Tải bản đầy đủ (.pdf) (75 trang)

Thực trạng và giải pháp phát triển bền vững làng nghề truyền thống ở xã phú túc (huyện phú xuyên, thành phố hà nội) hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (984.69 KB, 75 trang )

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======

NGUYỄN THỊ PHƢƠNG

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ PHÚ TÚC
(HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI)
HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

HÀ NỘI - 2019


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======

NGUYỄN THỊ PHƢƠNG

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ PHÚ TÚC
(HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI)
HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học



TS Hoàng Thanh Sơn

HÀ NỘI - 2019


LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới thày giáo hƣớng dẫn, tiến
sĩ : Hoàng Thanh Sơn, ngƣời thầy đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành
khóa luận.
Em xin bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy cô trong trƣờng ĐHSP Hà Nội 2
đặc biệt là các thầy, cô Khóa Giáo dục chính trị đã nhiệt tình giảng dạy, chỉ
bảo em trong suốt thời gian học tập tại trƣờng.
Em cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới thƣ viện trƣờng ĐHSP Hà Nội 2, gia
đình cũng nhƣ bạn bè đã tạo điều kiện và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận.
Với điều kiện hạn chế về thời gian cũng nhƣ kiến thức của bản thân nên
khóa luận khó tránh khỏi những thiếu xót, kính mong sự chỉ bảo của quý thầy
cô cũng nhƣ các bạn sinh viên.
Em xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên

Nguyễn Thị Phƣơng


LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp này đƣợc hoàn thành dƣới sự hƣớng dẫn của thầy
giáo, tiến sĩ: Hoàng Thanh Sơn. Tôi xin cam đoan rằng:
Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi.

Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài............................................................................................. 1
2.Tình hình nghiên cứu .................................................................................................. 2
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................. 2
4.Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu .............................................................................. 3
5.Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................ 3
6.Đóng góp của khóa luận.............................................................................................. 3
7.Bố cục của khóa luận................................................................................................... 4
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT
TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG ............................ 5
1.1.Một số vấn đề chung về phát triển bền vững.......................................................... 5
1.2.Một số vấn đề chung về làng nghề truyền thống ........................................ 9
1.3.Nhân tố ảnh hƣơng đến phát triển bền vững làng nghề truyền thống....... 16
1.4.Sự cần thiết phát triển bền vững làng nghề truyền thống ......................... 17
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG PHÚ TÚC (HUYỆN PHÚ XUYÊN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI) ..............................................................................................22
2.1. Vài nét về làng nghề truyền thống xã Phú Túc ........................................ 22
2.2. Thực trạng phát triển bền vững làng nghề truyền thống ở Phú Túc (Huyện
Phú Xuyên, Thành phố hà Nội) ...................................................................... 26
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT
TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG PHÚ TÚC (HUYỆN
PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI) HIỆN NAY..............................................42
3.1. Một số yêu cầu, định hƣớng và nhiệm vụ cơ bản trong bảo tồn và phát
triển bền vững làng nghề truyền thống Phú Túc (Huyện Phú Xuyên, Thành
phố Hà Nội) hiện nay ...................................................................................... 42



3.2. Một số giải pháp cơ bản nhằm bảo tồn và phát triển bền vững làng nghề
truyền thống Phú Túc( Huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội) hiện nay ...... 46
KẾT LUẬN .................................................................................................... 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 68


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các làng nghề Việt Nam ra đời từ rất lâu tại các vùng dân cƣ tập trung ở
Đồng bằng châu thổ sông Hồng. Làng nghề có vai trò quan trọng trong nền
kinh tế của một dân tộc. Phát triển kin tế làng nghề là giải pháp quan trọng
thúc đẩy tăng trƣởng, phát triển kinh tế, ổn định chính trị- xã hội, đặc biệt là
nâng cao đời sống đối với khu vực nông thôn.
Thực tế chứng minh, làng nghề có vai trò quan trọng đối với phát triển
kinh tế nông thôn. Phát triển làng nghề sẽ góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ, sử dụng và
phát huy các nguồn lực về lao động, vốn và các nguồn lực khác trong nhân
dân để phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo ra việc làm, xóa đói giảm nghèo,
tác động đến việc phân công lao động trong xã hội, nâng cao thu nhập và đời
sống nhân dân, thu hẹp khoảng cách thành thị và nông thôn, xây dựng nông
thôn mới.
Trong những năm gần đây Đảng và Nhà nƣớc có nhiều chủ trƣơng,
chính sách, biện pháp khuyến khích tạo điều kiện để các làng nghề đƣợc khôi
phục và phát triển.
Phú Xuyên nằm ở phía Nam thành phố Hà Nội’cách trung tâm thành phố
40km, là 1 huyện thuần nông. Ngoài nông nghiệp, huyện còn có 78 làng nghề
đƣợc duy trì và phát triển, trong đó có 40 làng nghề đƣợc UBND thành phố
Hà Nội công nhận là làng nghề truyền thống. Đặc biệt phải kể đến xã Phú Túc

với làng nghề mây tre đan cỏ tế đã góp phần lớn trong việc thu hút lao động,
nâng cao thu nhập và cao đời sống ngƣời dân trong địa bàn xã.”
Làng nghề trên địa bàn xã đã trở nên quen thuộc và đóng vai trò quan
trọng trong việc tạo ra sản phẩm tiêu dùng trên địa bàn xã, trong nƣớc và xuất
khẩu. Những sản phẩm của làng nghề ở xã Phú Túc mang bản sắc văn hóa của
địa phƣơng nhƣ:cỏ tế, mây tre đan, …đã giải quyết việc làm cho hàng trăm
lao động, nâng cao thu nhập.
Trong thời gian qua, các cấp Đảng, chính quyền trong xã đã có những
chính sách và biện pháp khuyến khích khôi phục và phát triển các làng nghề
1


