Tải bản đầy đủ

Luận văn thạc sĩ Khai thác các giá trị văn hóa truyền thống làng Dưỡng Động

Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA
TRUYỀN THỐNG LÀNG DƯỠNG ĐỘNG VỚI VIỆC
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CHO HỌC SINH
TIỂU HỌC MINH TÂN - THỦY NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC TIỂU HỌC
MÃ SỐ: 60. 14. 01. 01


Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Quốc Tuấn

HẢI PHÒNG - 2017


Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Vũ Thị Hoa – Học viên chuyên ngành Giáo dục Tiểu học, Khóa I
Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Hải Phòng. Tôi xin cam đoan rằng:
- Luận văn thạc sĩ “Khai thác các giá trị văn hóa truyền thống làng
Dưỡng Động với việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh tiểu học Minh
Tân – Thủy Nguyên” này do chính tôi thực hiện.
- Nội dung nghiên cứu và các thông số được trình bày trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực, chưa được công bố ở các nghiên cứu khác hay trên
bất kỳ phương tiện truyền thông nào. Tôi xin cam đoan rằng các thông tin
trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và kết quả nghiên cứu trong luận văn
tốt nghiệp của mình.
Hải Phòng, ngày…tháng….năm 2017
Học viên


Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

ii

LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của giảng viên hướng dẫn TS. Trần Quốc Tuấn tôi đã
thực hiện luận văn “Khai thác các giá trị văn hóa truyền thống làng Dưỡng
Động với việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh tiểu học Minh Tân –
Thủy Nguyên”.


Để hoàn thành luận văn này, trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc đến TS. Trần Quốc Tuấn – giảng viên Khoa Giáo dục Tiểu học – Mầm
non đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Giáo dục Tiểu
học – Mầm non cùng các thầy cô giáo trong trường Đại học Hải Phòng đã tận
tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể giáo viên và học sinh trường Tiểu học
Minh Tân (huyện Thủy Nguyên – Hải Phòng) đã giúp đỡ và tạo điều kiện
thuận lợi để tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường.
Mặc dù có nhiều cố gắng để thực hiện luận văn một cách hoàn thiện
nhất, song do hạn chế về năng lực nghiên cứu, kiến thức và kinh nghiệm nên
luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi rất mong nhận
được những ý kiến bổ sung, đóng góp quý báu của thầy, cô giáo và các bạn để
luận văn hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hải Phòng, ngày…tháng….năm 2017
Học viên


iii

MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN…………………………………………………………….i
LỜI CẢM ƠN………………………………………………………………..ii
MỤC LỤC……………………………………………………………….......iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT…………………………………………….. …iv
MỞ ĐẦU …………………………………………………………………….1
NỘI DUNG…………………………………………………………………..9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI…………………………..9
1.1. Cơ sở lí luận……………………………………………………………..9
1.1.1. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học……………………………….9
1.1.2. Khái niệm về văn hóa và văn hóa truyền thống………………………15
1.1.3. Cơ sở lí thuyết của giáo dục học và giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu
học…………………………………………………………………………..17
1.1.4. Mối tương tác giữa văn hóa và giáo dục …………………………….20
1.2. Cơ sở thực tiễn …………………………………………………………21
1.2.1 Văn hóa truyền thống địa phương trong đời sống sinh hoạt của người
dân làng Dưỡng Động ……………………………………………………...21
1.2.2. Nội dung giáo dục văn hóa truyền thống tới việc rèn luyện đạo lối sống
cho HS ở trường Tiểu học…………………………………………………..23
1.2.3. Thực trạng việc giáo dục văn hóa truyền thống và việc giáo dục đạo
đức, lối sống trong phân môn Đạo đức lớp 5 cho học sinh trường Tiểu học
Minh Tân……………………………………………………………………24
CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC LỐI
SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC MINH TÂN – THỦY NGUYÊN…...28
2.1. Các yếu tố nền tảng tạo dựng nên các giá trị văn hóa truyền thống làng
Dưỡng Động.............................................................................................. .....28
2.1.1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên............................…………………...28
2.1.2. Không gian văn hóa.............................………………………………..31
2.2. Một số giá trị văn hóa truyền thống làng Dưỡng Động có ảnh hưởng tới
sự hình thành đạo đức, lối sống cho học sinh trường Tiểu học Minh Tân
…….................................................................................................................33
2.2.1. Phong tục, tập quán…………………………………………………...33


2.2.2. Tín ngưỡng dân gian………………………………………………….36
2.3. Một số biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học Minh Tân –
Thủy Nguyên thông qua các giá trị văn hóa truyền thống làng……………..47
2.3.1.Biện pháp 1: Tích hợp giáo dục đạo đức vào các môn học khác...….. ...7
2.3.2. Biện pháp 2: Tổ chức hoạt động trải nghiệm ………………………...56
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM…………………………………68
3.1. Mục đích, ý nghĩa thực nghiệm…………………………………………68
3.2. Đối tượng, địa bàn thực nghiệm………………………………………...69
3.3. Nội dung thực nghiệm…………………………………………………..70
3.4. Thời gian thực nghiệm……………………………………………….....70
3.5. Tiến trình thực nghiệm……………………………………………….....70
3.6. Kết quả thực nghiệm…………………………………………………....71
3.7. Kết luận chung về thực nghiệm…………………………………………72
PHẦN KẾT LUẬN………………………………………………………….74
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………..76


