Tải bản đầy đủ

Từ ngữ nghề rèn ở đa sỹ, hà đông, hà nội

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐẶNG THỊ NGỌC LY

TỪ NGỮ NGHỀ RÈN Ở ĐA SỸ, HÀ ĐÔNG, HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐẶNG THỊ NGỌC LY

TỪ NGỮ NGHỀ RÈN Ở ĐA SỸ, HÀ ĐÔNG, HÀ NỘI

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số:


8 22 90 20

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. BÙI THỊ NGỌC ANH

HÀ NỘI, 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng ai công bố
trong bất kỳ một công trình nào khác.
Tác giả luận văn

Đặng Thị Ngọc Ly


BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT

TT

QUY ƯỚC

GIẢI THÍCH

VIẾT TẮT
Thành tố độc lập

1
2

A

Thành tố không độc lập

3
4

Yếu tố có nghĩa dùng trong ngôn ngữ toàn dân



B

Yếu tố có nghĩa dùng trong phương ngữ


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN ..................................... 9
1.1.Cơ sở lý thuyết ........................................................................................ 9
1.2. Khái quát nghề rèn ở Đa Sỹ, Hà Đông ................................................ 25
Chương 2. ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA TỪ NGỮNGHỀ RÈN ĐA SỸ,
HÀ ĐÔNG ...................................................................................................... 30
2.1. Dẫn nhập .............................................................................................. 30
2.2. Đặc điểm từ ngữ nghề rèn Đa Sỹ xét theo phạm vi ............................. 30
2.3. Đặc điểm từ ngữ nghề rèn Đa Sỹ xét theo cấu tạo............................... 32
2.4. Đặc điểm từ ngữ nghề rèn Đa Sỹ xét theo mô hình cấu tạo ................ 38
Chương 3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH CỦA TỪ NGỮNGHỀ RÈN ĐA SỸ,
HÀ ĐÔNG ...................................................................................................... 55
3.1. Dẫn nhập .............................................................................................. 55
3.2. Đặc điểm định danh của từ ngữ nghề rèn ở Đa Sỹ, Hà Đông .............. 55
KẾT LUẬN .................................................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 80
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 85


DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Biểu đồ 2.1: Các nhóm từ ngữ nghề rèn ở Đa Sỹ - Hà Đông ................. 31
Bảng 2.2. Số lượng các nhóm từ ngữ nghề rèn xét theo cấu tạo từ ........ 32
Biểu đồ 2.2: Các nhóm từ đơn nghề rèn Đa Sỹ - Hà Đông (Xem phụ lục
Bảng 2.2) ................................................................................................. 33
Biểu đồ 2.3: Nhóm các từ ghépnghề rèn Đa Sỹ - Hà Đông .................... 35
Biểu đồ 2.4: Phân loại từ ghép của từ ngữ nghề rèn Đa Sỹ .................... 36
Bảng 2.4:Nhóm các từ ngữ nghề rèn là từ ghép chính phụ .................... 36
và từ ghép đẳng lập. ................................................................................ 36
Biểu đồ 2.5:Nhóm các từ ngữ nghề rèn là từ ghép chính phụ ................ 37
Bảng 2.5: Ngữ định danh nghề rèn xét theo số lượng thành tố cấu tạo .. 46
Bảng 3.1: Biểu thức định danh dùng thành tố chung (cơ sở) ...................... 56
Bảng 3.2. Phương thức định danh phức hợp của từ ngữ nghề rèn Đa Sỹ Hà Đông .................................................................................................. 58
Bảng 3.3. Phương thức định danh tên/loại sản phẩm nghề rèn Đa Sỹ Hà Đông kết hợp với các dấu hiệu chỉ đặc điểm .................................... 59
Bảng 3.4: Mô hình định danh thành tố chỉ nguyên vật liệu kết hợp
cácdấu hiệu chỉ đặc điểm ........................................................................ 67
Bảng 3.5: Mô hình định danh thành tố chỉ quy trình sản xuất kết hợp các
dấu hiệu chỉ đặc điểm .............................................................................. 69
Bảng 3.6:Mô hình định danh thành tố chỉ công cụ hành nghềkết hợp ......... 73
các dấu hiệu chỉ đặc điểm ......................................................................... 73


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Có thể nói, từ nghề nghiệp vừa là công cụ, vừa là phương tiện giao tiếp
của người làm nghề, đồng thời từ nghề nghiệp cũng là phương tiện phản ánh văn
hóa của cư dân nơi đó. Hiện nay, do trình độ công nghiệp hóa ngày càng cao, kéo
theo cơ giới hóa nông nghiệp khiến nhiều làng nghề truyền thống đang dần bị mai
một hoặc thay đổi, điều này cũng đồng nghĩa với việc nhóm từ của các nghề truyền
thống có nguy cơ biến mất. Do đó, việc thu thập và nghiên cứu từ nghề nghiệp là
cần thiết, không những bổ sung và làm phong phú vốn từ trong hệ thống từ vựng
tiếng Việt nói chung và từ ngữ làng nghề nói riêng, mà còn góp phần làm nên bức
tranh đa dạng của ngôn ngữ văn hóa dân tộc, bởi trong một tương lai không xa, khi
máy móc thay thế con người, nhiều từ ngữ sẽ bị lãng quên đi một cách tất yếu.
1.2.Việt Nam vốn là một nước nông nghiệp, trong khi nghề rèn lại là nghề
truyền thống mang đậm dấu ấn lao động nông nghiệp. Mặc dù nghề rèn có mặt ở
nhiều vùng miền, nhưng nghề rèn ở Đa Sỹ - một làng cổ nằm bên dòng sông Nhuệ
thuộc quận Hà Đông, Hà Nội, từ lâu đã được biết đến như một làng nghề truyền
thống, nổi tiếng và có lịch sử lâu đời. Do được nhiều nơi biết đến với các vật dụng
bằng kim khí, phục vụ sản xuất nông nghiệp và các vật sản phẩm khác như: dao,
kéo, tràng, bào, đục,… nghề rèn Đa Sỹ đã mang đến nhiều sản phẩm phục vụ cho
đời sống hàng ngày của người dân. Chính vì vậy mà năm 2014, làng nghề rèn Đa
Sỹ vinh dự được Trung ương hội làng nghề truyền thống vinh danh là một trong sáu
làng nghề truyền thống tiêu biểu toàn quốc.
1.3. Cho đến nay, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về từ nghề
nghiệp; tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về từ ngữ nghề rèn ở Đa Sỹ
(Hà Đông – Hà Nội). Việc tìm hiểu từ ngữ về nghề rèn ở Đa Sỹ không những góp
phần xác lập được một hệ thống các đơn vị từ vựng liên quan đến nghề làm rèn ở
nước ta, khẳng định vị thế xứng đáng của nhóm từ ngữ này trong vốn từ ngữ toàn
1


