Tải bản đầy đủ

Phát triển kinh tế du lịch huyện sóc sơn, thành phố hà nội trong giai đoạn hiện nay

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====o0o=====

NGUYỄN THỊ NGỌC ÁNH

PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH
HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị

HÀ NỘI, 2019


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====o0o=====

NGUYỄN THỊ NGỌC ÁNH


PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH
HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:

ThS. Nguyễn Thị Nhung

HÀ NỘI, 2019


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu
của nhiều cơ quan, tập thể và cá nhân.
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thạc sỹ Nguyễn Thị
Nhung - người đã hướng dẫn tận tình chỉ bảo tôi trong việc xác định đề tài,
phương pháp nghiên cứu, gợi ý các nội dung và giúp tôi chỉnh sửa bài khóa
luận, hoàn thành được nhiệm vụ trong học tập.
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới:
- Các thầy giáo cô giáo trong khoa Giáo dục chính trị - Trường Đại học
sư phạm Hà Nội 2, những người đã dạy tôi suốt 4 năm học qua.
- Ban Giám hiệu nhà trường, trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 nơi tôi
đang học, đã tạo điều kiện cho tôi được làm bài khóa luận này để hoàn thành
chương trình học.
- Các cơ quan, các ban ngành, đoàn thể, cán bộ và người dân của huyện
Sóc Sơn đã giúp đỡ, cung cấp tài liệu cho tôi hoàn thành bài khóa luận này.
- Cảm ơn gia đình, người thân, những người bạn đã luôn ở bên khích lệ,
động viên để tôi thực hiện bài khóa luận này.
Bài khóa luận này là kết quả bước đầu của quá trình nghiên cứ khoa học,
song do điều kiện năng lực và thời gian hạn chế, bài khóa luận của tôi sẽ
không tránh khỏi những thiếu xót. Tác giả mong được sự góp ý của các thầy
cô để công trình nghiên cứu được thêm hoàn thiện.
Vĩnh Phúc, ngày 17 tháng 5 năm 2019
Ngƣời thực hiện

Nguyễn Thị Ngọc Ánh



BẢNG KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
IUCN : Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế
LGH (Legend Hill Golf): sân golf Thanh Trì
FDI (Foreign Direct Investman): Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP (Gross Domestic Product): Tổng sản phẩm quốc nội
UBND: Uỷ ban nhân dân
UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc
USD (United States Dollar): Đồng đô la Mỹ


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ..................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài................................................. 3
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ............................................................... 4
5. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................... 4
6. Đóng góp của Khóa luận .......................................................................... 4
7. Kết cấu Khóa luận..................................................................................... 5
PHẦN NỘI DUNG .......................................................................................... 6
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH .... 6
1.1. Cơ sở lí luận ........................................................................................... 6
1.2. Vai trò của phát triển Kinh tế du lịch ................................................. 13
1.3. Các tiêu chí để đánh giá sự phát triển kinh tế du lịch ....................... 18
Chƣơng 2. HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH HUYỆN
SÓC SƠN, HÀ NỘI TỪ NĂM 2010 ĐẾN NAY ......................................... 21
2.1. Những điều kiện để phát triển Kinh tế Du lịch huyện Sóc Sơn, Hà
Nội ................................................................................................................ 21
2.2. Những thành tựu đạt được trong phát triển Kinh tế Du lịch của
huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội............................................................. 28
2.3. Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong phát
triển Kinh tế Du lịch của huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội .................. 30
Chƣơng 3. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH PHÁT
TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH CỦA HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ
HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN TỚI ........................................................... 35


3.1. Quan điểm và phương hướng phát triển Kinh tế Du lịch của
huyện Sóc Sơn, Hà Nội............................................................................... 35
3.2. Một số giải pháp thúc đẩy phát triển Kinh tế Du lịch của huyện
Sóc Sơn, thành phố Hà Nội trong thời gian tới ........................................ 38
PHẦN KẾT LUẬN ........................................................................................ 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 49


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự phát triển của ngành kinh tế du lịch đã và đang góp phần thúc đẩy
vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, tài
nguyên thiên nhiên, tạo nhiều việc làm, nâng cao đời sống của nhân dân, đẩy
mạnh quá trình hội nhập quốc tế, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt
Nam. Trong những năm vừa qua, ngành du lịch trên thế giới đang phát triển
đáng kể, và không hề có dấu hiệu chậm lại trong những năm tới. Đồng thời,
trên thế giới, nhiều nước xem phát triển kinh tế du lịch là ngành kinh tế mũi
nhọn, nằm trong chiến lược phát triển kinh tế của quốc gia. Phát triển kinh tế
du lịch cũng là bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa và các giá trị truyền
thống tốt đẹp của dân tộc, thể hiện tình yêu quê hương đất nước, bảo vệ môi
trường và thiên nhiên, giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm và an sinh xã
hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy phát triển
kinh tế du lịch có nhiều tác giả nghiên cứu nhưng vẫn còn nhiều tranh luận.
Huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội là một vùng đất với diện tích chủ yếu
về đồi núi, với điều kiện tự nhiên thuận lợi như khí hậu nhiệt đới gió mùa, đất
đai rộng lớn màu mỡ, thảm thực vật. Địa hình của huyện Sóc Sơn có sự phân
hóa nên sự phong phú về các hệ sinh thái, rất thuận lợi cho kinh tế du lịch
sinh thái, tự nhiên. Nơi đây cũng là nhân chứng sống của các công trình nhân
văn đã tồn tại mấy nghìn năm lịch sử. Ngoài ra, huyện Sóc Sơn có địa thế
thuận lợi cho phát triển Kinh tế Du lịch như: là huyện giáp với bốn tỉnh Bắc
Giang, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc và là huyện có sân bay quốc tế
Nội Bài và có đường Quốc lộ 2, Quốc lộ 3 chạy qua, từ huyện đến trung tâm
thành phố cách 40km về phía Tây Bắc. Với những điều kiện nêu trên, huyện
Sóc Sơn, thành phố Hà Nội có vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh
tế du lịch của thành phố Hà Nội và góp phần vào phát triển kinh tế du lịch của
quốc gia.

