Tải bản đầy đủ

khảo sát việc cung cấp kiến thức ngữ pháp trong các sách tiếng việt cho người nước ngoài và việc giảng dạy ngữ pháp tiếng việt cho sinh viên lào tại trường hữu nghị t78

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN QUANG LỤC

KHẢO SÁT VIỆC CUNG CẤP KIẾN THỨC NGỮ PHÁP
TRONG CÁC SÁCH DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
VÀ VIỆC GIẢNG DẠY NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT CHO SINH VIÊN
LÀO TẠI TRƯỜNG HỮU NGHỊ T78

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN QUANG LỤC

KHẢO SÁT VIỆC CUNG CẤP KIẾN THỨC NGỮ PHÁP

TRONG CÁC SÁCH DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
VÀ VIỆC GIẢNG DẠY NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT CHO SINH VIÊN
LÀO TẠI TRƯỜNG HỮU NGHỊ T78

Ngành: Ngôn Ngữ Học
Mã số: 8 22 90 20

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS. TS VŨ ĐỨC NGHIỆU

HÀ NỘI, 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn
toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Học viên

Trần Quang Lục


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU........................................................................................................................ 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN VĂN ........................................... 8
1.1. Một số cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài ........................................... 8
1.2. Lý thuyết về câu ................................................................................... 12
1.3. Khung năng lực tiếng Việt cho người nước ngoài ............................... 16
Chương 2. VIỆC CUNG CẤP HƯ TỪ, CÂU HỎI VÀ CÂU PHỦ ĐỊNH
TRONG CÁC GIÁO TRÌNH AT, BT, CT .......................................................... 21
2.1. Khảo sát hư từ, câu hỏi, câu phủ định trong giáo trình thực hành tiếng
Việt trình độ A ( GTAT) ............................................................................. 21
2.2. So sánh giáo trình AT với khung năng lực tiếng Việt cho người nước
ngoài ............................................................................................................ 27
2.3. Về hư từ, câu hỏi, câu phủ định trong giáo trình thực hành tiếng Việt
trình độ B (GTBT) ...................................................................................... 29
2.4. So sánh giáo trình thực hành tiếng Việt trình độ B với khung năng lực
tiếng Việt ..................................................................................................... 39
2.5. Việc cung cấp hư từ, câu hỏi, câu phủ định trong giáo trình thực hành


tiếng Việt trình độ C (GTCT) ..................................................................... 41
Chương 3. VIỆC CUNG CẤP HƯ TỪ, CÂU HỎI , CÂU PHỦ ĐỊNH
TRONG GIÁO TRÌNH TIẾNG VIỆT CỦA TRƯỜNG HỮU NGHỊ T78 .. 54
3.1. Về hư từ, câu hỏi, câu phủ định trong giáo trình A78 ......................... 54
3.2. So sánh việc cung cấp hư từ, câu hỏi, câu phủ định của giáo trình A78
với giáo trình AT ......................................................................................... 59
3.3. So sánh giáo trình A78 với khung năng lực tiếng việt cho người nước
ngoài ............................................................................................................ 63
3.4. Hư từ, câu hỏi , câu phủ định trong giáo trình B78 ............................. 64
3.5. So sánh giáo trình B78 với giáo trình BT ........................................... 70
3.6. So sánh giáo trình B78 với khung năng lực tiếng Việt cho người nước
ngoài ............................................................................................................ 72
KẾT LUẬN ................................................................................................................. 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 79
PHỤ LỤC .................................................................................................................... 82


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

GTAT

Giáo trình thực hành tiếng Việt trình độ A-Đoàn Thiện Thuật

GTA78

Giáo trình tiếng Việt cơ sở -trường Hữu nghị T78

GTB78

Giáo trình tiếng Việt nâng cao- trường Hữu nghị T78

GTBT

Giáo trình thực hành tiếng Việt trình độ B-Đoàn Thiện Thuật

GTCT

Giáo trình thực hành tiếng Việt trình độ C-Đoàn Thiện Thuật

TTTT

Tiểu từ tình thái


DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1. Hư từ trong GTAT .......................................................... 82
Bảng 2.2. Hư từ trong mỗi bài khóa(GTAT) .................................. 82
Bảng 2.3. Hư từ mới trong mỗi bài khóa (GTAT) .......................... 83
Bảng 2.4 . Câu hỏi tổng quát trong giáo trình AT ......................... 83
Bảng 2.5.Câu hỏi nghi vấn trong GTAT......................................... 84
Bảng 2.6. Câu hỏi có chứa TTTT trong GTAT .............................. 85
Bảng 2.7 Câu hỏi lựa chọn trong GTAT ......................................... 86
Bảng 2.8 Câu phủ định trong quyển I(GTAT) ................................ 87
Bảng 2.9 Câu phủ định trong quyển II(GTAT) .............................. 87
Bảng 2.9. Hư từ trong GTBT .......................................................... 87
Bảng 2.10. Hư từ trong mỗi bài khóa(GTBT) ................................ 88
Bảng 2.11. Hư từ lặp lại của GTAT ................................................ 88
Bảng 2.11. Hư từ không lặp lại của GTAT ..................................... 88
Bảng 2.12. Câu hỏi tổng quát trong GTBT ..................................... 89
Bảng 2.13.Câu hỏi chứa các từ ngữ nghi vấn trong GTBT ............ 89
Bảng 2.14. Câu hỏi có chứa các TTTT (GTBT) ............................. 90
Bảng 2.15. Câu hỏi lựa chọn trong GTBT ...................................... 90
Bảng2.16. Tần số xuất hiện câu phủ định trong GTBT .................. 90
Bảng 2.17. Hư từ trong GTCT ........................................................ 91
Bảng 2.18. Hư từ trong mỗi bài khóa(GTCT) ................................ 92
Bảng 2.19. Hư từ lặp lại của GTAT và GTBT .............................. 92
Bảng 2.20. Hư từ mới trong GTCT ................................................. 93
Bảng 2.21. câu hỏi tổng quát trong GTCT ...................................... 93
Bảng 2.22. Câu hỏi có từ nghi vấn(GTCT)..................................... 93
Bảng 2. 23. Câu hỏi có chứa TTTT trong GTCT ........................... 94
Bảng 2.24.Câu hỏi lựa chọn trong GTCT ....................................... 94