dân, mà còn góp phần quảng bá cho ngành rèn ở Hà Đông nói riêng và nghề rèn ở
Việt Nam nói chung.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài nghiên
cứu “Từ ngữ nghề rèn ở Đa Sỹ, Hà Đông, Hà Nội” làm đề tài luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu từ nghề nghiệp trên thế giới
Các nhà nghiên cứu nước ngoài, tiêu biểu là các nhà nghiên cứu Xô viết:
L.A. Kapanađze và A.V. Superanskaja trong khi bàn đến thuật ngữ, hệ thống thuật
ngữ, các tác giả đã đề cập đến từ ngữ nghề nghiệp, đặc biệt là việc gọi tên các đối
tượng. Tuy nhiên, các tác giả chưa bàn sâu đến lớp từ của những người làm nghề ở
các phương diện định danh, ngữ nghĩa mà chỉ đề cập đến tên gọi các đối tượng một
cách khái quát.
Theo tác giả V.D. Bonđaletop - nhà ngôn ngữ học Xô viết đã phân loại các
biến thể lời nói, trong có tiếng nghề nghiệp. Theo ông, “tiếng nghề nghiệp thật sự
(đúng hơn là những hệ thống từ vựng), ví dụ như “tiếng” của người đánh cá, những
người đi săn, thợ đồ gốm, công nhân làm gỗ, người làm len, thợ đóng dày, và cả
những người làm các ngành nghề khác” [Dẫn theo 55, tr2]. Tuy nhiên, nghiên cứu
của ông mới chỉ dừng lại ở những quan niệm khái quát, nêu ra những hiện tượng
ngôn ngữ đơn lẻ của những người làm nghề, mà chưa nghiên cứu cụ thể từ ngữ
nghề nghiệp trên các phương diện cấu tạo, hay định danh, ngữ nghĩa.
IU.V.Rozdextvenxki khi đề cập đến vấn đề “giáo dục ngôn ngữ nghề
nghiệp” tuy không bàn sâu đến từ ngữ nghề nghiệp nhưng tác giả cũng đã chỉ ra lớp
từ “được cá nhân học theo loại hình công việc”. Theo ông, từ điển bách khoa là một
trong những cơ sở của giáo dục ngôn ngữ nghề nghiệp, “trong việc lựa chọn và giải
thích vốn từ vựng nghề nghiệp”[Dẫn theo 31, tr.369].
2.2. Từ ngữ nghề nghiệp ở Việt Nam
Ở Việt Nam, từ nghề nghiệp đã được nghiên cứu theo hai hướng:
2


Hướng thứ nhất: Từ nghề nghiệp được các nhà Việt ngữ học đề cập đến
trong các giáo trình ngôn ngữ học từ những năm 60, 70 của thế kỷ XX. Nguyễn
Văn Tu trong Từ vựng học tiếng Việt hiện đại [53] là một trong những nhà ngôn
ngữ học đầu tiên của Việt Nam trong khi trình bày hệ thống vốn từ tiếng Việt hiện
đại đã đề cập đến lớp từ thuộc về nhóm người làm nghề - từ nghề nghiệp. Tuy
nhiên, ông cũng mới chỉ dừng lại ở việc nêu khái quát, chưa đi sâu nghiên cứu cụ
thể vào từng nghề. Đỗ Hữu Châu trong giáo trình Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt
[10] cũng đã có những những nghiên cứu nhất định về từ nghề nghiệp nhưng tác giả
cũng chỉ mới đưa ra khái niệm làm nền tảng cho nghiên cứu. Về sau này, các tác giả
như Hoàng Thị Châu trong Phương ngữ học tiếng Việt [13] , Nguyễn Thiện
Giáptrong Từ vựng học tiếng Việt [19] , nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức
Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt [15] cũng đã
đề cập đến từ nghề nghiệp và phân biệt từ nghề nghiệp với các lớp từ khác (thuật
ngữ, tiếng lóng, từ địa phương).
Đặc điểm chung của các công trình trên là các nhà nghiên cứu xem từ ngữ
nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị công cụ, sản phẩm lao động, quá trình sản
xuất của một nghề nào đó trong xã hội. Những từ ngữ này, nếu không là người
trong nghề sẽ khó hiểu, thậm chí có những từ ngữ nghề nghiệp mà người ngoài
nghề không thể hiểu. Do tính chất của giáo trình, các tác giả mới chỉ dừng lại ở mức
độ khái quát, chưa đi sâu tìm hiểu một cách đầy đủ mối quan hệ giữa từ ngữ nghề
nghiệp với từ địa phương, thuật ngữ, tiếng lóng. Các nhà nghiên cứu cũng chưa có
điều kiện để nghiên cứu sâu từ ngữ nghề nghiệp ở phương diện cấu tạo, đặc điểm
về định danh, ngữ nghĩa từ bình diện ngôn ngữ - văn hóa.
Hướng thứ hai: Nghiên cứu từ nghề nghiệp được thể hiện trong từng nghề
cụ thể. Những năm gần đây, nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp từng nghề cụ thể trong
từng địa phương đã được nhiều tác giả quan tâm. Cụ thể là của các tác giả: Phạm
Hùng Việt: Về từ chỉ nghề gốm; Võ Chí Quế: Tên gọi các bộ phận của cái cày qua
3