trên địa bàn. Tuy nhiên, phần lớn làng nghề vẫn trong tình trạng mai một hoặc
có tồn tại thì sản xuất nhỏ lẻ theo kinh tế hộ gia đình,…
Do vậy để tìm các biện pháp để phát triển bền vững làng nghề thật sự
phát huy tiềm năng và hiệu quả,có đóng góp lớn cho mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội, bảo tồn các giá trị văn hóa làng nghề … đƣợc coi là nhiệm vụ hết
sức cấp thiết.
“Xuất phát từ những lí do trên tôi đã chọn đề tài “Thực tạng và giải pháp
phát triển bền vững làng nghề truyền thống ở xã Phú Túc( hyện Phú Xuyên
thành phố Hà Nội)” để nghiên cứu và góp phần phát triển làng nghề truyền
thống, phát triển kinh tế - xã hội và bảo tồn truyền thống văn hóa trên địa bàn
huyện.”
2.Tình hình nghiên cứu
“Phát triển kinh tế làng nghề ở nông thôn là vấn đề rất quan trọng cả về
lý luận và thực tiễn đối với cả nƣớc nói chung, các tỉnh nói riêng, nên đã thu
hút đƣợc nhiều ngƣời và tổ chức quan tâm nghiên cứu. Cụ thể:
- Ngoài nƣớc: nghiên cứu của Awgichew(2010), trung tâm nghiên cứu
phát triển cộng đồng Trung Quốc đã nghiên cứu về thƣơng mại hóa nghề thủ
công…

-Trong nƣớc: “Nghiên cứu quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công
theo hƣớng CNH nông thôn ở Việt Nam”,“Làng nghề thủ công truyền thống”
Bùi Văn Vƣợng, “Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình CNH,
HĐH ở vùng ven thủ đô Hà Nội” của Mai Thế Hởn,…”
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu
Khóa luận bổ sung ,hệ thống hóa 1 số lý luận chung về bảo tồn, phát
triển bền vững làng nghề truyền thống, phân tích thực trạng và hạn chế trong
việc bảo tồn và phát triển làng nghề của xã, từ đó đề xuất các giải pháp phát
triển bền vững làng nghề trên địa bàn xã Phú Túc huyện Phú Xuyên trong
những năm tới.

2


3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống đƣợc lý luận về phát triển làng nghề làm cơ sở hình thành
khung nội dung, phƣơng pháp nghiên cứu cho đề tài
Đánh giá thực trạng làng nghề xã Phú Túc, chỉ ra mặt mạnh, điểm yếu,
nguyên nhân, những vấn đề tồn tại về chính sách ảnh hƣởng tới quá trình bảo
tồn và phát triển làng nghề truyền thống.
Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề xã Phú Túc huyện
Phú Xuyên trong những năm tới.
4.Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: các làng nghề xã Phú Túc
4.2.Phạm vi nghiên cứu
- Không gian:xã Phúc Túc
- Thời gian:từ năm 2008 đến nay
5.Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu

- Khóa luận thực hiện trên cơ sở lý luận của Đảng và Nhà nƣớc, sử
dụng và tham khảo 1 số sách báo, bài viết, luận văn về vấn đề làng nghề
- Phƣơng pháp nghiên cứu: phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, đi
từ trừu tƣợng đến cụ thể.
6.Đóng góp của khóa luận
- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về bảo tồn và phát triển bền
vững làng nghề truyền thống
- Phân tích làm rõ thực trạng phát triển làng nghề xã Phú Túc
- Đƣa ra phƣơng hƣớng và giải pháp thúc đẩy phát bảo tồn và phát triển
bền vững làng nghề xã Phú Túc trong bối cảnh mới.

3


7.Bố cục của khóa luận
“Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội
dung cơ bản của khóa luận đƣợc chia thành 3 chƣơng”

4


CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
1.1.Một số vấn đề chung về phát triển bền vững
1.1.1.Quan niệm về phát triển bền vững
Phát triển kinh tế là quy luật chung của mọi thời đại, tăng trƣởng kinh tế
để cải thiện mức sống là mục tiêu quan tâm của các quốc gia. Tăng trƣởng
kinh tế là điều kiện vật chất đầu tiên để xóa đói giảm nghèo tạo việc làm, cải
thiện, nâng cao chất lƣợng cuộc sống, phát triển y tế - văn hóa - giáo dục.
Một số nƣớc thƣờng nhấn mạnh tăng trƣởng nhanh, đẩy mạnh tốc độ.

Khi mức tăng trƣởng đạt đến trình độ cao sẽ tập trung vào các chính sách về
xã hội. Thực tế thì kinh tế không phải lúc nào cũng đi liền với sự phát triển
con ngƣời và xã hội.
“Nếu chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế sẽ gây ra các hậu quả: tăng
trƣởng kinh tế nhanh sẽ không đảm bảo đƣợc sự công bằng xã hội, sự chênh
lệch giàu nghèo, chênh lệch mức sống, tạo ra sự bất bình đẳng. tăng trƣởng
kinh tế theo hƣớng phát triển công nghiệp, nhƣng kinh tế nông thôn không
đƣợc chú trọng, phát triển không đồng đều giữa kinh tế các vùng miền, giữa
thành thị và nông thôn. Nhƣ vậy ta có thể thấy rằng giữa tăng tƣởng kinh tế và
phát triển kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau, muốn phát triển kinh tế
phải có tăng trƣởng kinh tế nhƣng không phải sự tăng trƣởng kinh tế nào cũng
là sự phát triển kinh tế.”
Ngoài ra, mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội thể hiện bằng
sự tăng lên của thu nhập thực tế, chất lƣợng cuộc sống, chất lƣợng y tế - giáo
dục.
Trong quá trình sản xuất, chúng ta nhận thấy không chỉ có mối liên hệ
chặt chẽ giữa phát kinh tế - công bằng xã hội, mà chúng ta còn phải đối diện
với những hậu quả do mình gây ra đối với môi trƣờng: sự nóng lên của trái
đất, suy thoái đa dạng sinh học, thiên tai, sự thất thƣờng của thời tiết,… Vì
vậy, khi phát triển phải gắn với môi trƣờng, với các mối quan hệ xã hội giữa
con ngƣời với con ngƣời. Nhiều hội nghị quốc tế đƣợc họp bàn để bàn về
những vấn đề tƣơng lai chung của nhân loại, trong đó các hội nghị đều đạt
5