iv

DANH MỤC VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Giải tích

GV

Giáo viên

HS

Học sinh

HT

Hoàn thành

HTT

Hoàn thành tốt

Nxb

Nhà xuất bản

SGK

Sách giáo khoa

SGV

Sách giáo viên

TS

Tiến sĩ

ThS

Thạc sĩ

Tr

Trang


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc chung sống (54 dân tộc)
thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau với sự khác biệt nhau về quy mô dân
số, hoàn cảnh sống, truyền thống, phong tục, lịch sử và bản sắc văn hóa từng
dân tộc. Nền văn hóa Việt Nam là tổng thể sinh động những giá trị và sắc thái
riêng của 54 dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Các giá trị và
sắc thái riêng đó đã tồn tại, phát triển và bổ sung cho nhau, làm lên một toàn
cảnh sinh động, đa dạng và phong phú về bức tranh văn hóa của đất nước.
Văn hoá Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam,
làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc. Văn hóa truyền thống Việt Nam
được lưu giữ và bảo tồn qua hoạt động văn hóa làng. Vì vậy nói đến văn hóa
Việt Nam thì phải nói đến văn hóa làng. Văn hóa làng Việt truyền thống rõ
nét nhất là văn hóa làng Việt Bắc Bộ. Làng Việt Bắc Bộ là nơi bao đời nay cư
dân Việt cư trú, lao động, sản xuất và tổ chức mọi sinh hoạt văn hóa, sinh
hoạt tinh thần, đồng thời là nơi cố kết quan hệ dòng tộc, xóm giềng.
Làng là mô hình để người xưa theo đó mà mở rộng ra xây dựng tổ chức
quốc gia, đô thị. Làng còn là pháo đài để chống giặc ngoại xâm cùng mọi yếu
tố ngoại lai, bảo vệ sự bình yên cho dân tộc, cho đất nước. Văn hóa làng được
thể hiện thông qua các biểu trưng văn hóa mang giá trị truyền thống: cây đa,
bến nước, con đê, mái đình, đến các bản gia phả, hương ước, hội hè đình đám,
những làn điệu dân ca. Đó còn là phong tục tập quán, cách ứng xử, tâm lý, tín
ngưỡng tôn giáo, phương thức hoạt động, nghề đặc trưng. Có thể xem văn hóa
làng chính là những khuôn thước ứng xử nằm sâu trong mỗi con người,
những nhân tố tạo nên tính cộng đồng. Và những ứng xử giữa con người với
con người, con người với thiên nhiên, giữa các cộng đồng với nhau được tổng
kết qua kinh nghiệm sống đã trở thành văn hóa. Văn hóa làng như một dòng
nước ngầm không thể nhìn thấy nhưng lại có sức mạnh chi phối, điều khiển
mỗi người trong cộng đồng làng. Tổng thể nền văn hóa dân tộc đều mang bản


2

sắc văn hóa vùng, miền. Mà cái tạo nên văn hóa vùng miền chính là văn hóa
làng, đơn vị tổ chức nhỏ nhất. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc
có nền văn hóa riêng biệt. Vì vậy nền văn hóa Việt Nam cũng đa dạng và vô
cùng phong phú. Cuộc sống cộng đồng ở làng đã tạo ra sự đoàn kết, gắn bó,
yêu thường đùm bọc lẫn nhau, đó là ngọn nguồn của nếp sống trọng tình
trong truyền thống ứng xử của người Việt. Cả cuộc đời và qua nhiều đời,
người dân Việt Nam làm ăn, sinh sống ở làng, mọi người hiểu nhau rành rọt,
thân quen, gắn bó với nhau từ tấm bé với các mối quan hệ bền chặt nhau
“Hàng xóm láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau”, lối sống giàu tình cảm, trọng
tình nghĩa là một nét đẹp trong truyền thống của dân tộc.
Chính vì vậy văn hóa làng có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng tới đời sống
văn hóa, xã hội, kinh tế, giáo dục của cộng đồng làng. Riêng đối với giáo dục,
văn hóa làng có vai trò vô cùng quan trọng. Văn hóa là môi trường để hình
thành nuôi dưỡng nhân cách, con người, văn hóa giúp con người hoàn thiện
phẩm chất đạo đức, cách ứng xử giữa người và người, giữa người với thiên
nhiên. Trong những ảnh hưởng của văn hóa làng tới cộng đồng làng thì sự
ảnh hưởng tới lớp trẻ nói chung và đặc biệt học sinh tiểu học nói riêng là rất
lớn. Từ truyền thống văn hóa làng học sinh biết yêu thương con người hơn,
biết đoàn kết, lễ phép, có những hành vi chuẩn mực đạo đức đúng đắn, biết
nhìn nhận về sự bao dung, cái thiện, nhân cách sống trong các mối quan hệ,
biết phân biệt cái tốt và cái xấu để hoàn thiện nhân cách của mình.
Hội nhập kinh tế ngoài mặt tích cực nó còn làm phát sinh những vấn đề
mà chúng ta cần quan tâm: Bản sắc văn hóa dân tộc bị đe dọa, hội nhập kinh
tế quốc tế đưa vào nước ta những sản phẩm đồi trụy, phản nhân văn, reo rắc
lối sống tự do tư sản, làm xói mòn những giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục
của dân tộc. Hiện nay một số bộ phận thanh niên có dấu hiệu sa sút nghiêm
trọng về đạo đức, nhu cầu cá nhân phát triển lệch lạc, kém ý thức trong quan
hệ cộng đồng, thiếu niềm tin trong cuộc sống, ý chí kém phát triển, không có
tính tự chủ dễ bị lôi cuốn vào những việc xấu. Trong nhà trường phổ thông