một số thổ ngữ ở Thanh Hóa; Triều Nguyên: Tên gọi các bộ phận của cái cày qua
một số thổ ngữ ở Thừa Thiên Huế; Phạm Thị Tố Huyền: Đặc điểm tên gọi các công
cụ qua các thổ ngữ Quảng Bình; Lương Vĩnh An: Vốn từ chỉ nghề cá ở tỉnh Quảng
Nam và thành phố Đà Nẵng; Đoàn Nô: Ngư cụ thủ công chủ yếu và nghề cá ở Kiên
Giang…và một số luận văn của Mã Thị Nguyệt: Từ ngữ nghề rèn của người Nùng
ở Phúc Sen; Nguyễn Văn Dũng: Từ ngữ nghề nghiệp nghề biển ở Thanh Hóa (Từ
bình diện ngôn ngữ - văn hóa); Nguyễn Văn An: Từ ngữ nghề gốm Thổ Hà; ….
Các bài viết và các luận văn được công bố trên đã bước đầu nghiên cứu từ
ngữ nghề nghiệp trên các phương diện cấu tạo, định danh; khảo sát một số lượng
đáng kể từ ngữ của từng nghề; phân tích mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp với từ địa
phương, từ toàn dân, thuật ngữ. Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu đó chủ yếu là
làng nghề truyền thống của một địa phương hoặc do tính chất của công trình, một
số công trình chưa có điều kiện đi sâu phân tích về vấn đề định danh, ngữ nghĩa.
Trong số các tư liệu nghiên cứu về từ ngữ nghề nghiệp, đề tài khoa học cấp
viện của Viện Ngôn ngữ học Từ ngữ nghề nghiệp gốm sứ Bát Tràng [55] do tác giả
Nguyễn Văn Khang làm chủ nhiệm đề tài là đáng chú ý. Nhóm tác giả đã có những
nghiên cứu khá toàn diện về tiếng nghề nghiệp, khu biệt với những loại từ cùng
thuộc phương ngữ xã hội, chỉ ra mô hình cấu tạo, trường từ vựng- ngữ nghĩa, nguồn
gốc các đơn vị định danh và thống kê được 861 đơn vị từ ngữ nghề gốm Bát Tràng.
Tuy nhiên, công trình lại chưa đi sâu nghiên cứu ở phương diện định danh - một
nhân tố quan trọng cho thấy những nét văn hóa làng nghề được phản ánh vào ngôn
ngữ.
Nghiên cứu về từ nghề rèn, luận văn thạc sĩ của tác giả Mã Thị Nguyệt “Từ
ngữ nghề rèn của người Nùng ở Phúc Sen (Quảng Yên, Cao Bằng)” [41] là những
cơ sở quan trọng để chúng tôi tiếp thu, tham khảo.
Từ những kết quả của các công trình đã được trình bày, vấn đề nghiên cứu từ
ngữ nghề nghiệp nói chung, từ ngữ nghề nghiệp nghề rèn ở Đa Sỹ, Hà Đông nói
4


riêng, cho tới nay chưa có công trình nào được công bố thu thập, nghiên cứu vốn từ
này một cách đầy đủ và hệ thống trên bình diện của ngôn ngữ như đặc điểm cấu
tạovà đặc điểm định danh của từ ngữ nghề rèn ở Đa Sỹ, Hà Đông. Một số tác giả có
đề cập đến lĩnh vực từ nghề cá, nghề gốm, nghề rèn, nghề nông, nghề dệt thổ
cẩm...nhưng do tính chất của từng công trình mà các tác giả mới chỉ nghiên cứu
trong phạm vi hẹp của từng ngành nghề và từng vùng miền.
Điểm qua các công trình nghiên cứu, chúng tôi thấy việc tiến hành thực hiện
đề tài “Từ ngữ nghề rèn ở Đa Sỹ, Hà Đông, Hà Nội” làm đề tài luận văn là cần
thiết, có tính lí luận và thực tiễn nhất định.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu sự đa dạng, phong phú của hệ thống từ ngữ nghề rèn ở Đa Sỹ,
Hà Đông, Hà Nội.
- Tìm hiểu đặc điểm cấu tạo của các từ ngữ nghề rèn ở Đa Sỹ, Hà Đông.
- Tìm hiểu phương thức định danh của các từ ngữ nghề rèn ở Đa Sỹ, Hà
Đông, Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác lập những vấn đề lí thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài như: lí luận
về từ nghề nghiệp, lí thuyết về từ và cấu tạo từ, lí thuyết về định danh ngôn ngữ.
- Điều tra, thu thập, khảo sát, thống kê và phân loại các từ ngữ nghề rèn ở Đa
Sỹ, Hà Đông.
- Miêu tả, phân tích đặc điểm cấu tạo và phương thức định danh của các đơn
vị từ vựng về nghề rèn ở Đa Sỹ, Hà Đông.

5


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các từ ngữ về nghề rèn ở Đa Sỹ, Hà
Đông gồm các từ ngữ chỉ nguyên liệu, công cụ, phương thức, hoạt động sản xuất,
sản phẩmcủa nghề rèn Đa Sỹ – Hà Đông.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các từ ngữ nghề rèn ở Đa Sỹ, Hà Đông về đặc điểm cấu tạo và
đặc điểm định danh của các từ ngữ nghề rèn trong tiếng Việt.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Ngữ liệu nghiên cứu
Ngữ liệu nghiên cứu của luận văn là các từ ngữ nghề rèn ở Đa Sỹ, Hà Đông,
Hà Nội được thu thập từ các nguồn sau:
- Từ các từ điển, tài liệu, sách chuyên môn nghiên cứu, viết về nghề làm
nghề rèn ở Đa Sỹ, Hà Đông. Cụ thể là:
+Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), Nxb. Từ điển Bách khoa, 2010.
+ Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên), Nxb. Văn hóa thông tin,
1999.
+ Các tác phẩm văn học về nghề rèn ở Đa Sỹ, Hà Đông (như truyện thơ, dân
ca, câu đố, thành ngữ, tục ngữ,…).
- Phỏng vấn, ghi chép qua hỏi trực tiếp những người làm nghề rèn, các
chuyên gia về nghề rèn, và các thương gia nghề rèn ở chợ,…
5.2. Phương pháp nghiên cứu
a. Phương pháp điều tra điền dã
Để thu thập nguồn tư liệu cho đề tài, chúng tôi thực hiện điều tra, điền dã qua
các hình thức như: ghi chép, phỏng vấn trực tiếp qua các cuộc điều tra điền dã tại
Đa Sỹ, Hà Đông, Hà Nội; tìm hiểu thực tế ở những khu trưng bày và giới thiệu sản
phẩm tại làng Đa Sỹ. Đối tượng chúng tôi điều tra thường là những người trực tiếp
6


