Tải bản đầy đủ

Luận văn thạc sĩ thực hiện chính sách cải cách hành chính ở huyện sơn tây, tỉnh quảng ngãi

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU.................................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH
HÀNH CHÍNH........................................................................................................ 9
1.1. Khái niệm, vai trò thực hiện chính sách cải cách hành chính............................ 9
1.2. Nội dung và yêu cầu thực hiện chính sách cải cách hành chính nhà nước......18
1.3. Điều kiện đảm bảo cho thực hiện chính sách cải cách hành chính..................30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH
HÀNH CHÍNH Ở HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI GIAI ĐOẠN
2015-2018 .............................................................................................................35
2.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách cải cách hành chính ở
huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi.......................................................................... 35
2.2. Thực tiễn tình hình thực hiện chính sách cải cách hành chính ở huyện Sơn
Tây, tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2015-2018............................................................ 42
2.3. Đánh giá chung................................................................................................ 56
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH
QUẢNG NGÃI ĐẾN NĂM 2025.......................................................................... 64
3.1. Định hướng thực hiện chính sách cải cách hành chính ở huyện Sơn Tây, tỉnh
Quảng Ngãi đến năm 2025...................................................................................... 64

3.2. Giải pháp chủ yếu thực hiện chính sách cải cách hành chính ở huyện Sơn Tây,
tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2025.............................................................................. 67
3.3. Một số kiến nghị.............................................................................................. 84
KẾT LUẬN............................................................................................................ 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TT

CHỮ CÁI VIẾT TẮT

CỤM TỪ ĐẦY ĐỦ

1

CCHC

Cải cách hành chính

2

HĐND

Hội đồng nhân dân

3

TTHC

Thủ tục hành chính

4

UBND

Ủy ban nhân dân

5



XHCN

Xã hội chủ nghĩa

6

XDCB

Xây dựng cơ bản


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Số hiệu bảng
2.1

Tên bảng
Phân bố dân số cụ thể ở các xã (2005)

Trang
37


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền hành chính nhà nước luôn trong quá trình vận động không ngừng,
vừa bảo đảm sự quản lý nhà nước trên các lĩnh vực xã hội, vừa tìm kiếm
cách thức ứng với những đổi thay của nền kinh tế - xã hội. Đến một lúc nào
đó, các yếu tố của nền hành chính nếu không có những thay đổi, cải cách thì
sẽ trở thành lực cản, hạn chế hiệu lực, hiệu quả hoạt động, cần phải sửa đổi,
cải cách một cách tổng thể hoặc cải cách các yếu tố đang bất cập.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước đến năm 2020, Đảng ta
đã xác định cải cách hành chính (CCHC) là nội dung quan trọng trong cải
cách thể chế, là một trong ba khâu đột phá chiến lược để phát triển quốc gia.
Hơn nữa, giai đoạn hiện nay chuyển từ “Nhà nước cai trị” với chức năng chủ
yếu là quản lý thành “Nhà nước phục vụ” là nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu để
phục vụ nhân dân là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong bối cảnh
Việt Nam chuyển sang phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và
hội nhập quốc tế, đòi hỏi việc hoạch định và thực thi các chính sách để tạo ra
những nhân tố, môi trường cho sự chuyển đổi để phát triển trở nên cấp thiết.
Việc hoạch định và thực thi các chính sách về cải cách hành chính ở
nước ta từ gần hai mươi năm qua kể từ năm 2001 cho đến nay, tuy đã có
những tiến bộ nhất định, song vẫn còn nhiều hạn chế thách thức, cụ thể là:
Không ít chính sách ngay từ khi ban hành không phù hợp, nên phải sửa đổi,
bổ sung khá nhanh và nhiều lần tạo ra một hệ thống chắp vá, thiếu đồng bộ.
Trên thực tế, việc hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách trong số
đó chưa đem lại lợi ích tương xứng với chi phí đã bỏ ra, nên đã tiêu tốn tiền
của của nhân dân và sức lực của không ít người. Một số chính sách CCHC ở
các lĩnh vực liên quan thể chế, thủ tục hành chính về quản lý đất đai; quản lý
đầu tư xây dựng; về thuế, phí…trong quá trình thực thi còn thiếu khách
1


quan, minh bạch. Một số chính sách liên quan vấn đề thể chế, cơ cấu tổ chức
bộ máy Nhà nước, vấn đề biên chế - hợp đồng nhân sự, tiền lương – thu
nhập… trong quá trình thực hiện còn xơ cứng, thiếu minh bạch, biểu hiện sự
trì hoãn, chậm trễ so với yêu cầu thực tiễn phát triển xã hội.
Huyện Sơn Tây (Quảng Ngãi) là một huyện miền núi cao nằm ở cực
tây tỉnh Quảng Ngãi. Trong giai đoạn 2011-2015 công tác CCHC Nhà nước
trên địa bàn huyện đã được các cấp uỷ, chính quyền và các ngành thường
xuyên quan tâm chỉ đạo triển khai ngày càng phù hợp với điều kiện thực tế
tại địa phương, đem lại một số kết quả nhất định. Song, so với yêu cầu thực
tiễn phát triển đặt ra thì vẫn còn đối diện nhiều bất cập, hạn chế, có thể nêu
ra: (1) Một số đơn vị, địa phương chưa thật sự chủ động trong việc nghiên
cứu, tìm các giải pháp đột phá để đẩy mạnh công tác CCHC theo lĩnh vực,
ngành phụ trách. Vẫn còn một số đơn vị chưa nhận thức đúng mức về tầm
quan trọng của công tác CCHC trong việc điều hành, phát triển kinh tế, xã
hội trên địa bàn, từ đó thiếu sự phân công, phân nhiệm rõ ràng trong việc
thực hiện công tác cải cách hành chính tại đơn vị; (2) Hiệu lực điều hành,
quản lý nhà nước ở một số cơ quan, đơn vị còn yếu, chưa nêu gương người
đứng đầu, sự phối hợp trong công tác và giải quyết công việc của một số cơ
quan, ban ngành, các xã, còn thiếu đồng bộ; (3) Năng lực, trình độ của đội
ngũ cán bộ, công chức còn chưa đồng đều, nhất là yếu về năng lực làm việc
trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông và năng lực tham mưu, đề xuất các
biện pháp về CCHC. Thái độ phục vụ nhân dân của một số cán bộ, công
chức trong giải quyết công việc cho người dân và doanh nghiệp vẫn còn biểu
hiện nhũng nhiễu, tiêu cực hoặc có hiện tượng né tránh trách nhiệm, thờ ơ
trong giải quyết công vụ, làm ảnh hưởng chung tới công tác CCHC của
huyện…
Với lý do đó, việc nghiên cứu quá trình thực thi chính sách CCHC
vừa có ý nghĩa lý luận sâu sắc, vừa có ý nghĩa thực tiễn cấp bách nhằm khắc