Bảng 2.25. Câu phủ định GTCT ..................................................... 95
Bảng 3.1. Hư từ trong GTA78 ........................................................ 96
Bảng 3.2. Hư từ trong mỗi bài khóa................................................ 96
Bảng 3.3 Hư từ mới trong mỗi bài khóa ......................................... 96
Bảng 3.4. Câu hỏi tổng quát trong GTA78 ..................................... 97
Bảng 3.5.Câu hỏi nghi vấn trong GTA78 ....................................... 97
Bảng 3.6. câu hỏi có chứa TTTT trong giáo trình A78 .................. 98
Bảng 3.7.câu hỏi lựa chọn trong giáo trìnhA78 .............................. 99
Bảng 3.8. Câu phủ định trong GTA78 .......................................... 100
Bảng 3.9. Hư từ trong GTB78 ..................................................... 100
Bảng 3.10. Hư từ trong mỗi bài khóa(GTB78) ............................. 101
Bảng 3.11. Hư từ lặp lại của GTA78 ........................................... 101
Bảng 3.12 Hư từ không lặp lại của GTA78 ................................. 101
Bảng 3.13 câu hỏi tổng quát trong GTB78 .................................. 102
Bảng 3.14. câu hỏi nghi vấn trong GTB78 ................................... 102
Bảng 3.15. câu hỏi chứa các TTTT trong GTB78 ........................ 103
Bảng 3.16. Câu hỏi lựa chọn trong GTB78 .................................. 103
Bảng 3.17. Câu phủ định trong GTB78 ........................................ 104


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công việc dạy và học tiếng Việt cho người nước ngoài đã được bắt đầu từ
những năm đầu của thế kỷ XX. Việc dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ trong
suốt thế kỷ XX phát triển không chỉ ở trong nước mà còn ở cả nước ngoài. Cho đến
hiện nay, đất nước Việt Nam đang trong thời kỳ hội nhập và phát triển, vị thế của
Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, văn hóa Việt Nam đa dạng,
phong phú và giàu bản sắc là những lợi thế để Việt Nam trở thành nơi đầu tư, và là
địa điểm khám phá du lịch, tìm hiểu của nhiều người trên thế giới. Đi cùng với điều
đó, dĩ nhiên tiếng Việt trở thành phương tiện quan trọng để bạn bè quốc tế tiếp cận
với mọi mặt đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội Việt Nam, cũng là phương tiện tốt
nhất để bà con Việt Kiều hiểu về đất nước, dân tộc, nguồn gốc quê hương của mình.
Nhu cầu học và dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Để đáp ứng nhu cầu đó nhiều trung tâm dạy tiếng, nhiều khoa dạy tiếng Việt cho
người nước ngoài được mở ra cùng với sự phát triển của các cơ sở sẵn có từ trước.
Hàng loạt bộ giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài được biên soạn với
chất lượng ngày càng nâng cao, phù hợp với nhu cầu thực tế. Từ thế kỷ XX và đặc
biệt là thời gian gần đây, các bộ giáo trình dạy tiếng Việt được biên soạn ngày càng
nhiều cả ở trong và ngoài nước như Pháp, Mỹ, Nhật, Hàn, Trung, Thái, Lào... Ví
dụ: Tiếng Việt cơ sở (Vũ Văn Thi chủ biên), Tiếng Việt cơ sở ( Nguyễn Việt Hương
chủ biên), Thực Hành tiếng Việt ( Đoàn Thiện Thuật chủ biên), Tiếng Việt nâng
cao( Nguyễn Thiện Nam chủ biên), Tiếng Việt cho người Lào...Trường Đại học
khoa học Xã hội và Nhân văn đã có khoa dạy tiếng Việt cho người nước ngoài từ rất
sớm và cũng lưu hành nhiều bộ giáo trình khác nhau như: Tiếng Việt trình độ A tập
I, tập II, Thực hành tiếng Việt trình độ B và C ( Đoàn Thiện Thuật chủ biên), Tiếng
Việt cơ sở( Nguyễn Văn Phúc chủ biên).Thực hành tiếng Việt ( Nguyễn Việt Hương
chủ biên).Tuy nhiên một vấn đề đặt ra là những bộ giáo trình ấy có đảm bảo được
tính khoa học, tính sư phạm hay tính hệ thống không? Không thể phủ nhận những

1


bộ giáo trình đều có những điểm mạnh riêng và bên cạnh đó không thể nào tránh
khỏi những hạn chế nhất định.
Từ tình hình thực tế trên, nhiều nhiệm vụ được đặt ra, một trong số những
nhiệm vụ đó là cần những khảo sát, phân tích, nghiên cứu cơ bản về từ vựng, ngữ
âm, ngữ pháp, thực hành, thiết kế bài học.....để có những phản ánh thiết thực nhằm
cải tiến các bộ giáo trình sao cho có hệ thống khoa học và phù hợp với thực tiễn sử
dụng cũng như thích ứng với những phương pháp giảng dạy mới hiện nay. Nghiên
cứu giáo trình còn cho thấy những điểm mạnh, điểm yếu của mỗi giáo trình, từ đó
xác định được rằng với mỗi trình độ việc cung cấp từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp như
thế nào cho thích hợp.
Để làm được nhiệm vụ đó, chúng tôi thực hiện luận văn: khảo sát việc
cung cấp kiến thức ngữ pháp trong các sách tiếng Việt cho người nước ngoài và
việc giảng dạy ngữ pháp tiếng Việt cho sinh viên Lào tại trường Hữu Nghị T78.
Trong luận văn này, chúng tôi sẽ nghiên cứu về hư từ, câu hỏi, và câu phủ
định. Vì sao chúng tôi lại nghiên cứu hư từ và câu hỏi, câu phủ định? Bởi vì hư
từ là bộ công cụ ngữ pháp quan trọng đối với tiếng Việt. Hư từ có tầm quan
trong rất lớn đối với những ngôn ngữ thuộc loại hình phân tích tính như tiếng
Việt. Phần lớn các quan hệ ngữ pháp đều được thể hiện bằng hư từ. Còn câu hỏi
và câu phủ định là hai loại câu phổ biến và được sử dụng nhiều trong các giáo
trình tiếng Việt. Vì thế trong luận văn này chúng tôi đã chọn hư từ, câu hỏi, câu
phủ định làm đối tượng của mình để khảo sát, phân tích và hy vọng sẽ đưa ra
được những giải pháp giúp biên soạn được những bộ giáo trình tốt.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Khoa học dạy tiếng nghiên cứu nhiều lĩnh vực như: nghiên cứu về phương
pháp giảng dạy, nghiên cứu về mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ
dụng...Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi nghiên cứu việc cung cấp kiến thức
ngữ pháp trong các sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài nhằm góp phần đáp
ứng chuẩn đầu ra của khung năng lực tiếng Việt cho người nước ngoài..

