Tải bản đầy đủ

SKKN giúp học sinh học tốt chương quang học vật lý 7

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong thời đại khoa học công nghệ ngày nay, lượng tri thức mà học sinh phải
tiếp nhận khi ngồi trên ghế nhà trường tăng lên rất nhiều. Từ đó đòi hỏi học sinh
phải tiếp thu kiến thức một cách tích cực và sáng tạo, có như vậy mới đáp ứng
được yêu cầu của nền giáo dục trong thời đại mới. Chương trình Vật lí ở trường
THCS thì môn Vật lí ở lớp 7 là một môn học tự nhiên với nhiều hiện tượng, khái
niệm, định luật khó hiểu và cũng dễ gây nhàm chán đối với học sinh, từ đó dẫn đến
học sinh không hứng thú học tập môn khoa học tự nhiên này. Mục tiêu của môn vật
lí ở trường THCS là giúp học sinh nắm vững kiến thức vật lí để bước đầu hình
thành những kiến thức phổ thông cơ bản, giúp học sinh có thói quen làm việc khoa
học, đồng thời góp phần hình thành năng lực nhận thức, phẩm chất nhân cách theo
đúng mục tiêu giáo dục. Bên cạnh đó, môn vật lí học còn có mối quan hệ gắn bó
chặt chẽ và tác động qua lại với các môn học khác như: Toán học, sinh học, địa lí,
công nghệ …
Thực trạng của học sinh hiện nay là ý thức học tập của một số em chưa cao
còn lơ là trong việc học tập và kĩ năng giải bài tập còn hạn chế dẫn đến học lực của
các em trong một lớp học không đồng đều, học sinh có học lực yếu, kém còn
chiếm tỉ lệ cao trong một lớp. Mặt khác do địa bàn nông thôn, hoàn cảnh kinh tế
khó khăn nên các bậc phụ huynh chủ yếu làm kinh tế gia đình hay làm kinh tế xa,
việc cải cách sách giáo khoa so với trước đây nhiều phụ huynh muốn hướng dẫn
cho con cũng không giúp được…, nên việc học tập của các em ít được các bậc phụ

huynh quan tâm đúng mức để động viên giúp đỡ kịp thời.
Thực tế phần quang học mặc dù chiếm một phần nhỏ trong chương trình vật
lý 7, nhưng đây là kiến thức hoàn toàn mới nên các em thường lúng túng khi tìm
hiểu các kiến thức liên quan đến chương này và vận dụng các kiến thức đó để làm
bài tập. Từ những lý do trên, để giúp học sinh lớp 7 có một phương pháp học
chương quang học một cách hiệu quả, nên tôi đã chọn đề tài: “Giúp học sinh học
tốt chương quang học vật lý 7”
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn vật lý, giúp học sinh yêu thích
và học tập tốt môn học. Qua đó bồi dưỡng cho học sinh năng lực tự học, phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức để
giải bài tập, vận dụng kiến thức vào thực tế, đem lại niềm vui, hứng thú học tập
cho học sinh.
III. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
- Phạm vi nghiên cứu: chương I: Quang học 7.
- Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 7 trường THCS Võ Duy Linh.

1


IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
- Khái quát nội dung kiến thức trong chương.
- Một số cách hướng dẫn học sinh rèn luyện các kỹ năng nhằm học tốt chương
quang học.
- Để học tốt chương quang học học sinh phải làm gì?
- Hướng dẫn giải một số dạng bài tập cơ bản để giúp học sinh củng cố và khắc
sâu kiến thức.
V. TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU:
THỜI GIAN

