc sử dụng
phƣơng pháp tự học đóng vai trò hết sức cần thiết cho HS và từ đó thúc đẩy
quá trình rèn luyện kỹ năng tự học cho HS, góp phần vào công cuộc đổi mới
phƣơng pháp dạy học và không ngừng nâng cao chất lƣợng đào tạo.
1.1.3. Phương pháp tự học trong dạy học môn GDCD
Dạy học không chỉ đơn thuần là đƣa ra kiến thức cho học sinh mà điều
thực sự quan trọng là cung cấp cho học sinh phƣơng pháp tự học, để học sinh
không chỉ đạt kết quả tốt tại một thời điểm mà luôn có tâm thế cho việc trau
dồi và tìm hiểu kiến thức phục vụ cho công việc sau này.
Phƣơng pháp tự học trong dạy học môn GDCD là hoạt động tự học của
HS diễn ra dƣới sự điều khiển trực tiếp của GV với sự hỗ trợ của các phƣơng

15


tiện, kỹ thuật dạy học trên lớp. Với hình thức này việc tự học của HS chịu sự
định hƣớng và điều khiển của GV nhằm đạt đƣợc mục tiêu giờ dạy đã xác
định. Nếu nhƣ dạy học môn GDCD chỉ theo lối truyền thống nhƣ trƣớc kia,
cách dạy thụ động, một chiều, giáo viên thuyết giảng và học sinh thu nạp kiến
thức sẽ làm HS trở nên thụ động, ỷ lại vào giáo viên. Sử dụng phƣơng pháp tự
học, lúc này việc tự học của HS sẽ có đủ các yếu tố: GV, bạn, SGK, tài liệu,
trực quan… Với từng nội dung kiến thức HS sẽ có những hoạt động riêng, sự
sáng tạo riêng thông qua sự điểu khiển của GV và từ đó hiệu quả học tập sẽ
khác. Kết quả của quá trình tự học của HS là sự thống nhất giữa sự hƣớng dẫn
của GV và sự tự giác học tập của HS.
Nội dung môn GDCD lớp 10 mang tính trừu tƣơng, hàn lâm cao đặc biệt
là phần 1: Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa
học. Để giúp học sinh hiểu đƣợc nội dung bài học, GV không chỉ phải chuẩn bị
giáo án kỹ lƣỡng mà đòi hỏi sự cần cù, lắng nghe của HS trong việc nghiên cứu
nội dung bài học trƣớc khi đến lớp và chăm chú nghe giảng để đạt đƣợc mục
tiêu bài học. GV thông qua giáo án kết hợp với các phƣơng pháp dạy học làm
nội dung bài học thêm sinh động và những nhiệm vụ học tập đƣợc giao của HS
để khiến HS hiểu bài và kích thích sự hứng thú trong giờ học.
GV là ngƣời hƣớng dẫn, tổ chức cho HS tự nghiên cứu tìm ra kiến thức
và tự thể hiện mình trong lớp học, GV là một trọng tài cố vấn. Chẳng hạn khi
giảng dạy nội dung “Vai trò của đạo đức trong sự phát triển của cá nhân, gia
đình và xã hội”( bài 10: Quan niệm về đạo đức,SGK GDCD 10) GV sẽ sử
dụng phƣơng pháp thảo luận nhóm trong đơn vị kiến thức này, mỗi nhóm sẽ
tìm hiểu về vai trò của đạo đức trong một lĩnh vực vực cụ thể, lấy ví dụ và
liên hệ thực tiễn hiễn nay. GV giao nhiệm vụ và HS sẽ phải tự hợp tác, tìm
tòi, nghiên cứu để hiểu đƣợc nội dung kiến thức thông qua đọc SGK và liên
kết các kiến thức đã học trong những tiết trƣớc. Dƣới sự hƣớng dẫn của GV,
HS sẽ tự trình bày sản phẩm và sự hiểu biết của mình trƣớc mọi ngƣời. GV

16


với vai trò một cố vấn sẽ đƣa ra kết luận trong các cuộc tranh luận đối thoại
(HS – HS ,GV – HS) để khẳng định kiến thức do HS tìm ra và GV sẽ là ngƣời
kiểm tra đánh giá kết quả tự học của HS và cho điểm. Sử dụng phƣơng pháp
thảo luận nhóm trong trƣờng hợp này mang lại hiệu quả cao trong việc pháp
huy đƣợc năng lực tự học của HS kích thích khả năng tƣ duy cho HS. Trong
phƣơng pháp tự học này, GV cần lựa chọn cao, rỗng rãi cả về nội dung lẫn
phƣơng pháp tổ chức học tập để đem lại hiệu quả cũng nhƣ sự hứng thú của
ngƣời học.
Trong quá trình tự học, HS luôn tự chủ, năng động và sáng tạo, biết học
hỏi và đánh giá, biết so sánh và đối chiếu, biết kiểm nghiệm và xử lý tình
huống. Quan trọng hơn là HS phải biết tự tìm cho mình một cách tự chiếm
lĩnh tài liệu. Song song với việc phát huy tối đa nội lực của học sinh trong quá
trình tự học, vai trò của GV vô cùng quan trọng. Nếu nhƣ việc tự học ngoài xã
hội, ngƣời học có quyền chọn kiến thức để tự học và tự học một cách tự do.
Thì tự học trong nhà trƣờng có tính chất định hƣớng, GV có trách nhiệm
hƣớng dẫn các em từ cách tự mình nghiên cứu SG