làm nghề rèn, trực tiếp làm ra các sản phẩm, những bậc cao niên có kinh nghiệm lâu
năm trong nghề rèn ở làng Đa Sỹ, Hà Đông, Hà Nội.
b. Phương pháp miêu tả
Phương pháp này được dùng để miêu tả, phân tích đặc điểm cấu tạo, ngữ
nghĩa của các từ ngữ nghề rèn, xác định các tính chất, đặc điểm được sử dụng để
định danh các từ ngữ về nghề rèn ở Đa Sỹ, Hà Đông.
c. Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp
Phương pháp này được dùng để phân tích các thành tố trong cấu trúc của các
từ ngữ nghề rèn.
d. Thủ pháp thống kê phân loại
Thủ pháp này được dùng để phân loại các từ ngữ nghề rèn đã thu thập được
về cấu tạo, đặc điểm định danh. Các từ ngữ thu thập được sẽ được tiến hành phân
loại dựa trên các tiêu chí khác nhau và sắp xếp chúng cho có hệ thống.
e. Thủ pháp mô hình hóa
Thủ pháp này được dùng để mô hình hóa các kiểu quan hệ giữa các yếu tố
trong cấu trúc của các từ ngữ nghề rèn, mô hình định danh dựa trên các dấu hiệu
đặc trưng của đối tượng được lựa chọn để định danh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lí luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng rõ những đặc điểm từ
ngữ về nghề rèn ở Đa Sỹ, Hà Đông và vai trò của lớp từ ngữ này trong hệ thống vốn
từ tiếng Việt. Lần đầu tiên hệ thống từ ngữ về nghề rèn ở Đa Sỹ, Hà Đông được
nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện, có hệ thống và sâu sắc ở hai phương diện:
Đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh; bước đầu nêu lên được những nét văn hoá
đặc sắc của người Việt được phản ánh qua hệ thống lớp từ ngữ này. Đồng thời, kết
quả nghiên cứu của luận văn góp phần vào việc nghiên cứu lớp từ nghề nghiệp
trong tiếng Việt.
7


6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn được sử dụng làm tài liệu giảng dạy về từ
nghề nghiệp, biên soạn sổ tay về nghề rèn ở Đa Sỹ, Hà Đông, biên soạn các sách
quảng bá cho nghề rèn ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của từ ngữ nghề rèn ở Đa Sỹ, Hà Đông
Chương 3: Đặc điểm định danh của từ ngữ nghề rèn ở Đa Sỹ, Hà Đông

8


Chương1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
1.1.Cơ sở lý thuyết
1.1.1. Khái niệm từ, ngữ và phương thức cấu tạo từ
1.1.1.1. Quan niệm về từ
Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ. Do xuất phát từ những cơ sở lý luận và
thực tiễn không giống nhau nên các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học có những quan
niệm chưa thống nhất về “từ”.
Theo Đỗ Hữu Châu (1981) định nghĩa:“Từ của tiếng Việt là một hoặc một
số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong
những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất
trong tiếng Việt và nhỏ nhất để cấu tạo câu” [10, tr.16].
Tác giả Nguyễn Kim Thản(1984) quan niệm:“Từ là đơn vị cơ bản của ngôn
ngữ, có thể tách ra khỏi đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và
là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp) và chức năng
ngữ pháp” [44, tr.64].
Trong khi đó, Nguyễn Thiện Giáp (1985), “từ của tiếng Việt là đơn vị nhỏ
nhất có nghĩa… Trong tiếng Việt, mỗi từ là một âm tiết” [19, tr.68].
Sở dĩ có tình trạng phức tạp và khó thống nhất ý kiến giữa các nhà nghiên
cứu trong quan niệm về từ như vậy là vì bản thân các từ rất khác nhau về nhiều
mặt.
- Về kích thước vật chất, các từ có kích thước lớn nhỏ không giống nhau.
- Về cấu trúc và tổ chức trong nội bộ từ, các kiểu loại không giống nhau.
- Về nội dung và cách thức biểu thị, giữa các từ với nhau cũng không giống
nhau.

9


- Về năng lực và chức phận khi đi vào hoạt động ngôn ngữ (như: các chức
năng ngữ pháp, đảm nhận các vai trò làm thành phầ câu, các chức năng ngữ nghĩa,
ngữ dụng,…trong quá trình tham gia tạo câu…) các từ lại càng không giống nhau.
Do có nhiều quan niệm khác nhau và cũng không đi sâu bàn luận định
nghĩa về từ, do vậy chúng tôi đồng tình với quan điểm của tác giả Nguyễn Tài
Cẩn (1998): “Từ là đơn vị nhỏ nhất có thể vận dụng độc lập ở trong câu” [9,
tr.326].
Với định nghĩa vừa nêu, từ có hai đặc điểm cần lưu ý:
+ Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa: Từ có hình thức phổ biến là một chiết
đoạn âm thanh nhỏ nhất, đồng thời có nghĩa (dùng để gọi tên các sự vật hiện
tượng, các thuộc tính, các quan hệ ... trong thực tiễn đời sống).
+ Từ được sử dụng độc lập, tự do trong lời nói dùng để tạo câu: Từ có thể
tách biệt khỏi các đơn vị khác (khác với các từ khác, cụm từ ...) và được dùng theo
các quy tắc nhất định để tạo nên câu.
Những đặc điểm trên giúp phân biệt từ với các đơn vị khác: phân biệt với
yếu tố cấu tạo nên từ (đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, nhưng không dùng trực tiếp để
đặt câu); phân biệt với cụm từ và câu (các đơn vị có nghĩa nhưng không nhỏ
nhất)... Như vậy, rõ ràng từ là một thực thể, tồn tại hiển nhiên sẵn có trong mỗi hệ
thống ngôn ngữ với những đặc điểm hình thức, cấu trúc nội tại và có thể có cách
biểu thị nội dung ý nghĩa) khác nhau, được người bản ngữ trị giác (hiện thực về
mặt tâm lý).
Ví dụ: từ của nghề rèn như: đập, búa, nắn,...
Như vậy, từ là đơn vị ngôn ngữ có tính hoàn chỉnh cả về ngữ âm và về ngữ
nghĩa. Đặc điểm trên giúp ta phân biệt từ với các đơn vị khác: phân biệt với hình
vị - yếu tố cấu tạo nên từ; phân biệt từ với cụm từ và câu là các đơn vị lớn hơn nó.
1.1.1.2. Quan niệm về ngữ