NỘI DUNG CÔNG VIỆC

08/2014

Chọn đề tài

09/2014

Lập kế hoạch


10/2014

Tìm và đọc tài liệu tham khảo

11/2014

Xây dựng đề cương

12/2014

Thực hiện viết đề tài

01/2015

Hoàn tất và nộp đề tài

2


3


CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Cấu tạo chương trình đòi hỏi hoạt động của người dạy cũng như người học
phải có sự đổi mới cho phù hợp và đạt hiệu quả cao. Cụ thể là: Thay cho phương
pháp dạy học thụ động như trước đây là phương pháp dạy học tích cực. Trong đó
thầy chỉ giữ vai trò là người tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động lĩnh hội tri
thức và kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động của các em. Còn học sinh với vai trò
là chủ thể của hoạt động lĩnh hội. Các em hoàn toàn chủ động, tích cực trong việc
tự nghiên cứu, thảo luận, phát hiện kiến thức và thể hiện, đồng thời tự kiểm tra kết
quả hoạt động của mình trên cơ sở hướng dẫn của giáo viên.
Muốn làm tốt được điều đó, trong mỗi giờ học, giáo viên cùng học sinh phải
thực hiện hài hoà các khâu, các bước; đặc biệt là để tổ chức cho học sinh lĩnh hội
tri thức một cách có hiệu quả, người giáo viên phải sử dụng linh hoạt và phù hợp
các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học.
Giúp học sinh học tốt môn vật lý là một vấn đề rất cần thiết, nếu xem nhẹ
vấn đề này dễ dẫn đến kiến thức bị hỏng, từ đó làm cho học sinh chán học. Thông
qua việc khai thác và mở rông các kiến thức về quang học qiáo viên sẽ giúp học
sinh nắm vững phương pháp, hiểu thêm về ứng dụng của chương trong thực tế.
CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
I. ĐẶC ĐIỂM CHUNG
Trong chương trình Vật lý có những bài liên hệ từ thực tế rất nhiều. Nếu chỉ
dạy suôn theo SGK học sinh cảm thấy rất nhàm chán, đòi hỏi người thầy phải linh
hoạt vận dụng phương pháp dạy học sao cho làm sáng tỏ vấn đề, khám phá những
tri thức mới có liên quan, tạo sự tích cực trong học sinh, tiết học trở nên hứng thú
hơn.
Thực tế kết quả các tiết dạy chỉ khoảng 50% học sinh là hứng thú học tập và
khoảng 30% là học sinh có khả năng thực hành tốt vào thực tế, số học sinh còn lại
chưa có ý thức học tập dẫn đến kết quả học tập môn vật lí khối lớp 7 còn rất thấp.
Nhiều em học sinh chưa tự giác học tập, chưa có động cơ học tập nên học không
tốt. Các em học yếu thường không có sự cố gắng, trong giờ học thường thiếu sự
tập trung, không chú ý, hay tìm cách vắng học vào những giờ tăng tiết, có thái độ
rất thụ động và thờ ơ với việc học tập.
Bài tập giao về nhà các em chỉ làm đối phó. Tệ hơn có em còn chép nguyên văn
trong sách giải hay của bạn bè mà không hiểu gì, thậm chí có những học sinh cá
biệt không bao giờ làm bài tập ở nhà, thái độ thiếu hợp tác trong giờ học, không
mang sách vở đầy đủ, có khi còn không chịu ghi bài.

