Tải bản đầy đủ

Sử dụng sản phẩm học tập của học sinh cho truyện ngắn “vợ chồng a phủ” của tô hoài

Sử dụng sản phẩm học tập của học sinh cho truyện ngắn “Vợ chồng A
Phủ” của Tô Hoài
Sử dụng sản phẩm học tập của học sinh nhằm nâng cao chất lượng giảng
dạy cho giờ học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông và góp phần vào công
cuộc đổi mới căn bản, toàn diện GD - ĐT theo Nghị quyết số 29 - NQ/TW.
Trong định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Nghị quyết số 29-NQ/TW của Hội
nghị Trung ương 8 khóa XI cũng xác định: “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung
phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và
bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống,
năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả
năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”. Và để thực hiện những yêu
cầu trên, toàn ngành Giáo dục – Đào tạo cần: Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học
tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu
cầu học tập suốt đời của mọi người. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy
và học theo hướng hiện đại.
Trong lí luận dạy học Ngữ văn nói riêng và trong lí luận dạy học nói chung,
sản phẩm học tập của học sinh tự học ở nhà đã và đang rất được coi trọng. Ở môn
Ngữ văn sản phẩm này được thể hiện trong hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài ở

cuối mỗi bài học đó là những câu hỏi định hướng việc học bài và soạn bài của học
sinh, và một số câu hỏi GV định hướng để HS tự chuẩn bị bài mới. Vì thế trong
mỗi giờ học giáo viên có thể sử dụng sản phẩm đó để phát huy tính chủ động sáng
tạo và phát triển năng lực cho học sinh.
Dạy học sử dụng sản phẩm học tập của học sinh là kiểu dạy học phát huy
được tính chủ động tích cực của người học. Nó đem lại hiệu quả làm việc tốt hơn
so với cách dạy thông thường. Sử dụng sản phẩm học tập của học sinh là cách tốt
hơn để khai thác năng lực cá nhân. Không có biện pháp nào tốt hơn là HS phải tự
học, và bằng hoạt động tự giác, tích cực, sáng tạo. Nó còn là cơ hội rèn luyện ky
1


năng mềm cho HS để sau này các em có thể mang theo hành trang ấy tự tin bước
vào đời. Do đó, mỗi HS cần trang bị ngay từ khi đang theo học trong nhà trường
tinh thần tự học để sống và làm việc tốt hơn. Đồng thời, GV cũng phải biết hướng
dẫn HS học tập theo phương pháp mới này.
Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” được đưa vào giảng dạy ở chương trình
Ngữ văn lớp 12 là tác phẩm độc đáo về nội dung và nghệ thuật, tiêu biểu cho
phong cách nhà văn Tô Hoài. Thực trạng dạy học tác phẩm văn chương nói chung
và dạy học truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” nói riêng đến nay vẫn còn thiên lệch về
văn bản mà coi nhẹ hoạt động tiếp nhận của học sinh chưa tập trung vào sản phẩm
đầu ra của học sinh.
Dạy học sử dụng sản phẩm học tập của học sinh là một giải pháp khả thi
trong đó biến tác phẩm của nhà văn thành tác phẩm văn học của HS để các em biết
cảm nhận chia sẻ và đồng cảm với nhà văn thì học sinh mới trở thành những bạn
đọc thực sự và khi đọc hiểu bất kì một văn bản nào các em cũng hiểu được nó. Từ
đó hình thành cho học sinh có kĩ năng đọc hiểu văn bản và học sinh phải thể hiện
được năng lực qua sản phẩm học tập của mình nhằm tạo ra hiệu quả cao trong dạy
học và đặc biệt là truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”.
1. Khái niệm
a. Kết quả học tập (KQHT)
Có thể hiểu về kết quả học tập như sau:
- Là mức độ thành tích mà một chủ thể học tập đã đạt, được xem xét trong
mối quan hệ với công sức, thời gian đã bỏ ra, với mục tiêu xác định.
- Là mức độ thành tích đã đạt của một HS so với các bạn học khác.
- Là mức độ đạt được kiến thức, kĩ năng hay nhận thức của người học trong
một lĩnh vực nào đó (môn học)”.
Dù hiểu theo nghĩa nào thì kết quả học tập cũng đều thể hiện ở mức độ đạt
được các mục tiêu của dạy học, trong đó bao gồm 3 mục tiêu lớn là: nhận thức,
hành động, xúc cảm. Với từng môn học thì các mục tiêu trên được cụ thể hóa


thành các mục tiêu về kiến thức, ky năng và thái độ.

