Tải bản đầy đủ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH đào tạo, bồi DƯỠNG cán bộ CÔNG CHỨC cấp xã từ THỰC TIỄN HUYỆN EA KAR, TỈNH đắk lắk

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ DUNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐẮK LẮK
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8340402

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN KHẮC BÌNH

ĐẮK LẮK - 2019


LỜI CAM ĐOAN


Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận
trong luận văn chưa từng công bố trong bất cứ công trình nào.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Dung


MỤC LỤC

1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ...................................................................... 3
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu................................................................ 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................. 5
4.1. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................ 5
4.2. Khách thể nghiên cứu......................................................................... 5
4.3. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................ 5
5. Phương pháp nghiên cứu........................................................................... 6
6. Ý nghĩa của luận văn ................................................................................. 7
7. Bố cục của luận văn .................................................................................. 7
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO,
BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ ........................................... 8
1.1. Những vấn đề cơ bản về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng ....... 8
cán bộ công chức cấp xã ............................................................................... 8
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản ................................................................. 8
1.1.2. Nội dung Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
................................................................................................................. 12
1.2. Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã... 13
1.2.1. Các chủ thể tham gia thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức cấp xã ............................................................................... 13
1.2.2. Nội dung các bước thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức cấp xã ............................................................................... 14
1.2.3. Những yêu cầu cơ bản trong thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức cấp xã............................................................. 18
1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện chính sách đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã ...................................................... 19


Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI


DƯỠNG CÁN BỘ CẤP XÃ TẠI HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐẮK LẮK ..... 24
2.1. Khái quát chung ................................................................................... 24
2.1.1. Điều kiện tự nhiên ......................................................................... 24
2.1.2. Về kinh tế - xã hội.......................................................................... 25
2.1.3. Đội ngũ cán bộ, công chức ........................................................... 26
2.1.4. Chất lượng và cơ cấu đội ngũ cán bộ cơ sở của Huyện ............... 28
2.1.5. Môi trường thể chế thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ cấp xã ................................................................................................. 33
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ............... 34
2.2.1. Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng ...... 34
2.2.2. Xác định mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng .......................................... 35
2.2.3. Xây dựng nội dung, chương trình, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng.... 36
2.2.4. Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách đào tạo, bồi dưỡng . 36
2.2.5. Xây dựng cơ chế chính sách đặc thù về đãi ngộ đối với cán bộ cấp
xã được cử đi đào tạo, bồi dưỡng ........................................................... 37
2.2.6. Dự toán kinh phí cho đào tạo, bồi dưỡng ..................................... 38
2.2.7. Tuyển chọn người đi học ............................................................... 38
2.2.8. Công tác kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ cấp xã ............................................................................... 39
2.3. Kết quả thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã ......... 41
2.4. Đánh giá vai trò các chủ thể tham gia thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ cấp xã.................................................................................... 42
2.5. Đánh giá chung .................................................................................... 44
2.5.1. Ưu điểm ......................................................................................... 44
2.5.2. Hạn chế ......................................................................................... 45
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
Ở HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐẮK LẮK TRONG NHỮNG NĂM TỚI ....... 49


3.1. Phương hướng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức cấp xã ở huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk ................................................ 49
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
cấp xã của huyện Ea Kar ............................................................................. 50
3.2.1. Nâng cao nhận thức đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức cấp xã ..................................................................................... 50
3.2.2. Các giải pháp về quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức cấp xã ..................................................................................... 51
3.2.3. Các giải pháp về cơ chế, chính sách và tài chính ......................... 52
3.2.4. Hoàn thiện hệ thống các quy chế đào tạo, cơ sở vật chất đảm bảo
tính đồng bộ, thống nhất trong tổ chức và quản lý đào tạo. ................... 53
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 59
PHỤ LỤC PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN ......................................................... 63


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBCC

: Cán bộ, công chức

CBCCCX

: Cán bộ, công chức cấp xã

ĐTBD

: Đào tạo, bồi dưỡng

HĐND

: Hội đồng nhân dân

LLCT

: Lý luận chính trị

QLHCNN : Quản lý hành chính nhà nước
QLNN

: Quản lý nhà nước

UBND

: Ủy ban nhân dân

MTTQ

: Mặt trận Tổ quốc


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Biên chế cán bộ cơ sở
Bảng 2.2. Cơ cấu về trình độ chuyên môn
Bảng 2.3. Bảng tổng hợp tỷ lệ cơ cấu giới tính CBCC
Bảng 2.4. Cơ cấu về trình độ lý luận chính trị
Bảng 2.5. Cơ cấu ngạch chức danh chuyên môn
Bảng 2.6. Cơ cấu về độ tuổi
Bảng 2.7. Mức độ đánh giá về tính thiết thực của chương trình đào tạo
Bảng 2.8. Tình hình kiểm tra kết quả thực hiện công việc sau khi đào tạo của
đơn vị
Bảng 2.9. Số lượt CBCX được cử đi đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp
vụ
Bảng 2.10. Bảng phân tích chủ thể chính sách đào tạo, bồi dưỡng đối với
CBCC cấp xã