10


Cũng như từ, ngữ (còn có những tên gọi khác như cụm từ, đoản ngữ, ngữ
đoạn, từ tổ… ) là đối tượng được các nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu như:
Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Kim Thản, Diệp
Quang Ban, Lưu Vân Lăng, Cao Xuân Hạo…
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học của Nguyễn Như Ý [57,
tr176 ]: “Ngữ là sự kết hợp hai hoặc nhiều thực từ (không hoặc có cùng với các hư
từ có quan hệ với chúng gắn bó về ý nghĩa và ngữ pháp), diễn đạt một khái niệm
thống nhất, và là tên gọi phức tạp biểu thị các hiện tượng của thực tại khách
quan”.
Về cấu tạo, ngữ là một kết cấu cú pháp được tạo thành bởi hai hoặc nhiều
thực từ trên cơ sở liên hệ ngữ pháp phụ thuộc – theo quan hệ phù hợp chi phối hay
liên hợp. Trong một số ngữ có từ đóng vai trò chủ yếu về mặt ngữ nghĩa và ngữ
pháp, gọi là thành tố chính, các từ phụ thuộc vào thành tố chính gọi là các thành tố
phụ. Thành tố chính của ngữ có thể là danh từ (tao nên ngữ danh từ), động từ (tạo
nên ngữ động từ), tính từ (tạo nên ngữ tính từ).
Về chức năng và đặc điểm: Cũng giống như từ, ngữ cũng là phươngtiện
định danh, biểu thị sự vật, hiện tượng, quá trình, phẩm chất. Ý nghĩa ngữ pháp của
ngữ được tạo nên bằng quan hệ nảy sinh giữa các thực từ kết hợp lại trên cơ sở
của một kiểu liên hệ nào đó giữa chúng. Ngữ thường chia thành hai kiểu: Ngữ tự
do (cụm từ tự do) và ngữ không tự do (ngữ/cụm từ cố định).
+ Ngữ tự do/Cụm từ tự do: Bao gồm những ý nghĩa từ vựng độc lập của tất
cả các thực từ tạo thành ngữ. Mối liên hệ cú pháp của các yếu tố trong ngữ tự do là
mối liên hệ linh hoạt và có sức sản sinh.
+ Ngữ không tự do/Ngữ cố định/Cụm từ cố định: Tính độc lập về mặt từ
vựng của một hoặc cả hai thành tố bị yếu đi hoặc bị mất và ý nghĩa từ vựng của
ngữ cũng trở nên giống như ý nghĩa của một từ riêng biệt.

11


Thay vì bàn luận phân tích sâu về khái niệm ngữ, chúng tôi chọn quan niệm
của tác Nguyễn Tài Cẩn (1998) : “đoản ngữ là một tổ hợp từ tự do có ba đặc điểm:
a) Nó gồm một thành tố trung tâm và một hay một số thành tố phụ quay
quần xung quanh trung tâm đó để bổ sung thêm một số chi tiết thứ yếu về mặt ý
nghĩa:
b) Quan hệ giữa trung tâm và thành tố phụ có nhiều kiểu loại chi tiết rất
khác nhau, nhưng nói chung đều thuộc vào loại quan hệ chính phụ.
c) Toàn đoản ngữ có tổ chức phức tạp hơn, có ý nghĩa đầy đủ hơn một
mình trung tâm nhưng nó vẫn giữ được các đặc điểm ngữ pháp của trung tâm” [9,
tr.149-150].
1.1.1.3. Các phương thc phương 0].
Do quan niệm về “từ” có sự khác nhau ở các nhà ngôn ngữ học, chúng tôi
chọn quan niệm của Nguyễn Tài Cẩn về các kiểu cấu tạo từ để tiến hành khảo sát
hệ thống từ ngữnghề rèn Đa Sỹ ở Hà Đông. Theo tác giả, dựa vào số lượng tiếng,
từ tiếng Việt có từ đơn và từ ghép. Cụ thể:
1. “Từ đơn chỉ gồm một tiếng nên làm thành một đơn vị đơn giản” [9,
tr.51].
2. Từ ghép là “một đơn vị phức hợp, có tổ chức nội tại: trong từ ghép bao
giờ cũng có thể tìm ra ít nhất là hai tiếng được kết hợp với nhau theo một loại
quan hệ này hay quan hệ nọ” [9, tr.51]. Theo đó, nếu ghép hai hay nhiều tiếng lại
với nhau theo quan hệ ngữ nghĩa gọi là từ ghép nghĩa (gồm từ ghép láy nghĩa và
từ ghép phụ nghĩa); theo quan hệ ngữ âm gọi là từ láy âm; không dựa trên cơ sở
quan hệ ý nghĩa, cũng không dựa trên quan hệ ngữ âm gọi là từ ghép ngẫu hợp.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, việc xác định ranh giới giữa hai đối
tượng từ ghép và cụm từ cố định là rất khó rành mạch. Chẳng hạn như: dao cầu
thái thuốc Bắc, dao chặt thép nhíp Nga, dao làm lòng gà vịt,…là từ hay là ngữ.
Những đơn vị như trên đều có chức năng định danh, gọi tên sự vật, phân biệt sự
12