2


Khi nhìn nhận mục tiêu giáo dục theo hướng kết quả học tập, cần phải lưu
tâm rằng chúng ta đang đề cập đến những sản phẩm của quá trình học tập chứ
không phải bản thân quá trình đó. SPHT là những sản phẩm đầu ra mà GV tiến
hành qua những hoạt động dạy học hình thành cho HS những năng lực thành thạo
như nói, viết, vẽ tranh, đóng kịch…
b. Sản phẩm học tập (SPHT)
Sản phẩm là cái đạt được, thu được trong một công việc hay một quá trình
tiến triển của sự việc.
Sản phẩm được chia làm 2 nhóm: Sản phẩm vật chất là những vật phẩm
mang đặc tính lý hóa nhất định, sản phẩm tinh thần đó là các dịch vụ.
SPHT của học sinh là kết quả HS đạt được thể hiện cụ thể trong từng sản
phẩm như nhật kí đọc, phiếu học tập, sơ đồ tư duy, bài nói, bài viết, đóng kịch,
bức tranh… qua đó phát triển được năng lực HS về mặt kiến thức, kĩ năng, thái độ
đáp ứng được mục tiêu dạy học.
2. Vai trò của việc dạy học dựa trên SPHT của học sinh
- Là xu hướng dạy học đổi mới nhằm tạo ra những sản phẩm đầu ra. Sản
phẩm đầu ra là mức độ đạt được đến đâu của mục tiêu dạy học đề ra. Dạy học dựa
trên SPHT của học sinh là dạy học hướng đến phát triển năng lực của người học.
Đây là cách dạy học lấy học sinh làm trung tâm và lấy SPHT làm tiêu chí đánh giá
kết quả học tập của HS.
- Với cách dạy học này phát huy được tính chủ động sáng tạo, tích cực đặc
biệt là phát triển trí tuệ cho HS. Kích thích HS sáng tạo độc lập để tạo ra được
những SPHT có chất lượng.
- Việc sử dụng sản phẩm học tập của học sinh vào dạy học đọc hiểu truyện
ngắn, nhằm phát triển được các năng lực đã xác định và đưa ra hình thức tổ chức
dạy học phù hợp.
- Việc sử dụng sản phẩm học tập của học sinh tạo được không khí học tập tự
do, dân chủ, HS tích cực chủ động kiến tạo ý nghĩa văn bản; đánh thức tư duy
nghiên cứu độc lập ở HS tạo điều kiện cho HS mạnh dạn bộc lộ ý kiến, cảm xúc
trước tập thể, đồng thời kiểm soát việc hiểu của bản thân trong khi đọc. Quan trọng
3