3

nói chung và trường Tiểu học nói riêng, số HS vi phạm về đạo đức có chiều
hướng gia tăng. Một số GV chưa thực sự là tấm gương sáng cho HS, chỉ lo
chú trọng đến việc dạy tri thức khoa học, xem nhẹ môn Đạo đức, thờ ơ không
chú ý việc giáo dục văn hóa truyền thống cho HS.
Thủy Nguyên thuộc thành phố Hải Phòng, Đông là thành phố Quảng
Yên và huyện Yên Hưng tỉnh Quảng Ninh, ranh giới là sông Bạch Đằng, Nam
là huyện Cát Hải, các quận Hải An, Ngô Quyền, Hồng Bàng và huyện An
Dương – ranh giới là cửa Nam Triệu, sông Cấm, Tây là huyện Kinh Môn tỉnh
Hải Dương – ranh giới là sông Kinh Thày, Bắc là huyện Đông Triều, thành
phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh. Thủy Nguyên, với vị thế riêng của mình, trong
suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, luôn có tầm quan trọng về kinh
tế - xã hội, quốc phòng – an ninh, giáo dục đối với thành phố Cảng Hải Phòng
và với cả quốc gia. Ngành giáo dục và đào tạo huyện Thủy Nguyên luôn đi
đầu trong các phong trào đổi mới về phương pháp, hình thức dạy học. Trường
Tiểu học Minh Tân là một trong những trường tham gia tích cực phong trào
đó mặc dù đây là ngôi trường nằm cách xa trung tâm huyện. Những năm gần
đây, ngoài chú trọng giáo dục văn – thể – mĩ, giáo dục của nhà trường còn đi
sâu vào bồi dưỡng đạo đức, xây dựng nhân cách, tâm hồn cho HS, coi trọng
việc giáo dục các giá trị văn hóa truyền thống. Chính vì vậy, việc khai thác
những giá trị văn hóa truyền thống đưa vào giáo dục đạo đức, lối sống là việc
làm cần thiết và quan trọng. Những giá trị văn hóa, truyền thống quê hương sẽ
tác động tới đạo đức, lối sống của các em ngay từ nhỏ. Mặt khác, cũng chính
những mầm non tương lai của đất nước sẽ là người tiếp tục bảo tồn và giữ gìn
các giá trị văn hóa truyền thống đó.
Xuất phát từ những lí do trên, để góp phần vào công tác giáo dục đạo
đức, lối sống cho HS qua văn hóa, truyền thống địa phương trong giai đoạn
hiện nay. Chúng tôi chọn đề tài: “Khai thác các giá trị văn hóa truyền thống
làng Dưỡng Động với việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh tiểu học


4

Minh Tân – Thủy Nguyên” nhằm tìm ra những phương pháp giáo dục đạo
đức phù hợp góp phần nâng cao phẩm chất đạo đức cho HS.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Để tạo cơ sở vững chắc cho việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi xin điểm
qua những công trình nghiên cứu, sách, tài liệu đề cập tới văn hóa, truyền
thống làng và giáo dục đạo đức lối sống cho HS.
Làng và văn hóa làng đã được đề cập tới trong các tác phẩm khác nhau,
đặc biệt các tác giả viết về văn hóa. Làng văn hóa cổ truyền Việt Nam của
Giáo sư Vũ Ngọc Khánh chủ biên [29], Cuốn sách giới thiệu về hàng chục
ngôi làng ở nhiều vùng, miền trong cả nước ở miền xuôi, miền biển và bản
làng miền núi. Do vị trí địa lý – khí hậu, mà ở mỗi làng xã hay buôn làng lại
có một nghề truyền thống cơ bản nuôi sống con người Việt Nam trong suốt
mấy nghìn năm là nghề nông nghiệp lúa nước.
Văn hóa làng Việt Nam – Qua ca dao dân ca của Bùi Xuân Mỹ [35],
Cuốn sách phản ánh phần nào cái hay, cái đẹp và giá trị bất hủ của kho tàng
ca dao trong văn hóa làng từ xa xưa cho đến hiện tại.
Đề cập đến văn hóa địa phương có một số tác phẩm, năm 2012 hai tác
giả là văn Duy và Lê Xuân Lựa đã sưu tầm và biên soạn cuốn Văn hóa dân
gian vùng ven sông Bạch Đằng huyện Thủy Nguyên [13]. Cuốn sách nằm
trong chương trình dự án “Công bố và phổ biến tài sản văn hóa – văn nghệ
các dân tộc Việt Nam” do Hội văn nghệ dân gian Việt Nam chủ trì. Cuốn sách
liệt kê về các địa chỉ văn hóa và tín ngưỡng của nhân dân huyện Thủy
Nguyên. Cuốn Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Xã
Minh Tân. Do Đảng ủy – HĐND – UBND – UBMTTQ Xã Minh Tân Huyện
Thủy Nguyên – Tp. Hải Phòng (2007), Nxb Hải Phòng [14]. Đây là cuốn sách
viết tổng thể về văn hóa, truyền thống cũng như quá trình phát triển của làng
Dưỡng Động từ xưa đến nay. Hay cuốn Địa chí Thủy Nguyên. Huyện ủy –
UBND Huyện Thủy Nguyên, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Hải
Phòng (2003), Nxb. Hải Phòng [17]. Ở cuốn này nói về tình hình kinh tế,