phục tình trạng chồng chéo, trùng lắp, đùn đẩy, giữa các tổ chức trong hệ
thống chính trị, góp phần nâng cao hiệu quả chính sách CCHC đáp ứng yêu
cầu minh bạch hóa trong giai đoạn phát triển hiện nay. Đó là lý do chọn và
thực hiện đề tài “Thực hiện chính sách cải cách hành chính ở huyện Sơn
Tây, tỉnh Quảng Ngãi”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
CCHC là chủ đề không chỉ nhận được sự quan tâm đầu tư của các nhà
hoạch định và thực thi chính sách, mà chúng còn được nhiều chuyên gia và
giới khoa học nghiên cứu trao đổi ở nhiều khía cạnh, phương diện khác
nhau. Có thể nêu ra một số công trình điển hình, đó là:
Cuốn sách “Tìm hiểu hành chính nhà nước” của tác giả GS.TS
Nguyễn Hữu Khiển do Nxb Khoa học xã hội Hà Nội ấn hành năm 2001;
cuốn sách “Hành chính nhà nước” của nhóm tác giả GS.TS Nguyễn Hữu
Khiển và TS. Phạm Văn Hùng do Nxb Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh ấn
hành năm 2006. Hai công trình này đã cố gắng phát họa những nét chung cơ
bản về nội dung hoạt động hành chính nhà nước và quản lý hành chính nhà
nước.
Sách chuyên khảo “Cơ sở lý luận và thực tiễn về hành chính nhà
nước” của nhóm tác giả Nguyễn Hữu Hải (chủ biên) cùng với Đặng Khắc
Ánh, Hoàng Mai do Nxb Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2014. Chuyên
khảo này trình bày khái niệm cơ bản, đặc điểm, nguyên tắc tổ chức và hoạt
động của hành chính nhà nước; các lý thuyết và mô hình hành chính nhà
nước; các yếu tố cấu thành nền hành chính nhà nước và quyết định hành
chính nhà nước; chức năng, hình thức và phương pháp hành chính nhà
nước…
Cuốn sách“Cải cách hành chính và công cuộc xây dựng nhà nước
pháp quyền” của GS. Đoàn Trọng Truyến chủ biên do Nxb Tư Pháp Hà Nội
ấn hành năm 2006. Sách nghiên cứu này trên cơ sở học thuyết Mác – Lenin,


tư tưởng Hồ Chí Minh để tổng hợp hệ thống kiến thức cơ bản về nền hành
chính, về nhà nước pháp quyền, đánh giá khá rõ về nền hành chính phong
kiến Việt Nam, có cách nhìn nghiên cứu độc lập về nền hành chính Nhà
nước ta hiện nay, qua đó đề xuất cải cách nền hành chính phải xuất phát từ
yêu cầu thực tiễn và triển khai các nhiệm vụ về cải cách thể chế hành chính,
cải cách bộ máy hành chính, tinh giảm biên chế, xây dựng đội ngũ cán bộ
công chức trong sạch, vững mạnh.
Công trình nghiên cứu năm 2008 “Cải cách hành chính và xây dựng
nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay” do PGS.TS Đinh Ngọc Vượng,
Viện Nhà nước và pháp luật làm chủ nhiệm. Nghiên cứu này chỉ ra rằng, cải
cách hành chính ngày nay đã chuyển sang một bước mới với bốn nội dung
trọng tâm, đó là: cải cách thể chế hành chính; cải cách bộ máy hành chính
nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công.
Học viện Hành chính Quốc gia, Kỷ yếu hội thảo khoa học (2011), “Cải
cách hành chính nhà nước ở Việt Nam từ góc nhìn của các nhà khoa học”
NXB Lao động; Cuốn sách “Cải cách hành chính: Vấn đề cấp thiết để đổi
mới bộ máy Nhà nước” do Nxb Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh ấn hành năm
2004. Hai công trình nghiên cứu này đã tập hợp các ý kiến, bài tham luận
của các nhà khoa học, nhà lãnh đạo về hiện trạng và giải pháp CCHC nhà
nước, cải cách thể chế pháp luật liên quan đến CCHC.
Cuốn sách“Đánh giá kết quả của cải cách hành chính và các giải
pháp tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính ở nước ta” của GS.TS. Đào Trí
Úc do Nxb. Công an Nhân dân ấn hành năm 2007; Cuốn sách“Các giải
pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Ngọc
Hiến do Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội ấn hành năm 2001.
Cuốn sách “Thủ tục hành chính - Lý luận và thực tiễn” của GS.
Nguyễn Văn Thâm chủ biên do Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội ấn hành năm
2002. Công trình này nghiên cứu khá công phu về thủ tục hành chính từ khái