hơn tạo được cảm hứng thực sự cho các em trong việc học tập để có thể tự mình
nhận ra giá trị đích thực của tác phẩm bằng chính sự nỗ lực, sáng tạo của bản thân.
- Sử dụng SPHT của học sinh vào dạy học đọc hiểu truyện ngắn “Vợ chồng
A Phủ” chứa đựng những yếu tố cần thiết để giảng dạy theo hướng kết hợp các
biện pháp dạy học tích cực. Hướng dạy này giúp HS vừa hiểu sâu sắc các chi tiết
nghệ thuật, các hình tượng nhân vật…; hiểu được những thông điệp mà tác giả Tô
Hoài gửi gắm, vừa được phát biểu chính kiến, được phát huy tối đa năng lực cảm
thụ văn học của bản thân mình về tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”.
3. Những sản phẩm học tập của học sinh
- Nhật kí đọc (ghi chép)
- Bài nói, bài thuyết trình (kèm các phương tiện hỗ trợ)
- Bài viết
- Kết quả thực hiện một nhiệm vụ học tập cụ thể: phiếu học tập cá nhân,
phiếu ghi chép thảo luận nhóm. Phiếu ghi chép thảo luận thể hiện công việc của
HS như nói, viết, làm, tạo ra được những SPHT cụ thể. Chẳng hạn:
PHIẾU GHI CHÉP THẢO LUẬN NHÓM
Câu hỏi thảo luận nhóm:…………………………………………...…...……
…………………………………………………………………………...…...
Tổ: ………………… Số HS tham dự:………………………………...……..
A. Các nội dung thảo luận:
o
Nội dung: …………………………………………….
o
Phương tiện hỗ trợ: ………………………………….
o
Nội dung: …………………………………………….
o
Phương tiện hỗ trợ: …………………………………..
B. Đối chiếu với thông tin phản hồi.
1. Nhận xét nội dung nhóm bạn: ………………………………….
2.So sánh, đối chiếu với SPHT của nhóm mình: …………………..
3. Thắc mắc đề xuất: ………………………………………………

- Sản phẩm được tạo ra thông qua việc đọc hiểu tác phẩm văn học chuyển
thể: (đóng kịch, vẽ tranh, sáng tác thơ,…)
4. Tiến trình tổ chức dạy học dựa trên sản phẩm học tập của HS.
4


Tiến trình tổ chức dạy học dựa trên sản phẩm học tập của học sinh:
(1). Kiểm tra sự chuẩn bị của HS
(2). Tổ chức dạy và học bài mới
(3). Luyện tập, củng cố
(4). Đánh giá
(5). Hướng dẫn HS học bài, làm việc ở nhà
4. Biện pháp sử dụng SPHT của HS trong tổ chức dạy học đọc hiểu
truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”.
a. Xác định các năng lực cần phát triển ở HS qua dạy học đọc hiểu truyện
ngắn “Vợ chồng A Phủ” gắn với các SPHT
Theo quan điểm phát triển năng lực, các kết quả và SPHT của HS không lấy
việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm. Mà các kết quả và
SPHT của HS cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình
huống ứng dụng khác nhau. Do vậy dạy học truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” cần
phát triển các năng lực :
- Năng lực tự học (sản phẩm là phiếu học tập cá nhân, bài nói, bài thuyết
trình bằng sơ đồ, sơ đồ tư duy, bài viết ngắn)
- Năng lực ngôn ngữ và giao tiếp (sản phẩm là bài nói, bài viết, thảo luận)
- Năng lực giải quyết vấn đề (sản phẩm đóng kịch, vẽ tranh )
b. Biện pháp tổ chức dạy học
(1) Biện pháp tự học phát triển năng lực tự học thể hiện qua các câu hỏi GV
hướng dẫn soạn bài và câu hỏi phần hướng dẫn học bài qua sử dụng SPHT đã có
của HS.
GV đưa ra một số câu hỏi cụ thể khi HS nghiên cứu SGK ở bài học “Vợ
chồng A Phủ” để HS chuẩn bị ở nhà.
Câu hỏi số 1: Phiếu học tập cho HS chuẩn bị ở nhà. Phiếu học tập có nội
dung:
Họ tên:………………………………Lớp:…………….
Đọc phần Tiểu dẫn và hoàn thành những yêu cầu dưới đây: (chú ý ghi
5


vắn tắt).
- Về tác giả:
+ Quê quán:
+ Học vấn:
+ Con người:
+ Quá trình sáng tác:
+ Những tác phẩm chính:
-Về tác phẩm: thuộc giai đoạn nào trong sáng tác của nhà văn và trong
tiến trình lịch sử văn học Việt Nam?
SPHT (Phiếu học tập) cần dựa trên tiêu chí sau:
- Hình thức:
+ Được thiết kế sẵn trước giờ dạy
+ Nội dung phải vừa đủ, bám sát mục tiêu bài học
+ Hình thức phải rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu
- Nội dung:
+ Về tác giả Tô Hoài: Tên, quê quán, học vấn, con người, quá trình sáng tác,
những tác phẩm chính.
+ Về tác phẩm: thuộc giai đoạn nào trong sáng tác của nhà văn và trong tiến
trình lịch sử văn học Việt Nam?
Câu hỏi số 2:
Đọc và tóm tắt truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” theo Phiếu học tập sau:
Họ tên:.............................................Lớp:................
Đọc và tóm tắt truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
6


..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................