đƣợc bƣớc tiến rất quan trọng về nhận thức là phải làm thế nào để kinh tế thế
giới có sự phát triển bền vững.
Thuật ngữ “Phát triển bền vững” có rất nhiều các định nghĩa, cách hiểu
khác
Ủy ban thế giới về Môi trƣờng đã đƣa ra đĩnh nghĩa về phát triển bền

vững là: “Sự phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không
làm tổn hại đến khả năng làm thỏa mãn nhu cầu của chính các thế hệ mai sau”
[15, tr 175]
“Tổ chúc ngân hàng phát triển Châu Á định nghĩa cụ thể hơn: “Phát triển
bền vững là loại hình phát triển mới, lồng ghếp quá trình sản xuất với bảo tồn
tài nguyên và nâng cao chất lƣợng môi trƣờng. Phát triển bền vững cần phải
đáp ứng các nhu cầu của thế hẹ hiện tại mà không làm phƣơng hại đến khả
năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của thế hệ trong tƣơng lai.”[15,tr
175]”
“Phát triển bền vững là phát triển kinh tế- xã hội lành mạnh, dựa trên
việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng nhằm đáp ứng
nhu cầu hiện tại nhƣng không làm ảnh hƣởng bất lại cho thế hệ mai sau.”
“Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế- xã hội với tốc độ tăng
trƣởng cao liên tục trong thời gian dài dựa trên việc sử dụng hiệu quả cao
nguồn tài nguyên thiên nhiên mà vẫn bảo vệ đƣợc môi trƣờng sinh thái. Phát
triển kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội hiện tại, song
không làm cạn kiệt tài nguyên, để lại hậu quả về môi trƣờng cho tƣơng lai.”
“Phát triển bề vững là sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hái hòa giữa 3 mặt
của sự phát triển. Đó là: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi
trƣờng.”
“Phát triển bền vững về kinh tế đƣợc hiểu là sự tiến bộ mọi mặt của nề
kinh tế thể hiện ở quá trình tăng trƣởng kinh tế cao, ổn định và sự thay đổi về
chất của nền kinh tế gắn với quá trình tăng năng suất lao động. mục tiêu của
phát triển bền vững kinh tế là đạt đƣợc sự tăng trƣởng ổn định, với cơ cấu hợp
lý, đáp ứng đƣợc yêu cầu nâng cao đời sống của ngƣời dân, tránh đƣợc sự suy
thoái trong tƣơng lai, tránh gây nợ nần cho thế hệ mai sau.[15, tr 175]”
6


“Phát triển bền vững về xã hội là quá trình phát triển đạt đƣợc kết quả

ngày càng cao trong công việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Đảm
bảo chế độ dinh dƣỡng và chăm sóc sức khỏe cho ngƣời dân, mội ngƣời đều
có cơ hội trong giáo dục, có việc làm, giảm tình trạng đói nghèo nâng cao tình
độ văn minh về đời sống vật chất và tinh thần cho mọi thành viên của xã hội.”
“Phát triển bền vững về môi trƣờng là khai thác hợp lý, sử dụng tiết
kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp
thời hậu qur ô nhiễm môi trƣờng. Cần chú ý các khía cạnh sau: tăng trƣởng
kinh tế không làm ô nhiêm, suy thoái, hủy hoại môi trƣờng, tăng trƣởng kinh
tế phải dựa trên cơ sở khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, sử dụng công nghệ
tiên tiến hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trƣờng.”
Nhƣ vậy, để phát triển bền vững là tăng trƣởng kinh tế trong thời gian
dài, tăng trƣởng kinh tế đi đối với giải quyết các vấn đè xã hội bảo vệ cải
thiện môi trƣờng và tăng trƣởng kinh tế vì con ngƣời.
1.1.2.Quan niệm phát triển bền vững ở Việt Nam
Phát triển bền vững trong điều kiện hội nhập kinh tế là vấn đề mang tính
chất toàn cầu, là mục tiêu phấn đấu của mọi quốc gia. Chiến lƣợc phát triển
bền vững của mỗi quốc gia đƣợc xây dựng và hình thành dựa trên cơ sở điều
kiện lịch sử, hoàn hoàn của từng nƣớc.
“Ngày 17-8-2004, Việt Nam đã có quyết định số 153/2004/QĐ-TTg
phê duyệt và ban hành “Định hƣớng phát triển bền vững ở Việt Nam”
(Chƣơng trình nghị sự 21 của Việt Nam) nhằm phát triển bền vững đất nƣớc
trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế, phát
triển xã hội và bảo vệ môi trƣờng.”
Những nguyên tắc phát triển bền vững ở Việt Nam gồm 8 nguyên tắc:
“Con ngƣời là trung tâm của phát triển bền vững”
“Coi phát triển klinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát
triển sắp tới, đảm bảo an ninh lƣơng thực, năng lƣợng để phát triển bền vững,
kết hợp chặt chẽ hợp lý hài hòa với phát triển xã hội, khai thác hợp lý sử dụng
hiệu quả tài nguyên thien nhiên trong giới hạn cho phép.”


7


“Bảo vệ và cải thiện chất lƣợng môi trƣờng phải đƣợc coi là một yếu tố
không thể tách rời của quá trình phát triển.”
“Quá trình phát triển phải đảm bảo đáp ứng 1 cách công bằng nhu cầu
của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của thế hệ mai sau”
“Khoa học công nghệ là nền tảng động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, thúc đẩy phát triển nhanh mạnh và bền vững đât nƣớc”
“Phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính quyền,
của các cơ quan doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cƣ và mọi
ngƣời dân.”
“Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế đọc lập tự chủ với chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế đẻ phát triển bền vững đất nƣớc.”
“Kêt hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi
trƣờng với đảm bảo quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội.[20]”
“Trên cơ sở 8 nguyên tắc định hƣớng phát triển bền vững ở Việt Nam
gồm 5 phần:
Phát triển bền vững- con đƣờng tất yếu ở Việt Nam
Những lĩnh vực kinh tế cần ƣu tiên nhằm phát triển bền vững
Những lĩnh vực xã hội cần ƣu tiên nhằm phát triển bền vững
Những lĩnh vực sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trƣờng và
kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng
Tổ chức thực hiện phát triển bền vững bao gồm 3 lĩnh vực chính:
hoàn thiện vai trò lãnh đạo của nhà nƣớc trong lĩnh vực tổ chức thực hiện phát
triển bèn vững; huy động toàn dân tham gia thực hiện phát triển bền vững;
hợp tác quốc tế để phát triển bền vững.[17]
Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định: phát triển nhanh hiệu quả và bền
vững, tăng trƣởng kinh tế đi đối với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và
bảo vệ môi trƣờng.