4


II. THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN
1. Thuận lợi:
- Được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp và sự hỗ trợ, hướng dẫn của các bộ
phận chuyên môn trong nhà trường.
- Cơ sở vật chất của nhà trường được trang bị tương đối đầy đủ, phòng học
thoáng mát.
- Học sinh chấp hành tốt nội quy của trường, lớp, kính trọng thầy cô, giúp đỡ
bạn bè khi gặp khó khăn.
- Đồ dùng dạy học khá đầy đủ.
2. Khó khăn:
- Là địa bàn nông thôn, đời sống kinh tế khó khăn nên các bậc phụ huynh chủ
yếu làm kinh tế gia đình hay làm ăn xa, các em ở nhà với anh, chị hoặc ông, bà nên
việc quản lý học tập của các em còn hạn chế, các em phải phu giúp công việc trong
gia đình.
- Chưa được sự quan tâm hỗ trợ đúng mức của các bậc phụ huynh nên ý thức
học tập của học sinh còn chưa cao, cơ sở vật chất còn thiếu thốn chưa đáp ứng
được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học mới.
- Đa số Giáo viên có nhà ở xa, khó khăn trong việc đi lại.
- Do tâm lý lứa tuổi nên nhiều học sinh rất năng động trong các hoạt động
nhưng chủ yếu tập trung ở học sinh khá giỏi. Bên cạnh đó, nhiều em còn ỷ lại, thụ
động, chờ kết quả của bạn đưa ra; dạng này tập trung vào học sinh trung bình yếu.
- Học sinh mất kiến thức cơ bản thụ động.
CHƯƠNG III: CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Môn Vật lý ở trường THCS cung cấp cho học sinh một khối lượng kiến thức ở
mức độ cơ sở làm nền tảng cho học sinh có khả năng tiếp cận với những kiến thức
sâu hơn, cao hơn ở trường THPT và các lĩnh vực khác. Nhiệm vụ vủa môn vật lí 7
là bước đầu hình thành cho học sinh những kiến thức cơ bản về các lĩnh vực như:
quang học, âm học, Điện học nghiêng về mặt định tính, là giai đoạn cung cấp cho
các em có những kiến thức cơ bản về giải thích các hiện tượng vật lý xảy ra trong
cuộc sống hàng ngày mà các em thấy được, đây cũng là những kiến thức cơ bản để
giúp cho các em tìm hiểu sâu hơn, rộng hơn ở chương trình Vật lý lớp 9 sau này.
Để đạt được các yêu cầu này trước hết cần nói đến sự chuẩn bị của giáo viên và
học sinh, điều này ảnh hưởng đến sự thành công của từng tiết dạy và hệ thống kiến
thức cả chương.
 Đối với giáo viên:
- Chuẩn bị tốt nội dung bài giảng từng bài, hệ thống, tóm tắt kiến thức chung.
- Đồ dùng dạy học: hình vẽ, dụng cụ thí nghiệm phải đầy đủ.
- Hệ thống câu hỏi, bài tập vừa sức đi từ cơ bản đến nâng cao, đa dạng, phù
5


hợp với từng đối tượng học sinh.
- Có các câu hỏi liên hệ với thực tế nhằm phát huy tính tích cực hoạt động của
học sinh.
- Động viên học sinh tìm những hiện tượng, quy luật tương tự để tự mình giải
thích, có thể thông tin lại cho giáo viên và các bạn khác trong lớp những hiện
tượng, quy luật tương tự mà mình đã giải thích được để giáo viên và các bạn
cùng nhau tham khảo đưa ra nhận xét đúng cho các hiện tượng, quy luật để tiết
học thêm hào hứng hơn.
- Có tài liệu, sách tham khảo có liên quan đến các bài học trong chương.
 Đối với học sinh:
- Đọc và nghiên cứu bài ở nhà.
- Nắm vững các kiến thức cơ bản trong chương để vận dụng trả lời câu hỏi và
các bài tập liên quan đến nội dung trong chương.
- Quan sát, tiến hành thí nghiệm để đưa ra kết luận về những kiến thức cơ bản
có trong chương.
- Tích cực tham gia thảo luận nhóm, thảo luận đôi bạn.
- Có ý kiến và thắc mắc khi giáo viên giảng dạy nhằm tránh sự gò bó, thụ
động, áp đặt cho học sinh.
- Tìm hiểu thêm phần “Có thể em chưa biết” ở cuối bài (nếu có).
Để giúp học sinh học tốt chương quang học tôi đã thực hiện các bước sau:

6


I. KHÁI QUÁT NỘI DUNG KIẾN THỨC TRONG CHƯƠNG:

II. MỘT SỐ CÁCH HƯỚNG DẪN HỌC SINH RÈN LUYỆN CÁC KỸ
NĂNG NHẰM HỌC TỐT CHƯƠNG QUANG HỌC:
1. Quan sát hình ảnh, dụng cụ thí nghiệm, đọc và tìm hiểu nội dung bài
học theo Sách giáo khoa:
Ngoài việc làm bài tập, học thuộc bài cũ giáo viên yêu cầu học sinh phải
xem trước bài mới ở nhà. Xem trước bài mới ở nhà để xem tiết sau mình sẽ học
bài gì? bài này có mấy phần, có nội dung gì? có liên quan đến bài cũ hay không,
nếu có thì liên quan đến phần nào của bài cũ để các em có sự chuẩn bị ôn lại kiến
thức. Điều này hết sức quan trọng vì nó phần nào quyết định đến tiết học có sinh
động hay không, cũng như việc tiếp thu tri thức mới ở học sinh, mà điều này đa
số giáo viên cũng như ở học sinh thường không quan tâm đến.
*Ví dụ: Khi học bài 3: “ Ứng dụng định luật truyền thẳng của ánh sáng” ở
phần đầu bài “Ban ngày trời nắng, không có mây, ta nhìn thấy bóng của một cột
đèn in rõ trên mặt đất. Khi có một đám mây mỏng che khuất Mặt trời thì bóng đó
bị nhoè đi. Vì sao có sự biến đổi đó?”. Học sinh đọc sách giáo khoa trước ở nhà
và qua kinh nghiệm cuộc sống hàng ngày cùng với sự gợi ý của giáo viên, học
sinh có thể nêu những giả thuyết theo những hiểu biết mà các em đã học ở bài 1,
7


bài 2 hoặc thầy và trò có thể thực hiện các thí nghiệm để xác nhận hay bác bỏ
từng giả thuyết và cuối cùng sẽ đưa ra một đáp án đúng cho nội dung mà các em
đang tìm hiểu.
2.

Tiến hành thí nghiệm, mô tả, giải thích hiện tượng:

Một trong những biện pháp phát huy tính tích cực hoạt động đồng thời gây
hứng thú và tăng cường rèn luyện kĩ năng thực hành của học sinh trong giờ học
là phải có thí nghiệm, có thể dùng thí nghiệm minh hoạ hay dùng thí nghiệm
kiểm chứng để phát triển tư duy của học sinh trong giờ học. Phương pháp minh
hoạ chiếm ưu thế trong việc tổ chức thí nghiệm. Ở đây học sinh là người nghiên
cứu các hiện tượng vật lí, từ quan sát thí nghiệm phải phân tích tìm hiểu tại sao
trong những điều kiện đã cho thì hiện tượng lại diễn ra như vậy.
* Ví dụ : Khi dạy bài 2: Sự truyền ánh sáng.
Để đưa ra được kết luận về đường truyền của ánh sáng, giáo viên tiến hành
như sau:
- Phát các dụng cụ của bài học kèm theo phiếu học tập (nếu có) cho trưởng
nhóm lên nhận (trưởng nhóm giữ dụng cụ và phiếu học chỉ phát ra khi nào giáo
viên yêu cầu làm thí nghiệm)
- Yêu cầu học sinh tiến hành làm thí nghiệm và rút ra kết luận về đường
truyền của ánh sáng.
- Nhóm trưởng phát dụng cụ và giao việc cụ thể cho các thành viên trong
nhóm (có nhiệm vụ bao quát chung nhóm mình):
+ Phó nhóm giữ trật tự và quan sát các thành viên tiến hành thí nghiệm bạn
nào không chú ý thì nhắc nhở hoặc báo cho giáo viên nếu các bạn không nghe.
+ Thư kí nhóm: Đọc nội dung và ghi lại các kết quả khi tiến hành thí nghiệm
hoặc ghi vào phiếu học tập, nêu kết luận khi giáo viên yêu cầu.
+ Giao việc cho từng cặp thành viên trong nhóm lần lượt tiến hành các thí
nghiệm ở hình 2.1, hình 2.2 như sách giáo khoa và báo lại kết quả cho thư kí
nhóm.
- Sau khi đã làm thí nghiệm và rút ra kết luận về đường truyền của ánh sáng
thì nhóm trưởng thu lại dụng cụ, đồng thời kiểm tra các dụng cụ và cất vào học
bàn để tránh sự tò mò làm hỏng dụng cụ, không chú ý vào nội dung bài học.
- Kế tiếp yêu cầu học sinh tiến hành làm thí nghiệm và rút ra kết luận định
luật truyền thẳng của ánh sáng.
- Nhóm trưởng tiếp tục phát dụng cụ và tiến hành công việc tương tự như
trên. Cứ như vậy giáo viên lần lượt tiến hành cho học sinh tìm hiểu toàn bộ nội
dung của bài học.