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước ta được tiến hành ở Việt
Nam từ năm 1986 tới nay đã và đang tạo nên những thay đổi lớn trong đời
sống xã hội và đặt ra những yêu cầu mới đối với hoạt động quản lý Nhà nước.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, việc xây dựng một nhà nước tinh
gọn, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của việc quản lý nền
kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa là một yêu cầu cấp bách.
Nhiệm vụ đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, phấn đấu đến năm 2020 nước
ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp là nhiệm vụ khó khăn, đòi hỏi nền
hành chính Nhà nước phải chuẩn bị những điều kiện tốt nhất, thích ứng với sự
thay đổi, đáp ứng yêu cầu của quá trình Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Để làm được điều này, việc phát triển đội ngũ CBCC đã được xác định
là một trong những trọng tâm của việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước.
Cán bộ, công chức cấp cơ sở có vai trò quan trọng, là lực lực lượng gần
dân, sát dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, nắm bắt được mọi
nguyện vọng, tâm tư của dân, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, giải quyết trực tiếp
những thắc mắc, yêu cầu về lợi ích của nhân dân. Cán bộ, công chức cấp cơ
sở đã có sự đóng góp rất lớn trong sự nghiệp cách mạng, duy trì ổn định an
ninh chính trị, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, là động lực của sự
nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Chính vì thế
đội ngũ cán bộ công chức có đủ năng lực, đạo đức, phẩm chất sẽ góp phần
thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị trước mắt cũng như lâu dài trong sự nghiệp
cách mạng của Đảng.
1


Thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cán bộ,
công chức cấp cơ sở có một vai trò rất quan trọng, bởi họ là người giữ vai trò
quyết định trong việc hiện thực hoá sự lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà
nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội ở cơ sở; là người giữ vai trò
quyết định trong việc quán triệt, tổ chức thực hiện mọi quyết định của cấp uỷ
cấp trên, cấp uỷ cùng cấp và mọi chủ trương, kế hoạch, sự chỉ đạo của chính
quyền cấp trên, cũng như mọi chương trình, kế hoạch của chính quyền xã, vì
lẽ đó, cán bộ, công chức cấp cơ sở là một trong những nhân tố có ý nghĩa
chiến lược, là nhân tố không nhỏ góp phần quyết định sự thành bại của công
cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày
18/3/2002 về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động hệ thống chính trị
cơ sở xã, phường, thị trấn”nêu lên một trong năm mục tiêu quan trọng là xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có số lượng, cơ cấu hợp lý, đủ
trình độ và năng lực thi hành công vụ, phục vụ nhân dân và phục vụ sự nghiệp
phát triển của đất nước. Như vậy Đảng và Nhà nước ta quan tâm, chú trọng
đến chính sách đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công
chức nói chung và đội ngũ cán bộ công chức cấp xã nói riêng nhằm đạt được
hiệu quả cao trong công tác quản lý nhà nước ở chính quyền và cấp cơ sở.
Tuy nhiên, do nhiều lý do chủ quan, khách quan việc thực hiện chính
sách đào tạo, bồi dưỡng chưa hiệu quả, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã còn thấp, bố trí sắp xếp và tuyển dụng cán bộ, công chức chưa khoa
học; Chưa có chính sách hỗ trợ cho cán bộ chủ chốt đi đào tạo ở tại địa
phương trong thời gian qua. Vì vậy việc thực hiện chính sách đào tạo cán bộ,
công chức cấp xã còn những bất cập cần phải sửa đổi để tìm ra những giải
pháp thực hiện mới nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và hoạt động
của hệ thống chính trị ở cơ sở.
Với mong muốn đóng góp vào quá trình đổi mới phát triển toàn diện ở
2


địa phương, xuất phát từ góc nhìn chính sách, cụ thể là chính sách đối với cán
bộ, công chức cấp cơ sở, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Thực hiện
chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Eakar,
tỉnh Đắk Lắk” để làm đề tài tốt nghiệp chuyên ngành chính sách công của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Nhà nước là nội dung quan trọng
của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay, nhất là đối với công cuộc cải
cách hành chính nhằm xây dựng một nền hành chính chính quy, hiện đại với
đội ngũ cán bộ, công chức có chất lượng cao về mặt lý luận, đây là vấn đề
ngày càng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Đã có nhiều công
trình nghiên cứu được thực hiện và đăng tải kết quả dưới dạng đề tài khoa
học, các bài báo, sách chuyên khảo, luận án, luận văn và khóa luận tốt nghiệp,
cụ thể như sau:
Luận án tiến sỹ: “Hoàn thiện việc xây dựng đội ngũ công chức hành
chính nhà nước chuyên nghiệp ở Việt Nam” [34] của tác giả Chu Xuân Khánh
(2010) tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
Tác giả Trần Thị Hạnh có nghiên cứu về “Chất lượng đội ngũ cán bộ,
công chức cấp xã từ sau Hội nghị Trung ương 5 khóa IX và một số kiến
nghị”[31] , Tạp chí cộng sản 2015
Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương (2011), Cơ sở lý luận thực tiễn
xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức [35] , Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
tiếp tục đưa ra nhiều luận cứ khoa học của việc xây dựng đội ngũ cán bộ các
cấp, các ngành ở nước ta.
Ở các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã xác định rất rõ ràng hệ
thống chính sách, luận cứ khoa học, phương pháp, cách thức để nâng cao chất
lượng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức. Nhưng, các
3