1


Tuy nhiên, tình trạng phát triển kinh tế du lịch của huyện Sóc Sơn, Hà
Nội còn manh mún, nhỏ lẻ và tự phát. Chưa được đầu tư tổng thể, chưa thực
sự phát huy được hết tiềm năng cũng như thế mạnh của huyện. Xuất phát từ
những lí do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Phát triển kinh tế du lịch huyện Sóc
Sơn, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài cho công trình
nghiên cứu của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
* Những công trình nghiên cứu du lịch, kinh tế du lịch, phát triển kinh tế du
lịch nói chung:
Vấn đề du lịch và kinh tế du lịch đã được đề cập đến trong công trình
nghiên cứu, sách, báo của nhiều học giả trong và ngoài nước với các mức độ,
khía cạnh khác nhau. Tiêu biểu như:
Năm 2000, tác giả Vương Lôi Đình, Đồng Ngọc Minh khoa Du lịch Đại
học Hải Dương, Thanh Đảo, Trung Quốc phối hợp biên soạn cuốn sách “Kinh
tế Du lịch và Du lịch học” do NXB Trẻ ban hành. Trong tác phẩm này, các
tác giả dã đề cập đến vấn đề nghiên cứu học thuật đối với các hoạt động du
lịch trên cơ sở những thông tin chi tiết về du lịch, kinh tế du lịch, đặc điểm,
các loại hình du lịch.
Tiếp theo là công trình nghiên cứu của Robert Lanquar, cuốn sách “Kinh
tế Du lịch” người dịch Bùi Ngọc Chưởng, Phạm Ngọc Uyển đưa ra những
công cụ và phương tiện phân tích của Kinh tế học Du lịch và Kinh tế học về
kinh doanh Du lịch.
Bên cạnh những công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài, còn
có những công trình nghiên cứu về Du lịch và Kinh tế Du lịch trong nước.
Tiêu biểu là một số tác phẩm sau:
Cuốn “Kinh tế Du lịch” của tác giả Nguyễn Hồng Giáp (2002), đã làm
rõ khái niệm Kinh tế Du lịch, tiềm năng du lịch, đặc điểm các loại hình du
lịch trên cơ sở nghiên cứu lý luận, tác giả đưa ra được những tác động của

2


Kinh tế Du lịch đến kinh tế, xã hội.
*Công trình nghiên cứu về Sóc Sơn:
Nghiên cứu về phát triển Du lịch của huyện có bài luận văn “Nghiên cứu
phát triển du lịch huyện Sóc Sơn, Hà Nội” năm 2013 của Th.s Nguyễn Thị
Thu Hương. Công trình nghiên cứu này đã đưa ra rõ cơ sở lý luận và thực tiễn
phát triển du lịch của huyện nhưng chỉ chú trọng đến phát triển du lịch nhân
văn - tâm linh. Hơn nữa, tác giả mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu đề tài dựa
trên cơ sở bảo tồn và phát huy những giá trị nhân văn của du lịch tâm linh,
chưa đi sâu đánh giá được vai trò của ngành du lịch huyện là một ngành kinh
tế trọng điểm. Hiện nay, chưa tìm thấy công trình nào nghiên cứu về phát
triển Kinh tế Du lịch huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Do vậy, khóa luận
này là công trình đầu tiên. Tuy nhiên tôi vẫn sử dụng những công trình nghiên
cứu liên quan đến vấn đề phát triển kinh tế và phát triển du lịch của huyện
làm tài liệu tham khảo và đưa ra lý luận chính xác nhất cho bài khóa luận của
mình. Cuối cùng, công trình nghiên cứu về du lịch huyện Sóc Sơn của thạc sĩ
Nguyễn Thị Thu Hương đến nay đã được sáu năm, vì vậy có rất nhiều vấn đề
đã và đang thay đổi từng ngày, cho nên tôi chọn đề tài “Phát triển kinh tế du
lịch huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài
nghiên cứu khóa luận của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
* Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu những lí luận chung về phát triển kinh tế du lịch
và phân tích đánh giá phát triển kinh tế du lịch huyện Sóc Sơn, thành phố Hà
Nội hiện nay, từ đó đưa ra đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế du
lịch huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
*Nhiệm vụ nghiên cứu:
Hệ thống hóa những lí luận chung về phát triển kinh tế du lịch
Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động kinh tế du lịch huyện Sóc Sơn

3


hiện nay, chỉ ra những thuận lợi và hạn chế trong phát triển kinh tế du lịch
Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế du lịch ở huyện Sóc
Sơn trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
*Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phát triển kinh tế du lịch huyện Sóc
Sơn, Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
*Phạm vi nghiên cứu:
Về mặt không gian: đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề phát triển kinh tế
du lịch trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
Về mặt thời gian: đề tài quan tâm đến tình hình phát triển kinh tế du lịch
của huyện Sóc Sơn từ năm 2010 đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở vận dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ
nghĩa Mác – Lênin, đề tài sử dụng các phương pháp tiếp cận dưới góc độ kinh
tế chính trị, bên cạnh đó khóa luận sử dụng phương pháp phân tích và tổng
hợp, so sánh, đối chiếu, diễn giải, quy nạp để nghiên cứu. Các số liệu được
lấy từ Phòng Kinh tế và Phòng Văn hóa – Thông tin của Huyện ủy – UBND
huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
6. Đóng góp của Khóa luận
Thông qua cơ sở lý luận và nghiên cứu thực trạng, khóa luận đã góp phần làm
rõ hơn một số lý luận chung về phát triển kinh tế du lịch. Đồng thời, khóa
luận đã nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế du lịch ở huyện Sóc Sơn,
thành phố Hà Nội trong thời gian gần đây, chỉ ra những thành tựu và hạn chế
trong quá trính phát triển kinh tế du lịch của huyện Sóc Sơn. Khóa luận đã đề
xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế du lịch huyện Sóc Sơn, thành
phố Hà Nội thành ngành kinh tế mũi nhọn và đóng góp vào phát triển kinh tế