Nƣớc ta đi lên Chủ nghĩa xã hội từ một nƣớc nông nghiệp nên phát triển
kinh tế nông thôn có ý nghĩa rất quan trọng. Làng nghề nói chung và làng
8


nghề truyền thống nói riêng là bộ phận không thể tách rời kinh tế nông thôn,
trong đƣờng lối phát triển kinh tế của nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã
đƣa ra vấn đề “Phát triển bền vững các làng nghề”[ 13, tr 194]”
1.2.Một số vấn đề chung về làng nghề truyền thống
1.2.1.Khái niệm làng nghề
Làng nghề là một thuật ngữ dùng để chỉ các cộng đồng dân cƣ, chủ yếu ở
các vùng ngoại ô thành phố, vùng nông thôn Việt Nam, có truyền thống sản
xuất các sản phẩm thủ công truyền thống, cùng chủng loại. Các làng nghề
thƣờng mang tính truyền thống đặc sắc, đặc trƣng, không chỉ mang lại giá trị
kinh tế mà còn mang giá trị văn hóa, du lịch.
Làng nghề đƣợc cấu tạo bởi hai nhân tố là “làng” , “nghề”. Vì thế khái
niệm sẽ đƣợc hiểu thông qua việc phân tích hai khái niệm “làng” và “nghề”.
“Làng nghề là một mô hình kinh tế ở nông thôn, đƣợc tạo bởi hai
thành tố “làng” và “nghề”, tồn tại trong cùng một không gian địa lý nhất định,
trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nguồn thu nhập chủ yếu là
từ làm các nghề thủ công, giữa họ có một mối liên kết về kinh tế, xã hội và
văn hóa.”
“Làng” theo từ điển tiếng Việt là một khối ngƣời quần tụ ở một nơi nhất
định trong nông thôn. “Làng là một tế bào xã hội của ngƣời Việt, là một tập
hợp dân cƣ chủ yếu theo quan hệ láng giềng. Đó là một không gian lãnh thổ
nhất định ở đó tập hợp những ngƣời quần tụ lại cùng nhau sinh sống và sản
xuất. Trong quá trình cộng nghiệp hía hiện đại hóa khái niệm làng đƣợc hiểu
theo một cách tƣơng đối, một số địa phƣơng hiện nay không còn gọi là làng
mà thay bằng các tên gọi khác nhƣ tổ, phố, khố phố. Tuy nhiên dù có thay đổi
cách gọi tên thì bản chất của cộng đồng vẫn gắn với nông thôn không thay đổi

thì đóa vẫn đƣợc coi là làng.”
“Nghề” có thể đƣợc hiểu là công việc mà ngƣời dân làm để kiếm sống
hàng ngày. “Các nghề trong hoạt động của làng nghề thƣờng là thủ công, tiểu
thủ công. Vì thế những sản phẩm làm ra luôn mang đậm dấu ấn của chủ nhân
làm ra nó.”

9


“Những phát hiện về khảo cổ học đã chứng minh các làng nghề Việt
Nam ra đời từ hàng trăm năm trƣớc đây, tập trung chủ yếu ở các vùng châu
thổ sông lớn nhƣ Hà Nội, Ninh Bình, Nam Định, Huế, Đà Nẵng,… Với một
số làng nghề nổi tiểng nhƣ: gốm Bát tràng, tranh Đông Hồ,lụa Vạn Phúc Hà
Đông,nghề mây tre đan, nghề làm nón, làm chiếu,...”
“Do đặc tính nông thôn, nông nghiệp và quan hệ láng giềng làng xã, các
ngành nghề thủ công đƣợc lựa chọn thƣờng là các ngành nghề dễ phát triển
với quy mô cá nhân rồi mới mở rộng thành quy mô hộ gia đình. Dần dần các
nghề thủ công đƣợc truyền bá giữa các gia đình rồi lan rộng ra cả làng. Lợi
ích của các nghề thủ công đem lại cho mỗi cá nhân mỗi làng có sự phân hóa
khác nhau. Những nghề đem lại nhiều lợi ích thì sẽ đƣợc phát triển mạnh lên,
còn những nghề mang lại hiệu quả thấp hay không phù hợp sẽ dần bị mai một,
xóa bỏ. Từ đó mà hình thành nên những làng nghề đi sâu vào sản xuất 1 sản
phẩm duy nhất nào đó nhƣ: làng gốm, làng lụa, làng khảm trai, làng may,…”
“Theo Phạm Côn Sơn “Làng là một đơn vị hành chính cổ xƣa mà cũng
có nghĩa là nơi quần cƣ đông ngƣời sinh hoạt, có tổ chức, có kỷ cƣơng, tập
quán riêng theo nghĩa rộng. Làng nghề không những là một làng sống chuyên
nghề mà cũng có hàm ý là những ngƣời cùng nghề sống hợp quần để phát
triển cùng ăn, làm việc.”Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn
tập thể phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc dân tộc và cá biệt của địa phƣơng”.
“Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đƣa ra khái niệm về làng

nghề nhƣ sau: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cƣ cấp thôn, ấp, bản,
làng, buon, phum, sóc,… hoặc các điểm dân cƣ tƣơng tự trên địa bàn một xã,
thị trấn,”có các hoạt động hành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều
loại sản phẩm khác nhau”
Nhƣ vậy, một làng đƣợc coi là làng nghề phải có những yếu tố sau: phải
đƣợc kết hợp bởi 2 yếu tố làng và nghề, cùng chung sống trong một không
gian địa lý nhất định, có một số lƣợng tƣơng đối hộ gia đình cùng sản xuất
một nghề, giữa họ có mối quan hệ văn hóa- xã hội, thu nhập do sản xuất đem
lại một tỷ trọng lớn trong thu nhập của hộ gia đình nói riêng và trong địa bàn
làng nói chung.