vật. Về lí thuyết, từ được xem là đơn vị có kết cấu chặt chẽ, còn ngữ (trừ thành
ngữ) thì đều có kết cấu lỏng lẻo. Tuy vậy, trong thực tế, từ và ngữ định danh kết
cấu chính - phụ đều mang tính chỉnh thể định danh về nghĩa (đều gọi tên một đối
tượng nhằm khu biệt với cá thể khác cùng loại, tạo nên nghĩa biệt loại), điều đó
làm cho việc phân biệt từ với ngữ định danh rất khó khăn. Đây là vấn đề rất phức
tạp, chúng tôi không đi sâu bàn về ranh giới đâu là từ, đâu là ngữ mà theo cách
phân loại sắp xếp thông dụng của từ điển. Nghĩa là, được xem là từ là những đơn
vị định danh (bao gồm cả cụm từ cố định có nghĩa tương đương với từ về định
danh). Những đơn vị này sẽ được chúng tôi thống kê vào bảng từ như cách làm
của các nhà ngôn ngữ xếp vào danh mục từ điển, còn những đơn vị là cụm từ tự
do có nghĩa theo dạng miêu tả thì không. Do vậy, chúng tôi xem những kiểu cấu
tạo như những ví dụ trên là ngữ.
Mặt khác, để tiện cho việc nghiên cứu và theo thói quen, chúng tôi gọi
những từ ghép láy nghĩa là từ ghép đẳng lập và từ ghép phụ nghĩa là từ ghép chính
phụ, từ láy âm là từ láy, từ ghép ngẫu hợp là từ ngẫu hợp. Như vậy, từ sẽ có bốn
loại kiểu cấu tạo: từ đơn, từ ghép (ghép đẳng lập và ghép chính phụ), từ láy và từ
ngẫu hợp.
1.1.2. Khái niệm từ ngữ nghề nghiệp
1.1.2.1. Khái niệm
Như đã biết, lao động là một trong những nhân tố quan trọng nhất giúp
“con người cá nhân” thành “con người xã hội”. Để tồn tại, phát triển và đáp ứng
nhu cầu cuộc sống, con người phải mưu sinh, lao động, tìm nghề, lựa chọn nghề
và học nghề. Đây là cơ sở xã hội để hình thành nên một lớp từ ngữ của những
người làm nghề riêng biệt phục vụ cho quá trình giao tiếp và tư duy. Lớp từ ngữ
đó cũng tạo nên dấu ấn nghề nghiệp - từ ngữ nghề nghiệp.

13


Nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp (hay tiếng nghề nghiệp, từ vựng nghề
nghiệp) nói chung, quan niệm về từ ngữ nghề nghiệp nói riêng đã được các tác giả
trong nước và nước ngoài quan tâm.
a. Quan niệm từ ngữ nghề nghiệp của các tác giả nước ngoài
L.A. Kapanađze khi bàn về những khái niệm "thuật ngữ" và "hệ thống
thuật ngữ" cũng đã đề cập đến từ ngữ nghề nghiệp và cho rằng: “Từ ngữ nghề
nghiệp thường vốn mang một số tính hình ảnh, hình tượng "so sánh" [Dẫn theo
55, tr.6].
A.V. Superanskaja khi bàn về thuật ngữ và danh pháp đã quan niệm: Tên
gọi kiểu này (tên gọi dài dòng được thừa nhận do yêu cầu tính hệ thống của việc
miêu tả khoa học - khi đi vào phạm vi từ vựng thông thường không tránh khỏi bị
rút gọn đi) "vốn sinh ra từ trong phạm vi của sự biểu đạt trong khoa học, đã biến
thành yếu tố của lời nói thông thường hoặc ngôn từ nghề nghiệp" [Dẫn theo 55,
tr.6]. Ông diễn giải thêm: “Để việc bán hàng được thuận lợi, các mặt hàng phải có
tên gọi đặc biệt của mình...nhiệm vụ chủ yếu đề ra cho các từ này là biểu đạt các
hàng hoá với tất cả các thuộc tính vật chất của nó. Nhờ điều đó mà, hoặc dù là
những sự vật muôn màu muôn vẻ (...) và dường như trong chúng lại có tính duyên
dáng, đầy tính biểu cảm" (nhất là vào những thời điểm sáng tạo ra chúng. Về sau
này, những sắc thái biểu cảm sẽ nhanh chóng mất đi, chỉ còn gắn với tính vật chất
của hàng hoá - và tuỳ thuộc vào tính vật chất ấy mà có sự đánh giá lại” [Dẫn theo
55, tr.6].
Như vậy, các nhà nghiên cứu nước ngoài khi bàn đến thuật ngữ hay danh
pháp thì cũng đã phần nào nhận ra một lớp từ ngữ do một tầng lớp người làm
nghề trong xã hội tạo ra để phục vụ cho quá trình giao tiếp và tư duy - từ ngữ nghề
nghiệp.
b. Quan niệm về từ ngữ nghề nghiệp của các nhà ngôn ngữ học trong nước