5

chính trị, xã hội văn hóa các xã trong huyện. Các tác giả có điểm qua một vài
nét đặc trưng về văn hóa làng Dưỡng Động – Minh Tân.
Về giáo dục đạo đức, lối sống: Các nghiên cứu ở nước ngoài: Ở phương
Đông từ thời cổ đại, Khổng Tử (551-479-TCN ) trong các tác phẩm: “Dịch,
Thi, Thư, Lễ, Nhạc Xuân Thu” rất xem trọng việc giáo dục đạo đức. Ở
phương Tây, nhà triết học Socrat (470-399-TCN) đã cho rằng đạo đức và
sự hiểu biết quy định lẫn nhau. Có được đạo đức là nhờ ở sự hiểu biết, do vậy
chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức. Aristoste (384-322-TCN)
cho rằng không phải hy vọng vào Thượng đế áp đặt để có người công dân
hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên
được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức.
Bộ sách “Tủ sách đạo đức” gồm nhiều cuốn sách như : Hãy nói bạn có
thể, Vòng tay nối những vòng tay, Một trái tim yêu thương ba cuốn truyện này
của tác giả Mai Hương, Nxb Dân trí. Người bạn đích thực của Vân Phong,
Nxb Dân trí Mình không phải kẻ hèn nhát tác giả Kim Dung, Nxb Dân trí
[11]. mỗi câu chuyện nhỏ đều có nội dung gần gũi với cuộc sống, không phô
trương, không thần thánh huyền bí hóa, nhưng đều mang tính chất giáo dục
rất cao. Mỗi câu chuyện là một bài học giá trị về cuộc sống do nhà xuất bản
Dân trí ấn hành.
Hay bộ sách Truyện đọc giáo dục lối sống gồm 5 cuốn tương ứng với 5
chủ đề: Từ sân nhà đến sân trường, soi gương mỗi ngày, không ai đi một
mình, thế giới rộng vô cùng, viện bảo tàng kì thú của tác giả Phạm Đình Ân,
Nxb giáo dục Việt Nam [3].Trong mỗi chủ đề là những câu chuyện tự nhiên,
nhẹ nhàng, sinh động theo phương châm học mà chơi, chơi mà học, tạo sự
hứng thú trong học tập, rèn luyện nhằm giáo dục đạo đức, lối sống cho các em
HS. Bộ sách được tác giả Phạm Đình Ân biên soạn đề cập tới nhiều mặt trong
giáo dục lối sống, đạo đức, kĩ năng sống cũng như trong đời sống sinh hoạt,
học tập và đời sống tâm hồn của các em HS. Đặc biệt sau mỗi câu chuyện có
những lời khuyên sâu sắc, những bài học bổ ích để định hướng cho các em có


6

thể tự cảm nhận và rút ra cho riêng mình những bài học về thái độ sống, lối
ứng xử tích cực với thế giới xung quanh. Bên cạnh đó có rất nhiều sáng kiến
kinh nghiệm như Thực trạng giáo dục đạo đức của học sinh tiểu học trường
Võ Thị Sáu thị trấn Núi Thành của tác giả Phạm Thị Ngành, Biện pháp giáo
dục đạo đức cho học sinh lớp 2 của Nguyễn Thị Số, Một số biện pháp giáo
dục đạo đức cho học sinh tiểu học của tác giả Nguyễn Duy Tuấn.Tất cả các
sáng kiến đã chỉ ra rõ nguyên nhân, thực trạng và đề ra biện pháp giáo dục
đạo đức, lối sống cho HS tiểu học.
Nhìn chung viết về văn hóa, truyền thống của làng đặc biệt vấn đề giáo
dục đạo đức lối sống cho HS không phải là vấn đề mới. Song vấn đề giáo dục
đạo đức cho HS qua văn hóa, truyền thống của địa phương thì chưa có công
trình hay tài liệu nào đề cập đến. Với những định hướng trên chúng tôi chọn
đề tài “Khai thác các giá trị văn hóa truyền thống làng Dưỡng Động với
việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh tiểu học Minh Tân – Thủy
Nguyên”. Chúng tôi hi vọng đóng góp nhỏ bé của luận văn là những thể
nghiệm có tính khả thi cho quá trình giáo dục đạo đức ở trường Tiểu học
Minh Tân hiện nay. Đồng thời cũng hi vọng kết quả nghiên cứu của chúng tôi
sẽ là những gợi ý giúp GV tiến hành nội dung bài giảng.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là đi tìm hiểu khai thác những giá trị
văn hóa truyền thống làng Dưỡng Động – Minh Tân vào việc giáo dục đạo
đức, lối sống cho HS trường Tiểu học Minh Tân. Từ đó giúp các em có ý thức
tôn trọng và giữ gìn các giá trị văn hóa đó.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, chúng tôi cụ thể hóa thành các nhiệm vụ
sau:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc khai thác các giá trị văn
hóa, truyền thống và giáo dục.


7

- Nghiên cứu các giá trị văn hóa, lịch sử, truyền thống, tín ngưỡng,
phong tục, tập quán Dưỡng Động, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp giáo
dục đạo đức, lối sống cho HS trường Tiểu học Minh Tân – Thủy Nguyên
thông qua các giá trị văn hóa, truyền thống của làng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Những giá trị văn hóa, truyền thống làng Dưỡng Động có ảnh hưởng
tích cực đến việc giáo dục đạo đức, lối sống cho HS lớp 5 Tiểu học Minh Tân.
- Chương trình giáo dục đạo đức cho HS lớp 5 tiểu học tại trường Tiểu
học Minh Tân.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn bao gồm: không gian tự nhiên, kinh
tế, xã hội, các phong tục, tập quán, thuần phong mỹ tục, đặc biệt là đời sống
văn hóa của làng Dưỡng Động.
- Chương trình và thực trạng việc giáo dục đạo đức hiện hành cho HS
lớp 5 tại trường Tiểu học Minh Tân. Từ đó đề xuất những biện pháp giáo dục
đạo đức, lối sống cho HS lớp 5 trường Tiểu học Minh Tân thông qua các giá
trị văn hóa làng.
- Do phạm vi nghiên cứu rộng vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu và
thực nghiệm sư phạm trong phạm vi HS lớp 5 của trường Tiểu học Minh Tân.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ của luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương
pháp sau:
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Thu thập thông tin từ tạp chí,
tác phẩm khoa học, tài liệu lưu trữ và thông tin đại chúng có liên quan đến nội
dung nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Nghiên cứu lý thuyết và tổng hợp
kinh nghiệm nhằm xác định được mục đích, nhiệm vụ và đề xuất biện pháp
giải quyết vấn đề.