2


Việc nghiên cứu, cung cấp kiến thức ngữ pháp trong các giáo trình dạy tiếng
Việt cho người nước ngoài đã được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu ở trong
nước và ngoài nước. Tuy nhiên vấn đề nghiên cứu ngữ pháp trong các sách dạy
tiếng Việt cho đến nay vẫn chưa phải là một vấn đề đã khép kín. Dưới đây chúng tôi
tóm tắt tình hình nghiên cứu việc cung cấp kiến thức ngữ pháp tiếng Việt dưới các
khía cạnh khác nhau.
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài báo, nhiều bài viết trong các
tạp chí đã bàn luận về vấn đề cung cấp kiến thức ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp trong
các giáo trình giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Có thể nói chưa bao giờ
vấn đề giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài lại được quan tâm bàn luận nhiều
như hiện nay. Vấn đề này cần phải có những công trình nghiên cứu khoa học có tầm
vĩ mô.
Đã có những nghiên cứu về hư từ rất hữu ích để ứng dụng vào việc dạy tiếng
Việt cho người nước ngoài. Đối với người nước học tiếng Việt, muốn hiểu và sử
dụng được ngữ pháp tiếng Việt thì cần phải nắm bắt được hệ thống hư từ trong
tiếng Việt. Có thể kể một vài công trình như: Tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt và
việc dạy tiểu từ tính thái cuối câu tiếng Việt cho người nước ngoài (Lê Thị Hoài
Dương, 2003); Kết từ tiếng Việt trong một số sách dạy tiếng Việt cho người nước
ngoài và vấn đề giảng dạy kết từ cho người nước ngoài (Nguyễn Thị Thanh Ngọc,
2004); Bước đầu nhận xét việc thể hiện cách dùng phụ từ trong các sách giáo khoa
dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ ( Trần Thị Ánh Tuyết, 2007).
Lại có những công trình đi nghiên cứu về các loại câu trong các giáo trình
tiếng Việt cho người nước ngoài. Những công trình tiểu biểu như “ bước đầu khảo
sát các cặp thoại hỏi- đáp trong sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài” ( Lê
Thu Lan, 2012): “ Khảo sát các biến thể đồng nghĩa câu đơn trần thuật tiếng Việt
và ứng dụng vào giảng dạy cho người nước ngoài”(Vũ Lan Hương,2010) “ khảo
sát việc phân bổ và xử lý các cấu trúc cơ bản trong các giáo trình dạy tiếng Việt
cho người nước ngoài” ( Bùi Bội Thu, 2011)

3


Ngoài các công trình còn phải kể đến những công trình đi sâu vào nghiên cứu
việc cung cấp từ vựng trong các giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài. có
thể kể đến các công trình như “ khảo sát việc cung cấp vốn từ vựng trong các
giáo trình tiếng Việt trình độ A, B” ( Nguyến Thị Lệ Hằng, 2011); “ khảo sát từ
láy trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài” ( Phí Hà Chi,
2006)
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Như ở phần tên đề tài, chúng tôi sẽ đi khảo sát việc cung cấp kiến thức ngữ
pháp trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài và việc giảng dạy
ngữ pháp tiếng Việt cho sinh viên Lào tại trường hữu nghị T78, nhưng trong phạm
vi một luận văn chúng tôi không thể đi khảo sát tất cả các bộ giáo trình được mà
chúng tôi tập trung nghiên cứu và khảo sát việc cung cấp kiến thức ngữ pháp trong
hai bộ sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài học tiếng Việt đang hiện hành, đó
là bộ sách của trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn và bộ sách của trường
Hữu Nghị T78. Việc xác định nội dung kiến thức ngữ pháp cơ bản dành cho người
nước ngoài học tiếng Việt ở mỗi trình độ là một việc rất quan trọng phục vụ cho đối
tượng nghiên cứu trên.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu và khảo sát việc cung cấp kiến thức ngữ pháp
trong các giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài giúp chúng tôi rút ra được
những nhận xét và đưa ra những đề xuất cho việc thiết kế việc giảng dạy ngữ pháp
trong các giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn này là nghiên cứu, đánh giá việc cung cấp kiến thức
ngữ pháp tiếng Việt trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, ở
đây chúng tôi sẽ khảo sát đánh giá hư từ, câu hỏi, câu phủ định. Từ đó so sánh
việc cung cấp kiến thức ngữ pháp giữa một số giáo trình và đối chiếu với khung
năng lực xem việc cung cấp đó đã thích hợp chưa và có phù hợp với chuẩn đầu
ra của khung năng lực chưa. Qua khảo sát giúp chúng tôi nhận ra được những
thiếu sót, bất cập trong việc cung cấp các kiến thức ngữ pháp. Và chúng tôi cũng

4


sẽ có những nhận xét, bàn luận và một số góp ý để xây dựng các giáo trình có
tính thực tế và mang lại hiệu quả nhất cho người học tiếng Việt.
Khảo sát bộ giáo trình tiếng Việt của trường Hữu nghị T78 và đem so sánh
với các giáo trình khác và khung năng lực tiếng Việt cho người nước ngoài,xem bộ
giáo trình này có đáp ứng được kiến thức ngữ pháp trong khung năng lực tiếng Việt
cho người nước ngoài.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
*Những nhiệm vụ chính cần thực hiện trong luận văn này bao gồm:
Khảo sát việc cung cấp kiến thức ngữ pháp trong các giáo trình để xét xem
những kiến thức ngữ pháp trong các giáo trình được cung cấp như thế nào? Nhưng
kiến thức ngữ pháp thì vô cùng rộng lớn, mà trong khuôn khổ luận văn này chúng
tôi không thể làm hết được. Trong luận văn này,chúng tôi sẽ khảo sát một số lĩnh
vực ngữ pháp nổi bật nhất, trực tiếp nhất, thường xuyên sử dụng nhất trong các giáo
trình đó là khảo sát các hư từ, câu hỏi và câu phủ định. Sở dĩ chúng tôi chọn khảo
sát các lĩnh vực này là vì trong tiếng Việt hư từ là bộ công cụ ngữ pháp quan trọng
nhất đối và cùng với trật tự từ để thể hiện quan hệ ngữ pháp trong câu. Bên cạnh đó
chúng tôi chọn khảo sát hai loại câu là câu nghi vấn và câu phủ định để khảo sát là
vì xét theo mục đích phát ngôn đây là hai loại câu thường xuyên sử dụng nhất.
Trên cơ sở tư liệu khảo sát được, chúng tôi sẽ phân tích đánh giá toàn bộ giáo
trình xem bộ giáo trình này có đáp ứng với các trình độ theo khung năng lực tiếng
Việt cho người nước ngoài chưa.
Dựa vào kết quả đã khảo sát để đưa ra những nhận xét về việc xây dựng kiến
thức ngữ pháp trong hai bộ giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Đồng
thời cũng đưa ra những đề xuất cho việc xậy dựng hệ thống ngữ pháp đáp ứng nhu
cầu thực tế của công tác giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Chúng tôi lựa chọn và tiến hành khảo sát, miêu tả các hiện tượng ngữ
pháp trong một số giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ở trình độ cơ
sở và trình độ nâng cao. Dưới đây là danh sách các giáo trình chúng tôi sử dụng
để khảo sát.