niệm, ý nghĩa, đặc điểm đến thực tiễn cải cách thủ tục hành chính nước ta;
và đồng thời phân tích khá rõ cải cách thủ tục hành chính ở một số lĩnh vực.
Công trình này cung cấp các tài liệu, luận cứ khá hữu ích để tham khảo trong
nghiên cứu.
Tài liệu “Cải cách nền hành chính Việt Nam: Thực trạng và giải
pháp” của nhóm tác giả Acuna-Alfaro và Jairo chủ biên do Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, UNDP và Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển hỗ trợ
cộng đồng (đồng chủ trì) do Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội ấn hành năm
2009. Công trình này đưa ra các bình luận khá chi tiết và cụ thể về sự phát
triển nền hành chính nước ta qua hơn một thập kỷ đổi mới và đề xuất gợi ý
những giải pháp để đẩy nhanh quá trình CCHC.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu được đề cập trên chủ yếu
nghiên cứu lý luận và thực tiễn CCHC ở bình diện rộng, hoặc tập trung
nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của CCHC trên phạm vi cả nước.
Ngoài ra, có một số công trình nghiên cứu CCHC gắn liền với một địa
phương, như: Luận văn thạc sỹ năm 2013 “Đẩy mạnh cải cách hành chính
nhà nước tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2011-2020” của tác giả Lê Thị Bình
Minh, Học viện Hành chính; Luận văn thạc sỹ năm 2010 “Các giải pháp
tăng cường cải cách hành chính tại tỉnh Lào Cai” của tác giả Nguyễn Thị
Hồng Hiếu, Học viện Hành chính… Những luận văn, luận án này chủ yếu
đưa ra các nghiên cứu trường hợp về cải cách hành chính nhà nước ở một số
địa phương cụ thể.
Các công trình vừa nêu trên tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn
ở một lĩnh vực, một số địa phương khác nhau. Song với chính sách CCHC
và thực hiện chính sách CCHC ở huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi cho đến
nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách trực diện, có hệ thống về
thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu lực hiệu quả về việc thực hiện
chính sách CCHC ở địa bàn này. Chính vì vậy, nghiên cứu thực hiện chính


sách cải cách hành chính từ thực tiễn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi là
cần thiết, có ý nghĩa thời sự về mặt lý luận và thực tiễn đối với bản thân và
địa phương.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích:
Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách CCHC ở huyện Sơn Tây,
Quảng Ngãi. Qua đó, tìm kiếm giải pháp, đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao
hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách CCHC ở huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng
Ngãi hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa, phân tích cơ sở lý luận về thực hiện chính sách và
thực hiện chính sách CCHC; chỉ ra các yếu tố đảm bảo cho việc thực hiện
chính sách CCHC.
- Khái quát, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách CCHC ở huyện
Sơn Tây, Quảng Ngãi giai đoạn 2015-2018: chỉ ra kết quả, hạn chế và
nguyên nhân cần giải quyết.
- Đề xuất định hướng hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu
lực, hiệu quả thực hiện chính sách CCHC ở huyện Sơn Tây, Quảng Ngãi
hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động tổ chức thực hiện chính sách CCHC ở huyện Sơn Tây, QN
4.2. Phạm vi và thời gian nghiên cứu:
- Về thời gian: từ năm 2015 – 2018 và định hướng đến 2025
- Về không gian: địa bàn huyện Sơn Tây.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu đề tài luận văn này dựa trên cơ sở phương pháp luận của


chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng; lấy đường lối
chính trị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, về CCHC làm định hướng nghiên cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Từ cách tiếp cận liên ngành và đa ngành khoa học xã hội và nhân văn,
luận văn vận dụng phương pháp nghiên cứu chu trình chính sách công, thực
hiện chính sách công với sự tham gia của các chủ thể chính sách.
Một số phương pháp nghiên cứu cụ thể được luận văn sử dụng:
- Phương pháp thu thập và phân tích văn bản, tài liệu báo cáo….
- Phương pháp nghiên cứu định tính: để khái quát hóa, hệ thống hóa
cơ sở lý luận về thực hiện chính sách CCHC.
- Phương pháp thống kê các số liệu thứ cấp thông qua các báo cáo và
tư liệu, so sánh, phân tích tổng hợp: để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả luận văn làm sáng tỏ hơn một số khía cạnh lý luận về thực
hiện chính sách CCHC, góp phần vào việc hệ thống hóa cơ sở lý luận thực
hiện chính sách CCHC.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn phân tích đánh giá Thực trạng thực hiện chính sách cải
cách hành chính ở huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2015-2018.
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện
chính sách cải cách hành chính ở huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi hiện nay.
Qua đó góp phần cung cấp một số luận cứ khoa học và thực tiễn có giá trị
tham khảo cho các cơ quan, phòng ban cấp huyện trong quá trình tổ chức
thực hiện chính sách CCHC hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Bên cạnh phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, kết cấu nội


dung của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách cải cách hành chính;
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách cải cách hành chính ở
huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2015-2018;
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính
sách cải cách hành chính ở huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2025.


CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH
HÀNH CHÍNH
1.1. Khái niệm, vai trò thực hiện chính sách cải cách hành chính
1.1.1. Khái niệm về thực hiện chính sách cải cách hành chính
“Chính sách” là thuật ngữ được sử dụng khá rộng rãi trong thực tiễn
đời sống xã hội. Ở tất cả các khía cạnh của đời sống xã hội, các chủ thể kinh
tế - xã hội đều có thể xác lập chính sách riêng của mình (như: chính sách của
Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội; chính sách của doanh nghiệp/ tập
đoàn; chính sách của gia đình, dòng họ, cá nhân…). Vì vậy, cách hiểu chính
sách cũng đa dạng tùy vào chủ thể quan niệm. Điển hình theo các học giả
như:
James Anderson, chính sách là một quá trình hành động có tính hướng
đích được một hay nhiều chủ thể áp dụng để giải quyết những vấn đề phát
sinh hay những vấn đề mà họ theo đuổi.
Theo Oxford English Dictionary, chính sách công là một đường lối
hành động được theo đuổi hoặc thông qua bởi chính quyền, đảng, nhà cai trị,
chính khách.
Với B.Guy Peter quan niệm chính sách công - đó là mọi hoạt động của
Nhà nước có tác động ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của
dân chúng. Quan niệm này nhấn mạnh chủ thể ban hành và thực thi chính
sách công là Nhà nướcơ và chỉ rõ phạm vi tác động của chính sách công là
hướng vào đời sống cộng đồng của người dân.
Với Thomas R.Dye định nghĩa: chính sách công là bất cứ những gì mà
nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm. Việc lựa chọn quyết định không làm
cũng có thể không kém phần quan trọng như việc quyết định làm. Quan niệm
này là hợp lý ở trường hợp Chính phủ ra quyết định không can thiệp vào các