SPHT (Phiếu học tập) cần dựa trên tiêu chí sau:
- Hình thức:
+ Nhân vật
+ Những sự kiện chi tiết biến cố
+ Tóm tắt rõ ràng, cụ thể, mạch lạc dễ hiểu
- Nội dung:
Tóm tắt truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” phải kể được về cuộc đời của Mị và
A Phủ và những sự kiện diễn ra trong cuộc đời của họ.
Họ và tên HS:.......................................... Lớp:.................
Câu hỏi số 3: Những tháng ngày làm dâu và cuộc sống khổ cực của Mị ở
nhà thống lí Pá Tra diễn ra như thế nào? Thái độ của Mị về cuộc sống đó và thái độ
của tác giả khi nói về cuộc sống này qua việc hoàn thành sơ đồ sau:
5. Thái
độ của
tác giả:

1. Lúc
mới về
làm dâu:

4. Thái
độ của
Mị:
2. Cảnh
sống:
3. Cách
sống:

7


SPHT (sơ đồ tư duy) dựa trên tiêu chí:
- Hình thức:
+ Nêu ý
+ Logic về mặt hình thức
+ Cách thể hiện khoa học rõ ràng
- Nội dung: Thể hiện được đầy đủ các ý nêu trong sơ đồ.
Đối với những nội dung mà SGK đã có chi tiết đầy đủ thì không nên ghi lên
bảng cho HS chép mà cho các em về tự đọc trong SGK, cách làm này vừa tiết kiệm
thời gian vừa tạo thói quen đọc SGK cho HS và làm cho bài giảng không bị nhàm
chán: GV hướng dẫn HS trả lời những câu hỏi phần Hướng dẫn học bài trong SGK
Ngữ văn 12 (tập 2) NXB Giáo dục Việt Nam (2015) ban cơ bản Phan Trọng Luận
(Tổng chủ biên) trang 14- 15.
Câu 1 (ý 1): Nhân vật Mị
a. Khi còn tự do (ở nhà):
SPHT (Bài nói) dựa trên tiêu chí:
- Hình thức: nói đúng, nói hay, ngắn gọn dễ hiểu, đưa ra lí lẽ và dẫn chứng
- Nội dung:
+ Nhà nghèo, chăm làm, hiếu thảo với cha mẹ.
+ Trẻ trung, nhan sắc, tài năng và yêu đời
+ Khát khao sống tự do hạnh phúc
->Là cô gái với những phẩm chất tôt tốt đẹp, xứng đáng được hưởng hạnh
phúc.
b. Khi bị bắt làm dâu ở nhà thống lí:
GV: Nguyên nhân nào khiến Mị bị bắt về làm dâu nhà thống lí? Suy nghĩ
của em về nguyên nhân này?
8