8

- Điều tra – khảo sát: Sử dụng phiếu khảo sát để điều tra thực trạng giáo
dục đạo đức, lối sống thông qua các hoạt động giáo dục lớp 5.
- Phương pháp điền dã dân tộc học (quan sát; phỏng vấn; ghi âm; ghi
chép; chụp ảnh…).
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm sư phạm để
kiểm tra tính khả thi của luận văn.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài
- Chương 2: Khai thác những giá trị văn hóa truyền thống làng Dưỡng
Động vào việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh Tiểu học Minh Tân –
Thủy Nguyên
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm


9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
Trong hệ thống giáo dục hiện nay, giáo dục Tiểu học được xem là nền
tảng. Cũng như xây một ngôi nhà, nền có chắc ngôi nhà mới vững. Trẻ em ở
lứa tuổi Tiểu học được Bác Hồ ví như búp trên cành cần được nâng niu, chăm
sóc và dạy dỗ một cách đặc biệt. Trước yêu cầu đổi mới một cách toàn diện
của hệ thống giáo dục nói chung và giáo dục bậc Tiểu học nói riêng, người
GV phải đặc biệt chú trọng đổi mới PPDH. Bởi việc đổi mới PPDH là một
trong những yếu tố cơ bản quyết định chất lượng GD&ĐT. Luật giáo dục có
ghi: “Phương pháp dạy học phổ thông phải phát huy được tính tích cực, tự
giác chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học,
khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học
sinh”[5,tr.19]. Đổi mới PPDH chính là đòi hỏi người GV không chỉ trang bị
cho HS những kiến thức đã có của nhân loại mà còn phải bồi dưỡng, hình
thành ở HS tính năng động, óc tư duy sáng tạo và kĩ năng thực hành: Vận
dụng PPDH dạy học tích hợp kiến thức vào môn học và tổ chức hoạt động
trải nghiệm sáng tạo vào trong quá trình dạy học chính là một trong những lời
giải hữu hiệu cho bài toán đổi mới PPDH mà trong những năm gần đây được
rất nhiều GV quan tâm và triển khai trong các trường Tiểu học. Vậy dạy học
tích hợp là gì?
1.1.1.1. Dạy học tích hợp
a) Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương
trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng. Tích hợp có
nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp.”
Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối
tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực
khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học.”


10

Trong tiếng Anh tích hợp được viết là “integration” một từ gốc Latin
(integer) có nghĩa là “whole” hay “toàn bộ, toàn thể”. Có nghĩa là sự phối hợp
giữa các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để
đảm bảo sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy.
Đưa tư tưởng sư phạm tích hợp vào trong quá trình dạy học là cần thiết.
Dạy học tích hợp là một xu hướng của lí luận dạy học và được nhiều nước
trên thế giới thực hiện.
b) Khái niệm dạy học tích hợp được đưa ra dưới nhiều tiếp cận khác nhau.
Hội nghị phối hợp trong chương trình của UNESCO, Paris 1972 có đưa
ra định nghĩa: Dạy học tích hợp các khoa học là một cách trình bày các khái
niệm và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư
tưởng khoa học, tránh nhấn mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh
vực khoa học khác nhau. Với quan niệm trên, dạy học tích hợp nhằm các mục
tiêu: (1) Làm cho quá trình học tập có ý nghĩa bằng cách gắn học tập với cuộc
sống hàng ngày, trong quan hệ với các tình huống cụ thể mà HS sẽ gặp sau
này, hòa nhập thế giới học đường với thế giới cuộc sống, (2) Phân biệt cái cốt
yếu với cái ít quan trọng hơn. Cái cốt yếu là những năng lực cơ bản cần cho
HS vận dụng vào xử lý những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống, hoặc
đặt cơ sở không thể thiếu cho quá trình học tập tiếp theo, (3) Dạy sử dụng
kiến thức trong tình huống thực tế, cụ thể, có ích cho cuộc sống sau này, (4)
Xác lập mối quan hệ giữa các khái niệm đã học. Thông tin càng đa dạng,
phong phú thì tính hệ thống phải càng cao, có như vậy HS mới thực sự làm
chủ được kiến thức và mới vận dụng được kiến thức đã học khi gặp một tình
huống bất ngờ, chưa từng gặp.
Quan điểm của Ban chỉ đạo đổi mới chương trình, sách giáo khoa sau
2015 cho rằng: Dạy học tích hợp được hiểu là GV tổ chức để HS huy động
đồng thời kiến thức, kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết
các nhiệm vụ học tập, thông qua đó lại hình thành những kiến thức, kỹ năng
mới, từ đó phát triển những năng lực cần thiết.


11

Như vậy, dạy học tích hợp có thể hiểu đó là một quan điểm dạy học
nhằm hình thành và phát triển ở HS những năng lực cần thiết trong đó có
năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết có hiệu quả các tình huống thực
tiễn. Điều đó cũng có nghĩa là để đảm bảo cho mỗi HS biết vận dụng kiến
thức được học trong nhà trường vào các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ,
qua đó trở thành một người công dân có trách nhiệm, một người lao động có
năng lực. Dạy học tích hợp đòi hỏi việc học tập ở nhà trường phổ thông phải
được gắn với các tình huống của cuộc sống sau này mà HS có thể đối mặt và
chính vì thế nó trở nên có ý nghĩa đối với HS. Như vậy, dạy học tích hợp sẽ
phát huy tối đa sự trưởng thành và phát triển cá nhân mỗi HS, giúp các em
thành công trong vai trò người chủ gia đình, người công dân, người lao động
tương lai.
c) Đặc trưng của dạy học tích hợp
Mục đích của dạy học tích hợp là để hình thành và phát triển năng lực
HS, giúp HS vận dụng để giải quyết những vấn đề trong thực tiễn của cuộc
sống. Bản chất của năng lực là khả năng của chủ thể kết hợp một cách linh
hoạt, có tổ chức hợp lý các kiến thức, kỹ năng với thái độ, giá trị, động cơ,
nhằm đáp ứng những yêu cầu phức hợp của một hoạt động, bảo đảm cho hoạt
động đó đạt kết quả tốt đẹp trong một bối cảnh (tình huống) nhất định, và
phương pháp tạo ra năng lực đó chính là dạy học tích hợp. Dạy học tích hợp
có những đặc điểm sau đây:
- Thiết lập các mối quan hệ theo một logic nhất định những kiến thức, kỹ
năng khác nhau để thực hiện một hoạt động phức hợp.
- Lựa chọn những thông tin, kiến thức, kỹ năng cần cho HS thực hiện
được các hoạt động thiết thực trong các tình huống học tập, đời sống hàng
ngày, làm cho HS hòa nhập vào thế giới cuộc sống.
- Làm cho quá trình học tập mang tính mục đích rõ rệt.