hoạt động cụ thể của doanh nghiệp nhà nước.
William Jenkins [35] cho rằng, chính sách công là sự tập hợp các quyết
định có liên quan lẫn nhau được ban hành bởi một nhà chính trị hoặc một
nhóm các nhà chính trị lựa chọn để giải quyết các mục tiêu và phương tiện
thuộc phạm vi thẩm quyền của họ nhằm đạt mục tiêu trong một tình huống cụ
thể.
Với Clarke E. Cochran cho rằng, chính sách công luôn chỉ những hành
động của chính phủ/chính quyền và những ý định quyết định hành động này;
hoặc chính sách công là kết quả của cuộc đấu tranh trong chính quyền để ai
giành được cái gì.
Dù là mỗi định nghĩa nêu trên có các khía cạnh giới hạn nhất định,
song chúng đều hướng vào mô tả nội hàm của chính sách công mà theo học
giả Harold D.Lasswell [32] từng mô tả: Một trong các đặc điểm của chính
sách công đó là được bắt nguồn từ việc Nhà nước ban hành các quyết định
quản lý. Chính sách công hướng vào giải quyết vấn đề công cộng và tác động
ảnh hưởng tới lợi ích của số đông dân chúng trong xã hội. Mục tiêu của chính
sách nhằm tạo ra những thay đổi về hiện trạng của vấn đề hoặc điều chỉnh
hành vi để đạt được các mục tiêu phát triển của cấp quốc gia hoặc cấp địa
phương.
Chính sách công thể hiện tập trung ở mối quan hệ giữa đảng cầm
quyền, nhà nước và xã hội. Về dấu hiệu chung: (i) Chính sách công bắt
nguồn từ các quyết định do Nhà nước ban hành và nội dung của chính
sách được thể hiện trong các văn bản, quyết định của Nhà nước; (ii) Chính
sách công bao gồm một tập hợp các quyết định được ban hành và thường
được xác định dưới dạng một chuỗi các quyết định gắn liền với nhau; (iii)
Chính sách công hướng vào giải quyết vấn để công cộng và tác động đến lợi
ích của một hoặc nhiều nhóm dân cư trong xã hội; (iv) Chính sách công là
chương trình hành động, phương sách hành động được chủ thể lựa chọn thực


hiện để giải quyết những vấn đề cụ thể nhằm vào mục tiêu xác định. Chính
sách công được xem là “ đầu ra” của quá trình quản lý nhà nước, nó là sản
phẩm trí tuệ và lao động của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước và của cả xã
hội.
Theo đó, nội hàm của chính sách công là tổng thể các chủ trương, tư
tưởng, quan điểm, mục tiêu và hành động ứng xử của Nhà nước bằng các giải
pháp để hiện thực hóa mục tiêu đã xác định. Mục tiêu của chính sách công là
tạo ra những thay đổi và nhằm đạt được các mục tiêu phát triển của đất nước
hoặc địa phương.
Từ đây có thể hiểu: Chính sách công là hành động ứng xử do nhà nước
lựa chọn để vận hành giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn đời sống
cộng đồng phù hợp với thái độ lập trường chính trị ở mỗi giai đoạn để bảo
đảm cho xã hội phát triển theo định hướng xác định.
Thực hiện chính sách công (hay thực thi chính sách) là toàn bộ quá
trình hoạt động chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách công (ý chí của nhà
nước) thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định.
Theo tác giả Lê Chi Mai [3; tr.112], đó là bước chuyển biến những ý đồ chính
sách thành các kết quả trên thực tế thông qua hoạt động có tổ chức của các cơ
quan nhà nước nhằm hiện thực hóa các mục tiêu đã đề ra. Còn theo Thomas
Dye [6;tr.97], thực hiện chính sách công là việc tổ chức thiết kế tất cả các
hoạt động để thực thi chính sách đã được cơ quan lập pháp thông qua. Bởi
chính sách công với những tác động có chủ định, tức là chúng chuyển thành
chương trình hành động nhằm đạt các mục tiêu đã xác định. Theo Amy
DeGroff và Margaret Cargo, thực hiện chính sách công phản ánh một quá
trình thay đổi phức tạp mà các quyết định của Nhà nước được chuyển
thành các chương trình, thủ tục, các quy định, hoặc các hoạt động nhằm
đạt được những cải thiện xã hội. Còn với Ottoson và Green cho rằng, thực
thi là một quá trình lặp đi lặp lại, trong đó các ý tưỏng được thể hiện trong


chính sách công được biến đổi thành hành vi, được thể hiện thành hành
động xã hội. Thông thường, hành động xã hội được biến đổi từ chính sách
nhằm đạt được sự cải thiện xã hội; và thường được thể hiện phổ biến nhất
dưới dạng các chương trình, thủ tục, quy định và hành động.
Do đó, Thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình hoạt động của các
chủ thể tham gia tổ chức triển khai chương trình hành động bằng các giải
pháp đã được xác định trong các quyết định bằng văn bản pháp lý để bảo
đảm các mục tiêu dự kiến trong các quyết định đó thành hiện thực.
Đối với cải cách hành chính (CCHC), đó là hành vi hành chính để nâng
cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nền hành chính công thông qua cải cách
để thiết lập chế độ, phương pháp mới.
Theo đó, CCHC là quá trình tái thiết cơ bản nhằm thiết lập chế độ, cơ
cấu tổ chức bộ máy, nhân sự và phương pháp mới ở các lĩnh vực quản lý
hành chính nhà nước để gia tăng hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nền hành
chính công. Trong đó, riêng việc cải cách thủ tục hành chính được hiểu là cải
cách những quy định của pháp luật về trình tự và thủ tục thực hiện thẩm
quyền của cơ quan hành chính nhà nước và những người có thẩm quyền; cải
cách quá trình thực hiện thủ tục hành chính; cải cách những quy định đối với
những loại thủ tục hành chính.
Như vậy, có thể xác định: Thực hiện chính sách cải cách hành chính là
toàn bộ quá trình hoạt động của các chủ thể tham gia để tổ chức triển khai
chương trình hành động bằng các giải pháp đã được xác định trong các quyết
định về cải cách hành chính nhằm bảo đảm hiện thực hóa nội dung cải cách
hành chính theo các mục tiêu đã đề ra một cách hiệu quả, vì lợi ích và mục
đích chung của cộng đồng.
1.1.2. Vai trò của việc thực hiện chính sách cải cách hành chính
Chính sách công là sự kết tinh ý chí của chủ thể về phương thức
tác động đến các đối tượng, vì vậy chính sách công cũng cần phải có những