4


xã hội.
7. Kết cấu Khóa luận
Ngoài lời nói đầu, lời cảm ơn, danh mục viết tắt, phụ mục, mục lục và tài liệu
tham khảo, nội dung chính của đề tài bao gồm 3 chương sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế du lịch
Chương 2. Hiện trạng phát triển kinh tế du lịch huyện Sóc Sơn, thành phố Hà
Nội từ năm 2010 đến nay
Chương 3. Phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế du lịch huyện Sóc
Sơn, thành phố Hà Nội trong thời gian tới

5


PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
*Khái niệm Du lịch
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, du lịch được công nhận
như là một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người. Quá
trình phát triển của du lịch góp phần phản ánh tính chất và trình độ phát triển
của lịch sử xã hội, mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở
các hình thái kinh tế xã hội khác nhau mà con người đã trải qua.
Thời kỳ đầu xã hội nguyên thủy, con người cũng có sự di chuyển từ nơi
này đến nơi khác nhưng hoạt động di chuyển đó do những nguyên nhân như:
những xung đột xảy ra trong xã hội hoặc phòng tránh thiên tai, hay là tìm một
nơi phù hợp hơn để sinh sống. Trên phạm vi toàn thế giới, hoạt động đi ra
ngoài với mục đích là du lịch bắt đầu từ giai đoạn cuối xã hội chiếm hữu nô lệ.
Khi ngành thủ công nghiệp xuất hiện, quan hệ hàng hóa - tiền tệ hình thành và
phát triển thì du lịch lại càng phát triển hơn.
Du lịch được phát triển thêm một bước kể từ khi lực lượng sản xuất có
những yếu tố biến đổi về chất. Biểu hiện là vào cuối thế kỷ XVII, bắt đầu diễn
ra cuộc cách mạng giao thông trên thế giới, đầu máy hơi nước được sử dụng
rộng rãi trong các ngành đường sắt, đường bộ, đường thủy, trong đó ngành
công nghiệp sản xuất ô tô được chú trọng hơn bao giờ hết. Chỉ trong một thời
gian ngắn, trên khắp châu Âu, châu Mỹ, mạng lưới đường sắt được hình thành.
Giao thông trở thành yếu tố quan trọng thúc đẩy giao lưu mạnh mẽ của con
người ở các vùng đất khác nhau làm cho du lịch trở thành hiện tượng đại
chúng và cũng từ đó xuất hiện hàng loạt các loại hình du lịch của mọi tầng lớp
khác nhau trong xã hội.

6


Khoa du lịch và khách sạn trường Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội, đã
đưa ra khái niệm: “Du lịch là ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ
chức hướng dân du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những
doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham
quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của du lịch. Các hoạt động đó
đem lại lợi ích kinh tế, chính trị - xã hội cần thiết cho đất nước làm du lịch và
cho bản thân doanh nghiệp”.
Trong Luật Du lịch Việt Nam, tại điểm 1, điều 4, chương I “Du lịch” được
nêu như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con
người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham
quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [6].
Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao gồm nhiều
thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Hoạt động du
lịch không chỉ có đặc điểm văn hóa - xã hội. Thực tiễn ở nhiều nươc trên thế
giới đã chứng minh rằng hoạt động du lịch không chỉ đem lại lợi ích kinh tế
mà còn cả lợi ích chính trị, văn hóa, xã hội.
* Khái niệm kinh tế du lịch:
“Cùng với sự phát triển của hoạt động du lịch là hoạt động kinh doanh
du lịch. Kinh tế du lịch từng bước trở thành một bộ phận hợp thành của hoạt
động kinh tế xã hội, lấy sự phát triển các loại hình kinh doanh du lịch, biến
các tài nguyên du lịch của một quốc gia, một vùng lãnh thổ thành những hàng
hóa và dịch vụ đáp ứng nhu cầu cho du khách. Trên thế giới du lịch dần dần
được xã hội hóa, số lượng người đi du lịch ngày một đông, xuất hiện nhu cầu
cần phải được giải quyết như: đảm bảo chỗ ăn, chỗ ở, chỗ ngủ cho những
người tạm thời sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ. Để đáp ứng nhu
cầu đó, đã xuất hiện những nghề mới trong dân chúng ở các vùng có tài
nguyên du lịch như: kinh doanh du lịch, nhà hàng, môi giới, hướng dẫn viên