10


* Tiêu chí làng nghề:
“Một làng đƣợc công nhận là làng nghề, thì theo thông tƣ số:
116/2006/TT-BNN về hƣớng dẫn thực hiện một số nội dung của nghị định số
66/ 2006/NĐ-CP ngày 7/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông
thôn, phải đạt ba tiêu chí nhƣ sau:
Một là, phải có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt
động ngành nghề nông thôn.
Hai là, hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến
thời điểm đề nghị công nhận
Ba là, chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nƣớc.
Trong các làng nghề ngoài việc trồng trọt và chăn nuôi là chủ yếu còn có
các hoạt động sản xuất tiểu thủ công, sản phẩm làm ra ngoài việc đáp ứng nhu
cầu của cá nhân, gia đình còn dùng để trao đổi, mua bán, sản phẩm của làng
nghề là hàng hóa.”
Các nghề thủ công ở làng quê ban đầu chỉ xuất hiện dƣới dạng là nghề
phụ, chủ yếu đƣợc làm khi rảnh rỗi, hết mùa vụ, nhằm phục vụ một số nhu

cầu của cá nhân và gia đình. Nhƣng sau này, do sự phân công lao động mà
các ngành nghề thủ công tách dần khỏi sản xuất nông nghiệp nhƣng vẫn phục
vụ trực tiếp cho hoạt độgn sản xuất nông nghiệp. Cho đến khi nghề thủ công
phát triển mạnh thu hút lao động, những ngƣời làm nghề thủ công tăng nhanh.
Đó chính là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của các làng nghề.
1.2.2.Làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống là các làng nghề đƣợc hình thành từ lâu đời, tạo
ra các sản phẩm độc đáo, có đặc thù riêng biệt, đƣợc lƣu truyền và phát triển
cho đến ngày nay, hoặc có nguy cơ bị mai một.
“Làng nghề truyền thống là một cộng đồng nhỏ có văn hóa, phong
tục tập quán,…vừa có nét chung của dân tộc vừa có nét riêng của làng nghề.
Các sản phẩm của làng nghề truyền thống đƣợc làm ra mang những giá trị từ
sự kết tinh, giao thoa, phát triển các giá trị văn hóa, văn minh, có giá trị thẩm
mỹ cao. Sản phẩm của làng nghề có những quy trình nhất định đƣợc truyền từ
11


đời này qua đời khác. Mỗi làng nghề truyền thống có thể có một hoặc nhiều
nghề truyền thống.”
Làng nghề truyền thống là tổng hòa của môi trƣờng kinh tế, văn hóa, xã
hội và công nghệ nơi lƣu trữ những giá trị tịnh hoa kỹ thuật và nghệ thuật,
thẩm mỹ từ đời này qua đời khác, đƣợc hun đúc ở các thế hệ nghệ nhân tài
năng.
“Theo quy định tại Khoản I, mục I phần II, Thông tƣ số
116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, một làng nghề đƣợc công nhận là làng nghề truyền thống phải tuân thủ
các yếu tố sau:
Nghề đã xuất hiện tại địa phƣơng từ trên 50 năm tính đến thời điểm
đề nghị công nhận.
Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc.

Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của
làng nghề.”
“Khi nhắc tới làng nghề truyền thống thì phải xét tới nhiều yếu tố cả
không gian và thời gian nghĩa là quan tâm tới tình hệ thống, toàn diện của
làng nghề, đặc biệt yếu tố quyết định là nghệ nhân, sản phẩm, phƣơng pháp,
mỹ thuật và kỹ thuật. Làng nghề truyền thống là nơi quy tụ các nghệ nhân và
nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính lâu đời, liên kết hỗ trợ trong
sản xuất, trao đổi mua bán. Làng nghề truyền thống có đại bộ phận dân số làm
nghề cổ truyền và một vai dòng họ làm nghề theo kiểu cha truyền con nối.
Các sản phẩm của các làng nghề truyền thống không những hữu ích trong đời
sống hàng ngày mà còn là hàng hóa tinh xảo, độc đáo, nổi tiếng.”
Do tính chất của nền kinh tế thị trƣờng của quá trình sản xuất hàng hóa,
tiêu thụ sản phẩm, làng nghề , là đơn vị kinh tế quan trọng nhằm nâng cao đời
sống kinh tế xã hội của ngƣời dân.
Làng nghề truyền thống có thể có một nghề hay vài nghề truyền thống.
Nếu làng nghề có vài nghề thì có một nghề chính, tên nghề đó đƣợc gọi tên

12


làng nghề. Sản phẩm của làng nghề có qúa trình sản xuất, các quy trình công
nghệ nhất định, đƣợc truyền từ thế hệ này, sang thế hệ khác.
“Các làng nghề truyền thống trƣớc đây thƣờng sử dụng phƣơng thức
truyền nghề để dạy nghề, bắt đầu từ trong phạm vi ra đình rồi lan rộng. Nhìn
chung, các nghề đƣợc bảo tồn và phát triển trong từng gia đình của làng, xã
mà ít đƣợc truyền ra bên ngoài, vì một số quy định truyền nghề mang tính gia
truyền. Tuy nhiên qua thời gian phƣơng thức dạy nghề và truyền nghề phong
phú hơn.”
Các làng nghề có đặc điểm là thƣờng yêu cầu vốn đầu tƣ, quy mô sản
xuất không lớn nhƣng có khả năng thu hút nhiều lao động, mang lại hiệu qảu