12

- GV không đặt ưu tiên truyền đạt kiến thức, thông tin đơn lẻ, mà phải
hình thành ở HS năng lực tìm kiếm, quản lý, tổ chức sử dụng kiến thức để
giải quyết vấn đề trong tình huống có ý nghĩa.
- Khắc phục được thói quen truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kỹ năng rời
rạc làm cho con người trở nên “mù chữ chức năng”, nghĩa là có thể được nhồi
nhét nhiều thông tin, nhưng không dùng được. Như vậy, dạy học tích hợp là
cải cách giảm tải kiến thức không thực sự có giá trị sử dụng, để có điều kiện
tăng tải kiến thức có ích. Để lựa chọn nội dung kiến thức đưa vào chương
trình các môn học trước hết phải trả lời kiến thức nào cần và có thể làm cho
HS biết huy động vào các tình huống có ý nghĩa. Biểu hiện của năng lực là
biết sử dụng các nội dung và các kỹ năng trong một tình huống có ý nghĩa,
chứ không tiếp thu lượng tri thức rời rạc.
d) Tích hợp giáo dục đạo đức
Là sự kết hợp chặt chẽ có hệ thống các kiến thức giáo dục đạo đức và
kiến thức môn học thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ bằng
những phương thức tích hợp như: lồng ghép toàn phần (mục tiêu và nội dung
của bài học phù hợp với mục tiêu và nội dung giáo dục đạo đức), lồng ghép
bộ phận (có một số phần của bài học có mục tiêu, nội dung phù hợp với nội
dung, mục tiêu giáo dục đạo đức), liên hệ (mục tiêu và nội dung bài học có
điều kiện logic với nội dung giáo dục đạo đức). Cùng với những phương pháp
dạy học tích hợp lồng ghép như: phương pháp quan sát, thảo luận nhóm, trò
chơi học tập, đề án, kể chuyện…
1.1.1.2. Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
a) Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự
hướng dẫn của nhà giáo dục, từng cá nhân HS được tham gia trực tiếp vào các
hoạt động khác nhau của đời sống nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư
cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất
nhân cách và phát huy tiềm nắng sáng tạo của cá nhân mình. Đây là những


13

hoạt động giáo dục được tổ chức gắn liền với kinh nghiệm, cuộc sống để HS
trải nghiệm và sáng tạo. Chính điều này đòi hỏi các hình thức và phương pháp
tổ chức các hoạt động đó phải đa dạng, linh hoạt, mang tính mở, HS tự hoạt
động, trải nghiệm là chính.
Khái niệm này khẳng định vai trò định hướng, chỉ đạo, hướng dẫn của
nhà giáo dục, thầy cô giáo, cha mẹ HS, người phụ trách… Nhà giáo dục
không tổ chức, không phân công HS một cách trực tiếp mà chỉ hướng dẫn, hỗ
trợ, giám sát cho tập thể hoặc cá nhân HS tham gia trực tiếp hoặc ở vai trò tổ
chức hoạt động, giúp HS chủ động, tích cực trong các hoạt động. Phạm vi các
chủ đề hay nội dung hoạt động và kết quả đầu ra là năng lực thực tiễn, phẩm
chất và năng lực sáng tạo đa dạng, khác nhau của các em.
Theo PGS.TS Đinh Thị Kim Thoa, hoạt động trải nghiệm sáng tạo là
hoạt động giáo dục thông qua sự trải nghiệm và sáng tạo của cá nhân trong
việc kết nối kinh nghiệm học được trong nhà trường với thực tiễn đời sống,
nhờ đó các kinh nghiệm được tích lũy thêm và dần chuyển hóa thành năng
lực.
Có thể kể ra một số hình thức hoạt động trải nghiệm sáng tạo: hình thức
có tính khám phá (thực địa, tham quan, cắm trại), hình thức có tính triển khai
(dự án và nghiên cứu khoa học, hội thảo, câu lạc bộ), hình thức có tính trình
diễn (diễn đàn, giao lưu, sân khấu hóa), hình thức có tính cống hiến, tuân thủ
(thực hành, lao động việc nhà, việc trường, hoạt động xã hội, tình nguyện).
b) Đặc điểm hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có nội dung rất đa dạng và mang tính
tích hợp, tổng hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học
tập và giáo dục
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có nhiều nội dung như: giáo dục đạo
đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục giá trị sống, giáo dục
nghệ thuật, thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động, giáo dục an toàn