7


du lịch…”Hàng loạt các cơ sở chuyên phục vụ như: khách sạn, quán ăn, cửa
hàng, tiệm giải khát, dịch vụ cho thuê, giặt là, mát xa…cùng các tổ chức du
lịch và đội ngũ phục vụ du khách lần lượt ra đời. Từng bước hình thành một
ngành nghề mới là ngành kinh doanh du lịch và theo đó xuất hiện một thị
trường mới là thị trường du lịch. Giải thích quá trình vận động phát triển của
kinh tế du lịch, có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Rõ ràng khi nói đến kinh tế
du lịch là phải nói làm du lịch (yếu tố kinh doanh), trong đó phải trả lời được
các câu hỏi: Ai làm? Làm thế nào? Làm cho ai? Làm để làm? Ngoài ra, do du
lịch là ngành kinh tế đặc biệt nên trong khái niệm cũng phải thể hiện được
tính đặc biệt của nó.
Một kết luận về khái niệm Kinh tế du lịch được nhắc tới trong từ điển
Bách khoa Việt Nam: “Kinh tế du lịch là một loại hình kinh tế có tính đặc thù
mang tính du lịch và thường được xem như ngành công nghiệp không khói,
gồm có du lịch quốc tế và du lịch trong nước, có chức năng, nhiệm vụ tổ chức
việc khai thác các tài nguyên và cảnh quan của đất nước ( tài nguyên thiên
nhiên, phong cảnh, kinh tế, văn hóa, lịch sử…) nhằm thu hút khách du lịch
trong và ngoài nước, tổ chức buôn bán, xuất nhập khẩu tại chỗ hàng hóa và
dịch vụ cho khách du lịch”[16]. Như vậy, kinh tế du lịch là tổng hòa các mối
quan hệ giữa các hiện tượng kinh tế với kinh tế, kinh tế với xã hội của hoạt
động du lịch, hình thành trên cơ sở phát triển sản xuất, trao đổi hàng hóa và
nhu cầu về đời sông vật chất, tinh thần của con người trong xã hội ngày càng
không ngừng được nâng cao.
Thuật ngữ phát triển bền vững lần đầu tiên sử dụng trong báo cáo
“Chiến lược bảo tồn thế giới” do Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN)
đề xuất năm 1980. Mục tiêu tổng thể của chiến lược là đạt được sự phát triển
bền vững bằng cách bảo vệ tài nguyên sinh vật, nhấn mạnh tới tính bền vững
của sự phát triển về mặt sinh thái, nhằm kêu gọi bảo tồn tài nguyên sinh vật.

8


Hầu hết các khái niệm sau này đều đồng nhất rằng, nội hàm của phát triển bền
vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba
mặt của sự phát triển, bền vững về kinh tế, bền vững về tài nguyên môi
trường và bền vững về văn hóa xã hội. Du lịch được coi là ngành “công
nghiệp không khói” lớn nhất trên phạm vi toàn thế giới, góp phần tích cực vào
sự phát triển kinh tế của các quốc gia, bảo tồn giá trị văn hóa có tính toàn cầu
cũng như có tác động đến mọi khía cạnh về tài nguyên và môi trường.
* Khái niệm phát triển kinh tế du lịch bền vững:
Khái niệm phát triển kinh tế du lịch bền vững: “Là sự phát triển kinh tế
du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả
năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của các thế hệ tương lai”[4]. Theo đó, trong
quá trình phát triển phải đảm bảo được sự bền vững về kinh tế, bền vững về
tài nguyên môi trường và bền vững về văn hóa xã hội.Trong đó, bền vững về
kinh tế cần được hiểu là sự phát triển ổn định lâu dài của du lịch, tạo ra nguồn
thu đáng kể, góp phần tích cực vào sự tăng trưởng của kinh tế - xã hội, đem
lại lợi ích cho cộng đồng, đặc biệt người dân địa phương.“Mức sống của
người dân địa phương được cải thiện từ du lịch thì họ sẽ có lý do để bảo vệ
nguồn thu nhập này bằng cách bảo vệ tài nguyên và môi trường, bảo vệ các
giá trị văn hóa truyển thống để du khách tiếp tục tới, qua đó xóa đói giảm
nghèo, đem lại cơ hội nâng cao mức sống cho người dân địa phương, tăng
trưởng kinh tế cho những vùng còn khó khăn.”
1.1.2 Các loại hình kinh tế du lịch
Kinh doanh lưu trú:
“Đặc điểm kinh doanh của ngành lưu trú: Diễn ra trong một khoảng thời
gian: thời gian phục vụ phụ thuộc vào thời gian tiêu dùng của khách, là hoạt
động diễn ra một cách liên tục, kinh doanh mang tính thời vụ, diễn ra trên cùng
một không gian (khách đến tận doanh nghiệp để tiêu dùng), do nhiều bộ phận

9


nghiệp vụ khác nhau đảm nhận, tổ chức quá trình kinh doanh phụ thuộc vào
nhu cầu của khách, tính độc lập tương đối của các bộ phận, sự phối kết giữa
các bộ phận cùng phục vụ khách, đòi hỏi dung lượng vốn lớn (do yêu cầu tiện
nghi cao của khách), tính thời vụ kinh doanh nên tiêu hao nguồn vốn lớn vì
vậy vấn đề cần đặt ra là hạn chế tính thời vụ và quản lí chặt chẽ các hoạt động
bảo trì, bảo dưỡng. Sử dụng nhiều lao động do: sẵn sàng phục vụ, số lao động
trở thành một trong những tiêu chuẩn của chất lượng phục vụ, lao động có thể
thay thế nhau, mức độ thay thế nhân viên ca, đối tượng phục vụ là khách du
lịch: đa dạng về quốc tịch, văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập quán, lối sống,
tính cách, sở thích,”... Các loại hình cơ sở kinh doanh du lịch lưu trú tại Việt
Nam: Khách sạn, làng du lịch, biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, bãi cắm trại,
nhà nghỉ du lịch
Kinh doanh ăn uống:
Nhà hàng: “là cơ sở ăn uống phổ cập nhất trong các loại hình cơ sở ăn
uống tạo điều kiện cho khách ăn uống, nghỉ ngơi”.“Nhiệm vụ chủ yếu là sản
xuất các món ăn, đồ uống chất lượng cao, phong phú về chủng loại, đồng thời
cũng tạo ra môi trường, khung cảnh thuận lợi cho khách nghỉ ngơi vi chơi, để
thực hiện nhiệm vụ trên cần có: Các loại kho phù hợp, đúng tiêu chuẩn để bảo
quản và dự trữ các loại thực phẩm bia, rượu, nước ngọt; phòng ăn phải được
trang trí đầy đủ, tiện nghi, đẹp mắt; ban nhạc chơi khá, chương trình đã được
chọn lọc và thay đổi thường xuyên, có sàn nhảy, ánh đèn màu; có nhân viên
phục vụ bàn với tay nghề cao, ăn mặc lịch sự, đúng quy định, ân cần, chu đáo
với khách, giao tiếp bằng các ngôn ngữ thông dụng”
Phân loại nhà hàng: Buffet (là một dạng nhà hàng phục vụ với số lượng
hợp lí các món ăn nóng và lạnh), Snack (là một dạng nhà hàng ăn rẻ, phục vụ
rất nhanh theo phương thức tại quầy hoặc bàn. Thực đơn đơn giản đến mức tối
đa thường giới hạn ở các loại bánh bột, bánh kẹp thịt, và một món ăn được chế