công trình nghiên cứu này mang tính vĩ mô, bao quát, rộng lớn, chưa có tính
vùng miền, địa phương cụ thể, đặc biệt là vùng Tây Nguyên.
Thứ hai, có nhiều bài viết trên các tạp chí “Quản lý nhà nước”, “ Tạp
chí Cộng sản” từng bước làm rõ hơn vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công
tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức. Ví dụ:
- TS. Nguyễn Trọng Điều (2001), Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ chính quyền cơ sở góp phần thúc đẩy công cuộc cải cách hành chính[20] ,
Tạp chí Tổ chức Nhà nước;
- Ths. Lê Công Quyền (2009), Phó hiệu trưởng Trường Chính trị tỉnh
Thanh Hóa: Nên đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo nhu cầu công
tác[33] , Tạp chí cộng sản;
- Trịnh Hồng Công (2009), Đào tạo cán bộ, công chức ở Cần Thơ[13] ,
Tạp chí Xây dựng Đảng, (số 7/2009);
Thứ ba, các luận án, luận văn và khóa luận tốt nghiệp đại học, chẳng
hạn như:
- Lê Thị Quỳnh Anh (2006), “Vai trò của quản lý nhà nước trong việc
đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức người dân tộc thiểu
số ở huyện Ea H'leo tỉnh Đắk Lắk”[1] , Khóa luận tốt nghiệp đại học.
- Lương Ban Mai (2007), “Nâng cao năng lực công chức hành chính
nhà nước Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập”[21] , Luận văn Thạc sĩ Hành
chính công, Học viện Hành chính, Hà Nội;
- Vũ Thị Hiếu (2007), “Vai trò của đào tạo, bồi dưỡng trong phát triển
nguồn nhân lực của Ủy ban nhân dân thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng[37] ,
Khóa luận tốt nghiệp đại học, Học viện Hành chính, TP. Hồ Chí Minh;
Tuy nhiên, do nghiên cứu đã lâu nên có nhiều nội dung lạc hậu, không
còn phù hợp với những vấn đề lý luận và thực tiễn mới về khoa học chính
sách công; cũng như chính sách xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở
4


nước ta trong giai đoạn mới.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận về thực hiện chính sách
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã và thực trạng thực hiện chính sách đào tạo,
bồi dưỡng công tại tại huyện Eakar, tỉnh Đắk Lắk để đề ra một số giải pháp
hoàn thiện thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã tại huyện
Eakar, tỉnh Đắk Lắk trong những năm tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xác lập những cơ sở lý luận đối với thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ cấp xã.
- Đánh giá thực trạng công tác thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ cấp xã tại huyện Eakar, tỉnh Đắk Lắk trong những năm gần đây.
- Đề xuất những giải pháp thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ cấp xã tại huyện Eakar, tỉnh Đắk Lắk trong những năm tiếp theo.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp thực hiện chính sách đào tao, bồi dưỡng cán bộ cấp xã tại
huyện Eakar, tỉnh Đắk Lắk.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Thực hiện chính sách đào tao, bồi dưỡng cán bộ cấp cơ xã tại huyện
Eakar, tỉnh Đắk Lắk.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Do đối tượng trong tên đề tài luận văn đề cập đến tất cả cán bộ cấp xã
bao gồm công chức, viên chức đang làm việc tại các cơ quan, tổ chức ở cấp
xã nên trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ không thể nghiên cứu, đề cập
đến thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cho tất cả các đối tượng trên. Do
đó trong luận văn này tác giả chỉ đề cập đến thực hiện chính sách đào tạo, bồi
5