kinh tế khá cao, giúp nâng cao đời sống.
“Làng nghề truyền thống tồn tại ở nông thôn gắn bó chặt chẽ với nông
nghiệp về các khía cạnh: lao động, nguyên liệu, thị trƣờng,… Trong điều
kiện toàn cầu hóa thì sự cạnh tranh ngày càng manh mẽ, vì vậy chúng ta cần
phải tìm ra các sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trƣờng quốc tế của những
nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam thì các sản phẩm của các làng nghề truyền
thống cũng là những mặt hàng đáng để chúng ta quan tâm.”
1.2.3.Đặc điểm làng nghề truyền thống
“Điều kiện sản xuất kinh doanh gắn bó với hộ gia đình nông thôn và
ngành nông nghiệp. Nghề thủ công truyền thống bắt nguồn từ nông nghiệp mà
ra và gắn liền với sự phân công lao động ở nông thôn. Trƣớc đây, hàng loạt
các nghề thủ công truyền thống ra đời nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt tự
cung tự cấp của ngƣời nông dân và chủ yếu phục vụ nông nghiệp. Không
những vậy, nghề truyền thống còn dựa vào nông nghiệp để phát triển. Nông
nghiệp là nguồn cung cấp nguyên liệu, nguồn nhân lực, nguồn vốn chủ yếu và
là thị trƣờng tiêu thụ rộng lớn.”
“Lao động trong các làng nghề truyền thống chủ yếu là những ngƣời
nông dân, địa điểm sản xuất thủ công nghiệp truyền thống là tại gia đình họ.
Họ tự quản lý, phân công lao động, thời gian cho phù hợp với cả việc sản xuất
nông nghiệp những lúc mùa vụ và với nghề thủ công những lúc nông nhàn.
Về mối quan hệ giữa ngƣời nông dân”và ngƣời thợ thủ công thì Lênin nói “so
13


với những ngƣời tiểu sản xuất hàng hoá, thì ngƣời làm nghề thủ công gắn bó
với ruộng đất mạnh hơn” [22, tr 414]
Về sản phẩm:
Sản phẩm của làng nghề nhằm để phục vụ đời sống sinh hoạt và sản
xuất. Nó là các vật dụng hàng ngày, là những sản phẩm vừa có giá trị sử
dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ hoặc chỉ là vật để dùng trang trí ở nhà, công sở,

đình chùa. Dƣới những bàn tay tài hoa của ngƣời thợ thủ công
“Truyền thống nghề với truyền thống văn hóa vùng miền, tập quán,
phong tục từng vùng đƣợc hòa quyện trong sản phẩm. Nó thể hiện sự gắn bó
khăng khít văn hóa và nghề truyền thống. Cùng sản phẩm đồ gốm nhƣng
nhìn màu men ngƣời ta có thể phân biệt đƣợc đó là gốm Bát Tràng, gốm
Đông Triều hay gốm Thổ Hà.”
“Các sản phẩm của làng nghề truyền thống, mang tính chủ quan sáng
tạo, hoàn toàn phụ thuộc bàn tay ngƣời thợ. Do đặc điểm điều kiện sản xuất
kinh doanh, sản phẩm thủ công mang đậm dấu ấn ngƣời thợ nên khó sản xuất
đại trà, mà chỉ sản xuất đơn chiếc. Vì vậy các sản phẩm của làng nghề truyền
thống khó đáp ứng đƣợc đơn đặt hàng lớn, chất lƣợng sản phẩm không đồng
đều.”
Kỹ thuật công nghệ:
“Kỹ thuật sản xuất đặc trƣng trong làng nghề truyền thống là công cụ thủ
công, công nghệ có tính chất cổ truyền do chính ngƣời lao động trong làng
nghề tạo ra. Kỹ thuật đặc biệt nhất của làng nghề truyền thống đƣợc tích luỹ
qua nhiều thế hệ, mang tính chất bí truyền của nghề. Nó làm cho các sản
phẩm có tính đơn chiếc, phụ thuộc chủ quan ngƣời sản xuất. Nhƣợc điểm kỹ
thuật của làng nghề truyền thống không tổng kết thành lý luận, không đƣợc
ghi chép mà đƣợc truyền miệng nên nhiều bí kíp bị thất truyền.”
Tổ chức sản xuất kinh doanh:
Sự gắn bó giữa nông nghiệp và nghề thủ công tạo nên mô hình sản xuất
kinh doanh truyền thống phổ biến nhất ở các làng nghề là hình thức hộ gia
đình.

14


Hộ gia đình: là mô hình sản xuất truyền thống chiếm hơn 90% các mô
hình tổ chức sản xuất kinh doanh trong các làng nghề hiện nay.

+ Đặc điểm: Hộ gia đình là mô hình sản xuất đặc biệt phổ biến, các làng
nghề .Trong đó, lao động là các thành viên trong gia đình. Mọi thành viên
trong gia đình đều có thể tham gia, tùy theo độ tuổi, trình độ tay nghề để làm
công việc phù hợp … Vì vậy mô hình sản xuất hộ gia đình là qui mô nhỏ.
+ Vai trò: Hộ gia đình là mô hình tổ chức sản xuất phù hợp với cơ sở vật
chất ở làng nghề hiện nay, nên đã phát huy đƣợc nhiều ƣu điểm trong sản xuất
kinh doanh.
+ Hạn chế: Các chủ hộ chƣa có đủ kiến thức về quản lý kinh tế, chậm
tiếp cận, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất; quy mô sản
xuất nhỏ, nên không đáp ứng đƣợc nhu cầu thị trƣờng.
Tổ sản xuất:
“Xuất hiện do các chủ thể kinh tế độc lập liên kết với nhau, nhằm nâng
cao hiệu quả kinh tế, thỏa mãn lợi ích chung về kinh tế. Các đơn vị kinh tế
độc lập ký đƣợc hợp đồng sản xuất lớn mà không thể đảm nhiệm đƣợc do hạn
chế về vốn, lao động, thời gian thanh lý hợp đồng,… nên đã xuất hiện sự liên
kết, hợp tác giữa các đƣơn vị kinh tế cùng sản xuất.Thông thƣờng sự hợp tác
này đƣợc thông qua thỏa thuận bằng hợp đồng miệng.”
“Hình thức của sự hợp tác này rất đa dạng do điều kiện cụ thể quyết
định. Nhƣ vậy bên cạnh hình thức sản xuất hộ gia đình đã tự phát làm nảy
sinh hình thức tổ sản xuất.”
“Hợp tác xã: Trƣớc thời kì đổi mới, hợp tác xã thủ công nghiệp là mô
hình sản xuất quan trọng trong các làng nghề. Các hợp tác xã thủ công
nghiệp có đầy đủ cơ sở vật chất nhƣ nhà xƣởng, kho chứa sản phẩm, nguyên
liệu, văn phòng, cửa hàng… đƣợc thực hiện dựa trên nguyên tắc phân phối
theo lao động bằng cách chấm công, điểm. Tuy nhiên cơ chế tập trung quan
liêu bao cấp đã bộc lộ những hạn chế, xã viên không còn động lực kinh tế, các
hợp tác xã sản xuất trì trệ, trở thành nhân tố kìm hãm sự phát triển làng nghề.”