5


*Giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài trình độ cơ sở
Thực hành tiếng Việt ( Trình độ A, quyển I,II ) – Đoàn Thiện Thuật (chủ
biên), Nxb Thế giới Hà Nội, 2006.(GTAT)
Tiếng Việt cơ sở-sách dành cho lưu học sinh Lào – Đỗ Việt Hùng ( chủ
biên), Nxb Lao động Hà Nội, 2010( GTA78)
*Giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài trình độ nâng cao
Thực hành tiếng Việt trình độ B, Đoàn Thiện Thuật ( chủ biên),Nxb Thế
giới Hà Nội, tái bản 2005(GTBT)
Tiếng Việt Nâng cao – sách dành cho lưu học sinh Lào học tiếng Việt- Đỗ
Việt Hùng ( chủ biên), Nxb Lao Động, 2010 (GTB.78)
Thực hành tiếng Vịêt Trình độ C, Đoàn Thiện Thuật ( chủ biên)
Nxb Thế giới Hà Nội, tái bản 2005(GTCT)
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Một số phương pháp nghiên cứu sử dụng chủ yếu trong luận văn là các
thao tác ngôn ngữ học thường gặp như thống kê, nghiên cứu tài liệu, phân tích
định tính, phân tích định lượng. Cụ thể hơn là chúng tôi sẽ khảo sát trực tiếp trên
từng bài khóa của 5 cuốn giáo trình. Nhận diện, lập danh sách các hư từ, các câu
hỏi, các câu phủ định, sau đó đưa ra các đánh giá định lượng, phân tích định tính.
Khảo sát hư từ, câu hỏi, câu phủ định mà các giáo trình cung cấp về số lượng,
nội dung, chức năng, kiểu loại để phân tích xem có phù hợp với trình độ của giáo
trình và của khung năng lực tiếng Việt cho người nước ngoài hay không.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Với việc nghiên cứu việc cung cấp kiến thức ngữ pháp trong các giáo trình
tiếng Việt cho người nước, luận văn sẽ cung cấp những lý luận và cơ sở khoa
học để các nhà biên soạn giáo trình tiếng Việt có thể dựa vào đây để làm cơ sở
biên soạn các giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài. Nghiên cứu này cũng
sẽ giúp ích cho công tác giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ở trong và
ngoài nước hiện nay.

6


7. Kết cấu của Luận văn
Để phục vụ cho việc nghiên cứu trên, luận văn sẽ được tiến hành như sau:
Ngoài phần mở đầu, phụ lục và tài liệu tham khảo luận văn gồm có 3
chương như sau:
Chương 1. Cơ sở lý thuyết của luận văn
Chương 2. Việc cung cấp hư từ, câu hỏi, câu phủ định trong giáo trình
AT, giáo trình BT, giáo trình CT
Chương 3. Việc cung cấp hư từ, câu hỏi, câu phủ định trong giáo trình của
trường Hữu Nghị T78

7


Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN VĂN
1.1. Một số cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài
Kiến thức ngữ pháp là một phạm trù rộng mênh mông. Với khuôn khổ một luận
văn thạc sỹ, chúng tôi không thể nghiên cứu và khảo sát được hết tất cả các vấn đề ngữ
pháp. Trong luân văn này chúng tôi sẽ tập trung khảo sát những vấn đề cơ bản nhất và
nổi bật nhất đó là khảo sát hư tư và các kiểu câu hỏi và câu phủ định trong các giáo
trình tiếng Việt cho người nước ngoài.
1.1.1. Hư từ trong tiếng Việt
Đối với các ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập không biến hình như
tiếng Việt, hư từ luôn được nhìn nhận dưới mối quan hệ đối lập với hệ thống thực từ.
Hư từ là bộ công cụ ngữ pháp cực kỳ quan trọng trong tiếng Việt. Vì thế hư từ là một
vấn đề được các nhà nghiên cứu tiếng Việt quan tâm, nhất là những nhà ngữ pháp học.
Thế nhưng từ trước tới nay có rất nhiều quan niệm về hư từ được thể hiện qua các công
trình nghiên cứu đã công bố. Tuy nhiên , nhìn chung hầu như các quan điểm đó cũng
đều có sự thống nhất về ý nghĩa và chức năng của hư từ.
Về ý nghĩa, hư từ được coi là những từ trống về nghĩa từ vựng. Còn về chức
năng thì hư từ là công cụ thể hiện các quan hệ ngữ pháp, phạm trù ngữ pháp. Cụ thể
hơn:
Theo Nguyễn Kim Thản trong cuốn Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt(1963) cũng cho
rằng “hư từ là những từ không có ý nghĩa chân thực, mà chỉ có tác dụng làm công cụ
ngữ pháp để chỉ các ý nghĩa ngữ pháp khác nhau của các từ”[31,tr.35]
Quan niệm của Đinh Văn Đức “hư từ là một tập hợp không lớn về số lượng
của các từ,hư từ ít tham gia biểu niệm, nó là phương tiện dùng để phân xuất các hình
thức tri nhận thành khái niệm và biểu đạt mối quan hệ giữa khái niệm với khái niệm
trong tư duy.”[11,tr. 23]
“Hư từ trong tiếng Việt hiện đại” là công trình nghiên cứu sâu sắc về hư từ tiếng
Việt. Qua đây Nguyễn Anh Quế đã chỉ ra và phân tích chi tiết về hư từ. Ông cho rằng:
“ Một từ dù theo quan điểm nào cũng là có nghĩa.Khi đứng riêng rẽ, từ có ý nghĩa từ