SPHT (Bài thuyết trình bằng sơ đồ) dựa trên tiêu chí:
- Hình thức: thuyết trình bằng sơ đồ phải khoa học logic và sáng tạo
- Nội dung:
+ Làm dâu để trừ nợ cho nhà thống lí vì món nợ truyền kiếp
+ Mị đã có sự phản ứng lại và từ chối dứt khoát…
+ Nỗi bất hạnh của người phụ nữ Mèo nghèo khổ…
Câu 2: Nhân vật A Phủ
SPHTcủa HS là đoạn văn dựa trên tiêu chí:
- Hình thức:
+ Sử dụng câu chủ đề để giới thiệu ý tưởng chính trong một đoạn văn.
+ Giải thích và làm rõ ý tưởng chính của đoạn văn bằng cách cung cấp các
dẫn chứng, lý lẽ có liên quan.
+ Sử dụng các phương tiện phép liên kết phù hợp.
+ Lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ cho hiệu quả, phù hợp với nội dung, mục
đích của đoạn văn. Thuyết phục người đọc chấp nhận quan điểm hành động của
người viết thông qua các yếu tố như: độ dài của câu, cấu trúc câu, mẫu câu, từ
vựng, biện pháp tu từ, vần điệu,…
+ Nhắc lại nội dung ý tưởng chính trong phần kết đoạn.
- Nội dung:
+ Qua ngòi bút miêu tả của tác giả, A Phủ được giới thiệu: mồ côi, A Phủ
vượt qua cơ cực thử thách, nghèo, cuộc sống nô lệ trong nhà thống lí Pá Tra, bị
trói, được Mị cởi trói, gan góc từ bé, ngang tàng, khi trở thành người làm công gạt
nợ
+ Ấn tượng của em về tính cách của nhân vật A Phủ: số phận , tính cách
+ Nhận xét của em về nghệ thuật của đoạn văn
+Tác dụng của nó trong việc khắc họa tính cách nhân vật A Phủ
+ Cảm nhận của em về nhân vật A Phủ
Qua hai nhân vật Mị và A Phủ, em hãy nêu những nét tương đồng và khác
biệt giữa hai nhân vật này? Em có cảm nhận gì về hai nhân vật này bằng việc hoàn
thành phiếu học tập sau.
9


Nét tương đồng

Nét khác biệt
Nhân vật Mị
Nhân vật A Phủ

Cảm nhận của em về hai nhân vật này:

SPHT của HS là phiếu học tập nhóm dựa trên tiêu chí:
- Hình thức: Ngoài tiêu chí cụ thể của phiếu học tập thì nội dung câu hỏi
phải phù hợp với số lượng HS trong nhóm không quá dễ cũng không quá khó.
- Nội dung:
+ Nét tương đồng giữa A Phủ và Mị: số phận, tính cách
+ Nét khác biệt giữa A Phủ và Mị:
+ Cảm nhận của em về hai nhân vật này:
Câu 3: Nghệ thuật của truyện ngắn
SPHT của HS là bài thuyết trình dựa trên tiêu chí:
- Hình thức: Thuyết phục người nghe về vấn đề đặt ra, nội dung theo trình tự
cụ thể rõ ràng.
- Nội dung: Nghệ thuật xây dựng nhân vật; ngòi bút tả cảnh sinh động; tình
huống truyện đặc sắc; lối kể chuyện; ngôn ngữ.
Với việc tự học qua sách bài tập, sách và tài liệu tham khảo: Đối với học
sinh trong trường, sách bài tập đều có nên giáo viên phải tận dụng tài liệu này để
giúp học sinh tự học hiệu quả. GV hướng dẫn HS tìm hiểu bài tập trong sách bài
10