14

giao thông, giáo dục môi trường, giáo dục phòng chống ma túy, giáo dục
phòng chống HIV/AIDS và tệ nạn xã hội…
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng
Nội dung giáo dục của hoạt động trải nghiệm sáng tạo rất thiết thực và
gần gũi với cuộc sống thực tế, đáp ứng được nhu cầu hoạt động của HS, giúp
các em vận dụng những hiểu biết của mình vào thực tiễn cuộc sống một cách
dễ dàng, thuận lợi. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có thể tổ chức theo nhiều
hình thức và các quy mô khác nhau như: theo nhóm, theo lớp, theo khối lớp,
theo trường hoặc liên trường. Tuy nhiên, tổ chức theo quy mô nhóm và quy
mô lớp có ưu thế hơn như đơn giản, không tốn kém, mất ít thời gian, HS tham
gia được nhiều hơn và có nhiều khả năng hình thành, phát triển các năng lực
cho HS hơn. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có khả năng thu hút sự tham gia,
phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như:
GV chủ nhiệm, GV bộ môn, cán bộ Đoàn, tổng phụ trách Đội, Ban giám hiệu
nhà trường, cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương, Hội Khuyến học, Hội
Phụ nữ, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh, các cơ
quan, tổ chức, doanh nghiệp ở địa phương, các nhà hoạt động xã hội, những
nghệ nhân, những người lao động tiêu biểu ở địa phương…
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là quá trình học tập tích cực, hiệu quả
và sáng tạo
Đây là hoạt động giữ vai trò rất quan trọng trong chương trình giáo dục
phổ thông mới. Hoạt động này giúp cho HS có nhiều cơ hội trải nghiệm để
vận dụng những kiến thức học được vào thực tiễn từ đó hình thành năng lực
thực tiễn cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của bản thân.
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo đòi hỏi sự phối hợp, liên kết nhiều lực
lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường
Công tác phối hợp là cầu nối giữa nhà trường với gia đình và xã hội
trong công tác giáo dục HS. Giúp GV chủ nhiệm nắm bắt được thông tin từ


15

nhiều phía để hiểu đúng đặc điểm của HS. Ngoài ra nó còn tăng cường lực
lượng từ nhiều nguồn khác nhau để tham gia giáo dục HS.
c) Vai trò của hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là cầu nối nhà trường, kiến thức các môn
học trong nhà trường… với thực tiễn cuộc sống một cách có tổ chức, có định
hướng, góp phần tích cực vào sự hình thành, củng cố năng lực và phẩm chất
nhân cách của HS. Thông qua các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, HS được
học đi đôi với hành, được trải nghiệm thực tế cuộc sống. Điều đó giúp các em
đạt được tri thức và kinh nghiệm thực tế để có thể áp dụng cho cuộc sống.
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo giúp giáo dục thực hiện được mục đích
tích hợp và phân hóa của mình nhằm phát triển năng lực thực tiễn và cá nhân
hóa, đa dạng hóa tiềm năng sáng tạo của HS.
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo còn nuôi dưỡng và phát triển đời sống
tình cảm, ý chí tạo động lực hoạt động, tích cực hóa bản thân HS.
1.1.2. Khái niệm về văn hóa và văn hóa truyền thống
1.1.2.1. Khái niệm về văn hóa
Trong nghiên cứu về văn hóa nhiều học giả cho rằng văn hóa nói chung
bao gồm tất cả những giá trị vật chất và tinh thần. Theo nghĩa rộng nhất, văn
hóa bao gồm những sáng tạo phong phú về vật chất và tinh thần của con
người trong quá trình cải tạo hiện thực khách quan. Những tri thức, các kết
quả của hoạt động cải tạo xã hội và tự nhiên là thành phần của văn hóa. Văn
hóa không tự hạn chế vào một số biểu hiện của đời sống tinh thần. Nó là toàn
bộ cuộc sống, cả vật chất, tinh thần của từng cộng động người. Như vậy, có
thể khẳng định rằng: tất cả những gì không phải là thiên nhiên đều là văn hóa.
Theo nghĩa hẹp, các tác giả cho rằng văn hóa là những dấu ấn, những giá
trị đặc thù của một quốc gia dân tộc nhằm phân biệt dân tộc này với dân tộc
khác. Tiêu biểu cho cách hiểu này là khái niệm văn hóa của UNESCO được
thừa nhận rộng rãi: Văn hóa là “Tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo
của con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại.


16

Qua hàng thế kỷ các hoạt động sáng tạo ấy đã cấu thành nên một hệ thống
các giá trị, truyền thống thị hiếu thẩm mỹ và lối sống dựa trên đó từng dân
tộc khẳng định bản sắc riêng của mình”.
Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương
tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội. [39,tr.10]
Định nghĩa văn hóa của Bác Hồ: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của
cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo
đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho
sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những
sáng tạo và phát minh đó chính là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của nhiều
phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra
nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [34,tr.13]
1.1.2.2. Khái niệm văn hóa truyền thống
Mỗi dân tộc dù ở trình độ văn minh cao hay thấp đều có những văn hóa
truyền thống đặc trưng riêng của mình. Hệ thống giá trị đó chính là sự kết tinh
tất cả những gì tốt đẹp nhất được chắt lọc qua nhiều thời đại lịch sử để tạo nên
bản sắc riêng của một dân tộc. Giá trị văn hóa truyền thống được truyền lại
cho thế hệ sau và trở thành một động lực nội sinh để phát triển đất nước.
Theo GS.Trần Văn Giàu : “Giá trị truyền thống được hiểu là những cái
tốt, bởi vì những cái tốt mới được gọi là giá trị. Thậm chí không phải bất cứ
cái gì tốt đều được gọi là giá trị, mà phải là cái tốt cơ bản, phổ biến có nhiều
tác dụng tích cực cho đạo đức, cho sự hướng dẫn nhận định, đánh giá và dẫn
dắt hành động của một dân tộc thì mới mang đầy đủ ý nghĩa của khái niệm
“giá trị truyền thống”. GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Truyền thống
văn hóa là những giá trị tương đối ổn định thể hiện dưới những khuôn mẫu xã
hội được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và được cố
định hóa dưới dạng những phong tục tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận”.
[40,tr.23]