8


vựng và ý nghĩa ngữ pháp của một từ, là hai mặt không thể thiếu, không thể tách rời..”
[tr.39,45]. Tác giả đã đi đến kết luận rằng hư từ cũng có ý nghĩa từ vựng, tuy mờ nhạt
hơn thực từ…Nói một cách khác hư từ không mang ý nghĩa tất yếu hay ý nghĩa tự thân
mà chỉ mang ý nghĩa tổ hợp. Hư từ không bao giờ làm yếu tố chính, yếu tố trung tâm
mà chỉ làm yếu tố phụ trong đoản ngữ hoặc chỉ dùng nối kết các câu.
Có thể thấy rằng, nguyên chỉ về vấn đề định nghĩa hư từ là gì cũng là cả một sự
tranh cãi giữa các quan điểm. Ở phạm vị luận văn này chúng tôi không di sâu phân tích
chứng minh các quan điểm của các tác giả đi trước mà chỉ xem đó là cơ sở để có cái
nhìn chung nhất, khách quan nhất về hư từ trong tiếng Việt. Như vậy điểm chung nhất ,
cơ bản nhất, trừ những nét tiểu dị thì hư từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng chân
thực, dùng để diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp hoặc quan hệ ngữ pháp giữa các thực từ
hoặc giữa các bộ phận của câu, hoặc giữa các câu với nhau.
1.1.2. Tiêu chí nhận diện hư từ
Tiêu chí nhận diện hư từ được hầu hết được các tác giả đề nghị là dựa vào tổ
chức đoản ngữ và dựa vào chức năng của từ để vạch ra sự đối lập thực từ- hư từ.
Những từ có thể làm thành tố trung tâm của đoản ngữ và có thể làm thành phần câu là
thực từ; những từ không có thể làm trung tâm đoản ngữ ,không thể làm thành phần câu
là hư từ. Sở dĩ chúng tôi dựa vào quan điểm này vì hướng phân loại này khắc phục
được khó khăn trong quan niệm truyền thống về cách xác định ý nghĩa của từ( có ý
nghĩa chân thực và không có ý nghĩa chân thực). Ý nghĩa từ vựng của từ- chân thực
hay không chân thực- đều bao hàm cả trong phạm vi thực từ và hư từ. Điều đó giải
thích cho hiện tượng một số hư từ có nguồn gốc từ thực từ mà chúng chưa hoàn toàn
mất nghĩa từ vựng-nghĩa là chỉ có ý nghĩa ngữ pháp thuần túy, hoặc hiện tượng “ trống
nghĩa” trong một số thực từ ( như các danh từ sự, cuộc, nỗi, niềm của tiếng Việt ).Về
chức năng thì hư từ được xác định là những từ chuyên dùng kèm với thực từ để bổ
sung ý nghĩa cho thực từ , và là những từ chuyên dùng biểu thị các quan hệ tình thái.
Như vậy hư từ được nhận diện trong tương quan đối lập với thực từ. Những tiêu
chí phổ biến có thể tóm tắt lại để coi một từ là hư từ bao gồm:
Không có ý nghĩa từ vựng chân thực, hoặc chỉ có ý nghĩa từ vựng mờ nhạt.

9


Không có chức năng định danh.
Làm công cụ để biểu đạt những ý nghĩa, phạm trù ngữ pháp nào đó của thực từ (
nói tóm lại là những từ có liên quan đến việc diễn đạt, biểu thị những loại ý nghĩa ngữ
pháp)
Ví dụ: Từ “ chẳng” ta không xác định được nó phản ánh sự vật, sự việc hay tính
chất gì trong thế giới khách quan, tức là “ chẳng” không có ý nghĩa từ vựng chân thực.
“ chẳng” chỉ là công cụ biểu đạt ý nghĩa ngữ pháp, phạm trù ngữ pháp hay ý nghĩa ngữ
dụng sau.
Dùng để phủ định với nghĩa dứt khoát hơn từ không.
+ Em chẳng thích ăn món này đâu.
Khi làm kết từ, chẳng tương đương với kẻo/chẳng kẻo
+ Chúng ta đi thôi chẳng muộn.
( tr 43, bài 12)
1.1.1.2. Phân loại hư từ
Hư từ đã được nhiều người bàn đến, nhưng nói đến sự phân loại hư từ một cách
có hệ thống thì không phải nhiều tác giả đi sâu vào nghiên cứu tới vấn đề đó. Có lẽ do
mức độ đòi hỏi của những công trình mà họ nghiên cứu thì họ chỉ nói đến hư từ ở một
mức độ nào đó mà thôi. Chúng ta có thể dựa vào chức năng hoặc dựa vào vị trí của hư
từ trong câu để phân loại hư từ.
Trong các công trình nghiên cứu về hư từ chúng tôi thấy nổi bật lên là quan
điểm phân loại hư từ của Nguyễn Anh Quế trong “ hư từ trong tiếng Việt hiện đại”
(xem thêm 29). Ở đây tác giả đã phân loại hư từ thành ba nhóm lớn theo tiêu chí về vị
trí là: các hư từ chuyên dùng làm thành tố phụ đoản ngữ, các hư từ không làm thành tố
phụ đoản ngữ, các hư từ nằm ngoài đoản ngữ- cac hư từ phụ trợ.
Bên cạnh đó là quan niệm của Diệp Quang Ban. Khác với Nguyễn Anh Quế,
Diệp Quang Ban lại dựa vào chức năng của hư từ để phân loại chúng. Tuy nhiên các
đơn vị từ được Diệp Quang Ban liệt vào danh sách các hư từ cũng giống Nguyễn Anh
Quế, chỉ có điều khác về tên gọi. Tên gọi cũng quan trọng nhưng điều quan trong làm