10


biến ngay trước mặt khách), Coffee shop (là một dạng nhà hàng có phương
thức phục vụ hỗn hợp với đội ngũ nhân viên phục vụ thu gọn, thực đơn đơn
giản), Nhà hàng đặc sản (là một dạng nhà hàng chuyên sâu vào việc chế biến
và phục vụ các đặc sản của một nước, hoặc một vùng miền), Grill (là nhà
hàng mang tính truyền thống trong phương thức phục vụ, vì vậy phải rất chú ý
đến việc trang trí nội thất và tạo dựng sảnh xung quanh. Thực đơn chủ yếu là
thịt hoặc cá và được nướng và chế biến ngay trước mặt khách), nhà hàng chính
(thường mở cửa làm việc khách ăn sáng, chủ yếu là khách nghỉ tạo khách
sạn), Super club (là loại nhà hàng cao cấp rất đắt với thực đơn phong phú và
chất lượng phục vụ cao nhất), quán bar (bar công cộng và bar phục vụ), quán
điểm tâm giải khát (là loại hình ăn uống được khách du lịch ưa chuộng nhất.
Nơi đây phục vụ những món ăn điểm tâm, một số món ăn đặc sản địa
phương).
Kinh doanh lữ hành:
Khái niệm hoạt động lữ hành: “là hoạt động nhằm thực hiện một
chuyến đi từ nơi này đến nơi khác bằng nhiều loại phương tiện khác khau
với nhiều lí do và mục đích khác nhau và không nhất thiết phải quay trở lại
điểm xuất phát”. Kinh doanh lữ hành: “là việc thực hiện các hoạt động nghiên
cứu thị trường, thiết lập các chương trình du lịch trọn gói hay từng phần,
quảng cáo và bán các chương trình này trực tiếp hay gián qua các trung gian
hay văn phòng đại diện tổ chức thực hiện chương trình và hướng dẫn viên du
lịch”. Các doanh nghiệp lữ hành đương nhiên được phép tổ chức mạng lưới đại
lý lữ hành. Quy trình kinh doanh lữ hành, bao gồm 4 bước: bước 1 là sản xuất
hàng hóa, du lịch; bước 2 là tiếp thị ký kết hợp đồng du lịch; bước 3 là tổ
chức thực hiện hợp đồng; bước 4 là thanh quyết toán hợp đồng và rút kinh
nghiệm.
Doanh nghiệp lữ hành: “là các đơn vị có tư cách pháp nhân độc lập
được thành lập nhằm mục đích sinh lợi bằng việc giao dịch, ký kết các hợp

11


đồng du lịch và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch trọn gói cho kinh
doanh du lịch”. Ngoài ra chương trình du lịch còn có thể tiến hành các hoạt
động trung gian, bán sản phẩm của các nhà cung cấp du lịch hoặc thực hiện
các hoạt dộng kinh doanh tổng hợp khác nhau đảm bảo nhu cầu du lịch của
khách từ khâu đầu cho đến khâu cuối cùng. Phân loại doanh nghiệp lữ hành:
doanh nghiệp lữ hành thuộc sở hữu Nhà nước (do Nhà nước đầu tư), doanh
nghiệp lữ hành tư nhân (công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công
ty liên doanh, công ty có vốn 100% nước ngoài). Vai trò của doanh nghiệp lữ
hành trong ngành kinh tế du lịch:“thứ nhất là tổ chức các hoạt động trung gian,
bán và tiêu thụ sản phẩm của các nhà cung cấp dịch vụ, rút ngắn hoặc xóa bỏ
khoảng cách giữa khách du lịch với các cơ sở kinh doanh du lịch; thứ hai là tổ
chức các chương trình du lịch trọn gói, các chương trình này nhằm liên kết
sản phẩm du lịch như vận chuyển, lưu trú, tham quan, vui chơi, giải trí,…
thành một sản phẩm thống nhất hoàn hảo, đáp ứng nhu cầu của khách; thứ ba
là các công ty lữ hành lớn với cơ sở vật chất kĩ thuật phong phú từ các công ty
hàng không tới các chuỗi khách sạn, hệ thống ngân àng đảm bảo phục vụ tất
cả các nhu cầu du lịch của khách từ đầu tiên đến cuối cùng.”
Đại lý lữ hành: “Là tất cả các tổ chức hoặc cá nhân thực hiện chức năng
tư vấn cho khách, bán các chương trình du lịch cho khách”. Đại lý du lịch
“là tất cả văn phòng đại diện bán hoặc tư vấn lữ hành”. Đặc điểm của đại lý
lữ hành: đại lý chỉ quan tâm đến việc tiêu thụ sản phẩm công ty để hưởng hoa
hồng, đại lý chỉ có chức năng thương mại cho công ty, là người đại diện cho
khách hàng đặt mua sản phẩm dịch vụ từ công ty và cuối cùng là nếu có
những vấn đề bất thường xảy ra đều có sự tham gia đều có sự tham gia chịu
trách nhiệm của nhà cung cấp và các công ty lữ hành. Hệ thống sản phẩm của
các đại lý lữ hành bao gồm có: dịch vụ hàng không, dịch vụ lưu trú ăn uống,
các dịch vụ khác, cung cấp các dịch vụ lữ hành bằng tàu thủy.
Kinh doanh du lịch vận chuyển:

12


Kinh doanh vận chuyển du lịch là cung cấp dịch vụ vận tải giao thông
cần thiết để giúp khách di chuyển từ vùng này sang vùng khác, quốc gia này
sang quốc gia khác trong quá trình du lịch. Kinh doanh vận chuyển du lịch là
điều kiện cho sự ra đời và phát triển của ngành du lịch, là nguồn thu ngoại tệ
du lịch và thu hồi tiền tệ quan trọng.“Các hình thức giao thông du lịch: Hình
thức giao thông hiện đại (Hình thức giao thông du lịch đường bộ, hình thức
giao thông du lịch bằng đường hàng không, hình thức giao thông du lịch bằng
đường thủy, hình thức giao thông du lịch bằng đường sắt, hình thức giao
thông du lịch bằng đường cáp treo) và các phương tiện giao thông du lịch
truyền thống”(xe đạp, thuyền rồng, bè tre,…)
Kinh doanh dịch vụ du lịch bổ sung:
“Các dịch vụ bổ sung: Dịch vụ làm sống động hơn cho kỳ nghỉ và thò
gian nghỉ (như vui chơi, giải trí), dịch vụ làm dễ dàng việc nghỉ lại của khách,
dịch vụ tạo điều kiện thuận tiện trong thời gian khách nghỉ lại, các dịch vụ
thỏa mãn những nhu cầu đặc biệt của con người,”dịch vụ thương mại, kinh
doanh hàng lưu niệm, kinh doanh dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ làm đẹp và
chăm sóc sắc đẹp,…
1.2 Vai trò của phát triển Kinh tế du lịch
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
“Phát triển du lịch nội địa: trong phạm vi một quốc gia, sự phát triển của
ngành kinh tế du lịch sẽ tham gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc
dân. Chẳng hạn, việc sản xuất ra đồ lưu niệm, chế biến thực phẩm, xây dựng
các cơ sở vật chất kĩ thuật… góp phần làm tăng thêm tổng thu nhập quốc nội
(GDP).”Hoạt động kinh tế du lịch sẽ“tham gia tích cực vào quá trình phân
phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng. Hay nói cách khác, kinh tế du lịch
tác động vào việc làm cân đối cấu trúc của thu nhập và chỉ tiêu của nhân dân
theo các vùng.”Du lịch nội địa là ngành kinh tế huy động tốt nhất kết cấu vật

13


chất kinh tế- xã hội, các nguồn lực khác nhau của các thành phần kinh tế cho
phát triển kinh tế quốc dân nói chung và mỗi vùng, mỗi địa phương nói
riêng.“Ngoài ra, việc phát triển tốt du lịch nội địa sẽ góp phần củng cố sức
khỏe cho nhân dân lao động và do vậy góp phần làm tăng năng suất lao động
xã hội. Đồng thời du lịch nội địa giúp cho việc sử dụng cơ sở vật chất - kĩ
thuật của du lịch quốc tế được hợp lí hơn. Vào trước và sau thời vụ du lịch,
khi khách quốc tế vắng có thể sử dụng cở sở vật chất - kĩ thuật ấy vào phục vụ
khách du lịch nội địa. Theo cách đó, vừa có tác dụng thúc đẩy sự phát triển
của du lịch nội địa vừa tập trung được cơ sở vật chất - kĩ thuật. Phát triển du
lịch quốc tế: Trong phạm vi quốc tế, sự phát triển của du lịch tác động tích
cực vào việc làm tăng thu nhập quốc dân thông qua thu ngoại tệ, đóng góp vai
trò to lớn trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.”Trong lĩnh vực xuất
khẩu, du lịch là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả rất cao. Tính hiệu quả cao
trong kinh doanh du lịch thể hiện trước hết ở chỗ, du lịch là một ngành “xuất
khẩu tại chỗ” những hàng hóa công nghiệp, hàng tiêu dùng, thủ công mĩ nghệ,
đồ cổ phục chế, nông lâm sản… theo giá bán lẻ cao hơn. Được trao đổi thông
qua con đường du lịch, các hàng hóa sẽ được xuất khẩu mà không phải chịu
hàng rào thuế quan mậu dịch quốc tế.
Củng cố và phát triển các mối quan hệ kinh tế
Kinh tế du lịch góp phần củng cố và phát triển các mối quan hệ kinh tế
thông qua các mặt sau: Một là: để đạt được mục tiêu phát triển ngành kinh tế
du lịch, các tổ chức quốc tế mang tính chất chính phủ và phi chính phủ về du
lịch đã tác động tích cực với nhau nhờ đó mà hình thành những mối quan hệ
kinh tế. Hai là: kinh tế du lịch quốc tế phát triển, nhiều du khách có xu hướng
khám phá những miền đất lạ, đi đến nhiều điểm du lịch trong một chuyến
hành trình của mình. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu đi lại thuận tiện cho quá