14


Cùng thuộc phạm trù phương ngữ xã hội, nhưng nếu các lớp từ khác như:
tiếng lóng, tiếng địa phương, thuật ngữ, biệt ngữ,...ít nhiều có trong các cuốn từ
điển tiếng Việt thì từ ngữ nghề nghiệp lại không thấy được định nghĩa trong các
cuốn từ điển đó. Từ ngữ nghề nghiệp chỉ được đề cập trong Từ điển giải thích
thuật ngữ ngôn ngữ học của Nguyễn Như Ý (chủ biên). Theo đây thì từ nghề
nghiệp là “các từ đặc trưng cho ngôn ngữ của các nhóm người thuộc cùng một
nghề hoặc cùng một lĩnh vực hoạt động nào đó” [57, tr.389].
Nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp, chúng ta có thể bắt gặp trong các công
trình nghiên cứu của các nhà Việt ngữ học như: Lưu Văn Lăng (1960), Nguyễn
Văn Tu (1968), Đỗ Hữu Châu (1981), Nguyễn Như Ý (1996), Nguyễn Văn
Khang (2001), Hoàng Thị Châu (2004), Nguyễn Thiện Giáp (2010),… Nhìn
chung, có hai quan điểm khác nhau.
- Quan điểm thứ nhất, chú trọng đến tính đặc trưng của từ ngữ nghề
nghiệp, nhóm tác giả Nguyễn Như Ý, Hà Quang Năng, Đỗ Việt Hùng, Đặng
Ngọc Lệ cho rằng: từ ngữ nghề nghiệp là “các từ, ngữ đặc trưng cho ngôn ngữ của
các nhóm người thuộc cùng một nghề nghiệp hoặc cùng một lĩnh vực hoạt động
nào đó” [57,tr.389]. Trên cơ sở phân biệt từ nghề nghiệp với thuật ngữ, Nguyễn
Văn Tu cho rằng: “những từ nghề nghiệp khác thuật ngữ ở chỗ được chuyên dùng
để trao đổi miệng về chuyên môn chứ không phải dùng để viết. Từ nghề nghiệp
cũng khác thuật ngữ ở chỗ chúng gợi cảm, gợi hình ảnh, có nhiều sắc thái vui
đùa” [53, tr.126].
- Quan điểm thứ hai,các nhà nghiên cứu xem từ nghề nghiệp ởphạm vi sử
dụng. Đó là các quan niệm của nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu,
Hoàng Trọng Phiến trong sách Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt [15], Đỗ Hữu
Châu trong Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt [10], Nguyễn Thiện Giáptrong Từ
vựng học tiếng Việt [22] và Nguyễn Văn Khang trong Tiếng lóng Việt Nam [34].

15


Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến xem
“Từ nghề nghiệp là lớp từ bao gồm những đơn vị từ ngữ được sử dụng phổ biến
trong phạm vi của những người cùng làm một nghề nào đó” [15, tr.223]. Theo đó,
lớp từ nghề nghiệp tập trung chủ yếu ở những nghề mà xã hội ít quen như nghề
làm giấy, làm đồ gốm, làm sơn mài, nghề đúc đồng, nghề chài lưới…Nhưng hoạt
động của các từ nghề nghiệp lại không đồng đều, có từ sử dụng hạn chế trong
phạm vi một nghề, nhưng có những từ ngữ đi vào vốn từ vựng chung, được dùng
phổ biến trong xã hội.
Theo Đỗ Hữu Châu, “từ vựng nghề nghiệp bao gồm những đơn vị từ vựng
được sử dụng để phục vụ các hoạt động sản xuất và hành nghề của các ngành sản
xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và các ngành lao động trí óc (nghề thuốc,
ngành văn thư v.v…)” [10, tr.253]. Trong nội dung khái niệm mà Đỗ Hữu Châu
đã trình bày, từ nghề nghiệp bao gồm cả những từ được dùng rộng rãi trong xã hội
như cày, bừa, cuốc, cào (nghề nông), đục, cưa, bào,… (nghề mộc) bởi đây là
những từ chỉ công cụ của nghề.
Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Từ ngữ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu
thị những công cụ, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một nghề nào đó
trong xã hội. Những từ ngữ này thường được người trong ngành nghề đó biết và
sử dụng. Những người không làm nghề ấy tuy ít nhiều cũng có thể biết những từ
nghề nghiệp nhưng ít hoặc hầu như không sử dụng chúng…” [22, tr.265].
Tác giả Nguyễn Văn Khang gọi từ nghề nghiệp là tiếng nghề nghiệp và
xem nó thuộc phương ngữ xã hội. Tác giả cho rằng: “nghề nghiệp là cơ sở để tạo
ra những hệ thống từ ngữ nghề nghiệp riêng và cùng với đó là hình thành một
phong cách ngôn ngữ có dấu ấn nghề nghiệp” [34, tr.24].
Như vậy, quan niệm về từ ngữ nghề nghiệp ở các nhà nghiên cứu trong và
ngoài nước tuy ít nhiều có những sự khác nhau, nhưng điểm chung nhất đều xem
từ ngữ nghề nghiệp là những đơn vị từ vựng biểu đạt phương tiện, công cụ, hoạt
16


động, sản phẩm…được sử dụng phổ biến trong phạm vi một ngành nghề nhất
định.
c. Quan niệm về từ ngữ nghề nghiệp được sử dụng trong luận văn
Từ ngữ nghề nghiệp là sản phẩm do những người làm nghề tạo ra, dùng để
giao tiếp trong nghề.Với nghề rèn thì tính chất nghề nghiệp thể hiện qua từ rất rõ,
do phạm vi hoạt động của nghề chỉ một làng, xã. Khả năng hoạt động của chúng
rất hạn chế, biệt lập trong phạm vi hoạt động của nghề. Lớp từ này thường chỉ
những người trong nghề hiểu và sử dụng; người ngoài nghề ít dùng hoặc khó hiểu,
ví dụ: xoi, dẻo, tôi, phát hoa,…. Đây cũng là những từ nghề nghiệp nếu xét theo
tính chất xã hội của tầng lớp người dùng, nhưng nếu xét theo phương ngữ địa lý
thì các từ này đồng thời cũng là từ địa phương, được người Đa Sỹ quen dùng.
Mức độ biệt lập hay hạn chế về phạm vi sử dụng của từ nghề nghiệp cũng
còn tùy thuộc vào mức độ phổ biến và phạm vi hoạt động của từng nghề. Với các
sản phẩm được sử dụng ở phạm vi rộng lớn như như nghề rènthì bên cạnh những
lớp từ mang đặc trưng riêng, biệt lập như đã dẫn ra ở trên thì có rất nhiều những từ
đã trở nên phổ biến trong xã hội, ví dụ: bào, bay, búa, bừa, dao, cuốc, đao,
kéo,…Với những lớp từ này, người trong nghề lẫn ngoài nghề dễ hiểu và sử dụng.
Trong tiến trình lịch sử xã hội, sự giao lưu, tiếp xúc giữa các quốc gia, vùng
miền là tất yếu. Sự giao lưu tiếp xúc ấy diễn ra trên nhiều bình diện, trong đó có
ngôn ngữ. Nhiều từ địa phương đã được sử dụng rộng rãi và trở thành vốn từ toàn
dân. Từ nghề rèn ở Đa Sỹ cũng không nằm ngoài quy luật chung đó. Mặc dù, đây
là nghề truyền thống lâu đời nhưng xã hội ngày càng phát triển, sự giao lưu giữa
các ngành nghề, tầng lớp xã hội diễn ra liên tục đòi hỏi phải có vốn từ chung phục
vụ cho nhu cầu giao tiếp. Với xu thế đó, một số lượng không nhỏ các từ ngữ nghề
rèn ở Đa Sỹ, và có thể ở vùng khác đã được “toàn dân hóa”, trở thành vốn từ toàn
dân, ví dụ: dao chặt, dao phay, dao quắm, dao bầu, dao chặt xương, dao bổ cau,