10


nổi rõ được các nét nghĩa và chức năng của chúng trong thực tiến của tiếng Việt.( xem
thêm1,29).
Thực tế cho thấy rằng, đối với người nước ngoài học tiếng Việt thì việc hiểu
được một hư từ theo chức năng, chúng có ý nghĩa gì, đi với động từ hay tính từ....có vẻ
dễ dàng hơn là hiểu một hư từ có nằm trong đoản ngữ hay không. Chúng tôi sẽ phân
loại hư từ theo tiêu chí về chức năng và khả năng kết hợp với thực từ như thế nào. Hơn
nữa điều này còn liên quan đến cách thức giảng dạy hư từ cho người nước ngoài, với
một hư từ chúng ta nên giảng dạy ý nghĩa trước hay ngữ dụng trước, chức năng
trước.....Dựa trên những cơ sở lý luận đã được đưa ra, chúng tôi thống kê được danh
sách cac hư từ và các tiểu loại của hư từ tiếng Việt như sau:
Phụ từ: bao gồm định từ và phó từ
Định từ: là những từ biểu thị quan hệ giữa số lượng và sự vật được nêu ở danh
từ, chuyên dùng kèm với danh từ, với chức năng làm thành tố phụ trong kết hợp có
trung tâm ngữ nghĩa- ngữ pháp là danh từ ( cụm danh từ). Số lượng định từ tuy không
nhiều nhưng chúng có tác dụng dạng thức hóa một số ý nghĩa ngữ pháp quan trọng của
từ loại danh từ. Các định từ trong tiếng Việt như: mỗi , một, những ,các, từng , mọi ,
cái, mấy.....
Phó từ: là những từ thường dùng kèm với thực từ ( động từ, tính từ) . Chúng
biểu thị ý nghĩa về quan niệm giữa quá trình và đặc trưng với thực tại, đồng thời cũng
biểu hiện ý nghĩa về cách thức nhận thức và phản ánh các quá trình và đặc trưng thực
tại, đồng thời cũng biểu hiện ý nghĩa về cách thức nhận thức và phản ánh các quá trình
và đặc trưng hiện thực. Một số phó từ thường gặp như: đã , đang, mới , vừa mới , sắp,
luôn , luôn luôn, vẫn, cứ , thột , bỗng nhiên, bất thình lình, thoạt thoắt, nhất định, ắt
hẳn, chắc, chắc là, quả là...
Kết từ: Về ý nghĩa khái quát, kết từ biểu hiện ý nghĩa về quan hệ giữa các khái
niệm và đối tượng được phản ánh. Kết từ là dấu hiệu biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa
các thực từ với hư từ một cách tường minh. Dựa vào các kiểu ý nghĩa quan hệ ( quan
hệ cú pháp) được thể hiện bằng kết từ. Có thể phân chia làm hai loại là kết từ chính phụ
và kết từ đẳng lập.

11


Kết từ chính phụ: dùng để kết nối thành tố phụ vào thành tố chính. Do đó kết từ
chính phụ thường có xu hướng gắn vào thành tố phụ. Chúng ta có thể kể ra một số kết
từ chính phụ phổ biến như : của, bằng , do, vì, tại, bởi, vì, nên, từ, đến, tuy, nhưng, như
, tuy/mặc dù/ dù...nhưng, nếu/hễ/giá... thì, thì/ là/ mà..., do/vì/tại/bởi...nên/cho nên/mà...
Kết từ đẳng lập: dùng để nối kết các từ, các kết hợp từ ( ở bậc cụm từ hay gắn
bó với bất cứ thành tố nào trong một kết hợp có quan hệ đẳng lập. Đây là một số kết từ
đẳng lập thương gặp như; và, với , cùng , hay, hoặc, rồi, còn, là, rằng, hình như, thì,
cũng, vẫn, cứ....thà/thà rằng(không)...chứ (không), thà/thà rằng...còn hơn...
Tiểu từ: là những từ biểu thị ý nghĩa quan hệ giữa chủ thể phát ngôn với nội
dung phản ánh hoặc biểu thị quan hệ giữa phát ngôn với nội dung phản ánh . Ý nghĩa
quan hệ của tiểu từ là ý nghĩa quan hệ có tính tình thái. Tiểu từ gồm:
Trợ từ: dùng trong câu biểu thi ý nghĩa tình thái, bằng cách nhấn mạnh vào từ,
kết hợp từ...có nội dung phản ánh liên quan với thực tại mà người nói muốn lưu ý
người nghe. Số lượng trợ từ không lớn, điển hình là các trợ từ như: thì , ngay , cả,
đúng, đúng là, là , chính đích, chỉ , chỉ là, thực ra, thật ra, thực ra, đến, đên cả, đến
nỗi, tự ....
Tình thái từ: là tiểu từ chuyên dùng biểu thị ý nghĩa tình thái trong quan hệ của
chủ thể phát ngôn với người nghe hay với nội dung phản ánh hoặc ý nghĩa tình thái gắn
với mục đích phát ngôn. các tình thái từ tiêu biểu thường gặp như: à, ư , hả , hử , nhé ,
nhỉ, ô, à, ơi, ối giời ơi, chết thật , bỏ mẹ, ái , chà, chao ôi, ôi dào.....vâng, dạ, ừ
Qua thống kê trên chúng ta có thể thấy được môt thực tế là trong hư từ tiếng
Việt thì phụ từ và kết từ là hai loại hư từ chiếm một số lượng nhiều hơn tiêủ từ. Sở dĩ
như vậy là vì phụ từ và kết từ là loại chiếm số lượng rất lớn trong từ loại tiếng Việt.
Chức năng và nhiệm vụ của chúng cũng lớn hơn tiểu từ nên chúng luôn chiếm số
lượng lớn hơn nhiều so với tiểu từ.
1.2. Lý thuyết về câu
Trong quá trình nghiên cứu cú pháp, các tác giả đã đưa ra hàng loạt định nghĩa
về câu và những định nghĩa này đã ít nhiều khái quát được những đặc điểm cơ bản của
câu. Cụ thể như sau:

12


Từ thế kỷ thứ III, thứ II trước công nguyên, học phái ngữ học Pháp A Lêc Xăng
Dria đã nêu định nghĩa về câu như sau “ câu là sự tổng hợp của các từ biểu thị một tư
tưởng trọn vẹn”. Benveneste định nghĩa “ câu là đơn vị nhỏ nhất có thể sử dụng vào
giao tế”
Quan niệm của Nguyễn Kim Thản “câu là đơn vị ngắn nhất và độc lập của lời nói có
chức năng thông báo một sự kiện gì đó, có một tổ chức ngữ pháp nhất định. Tính độc
lập của câu thể hiện trước hết ở mặt ngữ pháp;nó không phụ thuộc về mặt ngữ pháp
vào một yếu tố nào khác trong lời nói; về mặt ngữ điệu, nó có ngữ điệu độc lập, trước
và sau nó có một quãng im lặng( trên chữ viết quãng im lặng ấy thể hiện bằng một
trong những dấu mạnh: chấm, chấm than, chấm hỏi)”[ 32,tr15]
Theo tác giả Nguyễn tài cẩn “ câu là một đơn vị ngôn ngữ biểu thị một tư tưởng
tương đối trọn vẹn; câu không chỉ phản ánh hiện thực mà còn chứa đựng sự đánh giá
hiện thực về phía người nói, câu có những đặc trưng bên ngoài là các tiểu từ tình thái
dứt câu và chỗ ngắt câu, câu có đặc trưng bên trong là cấu trúc của nó”[4, tr 40].
Theo Trần Trọng Kim “ câu lập thành do một mệnh đề có nghĩa hoàn chỉnh hoặc do
hai hay nhiều mệnh đề”
Quan niệm của Hoàng Trọng Phiến “câu là đơn vị ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp
bên trong và bên ngoài tự lập và có ngữ điệu kết thúc, mang một tư tưởng tương đối
trọn vẹn có kèm thái độ của người nói hoăc chỉ biểu thị thái độ của người nói, giúp
hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm với tư cách là đơn vị thông báo
nhỏ nhất”[28,tr 285]
Tác giả đã phân loại câu thành những kiểu câu khác nhau như sau:
Câu phân chia theo cấu tạo ngữ pháp có 2 kiểu loại câu lớn là câu đơn và câu ghép.
Câu phân loại theo mục đích phát ngôn có những kiểu câu như: câu nghi vấn( câu
hỏi),, câu tường thuật( câu kể), câu mệnh lệnh( câu cầu khiến), câu cảm thán ( câu
cảm).
Như vậy chúng ta có thể thấy quan niệm của hầu hết các nhà ngữ pháp về câu như sau:
câu là đơn vị ngôn ngữ, có cấu tạo ngữ pháp nhất định và dùng để truyền đạt tư tưởng
hay để thông báo.