tập tìm thêm tư liệu về tác giả Tô Hoài và truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” ở các
sách và tài liệu tham khảo khác.
Việc cho bài tập về nhà cũng cho theo thứ tự dạng bài tập của SGK và sách
bài tập để học sinh có 1 lượng bài tập tương tự đủ lớn (các bài này đều có lời giải
chi tiết) để có thể tự mình làm được các bài trong SGK. Cho bài theo cách này sẽ
giúp học sinh có 1 cách học mới là: Khi gặp khó khăn, các em sẽ tìm kiếm một
phương án tương tự đã có để giải quyết chứ không thụ động chờ đợi giáo viên
hướng dẫn.
Để tạo thói quen tự nghiên cứu cho học sinh, giáo viên nên hướng dẫn học
sinh làm các bài tập lớn, có kiểm tra đánh giá để học sinh có khả năng tự phân tích
tổng hợp.
Muốn hiệu quả cao, GV phải biết viết các tài liệu theo hướng các chuyên đề
nhằm định hướng về tư duy và ky năng cho học sinh đồng thời tạo ra động lực thúc
đẩy HS nghiên cứu khoa học.
(2). Biện pháp đọc hiểu phát triển năng lực đọc hiểu của HS thể hiện qua
việc HS hiểu bài và trả lời được yêu cầu của GV qua SPHT được tạo dựng trong
quá trình dạy học.
GV hướng dẫn HS đọc hiểu truyện ngắn qua 1 số câu hỏi vấn đáp
Vấn đáp tái hiện: GV cho HS tìm hiểu phần tiểu dẫn của truyện ngắn “Vợ
chồng A Phủ”, có thể đặt câu hỏi: Nêu hoàn cảnh ra đời của truyện ngắn? HS dựa
vào tiểu dẫn trả lời: (Sản phẩm của HS là câu trả lời miệng - bài nói) dựa trên
tiêu chí:
- Hình thức:
+ Diễn đạt mạch lạc rõ ràng
+ Ngôn ngữ phải chuẩn xác
+ Tái hiện rõ vấn đề
- Nội dung :
+ In trong tập Truyện Tây Bắc
+ Kết quả của chuyến đi công tác cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc
+ Năm sáng tác
11


+ Trải nghiệm của Tô Hoài ở Tây Bắc
Vấn đáp giải thích, chứng minh: Chẳng hạn khi tìm hiểu về sức sống của
Mị ở phần đầu truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài, GV nêu câu hỏi: Tại
sao nói sức sống của Mị dường như bị tê liệt? HS căn cứ vào văn bản suy ngẫm
thảo luận trả lời: Sản phẩm của HS là bài nói dựa trên tiêu chí:
- Hình thức:
+ Đưa ra được luận điểm và những luận cứ
+ Đưa ra được những lí lẽ và dẫn chứng để làm rõ vấn đề
- Nội dung: Sức sống dường như bị tê liệt:
+ Sống cô độc, âm thầm
+ Cuộc sống không còn ý niệm về thời gian, về thế giới xung quanh
+ Cuộc sống cam chịu nhẫn nhục
+ Mị mất hết niềm tin vào cuộc sống
Vấn đáp tìm tòi, phát hiện: Từ bố cục trên, em hãy phát biểu chủ đề tác
phẩm?
- HS phát biểu: SPHT (bài nói) dựa trên tiêu chí:
- Hình thức:
+ Nói hay, nói đúng vấn đề
+ Tìm tòi, phát hiện suy luận
- Nội dung:
+ Người dân miền núi, mà tiêu biểu là Mị và A Phủ trong quá trình đấu tranh
giành quyền sống và được hạnh phúc đã trải qua bao gian khổ, tủi cực, đắng cay.
+ Họ đã đấu tranh để tự giải phóng mình.
- GV hướng dẫn HS tổng kết nội dung và nghệ thuật truyện
- HS khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật:
SPHT (bài nói) dựa trên tiêu chí:
- Hình thức: Mang tính khái quát, tổng kết được những nội dung quan trọng
của bài học
- Nội dung:
+ Giá trị nội dung
+ Giá trị nghệ huật
12