8


3. Trong quá trình dạy giáo viên tạo ra tình huống có vấn đề:
- Để tạo sự chú ý của học sinh thì Giáo viên cần phải đưa ra cái mới, lạ. Mọi
cái mới chưa biết đều tạo được sự hấp dẫn cần thiết. Vì vậy, muốn kích thích
hứng thú học tập cho học sinh cần làm sáng tỏ và phân biệt những điều đã học và
chưa học.
- Tạo tình huống có vấn đề trong dạy học có nghĩa là đặt học sinh trước một
vấn đề sao cho các em thấy rõ được lợi ích về mặt nhận thức hay về mặt thực tế
của việc giải quyết nó nhưng đồng thời cảm thấy khó khăn về mặt trí tuệ do thiếu
kiến thức.
- Thông thường, cơ sở của tình huống có vấn đề là những hiện tượng, sự
kiện vật lí và những mối liên hệ giữa chúng mà ta phải nghiên cứu trong dạy –
học. Chúng xuất hiện trước học sinh sao cho tạo ra những cảm giác ngạc nhiên vì
tính chất bất thường, tính có vẻ không thể xảy ra, tính chất bí ẩn mà chúng có
được.
- Có thể tạo ra tình huống có vần đề trong dạy- học vật lí 7 bằng cách sử
dụng phương pháp đàm thoại mở đầu đặt biệt, bằng hệ thống câu hỏi tình huống,
bằng những thí nghiệm vui, bằng hình vẽ, bằng một trò chơi hoặc bằng các
phương tiện khác mà giáo viên có thể sử dụng.
* Ví dụ 1: Khi giới thiệu bài 7: Gương cầu lồi.
Giáo viên có thể tạo tình huống có vấn đề bằng mô hình đan xen với hệ
thống câu hỏi đàm thoại như sau:
- Giáo viên giới thiệu dụng cụ gồm 2 chiếc thìa, hai cái ly một cái chứa nước
còn cái còn lại thì không, sau đó cho học sinh quan sát hiện tượng vật lí được
giáo viên biểu diễn trong hai trường hợp:
+ Trường hợp 1: Chiếc thìa bỏ vào cái ly không chứa nước.
+ Trường hợp 2: Chiếc thìa bỏ vào cái ly chứa nước.
- Hệ thống câu hỏi:
+ Trong hai trường hợp trên các em quan sát được điều gì xảy ra?
Học sinh trả lời quan sát thấy ở trường hợp 2, chiếc thìa lớn hơn lúc bỏ vào
cái ly không chứa nước.
+ Căn cứ nào cho ta biết trường hợp 2 nhìn thấy chiếc thìa lớn hơn lúc bỏ
vào cái ly không chứa nước, còn trường hợp 1 thì không xảy ra hiện tượng gì?
Học sinh nhận biết bằng mắt hai hiện tượng trên nhưng căn cứ vào yếu tố
nào để nhận biết thì học sinh không trả lời được.
* Ví dụ 2: Khi dạy bài 1: Nhận biết ánh sáng – Nguồn sáng và vật sáng.
Giáo viên có thể tạo tình huống có vấn đề bằng mô hình hoặc các dụng cụ
xen với hệ thống câu hỏi đàm thoại như sau:
- Giáo viên giới thiệu dụng cụ gồm một hộp kín bên trong có lắp sẵn đèn và
9