13


1.2.1. Câu phủ định
Câu phủ định là một hiện tượng bản thể phổ quát của tất cả các ngôn ngữ
trên thế giới. Mỗi ngôn ngữ đều có một hệ thống phương thức và phương tiện
phong phú để tạo nên câu phủ định. Để khảo sát các phương thức cấu tạo và các
phương tiện biểu hiện câu phủ định trong các sách giáo trình dạy tiếng cho người
nước ngoài, chúng tôi điểm qua một vài ý kiến về câu phủ định tiếng Việt.
Trong cuốn “ Ngữ pháp tiếng Việt “ của Uy Ban Khoa học Xã hôi Việt
Nam các tác giả đã đưa ra các vấn đề về câu phủ định như: đối với câu tả hay câu
luận khi phủ định đều có dùng từ phủ định cấu tạo trong phần thuyết.
Tác giả Diệp Quang Ban trong cuốn ngữ pháp tiếng Việt tập 2 đã dành cả
một chương để bàn về vấn đề câu phủ định, ông đặc biệt chú ý đến hình thức phủ
định đích thực. Cũng qua đây tác giả đã phân loại theo hiện tượng ngữ pháp. Bên
cạnh đó tác giả cũng đưa ra vấn đề về câu phủ định bác bỏ và câu phủ định miêu
tả
Nguyễn Đức Dân trong bài viết “ Phủ định và bác bỏ” cũng chia câu phủ
định thành 2 loại
Câu phủ định miêu tả: thực hiện hành vi khẳng định một thuộc tính không A
của sự vật
Câu phủ định bác bỏ: cho rằng ý kiến của người tham gia giao tiếp khẳng
định, trực tiếp hoặc gián tiếp về một thuộc tính A của sự vật là không đúng và
người nói bác bỏ ý kiến đó. [10, trang 28]
Các loại câu phủ định.
1. Câu phủ định trợ động từ
2. Câu phủ định danh ngữ
3.Câu phủ định trạng từ
4. Câu phủ định hình thái học
1.2.2. Câu hỏi
Câu hỏi trong tiếng Việt đã được bàn đến rất nhiều. Hiện nay có các quan
niệm khác nhau của các nhà ngôn ngữ học về câu hỏi như sau:

14


Quan niệm của Cao Xuân Hạo về câu hỏi, ông cho rằng “ câu hỏi trong
tiếng Việt cũng như nhiều thứ tiếng khác, ngoài giá tri hỏi, là giá trị tai lời còn
có 1 hay nhiều giá trị tại lời phái sinh khác như phủ định, khẳng định, nghi ngờ,
phỏng đoán...”[15, tr76]. Theo ông câu hỏi có giá trị đưa một ẩn số, một cái
chưa biết trong mệnh đề. Mỗi câu hỏi lại có giá trị tai lời phát sinh, và đây chính
là công cụ, mục đích của người hỏi.
Quan niệm của Hoàng Trọng Phiến “ câu hỏi là một thể câu thuộc phạm trù
phân chia câu theo thực tại hóa. Nếu câu kể thuộc phạm trù hiện thực thì câu hỏi
thuộc phạm trù khả năng...cho dù dưới dạng nào, trong nội dung câu hỏi đều
làm nổi rõ một ‘ cái không rõ” mà câu trả lời cần hướng đến”[28,tr 342]
Quan niệm của Diệp Quang ban về câu nghi vấn “ câu nghi vấn thường dùng
để nêu lên điều chưa biết hoặc còn hoài nghi và chờ đợi sự trả lời, giải thích của
người tiếp nhận câu đó và về hình thức câu nghi vấn cũng có dấu hiệu đặng
trưng nhất định” [1, trang 226]. Dựa vào phương thức cấu tạo nên câu nghi vấn,
ông cho rằng tiếng Việt có các loại câu hỏi sau:
Câu hỏi sử dụng các đại từ nghi vấn
Câu hỏi sử dụng kết từ hay với ý nghĩa lựa chọn.
Câu hỏi sử dụng phụ từ nghi vấn.
Câu hỏi sử dụng các tiểu từ chuyên dụng
Dựa vào cấu tạo ngữ pháp các tác giả phân chia ra các hình thức hỏi như:
câu hỏi tổng quát, câu hỏi chứa các từ ngữ nghi vấn, câu hỏi chứa các TTTT, câu
hỏi lựa chọn. Còn theo quan niệm của ngữ dụng học, các tác giả thường chia câu
hỏi thành hai loại nhỏ là câu hỏi chính danh và câu hỏi không chính danh. Câu
hỏi chính danh là một câu hỏi yêu cầu một câu trả lời thông báo về một sự tình
hay về một tham tố nào đó của một sự tình được tiền giả định là hiện thực.Câu
hỏi không chính danh là câu hỏi không thể hiện hành vi hỏi mà để thực hiện một
số hành vi như: cầu khiến, khẳng định, phủ định, phỏng đoán, nghi ngờ...
Trong luận văn này chúng tôi sẽ trộn hai cách phân chia câu hỏi để khảo
sát các loại câu hỏi trong các giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài.