(3). Biện pháp đóng vai phát triển năng lực đóng kịch thể hiện qua một số
trích đoạn trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” (SPHT được tạo dựng trong quá
trình dạy học).
GV tổ chức cho HS thảo luận (3HS/1 nhóm) qua hình thức đóng vai. GV tạo
tình huống cho 2 HS đóng vai Mị và A Phủ, 1 HS vai người dẫn truyện trong cảnh
khi Mị chứng kiến A Phủ bị trói.
GV đặt câu hỏi: Qua trích đoạn đó các em hãy phân tích tâm trạng Mị khi
thấy A Phủ bị trói? Chi tiết nào thể hiện hành động cởi trói cứu A Phủ?
SPHT của HS (đóng vai) dựa trên tiêu chí
- Hình thức: có nhân vật, tình huống phù hợp với bài học, thời gian phù hợp,
hóa trang, đạo cụ…
- Nội dung:
Các HS lần lượt đóng vai Mị trả lời:
+ Lúc đầu Mị rất lạnh lùng trước cảnh A Phủ bị trói
+ Nhưng rồi một hôm, qua ánh lửa bếp, Mị nhìn sang thấy A Phủ khóc
Mị nhớ lại hoàn cảnh của mình ngày trước
Mị nhớ đến và căm phẫn tội ác của cha con thống lí
Mị cảm thương cho A Phủ
Mị đồng cảm với A Phủ và nghĩ đến mình
Mị tưởng tượng cảnh A Phủ trốn được
Mị quyết định cởi trói cho A Phủ  hành động táo bạo, dứt khoát để giải
thoát cho A Phủ.
(4). Biện pháp tưởng tượng phát triển năng lực sáng tạo thể hiện qua bài
làm của HS, năng lực vẽ tranh thể hiện qua sản phẩm là những bức tranh của
HS (SPHT được tạo dựng trong quá trình dạy học).
Bài học “Vợ chồng A Phủ” Một cô Mị con dâu gạt nợ HS cùng tưởng tượng
mình là tác giả người chứng kiến sự chuyển biến tâm trạng của Mị trong đêm tình
mùa xuân đã hiện hình nên sống động với bao nhiêu hành động, bao tâm trạng, bao
tình huống cuộc đời phức tạp với tình huống chồng chéo.
Đọc văn bản đoạn từ “Ngày tết… đau dứt từng mảnh thịt” phân tích
diễn biến tâm trạng Mị. Bạn thấy yếu tố ngoại cảnh làm thức tỉnh nội tâm
13


nhân vật, tâm trạng Mị khi mùa xuân về, trong những đêm cô đơn dậy sớm
để sưởi lửa, khi bị A Sử trói? Cảm nhận ra sao khi nghe tiếng sáo vọng lại
tâm trạng và hành động của Mị có sự chuyển biến như thế nào về mặt tâm lí?
Khát vọngcủa Mị có được thực hiện không? Ý nghĩa của tiếng sáo?

Tôi thấy tác
động của ngoại
cảnh

Tôi cảm nhận
được khi nghe
tiếng sáo tâm
trạng và hành
động của Mị
thay đổi

Tôi chợt
nghĩ đến
khát
vọngcủa
Mị
Ý nghĩa của tiếng
sáo

HS làm việc theo nhóm 5 người
Bài làm của HS là sơ đồ tư duy dựa vào sự chuẩn bị ở nhà kết hợp với
thảo luận nhóm trong quá trình dạy học thể hiện được năng lực sáng tạo qua
tưởng tượng dựa trên tiêu chí
- Hình thức: Trí tưởng tượng logich
- Nội dung:
+ Tôi thấy tác động của ngoại cảnh
+ Tôi cảm nhận được khi nghe tiếng sáo tâm trạng và hành động của Mị thay
đổi
+ Tôi chợt nghĩ đến khát vọng của Mị
+ Ý nghĩa của tiếng sáo
Ba bước của bài tập tưởng tượng:
14


Bước 1: Đọc diễn cảm
Bước 2: Hiểu nghĩa của từ, xâu chuỗi nghĩa của từ và suy luận nghĩa tổng
thể.
Bước 3: Nhắm mắt lại và hồi tưởng tất cả những hình ảnh, cảm xúc mà
cuốn sách gợi cho bạn
Sản phẩm của HS bài “Vợ chồng A Phủ” là phiếu học tập phần củng cố
bài học phải dựa trên tiêu chí:
- Hình thức: Dễ hiểu khoa học đáp ứng được yêu cầu của nội dung đưa ra.
- Nội dung:
+ Vẽ được biểu tượng
+ Nêu được ý nghĩa