mảnh giấy trắng, sau đó cho học sinh quan sát hiện tượng vật lí được giáo viên
biểu diễn trong hai trường hợp:
+ Trường hợp 1: Đèn tắt
+ Trường hợp 2: Đèn sáng.
- Hệ thống câu hỏi:
+ Trong hai trường hợp trên em quan sát được gì trong chiếc hộp?
Học sinh trả lời quan sát thấy ở trường hợp 2 thấy mảnh giấy trắng.
+ Căn cứ nào ta biết trường hợp 2 nhìn thấy mảnh giấy trắng, còn trường
hợp 1 thì nhìn không thấy gì cả.
Học sinh nhận biết bằng mắt hiện tượng khi có ánh sáng mới nhìn thấy vật
nhưng căn cứ vào yếu tố nào để nhận biết thì học sinh không trả lời được.
Như vậy hiện tượng nhìn thấy một vật khi có ánh sáng và không nhìn thấy
vật khi không có ánh sáng mà học sinh gặp rất nhiều trong thực tế nhưng để trả
lời được câu hỏi trên thì lại thiếu kiến thức để trả lời.
Với tình huống trên sẽ gây thắc mắc, kích thích sự tò mò tìm hiểu của học
sinh, các em sẽ chú ý nhiều hơn vào bài học để tham gia tìm hiểu và trả lời vấn
đề thắc mắc trên.
Tuỳ theo kiến thức cần nghiên cứu trong bài học, người giáo viên linh động
lựa chọn tình huống nêu vấn đề một cách phù hợp nhất. Qua nội dung bài học mà
học sinh tự tìm hiểu tri thức mà chắc rằng đa số học sinh sẽ hiểu rõ hơn nội dung
bài học, từ đó giáo viên có thể rèn luyện kĩ năng vận dụng thực hành bằng cách
mở rộng qua các ví dụ có liên hệ thực tế hoặc kiểm tra đánh giá kiến thức lĩnh hội
của học sinh trong giờ học bằng hệ thống các câu hỏi mà các em thường bắt gặp
trong đời sống hàng ngày, hàng giờ.
4. Liên hệ thực tế:
Vật lý là một ngành khoa học bắt nguồn từ cuộc sống. Vì vậy việc giảng dạy
vật lí gắn liền với cuộc sống thực tế là hết sức cần thiết, giúp cho học sinh thấy
môn học trở nên gần gũi, dễ hiểu và có nhiều vận dụng trong thực tiễn cuộc sống.
Để thực hiện được như vậy, đòi hỏi người giáo viên phải có kiến thức thực tế dồi
dào, phong phú. Đồng thời người giáo viên cũng cần phải biết vận dụng một cách
sáng tạo và hợp lí nội dung kiến thức của bài học. Đây được xem là một trong
những con đường giúp học sinh nâng cao nhận thức, quyết định tính vững chắc
kiến thức, đáp ứng mục tiêu bài học, môn học.
*Ví dụ 1: Bài 1: Nhận biết ánh sáng – Nguồn sáng và vật sáng.
Hiện tượng 1: Ban đêm, trời đầy sương mù, nếu ta đi trên đường ta sẽ nhìn
thấy một vệt sáng từ đèn của những chiếc xe phát ra xuyên qua lớp sương mù.
Giải thích tại sao? Biết rằng sương mù gồm các hạt nhỏ li ti bay lơ lửng.( Sương
mù gồm các hạt nhỏ li ti bay lơ lửng, các hạt này được chiếu sáng trở thành vật
sáng  ánh sáng từ các hạt đó truyền đến mắt ta, do các hạt xếp gần như liền

10


nhau nằm trên đường truyền của ánh sáng  tạo thành vệt sáng mắt nhìn thấy)
Hiện tượng 2: Vào những vụ xuân, ban đêm người ta thường dùng đèn sợi
đốt hay đèn huỳnh quang để gần các loại cây như: Lan, Thanh long… hay để
trong các lồng nhốt nhiều gà con công nghiệp… (để gần các cây như vậy ngoài
việc kích thích sự tăng trưởng cho cây mà còn kích thích sự ra hoa đậu quả để
nâng cao sản lượng, chất lượng nông sản. Còn để trong các lồng gà con vì làm
như vậy các con gà sẽ được sưởi ấm không bị lạnh chết.)
* Ví dụ 2: Bài 7: Gương cầu lồi.
Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát trên ôtô, xe máy người ta thường lắp
một gương cầu lồi ở phía trước người lái xe để quan sát ở phía sau để tránh gây
ra tai nạn hoặc thông tin cho học sinh biết cấu tạo mắt người cũng là một gương
cầu lồi, kính đeo mắt cũng là một loại gương cầu dùng cho người bị tật về mắt …
Cuộc sống là một kho tàng kiến thức vô tận, cung cấp cho chúng ta nhiều
tư liệu, nhiều ví dụ minh hoạ buộc học sinh phải suy nghĩ giải quyết và ứng dụng
các kiến thức đã học để giải thích các hiện tượng Vật lý tương tự mà các em
thường thấy chúng trong thực tế cuộc sống hàng ngày. Tuỳ theo nội dung kiến
thức mà người giáo viên có thể vận dụng từ thực tế để minh hoạ cho tiết dạy
được sinh động và có ý nghĩa thực tế hơn.
5. Thực hành, vẽ hình:
Kỹ năng thực hành, vẽ hình, giải bài tập là sự luyện tập nhằm giúp các em
làm quen với kiến thức mới, giúp các em nắm bài tốt hơn và nhớ lâu hơn.
* Ví dụ: Bài 6. Thực hành: Quan sát và vẽ ảnh của vật tạo bởi gương phẳng.
+ Học sinh phải tính chất của ảnh và vẽ ảnh của một vật tạo bởi gương
phẳng.
+ Rèn kỹ năng làm thí nghiệm, quan sát hiện tượng, vẽ hình.
Ngoài ra cần rèn cho Học sinh kỹ năng tự học, biết sử dụng SGK, sách tham
khảo để mở rộng kiến thức, biết hệ thống hóa kiến thức dưới dạng sơ đồ, biết
cách hợp tác trong học tập, biết vận dụng các kiến thức đã học để giải thích các
hiện tượng tự nhiên trong thực tế.