chức năng vai trò nhất định để tồn tại. Song, chức năng của chính sách chỉ
được thực hiện hóa khi nó tham gia vào quá trình vận động, triển khai thực
thi trong thực tiễn đời sống xã hội. Việc thực hiện/ thực thi chính sách công là
một yêu cầu tất yếu khách quan để duy trì sự tồn tại của chính sách với tư
cách là công cụ thể chế hóa các mục tiêu tổng thể của chủ thể chính trị theo
đuổi thông qua nhà nước, là công cụ quan trọng của Nhà nước trong quản lý
vĩ mô để đạt mục tiêu mà chính sách đó theo đuổi.
Do đó, thực hiện chính sách là một khâu hợp thành chu trình chính
sách công, nó chiếm vị trí rất quan trọng trong chu trình chính sách công. Nếu
thiếu vắng công đoạn này thì chu trình chính sách công không thể tồn tại.
Nên thực hiện chính sách công là giai đoạn hiện thực hóa mục tiêu chính
sách công, nó có vai trò, ý nghĩa quyết định. Đúng vậy, thực hiện chính sách
công là trung tâm kết nối các khâu, các bước trong chu trình chính sách
thành một hệ thống, nhất là với hoạch định chính sách. Hoạch định được
chính sách công tốt và có chất lượng là quan trọng, song thực hiện tốt chính
sách công còn quan trọng hơn. Bởi lẽ, so với các khâu khác trong chu trình
chính sách, thực hiện chính sách công có vị trí đặc biệt quan trọng, là bước
hiện thực hoá chính sách trong đời sống xã hội (có chính sách công tốt nhưng
nếu không thực hiện được sẽ trở thành khẩu hiệu suông). Hơn nữa, có chính
sách tốt và quá trình thực hiện tốt sẽ đem lại thành công. Chính sách tồi song
thực hiện tốt cũng có thể dẫn đến thành công. Nhưng một khi chính sách tốt
hoặc tồi mà thực hiện lại tồi thì hiển nhiên nhận lấy sự thất bại [6; tr.97-99].
Theo Wayne Hayes [34] cũng khẳng định, có bốn khả năng xảy ra: (i) Chính
sách công tốt và thực hiện tốt dẫn đến thành công; (ii) Chính sách công tốt,
nhưng thực hiện tồi dẫn đến thất bại; (iii) Chính sách công tồi, nhưng thực
hiện tốt dẫn đến thành công; (iv) Chính sách công tồi và thực hiện tồi dẫn
đến thất bại kép.
Nói cách khác, để có được một chính sách công tốt, các nhà hoạch


định phải trải qua một quá trình đầu tư nghiên cứu, tìm kiếm kỹ lưỡng rất
công phu. Song dù cho tốt đến đâu thì chính sách công cũng trở thành vô
nghĩa, thậm chí còn ảnh hưởng đến uy tín của chủ thể hoạch định và ban hành
chính sách (uy tín của nhà nước) - nếu chính sách đó không được đưa vào
thực hiện. Hoặc nếu chính sách công không được thực hiện đúng sẽ dẫn đến
sự thiếu tin tưởng và sự phản ứng của người dân và cộng đồng xã hội đối với
nhà nước. Cả hai tình huống này đều gây nên bất lợi về mặt chính trị và xã
hội, gây những bất ổn, khó khăn cho nhà nước trong công tác quản lý điều
hành kinh tế - xã hội.
Vì vậy, đối với việc thực hiện chính sách CCHC có vai trò rất quan
trọng, nó được thể hiện ở các phương diện cụ thể sau:
- Thực hiện chính sách CCHC giúp từng bước hiện thực hóa hệ mục
tiêu chính sách này.
Nhà nước ban hành chính sách CCHC nhằm giải quyết những vấn đề
thách thức và hạn chế đang đặt ra trong thực tiễn hiện nay. Do vậy, các cơ
quan Nhà nước đều kỳ vọng chính sách CCHC đáp ứng yêu cầu của hội nhập
và phát triển trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Mục tiêu này chỉ đạt được kết quả tốt khi và chỉ khi thông qua quá trình vận
hành chính sách, thực hiện chính sách CCHC.
Trong quản lý, điều hành nền kinh tế nhiều thành phần hoạt động theo
cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước phải đối xử với
nhiều đối tượng có quan hệ khác nhau nên việc thực hiện chính sách CCHC
nhằm biến ý đồ chính sách thành hiện thực là rất quan trọng. Xuất phát từ
địa vị chính trị, kinh tế, xã hội và pháp lý của từng đối tượng thuộc các
thành phần là đa dạng và không giống nhau, nên việc phát huy tác dụng của
các đối tượng trong quá trình vận động đến mục tiêu, nhà nước có thái độ
ứng xử một cách thích hợp với mỗi vấn đề phát sinh thuộc các thành phần
kinh tế khác nhau. Và trong quản lý kinh tế - xã hội, bộ công cụ được nhà