dưỡng công chức cấp xã tại huyện Eakar, tỉnh Đắk Lắk.
Về không gian: Các xã tại huyện Eakar, tỉnh Đắk Lắk.
Về thời gian: Từ năm 2016 – 2019.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, tác giả của luận văn sử dụng các phương
pháp nghiên cứu sau đây:
* Phương pháp thống kê - phân tích
+ Thu thập tài liệu: số liệu từ các nguồn tài liệu, báo cáo đã ban hành và
trên cổng thông tin điện tử của UBND huyện Eakar, tỉnh Đắk Lắk.
+ Thu thập tài liệu sơ cấp: khảo sát, điều tra số liệu phục vụ cho nghiên
cứu luận văn
* Phương pháp tổng hợp - so sánh
- Tổng hợp số liệu trong các báo cáo liên quan đến tình hình hoạt động
của đơn vị và các biện pháp thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
cấp xã.
- Phương pháp so sánh: sử dụng so sánh để đối chiếu số liệu giữa các
kỳ và năm hoạt động của các xã, thị trấn trong huyện.
* Phương pháp điều tra xã hội học
+ Đối tượng điều tra: Bao gồm các cán bộ công chức cấp huyện; cán bộ
công chức cấp xã và một số người dân đang sống trên địa bàn huyện.
+ Nội dung: Điều tra về các tiêu chí phản ánh chất lượng đội ngũ cán
bộ cấp xã, kết hợp với thực trạng thực hiện chính sách để đánh giá thực hiện
chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã ở địa bàn khảo sát.
- Phương pháp tiếp cận hệ thống, nghiên cứu tài liệu, so sánh, đối chiếu
phương pháp thống kê.
- Phương pháp phiếu điều tra, nghiên cứu thực nghiệm hiện trường.
- Phương pháp chuyên gia và một số phương pháp bổ trợ khác được
6


dùng trong nghiên cứu.
6. Ý nghĩa của luận văn
Về lý luận: Luận văn làm rõ các khái niệm, những vấn đề lý luận cơ
bản liên quan đến thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp
xã, phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách đào
tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã.
Về thực tiễn: Dựa vào kết quả nghiên cứu thực tiễn về thực hiện chính
sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã tại huyện Eakar, tỉnh Đắk Lắk,
Luận văn nêu lên thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ cấp xã để đề xuất một số giải pháp thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã tại huyện Eakar, tỉnh Đắk Lắk. Đây là những tài
liệu kinh nghiệm thực tiễn cho các nhà tổ chức thực hiện chính sách ở các cơ
quan hành chính nhà nước, địa phương tham khảo trong việc thực hiện chính
sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã ở địa phương mình; góp phần
thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa và phát triển đất nước.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
kèm theo, nội dung chính của lận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ cấp xã
Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
cấp xã tại huyện Ea kar, tỉnh Đắk Lắk
Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã tại huyện Ea kar, tỉnh Đắk Lắk trong những
năm tới.

7


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI
DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1. Những vấn đề cơ bản về thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng
cán bộ công chức cấp xã
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
a. Khái niệm cán bộ, công chức
Khái niệm “cán bộ” (Cadres) được sử dụng khá lâu dài tại các nước Xã
hội chủ nghĩa và có một ngoại diên rất rộng bao gồm các loại nhân sự thuộc
khu vực Nhà nước và tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Thực tiễn
cho thấy ngay cả những quy định về kỷ luật cán bộ, công chức cũng khó thực
thi bởi sự mơ hồ và gây lẫn lộn trong khái niệm này
Cán bộ chính là công dân của Việt Nam, được bầu cử và phê chuẩn, bổ
nhiệm giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt
Nam, các tổ chức chính trị - xã hội cấp Trung ương, cấp tỉnh, thành phố. Thị
xã, quận, huyện, làm việc trong biên chế nhà nước và hưởng lương từ ngân
sách Nhà nước.
Cán bộ là người “bắc cầu” đem quan điểm, đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước đến với quần chúng nhân dân, tổ chức lãnh
đạo họ thực hiện; cán bộ là người đem ”lý thuyết” để cho người dân hiện thực
hóa. Cùng với vai trò ”bắc cầu” cán bộ còn là người nắm bắt tình hình, tâm
tư, tình cảm, nguyện vọng của nhân dân phản ảnh cho Đảng, Nhà nước để kịp
thời điều chỉnh, sửa đổi, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách sát hợp với
thực tiễn phong trào, bảo đảm cho Đảng gần dân, dân tin Đảng.
Như vậy, có thể hiểu thuật ngữ “cán bộ” dùng để chỉ những người giữ
chức danh bầu cử, bổ nhiệm, điều động để làm việc trong các tổ chức chính
8


trị - xã hội, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, chịu sự điều chỉnh của
Luật cán bộ, công chức.
Theo Nghị định 06/2010/NĐ-CP, ngày 25/01/2010 của Chính phủ về
quy định những người là công chức “được tuyển dụng bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh trong biên chế giữ một công vụ thường xuyên, hoặc
nhiệm vụ thường xuyên trong các cơ quan hành chính nhà nước ở cấp tỉnh,
cấp huyện; Trong các cơ quan, đơn vị QĐND (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ
quan, quân nhân chuyên nghiệp như chuyên viên vi tính, kế toán...); Trong
các cơ quan, đơn vị công an nhân dân (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan
chuyên nghiệp); Trong các cơ quan Đảng; Văn phòng Chủ tịch nước, Văn
phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước; Trong các bộ và cơ quan ngang bộ;
TAND các cấp (Phó chánh án TAND tối cao; chánh án, phó chánh án các tòa
chuyên trách, thẩm phán); Viện KSND; tổ chức CT-XH (Mặt trận Tổ quốc
VN, Tổng liên đoàn Lao động VN, Hội Nông dân, Đoàn thanh niên...); Trong
bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập...”
b. Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã
Tại khoản 3, Điều 4, Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Cán
bộ xã, , thị trấn (sau đây gọi chung là cán bộ cấp xã), là công dân Việt Nam,
được bầu giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân,
Uỷ ban nhân dân, Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ, người đứng đầu tổ chức chính
trị - xã hội”[38,Điều 4].
“Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một
chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân xã, trong biên chế
và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[38,Điều 4].
c. Khái niệm đào tạo cán bộ, công chức cấp xã
Nhận thức được tầm quan trọng của đào tạo CBCC cấp xã, Đảng ta đã
chủ trương: “Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng CBCC với chương trình, nội dung
9