đến việc điều chỉnh kiến

thức mà các em thu nhận đƣợc để có đƣợc lƣợng kiến thức chính xác nhất.”Ví
dụ nhƣ khi giảng dạy nội dung “Ô nhiễm môi trường và trách nhiệm của công
dân trong việc bảo vệ môi trường” (bài 15: Công dân với một số vấn đề cấp
thiết của nhân loại, SGK GDCD 10) GV sẽ giao nhiệm vụ học tập cho HS
trƣớc khi dạy học. Mỗi HS sẽ về tìm hiểu về tình hình ô nhiễm môi trƣờng ở
khu vực em đang sống gồm môi trƣờng đất, nƣớc, không khí, rác thải,… mức
độ ô nhiễm, nguyên nhân và giải pháp khắc phục.“Qua đó, GV hình thành và
phát triển năng lực tự học cho HS với những cách suy nghĩ, tìm tòi để có thể
tự đặt vấn đề, tự giải quyết vấn đề và tự nghiên cứu. HS tự đánh giá, tự kiểm
tra lại sản phẩm ban đầu sau khi đã trao đổi, hợp tác với bạn bè và dựa vào kết
luận của GV, tự sửa chữa, tự điều chỉnh, tự hoàn thiện đồng thời tự rút kinh
nghiệm về cách học, cách xử lý tình huống, cách giải quyết vấn đề của mình.”

17


Trên cơ sở chƣơng trình môn GDCD“góp phần giúp học sinh hình thành,
phát triển các năng lực chung nhƣ: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao
tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Sự kết hợp hài hòa
giữa dạy kiến thức công cụ với kiến thức phƣơng pháp, đặc biệt chú trọng dạy
cách học, phƣơng pháp tự học để ngƣời học có thể học tập suốt đời đƣợc xác
định là yếu tố quan trọng và nổi bật trong chƣơng trình giáo dục phổ thông
mới. Chính vì vậy, để phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu cho HS trong
dạy học môn”GDCD ngƣời GV cần áp dụng những PPDH, mô hình dạy học
tích cực nhằm phát huy tối đa khả năng tƣ duy, học tập của HS. Thay vì đến
lớp thụ động nghe bài giảng, rồi về nhà làm bài tập GV đóng vai trò hƣớng dẫn
HS (thông qua những chƣơng trình học online, E-Learning đã đƣợc giáo viên
soạn và chuẩn bị trƣớc cùng thông tin do học sinh tự tìm kiếm). Nhiệm vụ của
HS là tự học kiến thức mới và làm bài tập mức thấp ở nhà trên cơ sở nội dung
kiến thức đƣợc GV thiết kế trƣớc. Sau đó trên lớp, HS sẽ đƣợc GV tổ chức các
hoạt động để tƣơng tác và chia sẻ lẫn nhau, chủ động tìm hiểu kiến thức bài học
dƣới sự thiết kế bài giảng của GV và làm bài tập đã giao trƣớc đó (mô hình lớp
học đảo ngược nhằm phát triển năng lực tự học cho HS).
Phát triển năng lực tự học cho HS trong môn GDCD còn đƣợc diễn ra
phạm vi ngoài lớp học nhằm đáp ứng yêu cầu của môn học, giúp HS củng cố
kiến thức trên lớp, hệ thống hóa nhằm ôn tập, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo dƣới
sự hƣớng dẫn của GV. HS sẽ tự tổ chức việc học tập của mình ở nhà theo yêu
cầu của GV”với các nhiệm vụ học tập đƣợc giao. Chẳng hạn, khi học xong
bài 6: Khuynh hướng phát triển của sự vật và hiện tượng( SGK GDCD 10),
GV sẽ giao nhiệm vụ học tập về nhà cho HS vận dụng sự hiểu biết để phân
tích sự phủ định trong phản ứng trao đổi sau: HCl + NaOH = NaCl +H2O. Sự
phủ định trong xã hội từ trƣớc đến nay và trong giới sinh vật. HS thông qua
sự hiểu bài, vận dụng các kiến thức đƣợc học sẽ giải quyết nhiệm vụ học tập
và kiểm chứng lại bằng hoạt động của GV và HS trên lớp. Thông qua đó mức

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×