nước dùng để chuyển tải thái độ ứng xử của mình đến các đối tượng quản lý
là chính sách, nhất là chính sách CCHC. Tuỳ theo yêu cầu quản lý phát triển
nền kinh tế - xã hội ở từng thời kỳ, nhà nước chủ động ban hành các chính
sách CCHC để thể hiện ý chí trong quan hệ với các thành phần kinh tế theo
định hướng xác lập.
Ở khía cạnh mục tiêu, chính sách CCHC có liên quan đến tất cả các
hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội ở nhiều cấp độ khác nhau, nên khó có
thể cùng một lúc giải quyết tất cả các vấn đề có liên quan. Nên việc thực
hiện chính sách CCHC để giải quyết các vấn đề phải đặt trong mối quan hệ
hữu cơ, biện chứng, chặt chẽ với mục tiêu cơ bản nhất nhằm thúc đẩy quá
trình vận động của cả hệ thống đáp ứng thống nhất vào mục tiêu chung.
Về căn bản, để có thể đưa chính sách CCHC vào trong thực tế, các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện chính sách phải ban hành các văn
bản, thiết lập chương trình hành động khả thi với các kế hoạch cụ thể bao
gồm các mục tiêu, nhiệm vụ giải pháp, phương thức, phương tiện, các nguồn
lực, thủ tục và các hoạt động tiến hành, tiến độ thực hiện phù hợp với thực
tiễn của địa bàn thực hiện chính sách CCHC.
- Thực hiện chính sách CCHC nhằm kiểm chứng tính đúng đắn và hợp
lý của chính sách này trong thực tiễn.
Dù rằng, vấn đề chính sách tự nó đã phản ánh nhu cầu cơ bản của xã
hội về việc giải quyết mâu thuẫn phát sinh. Nếu nhu cầu đó là chính đáng,
bức xúc cần được đáp ứng để xã hội tồn tại, phát triển thì vấn đề chính sách
được coi là đúng đắn và ngược lại. Thực tế cho thấy, tính đúng đắn của chính
sách thường được xác định thông qua việc giải quyết các mâu thuẫn bằng
chính sách đã hiệu quả hay không của vấn đề chính sách. Như vậy, tính
đúng đắn của chính sách CCHC chỉ được xác thực thông qua thực thi chính
sách CCHC và chúng được đo lường khi xã hội và đối tượng thụ hưởng thừa
nhận/ hài lòng.


Xuất phát từ việc xác lập chính sách CCHC vốn dĩ là để đáp ứng nhu
cầu thiết yếu và phát triển trong thực tiễn đời sống xã hội. Chính sách CCHC
đúng đắn khi và chỉ khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu (tiêu chuẩn) của một
chính sách tốt. Tuy nhiên, một chính sách công sau khi hoạch định được
coi là tốt thì giá trị của nó cũng chỉ mới dừng lại ở phương diện nguyện
vọng, mong muốn mà thôi. Nói cách khác, khi một chính sách công ra đời với
yêu cầu là phải đáp ứng về tính hợp pháp của chính sách, tính phù hợp với
mục tiêu phát triển, phù hợp với thực tế hoàn cảnh và có tính khả thi. nên
điểm cốt lõi là nội dung của chính sách CCHC có thực sự đúng đắn và phù
hợp với thực tiễn vận động đời sống xã hội ở mức độ nào thì chỉ có thể nhận
thức đầy đủ, đúng đắn và kiểm chứng rõ nét hơn trong giai đoạn thực hiện/
thực thi chính sách CCHC. Qua thực hiện chính sách mới xác định được
chính sách công đó có đúng đắn và phù hợp thực tiễn cuộc sống không.
Một khi chính sách CCHC được triển khai thực hiện rộng rãi trong
đời sống kinh tế - xã hội, thì tính đúng đắn của nó được khẳng định ở mức
cao hơn, tức là được cả xã hội thừa nhận, nhất là các đối tượng thụ hưởng
chính sách. Bởi vì quá trình thực hiện/ thực thi chính sách trên thực tế sẽ cung
cấp và xác thực cho Nhà nước về các bằng chứng thực tiễn đối với mục tiêu
chính sách CCHC có khả thi ở mức độ nào, các giải pháp chính sách thực sự
có phù hợp với vấn đề thực tiễn đặt ra hay không và liệu có hướng vào giải
quyết vấn đề đặt ra/ vấn đề mới phát sinh không? Mặt khác, các nỗ lực CCHC
thường mất đi động lực (suy giảm tính đúng đắn của chính sách CCHC) - nếu
không có bằng chứng về sự thay đổi tích cực.
Nếu đưa vào thực hiện/ thực thi tốt chính sách CCHC thì chẳng những
đem lại lợi ích to lớn cho các nhóm đối tượng thụ hưởng, mà còn góp phần
quan trọng hơn là gia tăng sự hài lòng của tổ chức, doanh nghiệp, người dân
tạo nền tảng nâng cao uy tín của Đảng và Nhà nước trong quá trình quản lý
xã hội.


- Thực hiện chính sách CCHC là cơ sở thực tiễn giúp điều chỉnh hoàn
thiện chính sách CCHC tốt hơn.
Thực tiễn chính là thước đo của chân lý, là phương thức hiệu quả nhất
nhằm giúp một chính sách bất kỳ về CCHC ngày càng tốt hơn. Bởi chính sách
CCHC khi được ban hành - ngay từ ban đầu nó mới chỉ là sự khởi xướng và
hoạch định của một tập thể của cơ quan hoạch định chính sách, nên không thể
tránh khỏi tầm ảnh hưởng của ý chí chủ quan. Ý chí chủ quan chẳng
những ảnh hưởng đến quá trình hoạch định chính sách CCHC, mà còn tác
động qua nhiều quá trình phân tích, dự báo, lựa chọn để có được mục tiêu,
biện pháp chính sách CCHC. Chính sách được hoạch định dựa chủ yếu vào
thực trạng của môi trường sống và có khoảng cách khá lớn về thời gian kể
từ khi hoạch định đến lúc tổ chức thực thi trong khi các quá trình kinh tế xã hội luôn thường xuyên vận động phát triển. Nên chính sách CCHC sẽ khó
tránh khỏi độ vênh về khoảng cách khi so với thực tiễn đời sống xã hội.
Do ảnh hưởng của ý chí chủ quan và sự vận động, phát triển của môi
trường nên giữa chính sách CCHC và thực tế xã hội trong giai đoạn tổ chức
thực thi chắc chắn có khoảng cách cần được lấp đầy bằng những điều chỉnh
về chính sách CCHC hay các biện pháp tổ chức thực thi chính sách này.
Những điều chỉnh bổ sung về mục tiêu hoặc các biện pháp chính sách
CCHC trong quá trình thực hiện chính là hoạt động điều chỉnh đối với một
số mặt nội dung còn chưa phù hợp của chính sách CCHC hiện hữu, tiếp nhận
được thông tin phản hồi từ các chủ thể thực hiện chính sách CCHC, từ đối
tượng chịu sự tác động ảnh hưởng của chính sách này; đồng thời những điều
chỉnh này góp phần đúc kết bài học từ kinh nghiệm thực tiễn để cải thiện/
hoàn thiện cho quá trình hoạch định thiết kế các chính sách CCHC kỳ tiếp
sau. Mặt khác, quá trình thực hiện chính sách CCHC đồng thời phát hiện
những bằng chứng về tính tích hợp và tác động của các giải pháp trước đó.
Điều này xác nhận rằng, mối quan hệ hữu cơ giữa giai đoạn hoạch định chính