11


III. HƯỚNG DẪN GIẢI MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP CƠ BẢN ĐỂ GIÚP HỌC
SINH CỦNG CỐ VÀ KHẮC SÂU KIẾN THỨC:
1. Bài tập vẽ ảnh của một vật tạo bởi gương phẳng:
Ví dụ: Hãy vận dụng tính chất của ảnh tạo bởi gương phẳng để vẽ ảnh của
một mũi tên đặt trước một gương phẳng như hình vẽ:
B

A

Nếu vật có độ lớn là 15cm thi ảnh của nó sẽ bằng bao nhiêu?
Dạng bài tập này học sinh cần thuộc và nắm vững kiến thức về tính chất ảnh
của vật tạo bởi gương phẳng.
Bài giải minh họa:
Vẽ ảnh:

A

B

A
B


Do độ lớn ảnh của một vật tạo bởi gương phẳng bằng với độ lớn của vật
Nên A 'B' = AB = 15cm.
2. Bài tập áp dụng Định luật phản xạ ánh sáng:
Ví dụ: Chiếu tia sáng tới SI lên mặt gương phẳng MN và tia tới hợp với gương
phẳng một góc 300 (như hình vẽ).
S
a. Hãy áp dụng định luật phản xạ ánh sáng vẽ tia phản xạ
IR.
b. Tính giá trị của góc phản xạ.

300
I

c. Giữ nguyên vị trí tia tới, vẽ một vị trí đặt gương để thu được tia phản xạ theo
phương nằm ngang, chiều từ trái sang phải. Tính góc tới, góc phản xạ khi đó?
Dạng bài tập này Học sinh cần thuộc và nắm vững kiến thức về định luật
phản xạ ánh sáng.
Bài giải minh họa:
a. Vẽ tia phản xạ IR.

N
R

S
300

I

12


b. Tính giá trị của góc phản xạ.
IN là pháp tuyến của gương nên ta có: SIˆN = 900 − 30 0 = 60 0
Theo định luật phản xạ ánh sáng ta lại có: SIˆN = NIˆR = 60 0
Vậy góc phản xạ NIˆR = 60 0
c. Vẽ một vị trí đặt gương để thu được tia phản
xạ theo phương nằm ngang, chiều từ trái sang phải
(như hình vẽ).
* Tính góc tới, góc phản xạ:

N
S
R

300

I

Ta có: SIˆR = 1800 − 30 0 = 150 0
Theo định luật phản xạ ánh sáng: SIˆN = NIˆR
Mà SIˆR = SIˆN + NIˆR = 150 0
SIˆR 150 0
Nên SIˆN = NIˆR =
=
= 750
2