14


trình du lịch của khách mà ngành giao thông quốc tế đã không ngừng quan
tâm đầu tư phát triển. Ba là:“du lịch quốc tế như một đầu mối “xuất - nhập
khẩu” ngoại tệ, góp phần làm phát triển qun hệ ngoại hối quốc tế. Tại Việt
Nam, kinh tế du lịch là cầu nối giao lưu quốc tế có quan hệ chặt chẽ với chính
sách mở cửa của Đảng và Nhà nước. Trong kinh doanh du lịch quốc tế, khách
du lịch quốc tế có thể là thương nhân. Mở rộng du lịch quốc tế gắn liền với
tăng lượng khách phục vụ, trong đó sự đi lại, tìm hiểu thị trường của khách
thương nhân được chú trọng. Từ đó, du lịch thúc đẩy đầu tư, buôn bán quốc
tế,…”Tuy nhiên, điều kiện hiện nay nước ta còn nghèo nàn, lạc hậu, thiếu vốn
đầu tư nên cần phải hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam thì điều đó càng có ý
nghĩa to lớn. Bản thân hoạt động kinh doanh du lịch cũng phát triển theo
hướng quốc tế hóa, vì khách du lịch thường đến nhiều nước trong một chuyến
đi du lịch dài ngày. Hình thức liên doanh, liên kết ở phạm vi quốc tế cao, đến
lượt nó kích thích đầu tư nước ngoài vào du lịch và tăng cường chính sách mở
cửa. Thực tiễn phát triển kinh tế ở Thái Lan, Singgapo, Malaysia,… đã chọn
du lịch là một hướng mở cửa cảu nền kinh tế.
Góp phần phát triển các ngành kinh tế khác
“Phát triển kinh tế du lịch có thể kéo theo sự phát triển của các ngành
kinh tế khác, thúc đẩy sự phát triển kinh tế khu vực. Trước hết, hoạt động
kinh doanh du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ liên ngành, yêu cầu về sự hỗ trợ liên
ngành là cơ sở cho các ngành khác”(như giao thông vận tải, công nghiệp,
nông nghiệp, tài chính, bưu điện, hải quan, điện lực,…)“phát triển, đối với
nền sản xuất xã hội, du lịch mở ra một thị trường tiêu thụ hàng hóa. Mặt khác,
sự phát triển du lịch tạo ra các điều kiện để khách du lịch tìm hiểu thị trường,
ký kết hợp đồng về sản xuất kinh doanh trong nước, tận dụng các cơ sở vật
chất - kỹ thuật ở các ngành kinh tế khác. Phát triển du lịch sẽ mở mang , hoàn
thiện các cơ sở hạ tầng kinh tế như mạng lưới giao thông, mạng lưới điện

15


nước, các phương tiện thông tin đại chúng… Đặc biệt là ở những vùng phát
triển du lịch, do xuất hiện nhu cầu đi lại, vận chuyển, thông tin liên lạc,… của
khách du lịch, cũng như những điều kiện cần thiết cho cơ sở kinh doanh du
lịch hoạt động nên các ngành này phát triển.”Ngoài ra,“du khách không chỉ
dừng lại ở điểm du lịch mà trước đó và sau đó du khách còn có nhu cầu đi lại
giữa các điểm du lịch, trên cơ sở đó ngành giao thông vận tải phát triển.”Đối
với những vùng lạc hậu, xa xôi hẻo lánh, kinh tế khó khăn không thích hợp
phát triển công nghiệp thì phát triển kinh tế du lịch sẽ có ý nghĩa quan trọng
đến việc xóa đói, giảm nghèo, dần đi đến làm giàu. Đồng thời, sự phát triển
của ngành kinh tế du lịch sẽ trực tiếp tăng thu nhập tài chính của nước nơi đón
tiếp. Ngoài ra, du lịch phát triển còn “đánh thức” một số ngành sản xuất thủ
công mỹ nghệ truyền thống của các dân tộc. Khách du lịch rất thích mua các
đồ lưu niệm mang tính dân tộc, đó là các sản phẩm thủ công mỹ nghệ cổ
truyền. Nhờ vậy, nghề thủ công mỹ nghệ cổ truyền như: nghề khảm, sơn mài,
tạc tượng, làm tranh lụa, làm gốm sứ,… có điều kiện phục hồi và phát triển.
Kinh tế du lịch“là hoạt động kinh doanh cần nhiều sự hỗ trợ liên ngành.
Nhiều khu vực khác cũng được hưởng lợi thông qua hỗ trợ các sản phẩm và
dịch vụ hỗ trợ các doanh nghiệp du lịch, như xây dựng, in ấn và xuất bản, sản
xuất, bảo hiểm, vận tải, lưu trú, bán lẻ, dịch vụ ăn uống, dịch vụ tài chính.
Như vậy, có thể khái quát các vấn đề về chính sách du lịch bao trùm một
chuỗi lớn các lĩnh vực và lợi ích, góp phần nâng mức tăng trưởng chung của
nền kinh tế. Các ngành dịch vụ có giá trị cao như ngân hàng, hàng không, bưu
chính viễn thông, du lịch… được khai thác và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của
sản xuất và đời sống nhân dân.”
Giải quyết việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp
Những năm qua, chủ trương thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tế theo
hướng giảm tỉ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ của
lãnh đạo huyện Sóc Sơn đã bước đầu phát huy hiệu quả. Đặc biệt, thực hiện