sách CCHC và thực hiện chính sách CCHC. Kết quả thực hiện chính sách
CCHC là cơ sở đánh giá một cách khách quan, chính xác về chất lượng, hiệu
quả của chính sách CCHC.
Nói tóm lại, trong quá trình thực hiện/ thực thi chính sách CCHC là
bước vận dụng đồng bộ, linh hoạt, sáng tạo nhằm thích hợp với điều kiện thực
tiễn ở từng địa phương. Trong quá trình đó, các chủ thể thực hiện sẽ tham vấn/
phản biện để đề xuất/ kiến nghị các mục tiêu, giải pháp chính sách CCHC tác
động hợp lý, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội. Chính sách CCHC chắc
chắn sẽ ngày càng hoàn chỉnh chỉ có thể thông qua việc thực hiện/ thực thi
chính sách CCHC. Quá trình thực hiện chính sách CCHC sẽ đóng góp vào
điều chỉnh/ sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện chính sách này mang tính khả thi,
phù hợp hơn để đáp ứng yêu cầu thực tiễn cuộc sống.
1.2. Nội dung và yêu cầu thực hiện chính sách cải cách hành chính
nhà nước
1.2.1. Chủ thể thực hiện chính sách CCHC
Tùy thuộc vào các quy định của hiến pháp, chế độ chính trị, nguyên
tắc thực thi quyền lực nhà nước, cách thức thiết kế tổ chức bộ máy nhà
nước, mức độ dân chủ, minh bạch công khai trong quản lý nhà nước, trình
độ kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia mà số lượng chủ thể tham gia vào quá
trình thực hiện chính sách công ở các quốc gia phần lớn là không giống nhau.
Theo Lê Vinh Danh [2; tr.287-293], ở Mỹ, có năm chủ thể tham gia vào thực
hiện chính sách và chúng cùng tác động lẫn nhau trong tiến trình thực hiện.
Năm chủ thể tham gia thực hiện chính sách gồm: (1) Các cơ quan chuyên
trách của chính phủ và viên chức của họ là lực lượng nòng cốt để thực hiện
chính sách; (2) Các thành viên của Quốc hội - nhiều nghị sĩ quốc hội và các
ủy ban như ủy ban Ngân sách, ủy ban Đường lối và Chính sách,... quản lý
rất chặt chẽ việc tổ chức thực hiện chương trình; (3) Hệ thống tòa án trực
tiếp thực hiện một số chính sách và tham gia thi hành chính sách với cơ quan


chuyên trách của chính phủ; (4) Các tổ chức lợi ích gây ảnh hưởng đối với
các cơ quan chuyên trách của chính phủ và tham gia vào cung ứng các đầu
ra chính sách; (5) Đối tượng thụ hưởng chính sách là tác nhân thụ động song
họ góp phần vào sự thành công hay thất bại của chính sách.
Theo Đỗ Đức Minh, chủ thể thực hiện chính sách là những tổ chức,
nhóm xã hội hoặc cá nhân mà những hành động cụ thế của họ có tác dụng
đưa chính sách từ lý thuyết trở thành hiện thực, mà từ đó tạo nên những
biến đổi trong thực tiễn đời sống xã hội. Lực lượng tham gia thực hiện
chính sách rất đông đảo, gồm các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, nhân dân hoặc các đối tượng của chính sách; trong đó, chủ thể triển
khai trước hết và quan trọng nhất là các cơ quan hành chính nhà nước cùng
với các công chức của các cơ quan đó.
Như vậy, đối với chính sách CCHC có rất nhiểu chủ thể tham gia vào
quá trình thực hiện chính sách này và các chủ thể này có mối quan hệ tương
tác lẫn nhau trong quá trình thực hiện chính sách CCHC. Quy mô số lượng
chủ thể và vai trò của từng nhóm chủ thề tham gia thực hiện tùy thuộc vào
chính sách CCHC và bối cảnh điều kiện của nước ta ở từng thời kỳ. Song về
cơ bản, các chủ thể tham gia thực hiện chính sách CCHC có thể được chia
thành các nhóm sau đây:
- Chủ thể tổ chức thực hiện chính sách CCHC là các cơ quan nhà nước
từ cấp Trung ương đến cấp xã (bao gồm Quốc hội, các bộ, chính quyền địa
phương các cấp…) và đội ngũ nhân sự là các nhà chính trị trong bộ máy nhà
nước, các cán bộ quản lý chính sách CCHC và lực lượng công chức nhà nước
thực hiện chính sách này. Đây cũng là nhóm chủ thể chính về việc chịu trách
nhiệm thực hiện chính sách CCHC. Chất lượng và hiệu quả thực hiện chính
sách CCHC phụ thuộc rất nhiều vào năng lực và trách nhiệm công vụ của đội
ngũ cán bộ, công chức tổ chức thực thi chính sách CCHC;
- Chủ thể tham gia thực hiện chính sách CCHC là các đối tác phi nhà