sát hợp; chú trọng đội ngũ cán bộ xã, phường...Có chương trình, kế hoạch
đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng thường xuyên cán bộ công chức nhà nước”
[8, tr.217-218,339]. Đảng ta coi việc đào tạo CBCC cấp xã là việc làm thường
xuyên, cần được ưu tiên trong sự nghiệp đổi mới theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đào tạo là quá trình truyền thụ những kiến thức mới nhằm làm cho đối
tượng nhận thức, nhận thức được những kiến thức, kỹ năng cần thiết một cách
có hệ thống, nâng cao trình độ hơn trước khi đào tạo, giúp họ làm việc một
cách hiệu quả và năng suất, góp phần hoàn thiện nhân cách cá nhân.
Hiện nay, chất lượng CBCC cấp xã còn nhiều yếu kém; cần phải chú
trọng công tác đào tạo để nâng cao trình độ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao
của công việc. Nội dung của đào tạo CBCC cấp xã gồm: đào tạo về lý luận
chính trị; đào tạo về quản lý nhà nước; kiến thức pháp luật, chuyên môn
nghiệp vụ, kỹ năng làm việc; ngoại ngữ, tin học và các kiến thức bổ trợ khác.
Trung ương và địa phương đã chỉ đạo, lãnh đạo thống nhất về công tác
đào tạo CBCC cấp xã hiện nay. Nguồn kinh phí để đào tạo CBCC cấp xã lấy
từ ngân sách nhà nước và các nguồn kinh phí khác. Ngoài những quy định
chung về đào tạo CBCC của cơ quan có thẩm quyền, CBCC cấp xã còn chủ
động tự đào tạo theo nhu cầu cá nhân.
Mục tiêu chung của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là trang bị
kiến thức về chuyên môn, lý luận chính trị, về kỹ năng quản lý nhà nước,
ngoại ngữ, tin học; kiến thức về hội nhập kinh tế quốc tế cho đội ngũ cán bộ,
công chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác.
d. Tiêu chuẩn chức danh cán bộ, công chức cấp xã
Một là, phẩm chất chính trị, đạo đức:
Trong tình hình hiện nay, phẩm chất chính trị của CBCC cấp xã chính là sự
hiểu biết sâu sắc Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định
10


mục tiêu do Đảng đề ra dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh,
có niềm tin vào sự nghiệp đổi mới đất nước, có bản lĩnh chính trị, nhạy bén,
không hoang mang dao động về chính trị tư tưởng luôn nêu cao cảnh giác, có
thái độ đúng đắn trước những diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế - xã
hội, phân biệt rõ đối tượng, đối tác. Nếu không có tầm nhìn xa, rộng, chỉ thấy
lợi trước mắt, cục bộ địa phương mà quên đi lợi ích của nhân dân, lợi ích dân
tộc, lợi ích giai cấp thì đó là nguy cơ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Bản lĩnh chính trị của CBCC sẽ góp phần tạo nên
sức mạnh của uy tín, sự thống nhất ý chí, hành động của Đảng, bảo đảm cho
Đảng vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa cách mạng đến thắng lợi. Lịch
sử cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giành chính quyền và xây dựng, bảo
vệ Tổ quốc cho thấy, khi nào Đảng thể hiện được bản lĩnh chính trị vững
vàng, độc lập, sáng tạo thì cách mạng phát triển thuận lợi, giành được những
thắng lợi to lớn. Để xứng đáng với vai trò đó, vấn đề hàng đầu trong việc đổi
mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng
hiện nay là “Nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của Đảng”.
Đạo đức cách mạng là cái gốc của người CBCC. Đó là lòng trung thành
với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, luôn kiên định sự nghiệp cách mạng
của Đảng, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ thành công Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa. Do đó trong khi coi trọng hàng đầu phẩm chất chính
trị đồng thời coi trọng trau dồi, củng cố và phát triển đạo đức cách mạng.
Phấn đấu, tu dưỡng theo đạo đức mới, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí
công vô tư, có ý thức tổ chức kỷ luật, giữ gìn sự đoàn kết, có lối sống giản dị
trong sạch, không xa hoa lãng phí, thực dụng chủ nghĩa....Trước diễn biến
phức tạp của đời sống xã hội, trong nước và quốc tế, đạo đức cách mạng của
người CBCC cấp xã phải gắn liền với hành động cụ thể. Đó là phải đấu tranh
không khoan nhượng với chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa thực
11