15



Nguyên tắc cơ bản của hợp tác xã là sự tự nguyện tham gia của các chủ
thể kinh tế độc lập tự chủ, đóng góp vốn theo điều lệ hợp tác xã và đƣợc chia
lãi theo cổ phần. Hình thức phân phối theo lao động, vốn cổ phần.
Vai trò: Hợp tác xã đã kết hợp đƣợc lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể,
hợp tác xã có đủ tƣ cách pháp nhân để giao dịch về xuất nhập khẩu.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tƣ nhân, công ty cổ phần,
là hình thức mới xuất hiện ở làng nghề truyền thống, phát triển sau khi luật
doanh nghiệp ra đời. Đƣợc xuất hiện từ những chủ thể kinh tế có vốn dồi dào
và năng động trong cơ chế thị trƣờng, tuy mới xuất hiện và chiếm tỷ trọng
nhỏ nhƣng các mô hình kinh tế này đã khẳng định đƣợc vai trò của mình
trong xu thế hội nhập của các làng nghề truyền thống.
1.3.Nhân tố ảnh hƣơng đến phát triển bền vững làng nghề truyền
thống
Có rất nhiều nhân tố ảnh hƣởng tới làng nghề nhƣng chủ yếu chịu tác
động lớn của tổng hòa của các nhóm nhân tố sau: nhân tố xã hội, nhóm nhân
tố về kinh tế,nhóm nhân tố môi trƣờng
- Nhóm nhân tố xã hội:
“Chính sách của nhà nƣớc: chính sách của Nhà nƣớc ảnh hƣởng lớn tới
sự tồn tại phát triển của làng nghề. Trong thời kì trƣớc đổi mới, chúng ta đã
phủ nhận các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Mọi họat động sản xuất,
kinh doanh trong làng nghề đều theo hình thức hợp tác xã, tập thể với chế độ
chia quân bình cho mọi lao động là ngang nhau. Trên thực tế chính sách này k
phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế. Nhận thấy những hạn chế đó,Đảng và
Nhà nƣớc đã thực hiện chính sách đổi mới trong cơ chế quản lý kinh tế, đặc
biệt là sự thừa nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế khác ( kinh tế tƣ
nhân, kinh tế hộ,…). Từ đó các làng nghề có điều kiện thuận lợi hơn để khôi
phục, tồn tại và phát triển. Cùng với đó là các chính sách khuyến khích,đầu tƣ
vốn giúp các làng nghề đƣợc mở rộng quy mô, nâng cao quy trình công
nghệ.”

Truyền thống và phong tục tập quán: thực tế cho thấy các làng nghề
phát triển đƣợc là do có sự kế tục “cha truyền con lối”, các bậc tiền bối truyền
16


lại cho lớp hậu sinh bằng miệng. Những bí quyết nghề nghiệp trong làng nghề
đƣợc giữ bí mật khắt khe. Vì vậy, không thể tránh khỏi việc thất truyền. Nhƣ
vậy, nhân tố truyền thống có ảnh hƣởng tới sự hƣ vong của làng nghề. Ngoài
ra, ở nhiều vùng đia phƣơng trong những ngày lễ tết họ làm ra những sản
phẩm cho chính họ, những sản phẩm này sẽ đƣợc nhiều ngƣời biết đến và tiêu
dùng. Từ đó, phong tục tập qausn của mỗi địa phƣơng cũng tạo nên sự phong
phú đa dạng.
- Nhóm nhân tố kinh tế:
Cơ sở hạ tầng: giao thông vận tải, y tế, giáo dục, các công trình văn hóa
công cộng,… có ảnh hƣởng rất lớn quy mô làng nghề đƣợc mở rộng nhanh
hay chậm, ngoài ra, vốn là một nhân tố đóng vai trò quan trọng, tham gia trực
tiếp và quá trình sản xuất kinh doanh của các cơ sở trong làng nghề.
- Nhóm nhân tố môi trường:
Môi trƣờng là nơi cung cấp nguyên liệu- gắn liền với sản phẩm và chất
lƣợng sản phẩm, để có thể đáp ứng nhu cầu tiêu dùng đa dạng cần phải có
nguồn nguyên liệu đáp ứng đƣợc nhu cầu sản xuất, kinh doanh. Phát triển
kinh tế làng nghề mà vẫn bảo vệ môi trƣờng sẽ là một sự phát triển bền vững
lâu dài.
1.4.Sự cần thiết phát triển bền vững làng nghề truyền thống
1.4.1.Vai trò phát triển bền vững làng nghề đối với sự phát triển kinh
tế
“Tận dụng nhân lực, tăng thu nhập, gia tăng giá trị sản xuất:Sau hơn
300 năm tồn tại và phát triển, các sản phẩm từ làng nghề truyền thống ở Phúc
Túc có khoảng hơn 1000 sản phẩn, nguyên vật liệu chủ yếu là cỏ tế (một loại
cây mọc hoang dại tại các vùng rừng núi phía Bắc và một số tỉnh miền Trung)

và các nguyên liệu khác nhƣ: bẹ ngô, bộ chuối, bèo, mây, tre,…Các mặt hàng
đƣợc làm theo mẫu có sẵn theo đơn đặt hàng, các hộ gia đình đều có lao động
làm nghề. Đặc điểm của nghề cỏ tế là các lứa tuổi, các giới tính đều có làm
đƣợc. Ngƣời già nhất làm nghề đến nay khoảng một trăm tuổi, còn trẻ nhất là
các cháu thiếu nhi khoảng lên 6, lên 7. Thu nhập từ nghề đan cỏ tế bình quân
từ 20.000-30.000 đồng/ngƣời/ngày. Hiện nay các hộ sản xuất thƣờng làm theo
17