15


1.3. Khung năng lực tiếng Việt cho người nước ngoài
Thông tư 17/2015/TT-BGDĐT ban hành khung năng lực tiếng Việt dùng
cho người nước ngoài có hiệu lực ngày 16/10/2015, do Bộ Giáo dục và đào tạo
ban hành với mục đích giúp người học - người nước ngoài học tiếng Việt sẽ hiểu
và nắm được nội dung, yêu cầu đối với từng trình độ năng lực Tiếng Việt và tự
đánh giá năng lực của mình.
Khung năng lực là chuẩn đầu ra được xây dựng trên cơ sở một quan niệm
chung, một chuẩn chung về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp.. Khung năng lực được
xây dựng dựa trên sự tham khảo của khung tham chiếu châu Âu để thiết kế sao
cho cấu trúc hình thức và cấu trúc nội dụng của khung năng lực tiếng Việt tương
thích với cấu trúc của khung tham chiếu đó nhằm đảm bảo cho sự so sánh đánh
giá.
Khung năng lực tiếng Việt dùng cho người nước ngoài được dùng để làm
căn cứ thống nhất đánh giá năng lực tiếng Việt của người nước ngoài. Làm căn
cứ xây dựng chương trình, kế hoạch giảng dạy; biên soạn hoặc lựa chọn học liệu;
xây dựng tiêu chí kiểm tra, đánh giá ở từng cấp học và trình độ đào tạo.Làm căn
cứ cho giáo viên, giảng viên lựa chọn và triển khai nội dung, cách thức giảng
dạy, kiểm tra, đánh giá nhằm hỗ trợ người học đạt được các yêu cầu của chương
trình đào tạo. Giúp người học hiểu được nội dung, yêu cầu đối với từng trình độ
năng lực tiếng Việt và tự đánh giá năng lực của mình.
Việc cung cấp kiến thức ngữ pháp theo khung năng lực cho người nước
ngoài được chia làm ba trình độ ( A, B, C) 6 bậc . Ngữ liệu cung cấp kiến thức
ngữ pháp cho người học theo một chu trình từ dễ đến khó.
Bậc 1
Yêu cầu cung cấp được các cách chào hỏi, giới thiệu làm quen, hỏi thăm
sức khỏe, tên tuổi, quốc tịch, nghề nghiệp.
Cung cấp một số câu hỏi với các đại từ nghi vấn quen thuộc như : ai, gì,
nào, bao giờ, ở đâu, thế nào, như thế nào...

16


Cung cấp các loại từ cơ bản trong tiếng Việt như: cái , con , tờ, bức ,
quyển... cách kết hợp các số đếm, số thứ tự trong tiếng Việt.
Bậc 2
Trình độ cơ sở yêu cầu phải cung cấp các cấu trúc cơ bản để người học
sử dụng được các cấu trúc ngôn ngữ quen thuộc như; cách hỏi và chỉ dẫn đường
một cách đơn giản, các mẫu câu hỏi và trả lời về thời gian, thời tiết, các mùa
trong năm, các cách nói so sánh, nói về cơ thể , sức khỏe, bệnh tật, biết sử dụng
các từ ngữ cơ bản đáp ứng được nhu cầu giao tiếp cụ thể.Hiểu được những đoạn
văn bản rất ngắn và đơn giản về các chủ đề đã học như bản thân, gia đình, trường
lớp, bạn bè. tự giới thiệu bản thân và người khác; trình bày được những thông tin
về bản thân như: nơi sinh sống, người thân/bạn bè và những người khác. Có khả
năng giao tiếp đơn giản nếu người đối thoại nói chậm, rõ ràng và sẵn sàng hợp
tác giúp đỡ.
Cung cấp cho người học các câu và cấu trúc ngôn ngữ được sử dụng
thường xuyên, liên quan đến nhu cầu giao tiếp cơ bản như: thông tin về gia đình,
bản thân, đi mua hàng, hỏi đường, việc làm. Có khả năng trao đổi thông tin về
những chủ đề đơn giản, quen thuộc hằng ngày, mô tả đơn giản về bản thân, môi
trường xung quanh và những vấn đề thuộc nhu cầu thiết yếu.
Bậc 3
Cung cấp các mẫu câu hỏi và chỉ dẫn đường, hiểu biết về đặc điểm giao
thông, đường phố
Cung cấp một số mẫu câu ghép đơn giản, phương thức liên kết từ câu, các
phương thức định vị không gian, thời gian trong tiếng Việt, miêu tả tính chất
trạng thái của người và vật
Hiểu được các ý chính của một đoạn văn hay bài phát biểu chuẩn mực, rõ
ràng về những chủ đề quen thuộc trong công việc, trường học, giải trí. Có khả
năng xử lý được hầu hết các tình huống xảy ra khi đến nơi có sử dụng tiếng Việt;
viết được đoạn văn đơn giản liên quan đến những chủ đề quen thuộc hoặc cá

17


nhân mình quan tâm; mô tả được những kinh nghiệm, sự kiện, mong muốn, và
trình bày ngắn gọn được lý do, giải thích ý kiến và kế hoạch của mình.
Bậc 4
Cung cấp các phương tiện liên kết câu, các câu ghép liên hợp, các yếu tố
để danh từ hóa: nỗi , niềm, sự , việc, cuộc...và yếu tố động từ hóa. Cung cấp các
từ tình thái: à, ư , nhỉ , nhé
Hiểu được ý chính của một văn bản tương đối phức tạp về các chủ đề khác
nhau, kể cả những trao đổi có nội dung thuộc lĩnh vực chuyên môn của bản thân.
Có khả năng giao tiếp trôi chảy, tự nhiên với người Việt; viết được những văn
bản rõ ràng, chi tiết với nhiều chủ đề khác nhau và nêu được quan điểm của
mình về một vấn đề, chỉ ra được những ưu điểm, nhược điểm của các phương án
lựa chọn khác nhau.
Bậc 5
Cung cấp cho người học các loại câu ghép cơ bản ( quan hệ đẳng lập,
chính phụ) với các phương tiện liên kết câu và đoạn văn.
Cung cấp cho học viên các từ và cách thức tạo kiểu câu tình thái và câu
cảm thán.
Nắm được các thành phần câu cơ bản và các thành phần phụ, cách mở
rộng câu cơ bản
Nhận biết và hiểu được hàm ý của những văn bản dài, có phạm vi nội
dung rộng. Có khả năng diễn đạt trôi chảy, tức thì, không khó khăn khi tìm từ
ngữ diễn đạt; sử dụng ngôn ngữ linh hoạt và hiệu quả phục vụ các mục đích quan
hệ xã hội, mục đích học thuật và chuyên môn; viết rõ ràng, chặt chẽ, chi tiết về
các chủ đề phức tạp, thể hiện khả năng tổ chức văn bản, sử dụng tốt từ ngữ nối
câu và các công cụ liên kết trong văn bản.
Bậc 6
Dễ dàng hiểu hầu hết các văn bản nói và viết. Có khả năng tóm tắt được
các nguồn thông tin nói hoặc viết, sắp xếp lại và trình bày lại một cách logic;

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×