dụng, với tham nhũng và các tệ nạn xã hội.
Hai là, năng lực chuyên môn:
Năng lực chuyên môn được thể hiện trong việc quản lý nhân sự, quản
lý công nghệ thông tin, tư vấn pháp lý cũng như trong quan hệ với quần
chúng, trong quản lý và phân công lao động. Năng lực chuyên môn được thể
hiện cụ thể ở các tiêu chí như: trình độ văn hóa và chuyên môn nghiệp vụ,
kinh nghiệm làm việc: được đánh giá thông qua chỉ tiêu thâm niên công tác
và các vị trí đã từng đảm nhận, khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Để góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với vị
trí việc làm của CBCC cấp xã, đòi hỏi đội ngũ CBCC cấp xã phải được đào
tạo, bồi dưỡng thường xuyên. CBCC cấp xã phải nhanh chóng tiếp cận khoa
học và công nghệ, kiến thức về kinh tế thị trường, về quản lý nhà nước, về
pháp luật, ngoại ngữ và tin học...để phục vụ tốt cho công việc.
Ba là, năng lực tổ chức:
Năng lực tổ chức bao gồm khả năng phối kết hợp các yếu tố cần thiết,
biết điều phối tổ chức làm việc trong mối quan hệ con người, đồng nghiệp để
dự đoán, lập kế hoạch, phối hợp và giải quyết các công việc một cách hiệu
quả, đạt được mục tiêu của tổ chức; có khả năng hoạch định các chương
trình, kế hoạch hành động do UBND huyện giao cho.
1.1.2. Nội dung Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
cấp xã
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức các cấp có đủ trình độ, năng lực thực hiện nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu cải
cách hành chính, phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, hội nhập quốc tế.
Đối với mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng là những kết quả cần đạt được
12


thông qua chương trình đào tạo. Các mục tiêu phải nêu một cách rõ ràng và
chính xác. Điều này có nghĩa là mục tiêu chung của một chương trình đào tạo
phải nêu được cả kết quả thực hiện công việc và các tiêu chuẩn thực hiện.
Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng của CBCC cấp xã góp phần xây dựng đội
ngũ CBCC cấp xã chuyên nghiệp, có đủ trình độ, năng lực chuyên môn, vững
vàng về chính trị, để phát triển hệ thống chính trị, nhà nước pháp quyền
XHCN tiên tiến, hiện đại.
Giải pháp đào tạo CBCC cấp xã chính là các hình thức đào tạo.
Hình thức đào tạo là cách thức tổ chức một khóa học. Các khóa đào tạo
bồi dưỡng CBCC cấp xã thường được tổ chức dưới các hình thức sau:
- Đào tạo bồi dưỡng theo hình thức tập trung hoặc bán tập trung;
- Đào tạo bồi dưỡng dài hạn;
- Các khóa bồi dưỡng ngắn hạn.

Mỗi hình thức đào tạo bồi dưỡng trên đều có những ưu và nhược điểm
nhất định. Tùy theo điều kiện của từng người, học viên sẽ chọn loại hình
ĐTBD thích hợp, giúp họ vừa có thể dễ dàng tham gia học tập tốt, vừa có thể
hoàn thành công việc tại đơn vị.
1.2. Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp

1.2.1. Các chủ thể tham gia thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức cấp xã
Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là tập hợp các quyết
định có tính gắn kết nhằm lựa chọn các mục tiêu và giải pháp thực hiện để
giải quyết những vấn đề theo mục tiêu đã xác định. Do đó, chủ thể tham gia
thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức bao gồm:
Chủ thể trực tiếp thực hiện chính sách: Là các cơ quan, đơn vị, tổ chức
có trách nhiệm thực hiện nội dung của chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
13