2

Vậy SIˆN = NIˆR = 750

IV. KẾT QUẢ:
Trong quá trình giảng dạy nếu giáo viên biết kết hợp giữa hệ thống kiến
thức đã học và bài tập thì sẽ gặp thuận lợi trong giảng dạy và tạo hứng thú học tập
cho học sinh. Nếu học sinh có một phương pháp học tốt, biết hệ thống các vấn đề
trong chương, biết mở rộng vấn đề vào giải thích các hiện tượng, ứng dụng trong
thực tế thì sẽ hiểu bài, tiếp thu bài nhanh và nắm vững các kiến thức trọng tâm nhờ
vậy tiết học mới sinh động, tạo được tư duy sáng tạo. Từ đó các kiến thức đã học
được sẽ làm nền tảng cho những năm học tiếp theo.
Trong quá trình giảng dạy môn vật lí 7, tôi nhận thấy rằng với việc áp dụng
các biện pháp trên đã góp phần mang lại hiệu quả cho bộ môn cũng như những tiết
học các em tham gia rất hăng hái, giờ học sôi nổi thu hút nhiều em tham gia, tiết
học sinh động hơn, đa số học sinh biết vẽ hình, biết giải thích các câu hỏi có liên
hệ đến thực tiễn.

13


14


Trong quá trình giảng dạy bộ môn vật lí ở trường THCS việc hình thành cho
học sinh phương pháp, kỹ năng giải bài tập vật lí là hết sức cần thiết, để từ đó giúp
các em đào sâu, mở rộng những kiến thức cơ bản của bài giảng, vận dụng tốt kiến
thức vào thực tế, phát triển năng lực tư duy cho các em. Học sinh đang trong giai
đoạn phát triển về mặt tâm sinh lí, nhân cách chưa ổn định nên rất dễ bị tác động
của môi trường bên ngoài lôi kéo ảnh hưởng không tốt đến việc học tập của các
em. Vì thế ngoài vai trò của người giáo viên cần phải động viên, giải đáp, tư vấn
những khúc mắc của các em nhằm giúp các em tích cực, có điều kiện học tập tốt
hơn. Đồng thời người giáo viên phải không ngừng học tập, tìm tòi nhằm tìm ra
những biện pháp tối ưu nhất để thực hiện tốt công tác của mình.
Để đạt được kết quả giảng dạy tốt nhất cần có sự nhiệt tình, tích cực của bản
thân giáo viên và học sinh, sự phối hợp giữa các bộ phận trong nhà trường, bên
cạnh đó cần có sự quan tâm, hỗ trợ của các cấp lãnh đạo và phụ huynh.
Tân Thành, ngày 15 tháng 01 năm 2015
Người viết

Nguyễn Thị Kim Tuyến

15


KÍ HIỆU VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT

NỘI DUNG ĐỌC LÀ

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

SGK

Sách giáo khoa

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vật lý lớp 7 (Sách giáo khoa) – Nhà xuất bản Giáo dục
2. Vật lý lớp 7 (Sách giáo viên) – Nhà xuất bản Giáo dục
3. Bài tập Vật lý lớp 7 – Nhà xuất bản Giáo dục
4. Phân phối chương trình Vật lý THCS.
5. Tài liệu hướng dẫn sử dụng dụng cụ thí nghiệm lớp 7 của Bộ Giáo Dục.

16


MỤC LỤC
Nội dung

Trang

Lời cảm ơn

1

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

2

I. Lý do chọn đề tài

3

II. Mục đích nghiên cứu

3

III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

3

IV. Nhiệm vụ nghiên cứu

4

V. Tổ chức nghiên cứu

4

PHẦN II: NỘI DUNG

5

Chương I: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

6

Chương II: Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

6

I. Đặc điểm chung

6

II. Thuận lợi và khó khăn

7

Chương III: Các biện pháp giải quyết vấn đề
I. Khái quát nội dung kiến thức trong chương

7
9

II. Một số cách hướng dẫn học sinh rèn luyện các kỹ
năng nhằm học tốt chương Quang học

9

III. Hướng dẫn giải một số dạng bài tập cơ bản để giúp
học sinh củng cố và khắc sâu kiến thức

14

IV. Kết quả

15

PHẦN III: KẾT LUẬN

16

Kí hiệu viết tắt

18

Tài liệu tham khảo

18

Mục lục

19

17


18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×