nước tham gia thực hiện chính sách CCHC, bao gồm: các doanh nghiệp, các
nhà cung cấp dịch vụ, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước;
- Chủ thể tham gia thực hiện chính sách CCHC với tư cách là đối
tượng thụ hưởng trực tiếp và gián tiếp từ chính sách này: Các cộng đồng
doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp đại diện cho công đồng doanh
nghiệp, các cộng đồng dân cư, các nhóm dân số và rộng hơn là tất cả mọi
người dân.
Ở bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, bên
cạnh các nhóm chủ thể tham gia thực thi chính sách đề cập trên, quá trình
thực thi chính sách công còn có sự tham gia của các đối tác là các tổ chức
quốc tế, tổ chức phi chính phủ, các nhà tài trợ quốc tế… Mặt khác, trong
điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân và
thừa nhận sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHXN đặt ra xu
hướng xã hội hóa các hoạt động của nhà nước – nhất là trong cung cấp dịch
vụ công, quá trình thực hiện chính sách CCHC có sự tham gia tích cực của
các đối tác xã hội như các thương nhân, doanh nghiệp, các tổ chức đào tạo,
tổ chức nghiên cứu, hiệp hội, người dân...
1.2.2. Các giai đoạn thực hiện chính sách CCHC
Quá trình thực hiện chính sách CCHC trong đời sống thực tiễn đòi hỏi
các chủ thể thực hiện chính sách này phải tổ chức tiến hành nhiều công việc ở
cả cấp trung ương và cấp địa phương. Ngay sau khi ban hành chính sách quốc
gia về CCHC thì chính các cơ quan Nhà nước ở trung ương (Chính phủ, Bộ
ngành chức năng và liên quan) sẽ ra các văn bản hướng dẫn và thiết lập các
chương trình/ dự án/ đề án triển khai chính sách CCHC. Tiếp đó, chính quyền
các địa phương căn cứ vào văn bản hướng dẫn để tổ chức thực hiện chính
sách CCHC phù hợp trên địa bàn địa phương mình.
Giai đoạn thực hiện chính sách CCHC được hiểu là một hệ thống các
bước, các hoạt động cần thiết để đưa chính sách CCHC đi vào thực tiễn cuộc


sống nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách CCHC. Yêu cầu trong quá trình
này đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ, thống nhất và chặt chẽ diễn ra giữa
nhiều chủ thể, nhiều cơ quan Nhà nước với nhau trong một thời gian xác định.
Do tầm quan trọng của giai đoạn hiện thực hoá chính sách CCHC nên
các cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương
trong công tác tổ chức triển khai thực hiện chính sách CCHC, cần tuân thủ
các bước tổ chức thực thi cơ bản của giai đoạn thực hiện chính sách CCHC
dưới đây:
- Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách CCHC
Kế hoạch triển khai thực thi chính sách CCHC được xây dựng trước
khi đưa chính sách này vào cuộc sống. Các cơ quan Nhà nước tổ chức thực
thi chính sách từ cấp Trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế
hoạch, chương trình thực hiện. Việc xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện
chính sách CCHC được tiến hành từ khâu lập kế hoạch, chương trình để các
cơ quan nhà nước chủ động trong triển khai thực hiện chính sách CCHC.
Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách CCHC bao gồm các nội
dung cơ bản sau:
+ Xác định kế hoạch về tổ chức, điều hành như hệ thống các cơ quan
tham gia, đội ngũ nhân sự, cơ chế thực thi:
Việc lập kế hoạch tổ chức điều hành chính sách cần đảm bảo bảng dự
kiến cụ thể về hệ thống các cơ quan chủ trì, cơ quan thực hiện và cơ quan
phối hợp triển khai thực hiện chính sách CCHC; số lượng và chất lượng
nhân sự theo yêu cầu nhiệm vụ khi tham gia tổ chức thực hiện; dự kiến về cơ
chế trách nhiệm của cán bộ quản lý và công chức thực hiện; cơ chế tác
động giữa các cấp thực hiện chính sách CCHC.
+ Xác định kế hoạch cung cấp các nguồn lực vật chất đáp ứng việc
phục vụ tổ chức thực hiện chính sách CCHC, như dự kiến về: cơ sở vật chất,
trang thiết bị kỹ thuật; các nguồn lực tài chính, các vật tư văn phòng phẩm...


+ Xác định tiến độ thời gian triển khai thực hiện thông qua dự kiến
về thời gian duy trì chính sách CCHC; dự kiến các bước tổ chức triển khai
thực hiện từ tuyên truyền phổ biến chính sách CCHC đến sơ - tổng kết rút
kinh nghiệm. Mỗi nhiệm vụ đều phải có mục tiêu xác định cần đạt được và
dự kiến thời gian thực hiện mục tiêu. Cũng có thể dự kiến mỗi nhiệm vụ cho
phù hợp với một chương trình cụ thể của chính sách CCHC.
+ Đề ra kế hoạch kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách CCHC,
cụ thể là các dự kiến về tiến độ, hình thức, phương pháp kiểm tra, giám sát tổ
chức thực hiện chính sách CCHC.
+ Thiết lập hệ thống nội quy, quy chế trong thực hiện chính sách CCHC
bao gồm nội quy, quy chế về tổ chức và điều hành thực thi chính sách; về
trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của cán bộ, công chức và các cơ quan
nhà nước tham gia tổ chức điều hành chính sách CCHC; về các biện pháp
khen thưởng, kỷ luật trong tổ chức thực hiện chính sách CCHC...
Bảng kế hoạch thực hiện chính sách CCHC ở cấp nào do thẩm quyền
lãnh đạo, quản lý ở cấp đó xem xét thông qua. Sau khi được phê duyệt, kế
hoạch thực thi chính sách CCHC mang giá trị pháp lý, được mọi người chấp
hành thực hiện. Việc điều chỉnh kế hoạch này cũng do cấp có thẩm quyền phê
duyệt kế hoạch đó quyết định.
- Bước 2: Tổ chức phổ biến, tuyên truyền chính sách CCHC
Đây là công đoạn tiếp theo sau khi bản kế hoạch triển khai thực hiện
chính sách CCHC được phê duyệt, các cơ quan nhà nước tiến hành triển
khai tổ chức thực hiện theo kế hoạch CCHC.
Nhiệm vụ trước tiên cần thiết phải làm của quá trình này - đó là tổ
chức tuyên truyền phổ biến, vận động nhân dân tham gia thực hiện chính
sách CCHC. Vì nó giúp cho nhân dân, các cấp chính quyền hiểu được về
chính sách và giúp cho chính sách được triển khai thuận lợi và có hiệu quả.
Hoạt động này có ý nghĩa quan trọng đối với cơ quan nhà nước và các đối


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×