công chức. Ngoài ra, còn bao gồm cả đội ngũ cán bộ, công chức là những đối
tượng thụ hưởng trực tiếp của chính sách đào tạo, bồi dưỡng. Nói cách khác,
chủ thể trực tiếp thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là
các cơ quan, đơn vị, tổ chức có chức năng quản lý nhà nước về cán bộ, công
chức như Bộ nội vụ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở nội vụ, Uỷ ban nhân
huyện…
Chủ thể gián tiếp thực hiện chính sách: Là các cơ quan, đơn vị, tổ chức
có trách nhiệm phối hợp trong tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức. Cụ thể, trong thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ công chức có sự phối hợp của các cơ quan liên quan như Bộ Tài
chính, Sở Tài chính, Phòng tài chính, Bộ giáo dục và đào tạo, Sở giáo dục và
đào tạo, ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã…và các bộ ngành có liên quan.
Để đưa chính sách trên vào cuộc sống cần có sự phối kết hợp một cách chặt
chẽ, nhịp nhàng của nhiều chủ thể mang tính liên ngành. Vì vậy, để đảm bảo
chính sách có tính khả thi cao và đạt được các mục tiêu chính sách cần phải
có sự phối hợp, phân công thực hiện của các cơ quan, đơn vị liên quan.
1.2.2. Nội dung các bước thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức cấp xã
a. Lên kế hoạch triển khai thực hiện chính sách
Khi xác định được nhu cầu đào tạo, đối tượng đào tạo, Sở Nội vụ cần
xây dựng chương trình đào tạo phù hợp cho CBCC cấp xã nhằm bổ sung kiến
thức, nâng cao trình độ, tránh trùng lặp.
Xây dựng chương trình đào tạo là việc xác định một cách hệ thống các
môn học, các chuyên môn nào cần được đào tạo; các kĩ năng, kiến thức nào
cần được dạy, cùng với đó là xác định thời gian, địa điểm đào tạo. Nội dung
chương trình đào tạo và hệ thống giáo trình, bài giảng được xác định và xây
dựng trên cơ sở yêu cầu tiêu chuẩn chức danh và ngạch CBCC cấp xã.
14


b. Phổ biến, tuyên truyền chính sách
Nhằm triển khai thực hiện chính sách theo kế hoạch, công tác phổ biến,
tuyên truyển chính sách đào tạo, bồi dưỡng có ý nghĩa vai trò rất quan trọng
với cơ quan quản lý nhà nước và đối tượng thực hiện chính sách. Làm tốt
công tác phổ biến, tuyên truyền sẽ giúp cho cán bộ, công chức là những đối
tượng thụ hưởng chính sách hiểu rõ mục đích, yêu cầu, tính khả thi, tính đúng
đắn của chính sách đào tạo, bồi dưỡng trong giai đoạn thực hiện chương trình
cải cách hành chính hiện nay để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu của chính
sách đã ban hành. Trên cơ sở đó có sự lựa chọn các kỹ năng, biện pháp phổ
biến, tuyên truyền cho phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương, đơn vị.
c. Phân công, phối hợp thực hiện chính sách
Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có tác động rất lớn, hướng tới
nhiều tập thể và cá nhân tham gia thực hiện bao gồm cơ quan thực hiện chính
sách và đối tượng thụ hưởng chính sách đào tạo, bồi dưỡng. Thông thường
công tác phân công, phối hợp thực hiện chính sách diễn ra với sự tham gia của
các cơ quan như Nội vụ, Tài chính, Kế hoạch và đầu tư, Đài truyền thanh,
truyền hình…Trong hoạt động này cần lưu ý tới đặc điểm, thế mạnh của từng
cá nhân, cơ quan, đơn vị trong phối hợp thực hiện chính sách tránh tình trạng
chồng chéo, trùng lắp, không rõ trách nhiệm hoặc không đủ năng lực thực
hiện chính sách. Thực tiễn chứng minh rằng hiệu quả, kết quả thực hiện phụ
thuộc phần lớn vào khả năng, năng lực thực hiện phối hợp giữa các bên thực
hiện.
d. Duy trì chính sách
Việc duy trì chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức có ý
nghĩa hết sức quan trọng đảm bảo chính sách này tồn tại và bền vững. Để có
thể duy trì thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo
mục tiêu đề ra cần phải thường xuyên kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện,
15


đánh giá và đề xuất các giải pháp thực hiện tốt việc duy trì chính sách. Bên
cạnh đó, phải quan tâm đến đánh giá thực hiện chính sách để các đối tượng
thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng biết được những ưu điểm và nhược
điểm trong quá trình thực hiện, để từ đó nhận thức đúng trách nhiệm, quyền
lợi, lợi ích và nghĩa vụ của mình trong thực hiện chính sách.
Phải đảm bảo kế hoạch về thời gian, qui trình thực hiện.
Trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng các cơ quan, tổ
chức và cá nhân cần có những đề xuất, tham mưu các giải pháp nhằm duy trì
chính sách trong điều kiện thực tế.
e. Điều chỉnh các giải pháp thực hiện chính sách
Điều chỉnh các giải pháp thực hiện chính sách là hoạt động cần thiết
trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức cấp xã bởi môi trường thực hiện chính sách luôn luôn thay đổi so với
môi trường trước khi ban hành chính sách. Theo quy định, cơ quan, tổ chức
nào ban hành chính sách đào tạo, bồi dưỡng thì cơ quan, tổ chức đó được
quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách. Tuy nhiên, trên thực tế việc điều chỉnh
các biện pháp chính sách lại rất linh hoạt, các cơ quan các cấp, các ngành có
thể chủ động đưa ra các biện pháp để thực hiện có hiệu quả chính sách miễn
là không được làm thay đổi mục tiêu chính sách. Bởi vì chỉ có thể điều chỉnh
và bổ sung biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu chứ không được làm thay đổi
mục tiêu, nếu điều chỉnh mục tiêu thì chính sách coi như bị thất bại. Hoạt
động điều chỉnh chính sách đòi hỏi chính xác và hợp lý nếu không sẽ làm
chệch hướng mục tiêu chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đã đề
ra. Từ yêu cầu trên, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện chính sách
đào tạo, bồi dưỡng phải có năng lực, kiến thức và kỹ năng tốt để có thể đề
xuất các biện pháp phát hiện, điều chỉnh chính sách một cách hợp lý, bảo đảm
mục tiêu của chính sách.
16