16


quyết định số 1956 của Thủ tướng Chính phủ, huyện đã chuyển mạnh từ đào
tạo theo năng lực sẵn có của Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục
thường xuyên huyện sang đào tạo theo nhu cầu học nghề của lao động và yêu
cầu của thị trường. Nhờ vậy, tỉ lệ lao động qua đào tạo được cải thiện, số lao
động được giải quyết hàng năm tăng.“Quy hoạch, phát triển các làng nghề
truyền thống theo hướng bền vững, đầu tư khoa học công nghệ, tích cực hỗ
trợ nhân dân về vốn, kiến thức, thị trường để nhân dân có thể sản xuất ra
những mặt hàng theo nhu cầu của thị trường du lịch, vừa đáp ứng nhu cầu lao
động tại chỗ, vừa thúc đẩy kinh tế phát triển. Đây cũng là một trong những
giải pháp tích cực góp phần giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn
hiện nay.”
Quảng bá hình ảnh đất nước
“Thông qua hoạt động du lịch, du khách có được sự giao lưu, hiểu biết
lẫn nhau làm gia tăng sự đoàn kết quốc tế, hòa bình, hữu nghị giữa các quốc
gia, dân tộc. Du lịch cũng chấp nhận các hình thức giao lưu văn hóa khác
nhau, kể cả trao đổi quan điểm và luyện tập các ngôn ngữ khác nhau. Thông
qua hoạt động du lịch còn có thể làm tăng sự hiểu biết của du khách đối với
cảnh quan thiên nhiên, đất nước, con người, lịch sử văn hóa xã hội của quốc
gia, nhờ vậy tinh thần yêu tổ quốc, yêu quê hương được tăng lên và có tình
thần trách nhiệm xây dựng đất nước giàu mạnh, lòng tự hào dân tộc và ý thức
bảo vệ môi trường. Du lịch làm tăng nhận thức của địa phương về giá trị kinh
tế của các khu vực tự nhiên và văn hóa, qua đó có thể khơi dậy niềm tự hào
đối với những di sản của quốc gia và địa phương cũng như quan tâm đến việc
giữ gìn chúng.”Du lịch không chỉ là ngành “xuất khẩu tại chỗ” mà còn là
ngành “xuất khẩu vô hình” hàng hóa du lịch. Đó là các cảnh quan thiên nhiên,
khí hậu và ánh sáng mặt trời vùng nhiệt đới, những giá trị của những di tích
lịch sử - văn hóa, tính độc đáo trong tuyền thống và phong tục tập quán.“Phát

17


triển du lịch có lợi cho việc bảo vệ và phát triển văn hóa dân gian. Ngoài việc
cung cấp các hoạt động tham quan di tích văn vật du ngoạn phong cảnh thiên
nhiên, du lịch còn có tác dụng bảo vệ văn hóa, làm đẹp môi trường và thúc
đẩy sự phát triển của văn hóa dân tộc. Khách biết thêm về văn hóa của nước
chủ nhà, biết âm nhạc, nghệ thuật, các món ăn truyền thống và ngôn ngữ của
nước đó. Tạo hình ảnh mới, người nước ngoài được biết thêm về cộng đồng
người dân nước họ du lịch.”
1.3 Các tiêu chí để đánh giá sự phát triển kinh tế du lịch
* Chỉ tiêu đánh giá về kinh tế
Khía cạnh phát triển kinh tế du lịch về kinh tế gồm một số nội dung cơ
bản: Một là giá trị hàng hóa và dịch vụ đem lại; Hai là quy mô sử dụng các
nguồn lực sản xuất; Ba là chỉ tiêu đánh giá về chuyển dịch cơ cấu. Để đánh
giá mô hình này có phát triển thì chúng ta phải xem xét các yếu tố trên.
Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ
Thứ nhất để đánh giá một mô hình kinh tế có phát triển hay không, đầu
tiên chúng ta sẽ căn cứ vào mức doanh thu mà ngành du lịch đem lại hay nói
cách khác đó chính là giá trị sản lượng hàng hóa của ngành du lịch
Ta có công thức:
Công thức tính: G





Trong đó:
G: Giá trị sản lượng hàng hoá du lịch
Qij: sản lượng sản phẩm (i) của ngành du lịch (j) trong một năm.
Pi: Đơn giá của một đơn vị sản phẩm (i) trong năm hiện tại (thực tế) hoặc
tại một năm được chọn làm gốc (cố định).
Chỉ tiêu đánh giá quy mô sử dụng các nguồn lực sản xuất
Chỉ tiêu này cho thấy bình quân mỗi địa điểm du lịch sử dụng bao nhiêu
đất đai, lao động, tiền vốn vào sản xuất, kinh doanh.

18


Công thức tính: nj
Trong đó:
Nj: Mức độ sử dụng nguồn lực (j) trong địa điểm du lịch đó
Nj: Tổng nguồn lực (j) sử dụng của các địa điểm du lịch
N: Tổng số địa điểm du lịch trong kỳ.
Chỉ tiêu đánh giá sự chuyển dịch về cơ cấu
Cơ cấu ngành du lịch thể hiện mối quan hệ giữa số lượng địa điểm du
lịch của từng loại hình so với tổng thể.
Công thức tính: tj =
Trong đó:
tj: Tỷ lệ địa điểm du lịch loại (j) trong tổng số các địa điểm du lịch.
Lj: Số địa điểm du lịch loại (j).
TT: Tổng số các địa điểm du lịch trong kỳ.
*Chỉ tiêu đánh giá về xã hội
“Phát triển kinh tế du lịch về xã hội được đánh giá bằng các tiêu chí, như
HDI, hệ số bình đẳng thu nhập, các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội,
hưởng thụ văn hóa. Ngoài ra, bền vững về xã hội là sự bảo đảm đời sống xã hội
hài hòa; mức độ chênh lệch giàu nghèo không quá cao và có xu hướng gần lại;
chênh lệch đời sống giữa các vùng miền không lớn.”
“Công bằng xã hội và phát triển con người, chỉ số phát triển con người
(HDI) là tiêu chí cao nhất về phát triển xã hội, bao gồm: thu nhập bình quân
đầu người; trình độ dân trí, giáo dục, sức khỏe, tuổi thọ, mức hưởng thụ về
văn hóa, văn minh.”
“Phát triển kinh tế du lịch về xã hội chú trọng vào sự công bằng và xã
hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người và cố
gắng cho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều

19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×