15


Họ tên:………………………………….Lớp:………………
Yêu cầu: Em hãy tái hiện lại cảm xúc của mình khi được học tác phẩm
bằng cách vẽ lại những biểu tượng cảm xúc ( vui vẻ, buồn bã, ngạc nhiên,
tức giận, lo lắng, thấu hiểu…) và chia sẻ ý nghĩa của biểu tượng em vừa vẽ
(điều gì khiến em cảm thấy như vậy? Lúc này khi đang nhìn lại em có còn
cảm nhận như thế không?...)
Biểu tượng

Ý nghĩa
- Vui khi thấy sự chuyển biến
tâm trạng của Mị trong đêm
tình mùa xuân ( từ vô thức ->
ý thức)
- Buồn khi thấy Mị bị A Sử
trói đứng vào cột và Mị chứng
kiến cảnh A Phủ bị trói
- Ngạc nhiên khi thấy Mị cắt
dây trói cứu A Phủ

- Tức giận khi thấy cảnh xử
kiện bắt A Phủ phải nộp phạt
một trăm đồng bạc trắng và
phải làm người ở trừ nợ
16


-Lo lắng sau khi cắt dây trói
giải thoát cho A Phủ
- Thấu hiểu khi thấy Mị trốn đi
cùng A Phủ

Cảm xúc của em lúc này là gì? Em có muốn chia sẻ gì nữa
không?
Được học và tiếp nhận truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” em đã
được trải qua rất nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau khi tìm hiểu về
hai nhân vật Mị và A Phủ và cuộc sống của những người dân miền
núi Tây Bắc. Qua những trang văn của Tô Hoài, em thấy được tác
phẩm mang giá trị hiện thực và nhân đạo rất sâu sắc. Thông điệp mà
tác giả muốn gửi tới người đọc đó là: con người Việt Nam có một
sức sống tiềm tàng mãnh liệt và muốn thoát khỏi áp bức bất công
không có con đường nào khác là phải đứng lên tự đấu tranh tự giải
phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây chính là điều em
muốn chia sẻ qua bài học này.
Sau đây là những bức tranh minh họa nhân vật Mị trong truyện ngắn “Vợ
chồng A Phủ” của Tô Hoài vẽ về cuộc đời và số phận của nhân vật Mị

17


18


Sơ đồ tư duy: Cuộc đời nô lệ và sức sống hồi sinh của Mị
Tư liệu trong sách “Đột phá Mind Map - Tư duy đọc hiểu môn Ngữ văn bằng hình
ảnh - Lớp 12” của tác giả Trịnh Văn Quỳnh.
Tóm lại, với những biện pháp trên đây, có thể khẳng định đây là hướng đi
đúng đắn, góp phần giúp GV khắc phục được những hạn chế còn tồn tại trong quá
trình giảng dạy, giúp HS phát huy được năng lực và tinh thần tự học sáng tạo khi
khám phá tác phẩm đặc sắc này. Hướng dẫn các em tạo ra được sản phẩm của mình
tức là tạo được cho các em niềm vui, niềm yêu thích khi đến với tác phẩm văn học
và đặc biệt là khơi dậy trong các em tinh thần tự học, để tự đắm mình trong thế
giới nghệ thuật, để sống đời sống của nhân vật… để thấy được cái hay, cái đẹp của
văn chương, để đồng cảm với những phận đời khốn khó, để thêm yêu cuộc sống…
thiết nghĩ chính là điều quan trọng nhất môn học này hướng đến.
Tuy nhiên, mỗi người GV chúng ta đều thấy rằng việc sử dụng SPHT của
HS trong dạy học chưa phải là một giải pháp ưu việt duy nhất. Để có thể dạy văn
19


hiệu quả cần áp dụng linh hoạt các phương pháp, biện pháp dạy học khác nhau.
Thật không dễ dàng để có một phương pháp dạy học hoàn hảo, phù hợp với tất cả
các HS. Dù vậy, hướng đến HS, quan tâm đến năng lực của HS để giúp các em trở
thành những bạn đọc thuần thục vẫn là cơ sở để có niềm tin về sự hiệu quả mà
SPHT của HS mang lại trong dạy học tác phẩm văn chương.
Tác giả: Nguyễn Thị Hương - Trường THPT Đồng Đậu

20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×