17


kéo cắt vải,…Khi vốn từ nghề nghiệp được dùng trong vốn từ toàn dân thì phạm
vi sử dụng trở nên phổ biến rộng rãi.
Như vậy, qua các quan niệm và một vài luận giải ở trên, chúng tôi nhận
thấy rằng từ ngữ nghề nghiệp có hai đặc điểm.
- Một là, từ ngữ nghề nghiệp phản ánh công cụ, hoạt động, sản
phẩm…của một nghề.
- Hai là, từ ngữ nghề nghiệp có phạm vi sử dụng hạn chế trong nghề,
trong từng địa phương.
Vấn đề đặt ra ở đây là xác định phạm vi sử dụng của từ nghề nghiệp. Từ
nào chỉ dùng trong phạm vi những người hành nghề với nhau. Rõ ràng, điều này
rất khó cho người thu thập vốn từ nghề nghiệp. Để thuận tiện cho việc nghiên cứu,
xuất phát từ phương diện nội dung phản ánh, chúng tôi đưa ra cách hiểu về từ ngữ
nghề nghiệp như sau:
1) Những đơn vị từ ngữ chỉ công cụ, phương tiện, quá trình hoạt động, sản
phẩm…được tạo ra của nghề, được sử dụng phổ biến trong phạm vi những người
cùng làm nghề nào đó. Nhiều từ ngữ đã quen thuộc với người ngoài nghề, tính
chất thông dụng, đã được toàn dân hóa và trở thành từ toàn dân.
2) Những từ ngữ mà người trong nghề dùng để chỉ những công cụ, hoạt
động, sản phẩm…của nghề nhưng người ngoài nghề cũng dùng quen thuộc trong
một vùng phương ngữ. Xét theo phương ngữ địa lí, các từ ngữ này đồng thời cũng
là từ địa phương.
3) Những từ ngữ mà người trong nghề dùng phổ biến để chỉ những công
cụ, hoạt động, sản phẩm…của nghề mà thường người ngoài nghề ít dùng hoặc
không hiểu. Lớp từ ngữ này thường có phạm vi sử dụng trong một không gian địa
lí hạn chế, gắn với từng thổ ngữ nhất định.
Từ quan niệm như vậy, vốn từ ngữ nghề rèn ở Đa Sỹ, Hà Đông mà chúng
tôi thu thập là vốn từ ngữ người dân Đa Sỹ dùng chỉ công cụ, hoạt động, sản
18


phẩm…của nghề. Dĩ nhiên, vốn từ ngữ này không phải hoàn toàn chỉ riêng người
Đa Sỹ dùng mà dân ở vùng khác cũng dùng. Thậm chí có những từ ngữ không chỉ
được dùng trong nghề rèn mà còn sử dụng trong nghề khác. Ví dụ: đục, bễ, liềm,
kéo, dao,..
1.1.2.2. Mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp với các lớp từ ngữ khác
Hệ thống từ vựng vô cùng phong phú, đa dạng xét trên các phương diện,
góc độ nhìn nhận như: phạm vi sử dụng, nguồn gốc hoặc phong cách...Trên cơ sở
đó, vị trí của từ ngữ nghề nghiệp trong từ vựng của một ngôn ngữ được xác định
không giống nhau.
Căn cứ vào phạm vi sử dụng, Nguyễn Thiện Giáp (năm 2010)đã phân chia
vốn từ vựng thành "từ vựng toàn dân và từ vựng hạn chế về mặt xã hội và lãnh
thổ” [22, tr.255]. Tác giả khẳng định: “từ ngữ nghề nghiệp cũng là lớp từ vựng
được dùng hạn chế về mặt xã hội” [22, tr.265].
Nhóm tác giả Vũ Đức Nghiệu, Mai Ngọc Chừ, Hoàng Trọng Phiến(2007)
cũng xếp từ nghề nghiệp thuộc "phương ngữ xã hội". Theo đó, “Trừ những từ ngữ
thuộc các lớp từ được sử dụng hạn chế về mặt lãnh thổ (từ địa phương) hoặc về
mặt “phương ngữ xã hội” (thuật ngữ, tiếng lóng, từ nghề nghiệp), số còn lại được
gọi là lớp từ vựng chung hoặc từ vựng toàn dân” [15, tr.226]. Cũng xếp từ nghề
nghiệp vào "phương ngữ xã hội", tác giả Nguyễn Văn Khang (2001)cho rằng:
"Còn có thể gọi là phương ngữ xã hội những trường hợp như tiếng lóng, biệt ngữ,
tiếng nghề nghiệp được sử dụng trong phạm vi hẹp ở một nhóm hay một tập đoàn
người nhất định" [34, tr.117].
Đỗ Hữu Châu (1981) trong Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việtđã phân chia lớp
từ vựng tiếng Việt thành hệ thống bao gồm: từ vựng nghề nghiệp và thuật ngữ
khoa học, biệt ngữ (bao gồm cả tiếng lóng), hệ thống từ vựng địa phương, hệ
thống Hán Việt và các từ vay mượn. Theo đó, từ nghề nghiệp được xếp cùng một
hệ thống với thuật ngữ khoa học.
19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×