f. Đôn đốc, kiểm tra, theo dõi thực hiện chính sách
Việc đôn đốc, theo dõi thực hiện chính sách là hoạt động của cơ quan,
đơn vị, cán bộ, công chức có thẩm quyền theo quy định, đảm bảo trong quá
trình thực hiện như quy định, quy chế, nội quy…nhằm làm cho các chủ thể
thực hiện chính sách nêu cao trách nhiệm, tinh thần, ý thức trong quá trình
thực hiện các biện pháp theo định hướng chính sách. Thực tế cho thấy trong
quá trình tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng không phải cá nhân,
cơ quan, đơn vị nào cũng làm tốt, làm đúng vì vậy cần phải có hoạt động theo
dõi, đôn đốc để vừa thúc đẩy các chủ thể nỗ lực hơn nữa trong thực hiện
chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, vừa phòng ngừa, ngăn chặn,
đẩy lùi những hành vi có nguy cơ vi phạm quy định, nội quy, quy chế trong
quá trình thực hiện chính sách. Từ đó có thể đề xuất các giải pháp nhằm chấn
chỉnh việc thực hiện chính sách góp phần hoàn thiện, nâng cao hiệu quả của
chính sách đào tạo, bồi dưỡng. Để đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện
chính sách, cán bộ, công chức cần phải am hiểu mục tiêu của chính sách, đối
tượng thụ hưởng của chính sách và các nội qui, quy định, giải pháp thực hiện
chính sách. Phải nắm chắc, chính xác các nội dung, quy định trong kế hoạch
thực hiện chính sách. Để từ đó phân tích, xử lý có hiệu quả chính xác thông
tin , tránh những thiếu sót, sai lệch trong công tác lập kế hoạch tổ chức thực
hiện chính sách. Kịp thời kiểm tra, đôn đốc bổ sung, hoàn thiện chính sách,
giúp nâng cao hiệu quả, hiệu lực của chính sách.
g. Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách
Kết quả đánh giá sẽ là thước đo xem xét mục tiêu thực hiện chính sách
đào tạo, bồi dưỡng đang đạt được ở mức độ nào để có những điều chỉnh cho
hợp lý. Việc so sánh những kết quả đạt được chính là đánh giá với mục tiêu
đề ra từ trước. Với ý nghĩa đó, đánh giá được xem là quá trình để xác định kết
quả, hiệu quả của khóa đào tạo, bồi dưỡng.
17


1.2.3. Những yêu cầu cơ bản trong thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
a. Yêu cầu thực hiện mục tiêu
Khi chính sách ĐTBD CBCC được ban hành, yêu cầu quan trọng nhất
và xuyên suốt trong quá trình thực hiện chính sách là thực hiện đúng mục
tiêu. Đạt được mục tiêu chính sách nghĩa là vấn đề chính sách được giải
quyết. Mục tiêu chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức có ý nghĩa
quan trọng, giúp chính sách đi theo đúng chủ trương của nhà nước, nếu mục
tiêu không thực hiện được thì coi như chính sách không đạt được.
b. Yêu cầu bảo đảm tính hệ thống
Nội dung của tính hệ thống trong thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau: Hệ thống
trong tổ chức bộ máy thực hiện chính sách, hệ thống trong điều hành, phối
hợp thực hiện hệ thống mục tiêu và biện pháp của chính sách, hệ thống này
được quy định theo các văn bản, chủ trương, chính sách của Nhà nước, bắt
buộc mọi CBCC thực hiện chính sách phải tuân thủ.
c. Yêu cầu bảo đảm tính khoa học và pháp lý trong thực hiện chính
sách
Yêu cầu quan trọng này buộc các cơ quan tổ chức, đơn vị có trách
nhiệm tổ chức thực hiện phải đảm bảo tính khoa học và pháp lý một cách hợp
lý trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Tính pháp lý được thể hiện
thông qua việc chấp hành các quy định về thực hiện chính sách để đảm bảo
tính thống nhất, khoa học trong chấp hành chính sách. Ngoài ra, yêu cầu này
còn đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức phải đủ trình độ, năng lực tổ chức thực
hiện chính sách, hệ thống bộ máy cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý chính sách
phải gọn nhẹ. Trong thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức tính khoa học đòi phải phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ, giữa các bộ phận.
18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×