đơn đặt hàng của các doanh nghiệp; theo hình thức đƣợc cung cấp nguyên vật
liệu về làm tại gia đình. Nghề mây tre đan cỏ tế truyền thống đóng góp một
phần không nhỏ vào GDP của xã Phú Túc, lãnh đạo xã đang phấn đấu đẩy
mạnh nghề truyền thống mây tre đan cỏ tế, nâng thu nhập bình quân của
ngƣời dân lên 12 triệu/ngƣời/năm.”
“Gia tăng giá trị hàng xuất khẩu:Đối với thị trƣờng thế giới thì sản phẩm
của các làng nghề truyền thống đƣợc xếp vào nhóm hàng có khả năng cạnh
tranh cao, bơi tính độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc, sự kết hợp hoàn hảo
giữa kĩ thuật và thẩm mỹ. Hiện nay hàng thủ công mỹ nghệ đƣợc xếp vào 6
mặt hàng có tiềm năng xuất khẩu lớn tại Việt Nam.”
Phát triển làng nghề góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa
Góp phần hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, phân công lao động theo
hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
“Nghề đan cỏ tế đã mang lại cho nhân dân trong địa bàn một diện mạo
mới, nâng cao mức sống của ngƣời dân, góp phần xây dựng nông thôn mới.
Cây cỏ tế và làng nghề truyền thống đã và đang biến 1 vùng quê thuần nông,
nghèo trở thành một điểm sáng trong phát triển kinh tế của thủ đô, với những
thay đổi về mặt cơ cấu kinh tế, và cơ cấu lao động, nâng cao thu nhập ngƣời
lao động.”
1.4.2.Vai trò giữ gìn bản sắc văn hóa làng nghề truyền thống

“Mỗi làng nghề lại thể hiện một đặc trƣng văn hóa khác nhau, nó
đƣợc thể hiện rõ nét qua các hoạt động nhƣ: lễ hội, hoạt động mua, bán sản
phẩm,phong cảnh làng nghề,… sự tƣơng trợ lẫn nhau giữa những ngƣời sản
xuất làng nghề và cá hoạt động mua bán phƣờng hội hằng ngày tạo nên nết
đặc sắc riêng của làng nghề.”
“Nghề truyền thống có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc
phát tiển kinh tế - xã hội ở địa phƣơng. Nó không chỉ là nơi sản xuất hàng hóa
tiêu dùng mà còn là môi trƣờng phất triển, giao lƣu văn hóa- kinh tế - xã hội,
đồng thời nó còn là chiếc nôi của công nghệ truyền thống. Ngành nghề truyền
thống đặc biệt là ngành nghề thủ công chính là những tài sản quý giá mà cha
18


ông ta để lại. Làng nghề là nơi bảo tồn và lƣu giữ những bí quyết, tinh hoa
nghề truyền thống của những lớp nghệ nhân tài hoa trong nghề. Ở một số làng
nghề truyền thống ngày hội làng chính là ngày giỗ tổ nghề, trong đó lòng tôn
kính tổ nghề đã trở thành sinh hoạt văn hoá cộng đồng. Ngoài ra có nhiều
nghi lễ, phong tục xuất hiện từ văn hóa nghề. Cùng với những nghi lễ đó thì
các công trình kiến trúc để suy tôn, tƣởng niệm, biết ơn các vị tổ nghề đã ra
đời nhƣ: đình, chùa, miếu mạo, đền. Nếu LNTT đó phát triển, kinh tế tăng
trƣởng thì diện mạo của các công trình trên càng đƣợc tu bổ giữ gìn.”
“ “Làng nghề còn gắn với văn hóa bởi các sản phẩm đƣợc làm ra ban
đầu là để phục vụ cuộc sống sinh hoạt hàng ngày và các sản phẩm đƣợc làm
ra đa dạng,phong phú, phổ biến và gần gũi với ngƣời dân. Mỗi sản phẩm đều
phản ánh một cách sinh động sinh hoạt của dân cƣ, phong cảnh sinh hoạt hay
phong tục tập quán của địa phƣơng. Làng nghề gắn với gắn với giá trị văn hóa
và lịch sử nên có thể phát triển kinh tế - xã hội nhƣ phát triển theo hƣớng du
lịch.”
“Trong quá trình hội nhập hiện nay, ngƣời ta coi sản phẩm của làng nghề
truyền thống là di sản văn hóa vật thể của các dân tộc trên thế giới. Vì vậy

phát triển bền vững làng nghề truyền thống chính là giữ gìn văn hóa vật thể
ngƣợc lại giữ gìn bảo vệ văn hóa vật thể là cơ sở để làng nghề truyền thống
đƣợc phát triển.Đó chính là hai mặt của vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân
tộc trong thời kì định hƣớng xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nƣớc ta.”
“Nhƣ vậy, làng nghề truyền thống là một bộ phận quan trọng trong kho
tàng văn hóa dân tộc, là nơi lƣu trữ truyền thống một cách cụ thể bền vững
nhất. Bản sắc dân tộc đƣợc thể hiện qua các sản phẩm thủ công, nó thể hiện
giá trị thẩm mỹ, giá trị kinh tế và kỹ thuật. Chính vì thế các du khách nƣớc
ngoài đều chọn tour du lịch làng nghề truyền thống trong lịch trình tìm hiểu
văn hóa Việt Nam.”
1.4.3.Bảo vệ môi trường làng nghề truyền thống
“Làng nghề và làng nghề truyền thống nói riêng có vai trò quan trọng về
kinh tế- xã hội và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, trong quá trình đô thị hóa
nông thôn thì các làng nghề truyền thống ngày càng khẳng định vị thế của
19


×