17

1.1.3. Cơ sở lí thuyết của giáo dục học và giáo dục đạo đức cho học sinh
tiểu học
1.1.3.1. Các khái niệm cơ bản
a) Khái niệm về giáo dục
Từ buổi bình minh của nhân loại, con người muốn tồn tại và phát triển
phải không ngừng tìm hiểu, khám phá và cải tạo thế giới khách quan vì lợi ích
của cá nhân và cộng đồng. Trong quá trình nhận thức và cải tạo đó, con người
tiếp thu được những kinh nghiệm sống và hoạt động. Đến một trình độ phát
triển nhất định, khi xã hội tích lũy được nhiều kinh nghiệm sống và hoạt
động, thì các thế hệ sau không cần phải mò mẫm tìm kiến những kinh nghiệm
giản đơn, rời rạc và phổ biến nữa, mà được kế thừa những kinh nghiệm của
thế hệ đi trước thông qua con đường dạy học và giáo dục. Vậy: “Giáo dục là
hoạt động có chủ đích được tiến hành dưới sự chỉ đạo của các nhà chuyên
trách – đội ngũ các nhà giáo dục, diễn ra trên mọi hoạt động học tập và công
tác giáo dục được thực hiện riêng biệt ngoài giờ học” [47, tr.26].
Bậc tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, đặt cơ
sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện, hài hòa nhân cách con
người. Mục tiêu phát triển giáo dục tiểu học đến năm 2010 là phát triển những
đặc tính tự nhiên tốt đẹp của trẻ em, hình thành ở HS lòng ham hiểu biết và
những đức tính, kĩ năng cơ bản ban đầu để tạo hứng thú học tập và học tập
tốt. Củng cố và nâng cao thành quả phổ cập giáo dục tiểu học trong cả nước.
Giáo dục tiểu học phải đảm bảo cho học sinh nắm vững các kĩ năng nói,
đọc, viết, tính toán, có những hiểu biết về thiên nhiên, xã hội và con người; có
lòng nhân ái hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, yêu quý anh chị em; kính trọng
thầy cô giáo, lễ phép với người lớn tuổi; giúp đỡ bạn bè, các em nhỏ, yêu lao
động, có kỉ luật, có nếp sống văn hóa, có thói quen rèn luyện thân thể và giữ
gìn vệ sinh; yêu quê hương đất nước, yêu hòa bình.[47, tr.68]
b) Khái niệm về đạo đức
Để tồn tại và phát triển con người phải hoạt động và tham gia các mối
quan hệ xã hội trong thế giới hiện thực. Trong quá trình thực hiện các mối


18

quan hệ ấy, nếu con người có cách giao tiếp, ứng xử phù hợp với lợi ích
chung của mọi người, của cộng đồng xã hội thì con người ấy được đánh giá là
có đạo đức. Ngược lại, cá nhân nào có thái độ, hành vi không đúng đắn làm
tổn hại đến lợi ích của người khác, của cộng đồng và bị xã hội lên án, chê
trách thì cá nhân đó bị coi là người thiếu đạo đức.
Đạo đức biến đổi và phát triển cùng với sự biến đổi và phát triển của các
điều kiện kinh tế - xã hội, cùng với sự phát triển của xã hội. Khái niệm đạo
đức ngày càng được hoàn thiện đầy đủ hơn. Các giá trị đạo đức trong xã hội
của chúng ta hiện nay là thể hiện sự kết hợp sâu sắc truyền thống đạo đức tốt
đẹp của dân tộc, với xu thế tiến bộ của thời đại, của nhân loại. Lao động sáng
tạo, nguồn gốc của mọi giá trị là một nguyên tắc đạo đức có ý nghĩa chỉ đạo
trong giáo dục và tư tưởng giáo dục của con người hiện nay.
Đạo đức có 3 chức năng: nhận thức, giáo dục và điều chỉnh hành vi.
Trong đó điều chỉnh hành vi hết sức quan trọng vì nó điều chỉnh hành vi con
người trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội.
c) Giáo dục đạo đức cho học sinh cấp Tiểu học
HS Tiểu học là bậc học đầu tiên tiếp cần với tri thức, với những biến đổi
xã hội. Có thể coi bậc học tiểu học là nền tảng cho các bậc học tiếp theo vì
vậy ngoài giáo dục tri thức thì giáo dục đạo đức cho các em cũng hết sức quan
trọng. Để giáo dục đạo đức đúng đắn và chuẩn mực cho các em thì GV cần
xác định rõ mục đích, nội dung, phương pháp.
1.1.3.2. Những tác động cơ bản của văn hóa truyền thống tới việc rèn luyện
đạo đức lối sống cho học sinh ở trường Tiểu học
Trong khi cuộc sống xã hội ngày càng sôi động, thì không gian dành cho
các loại hình văn hóa, lịch sử truyền thống ngày càng bị thu hẹp hoặc bị thay
đổi. Giới trẻ hiện nay số đông không hiểu hết giá trị của các di sản văn hóa,
lịch sử mà có xu hướng ưa chuộng những hình thức nghệ thuật mới, hiện đại.
Giới trẻ ngày nay ưa thích những cái mới lạ mà không rõ nguồn gốc của
những nền văn hóa đó, chạy theo những cái gọi là mốt. Giới trẻ ngày nay họ


19

ít quan tâm tìm hiểu những giá trị truyền thống. Chúng ta vẫn thường nói, giới
trẻ ngày nay quay lưng với lịch sử, văn hóa truyền thống dân tộc.
Việc hình thành nhân cách ở mỗi em HS Tiểu học là rất quan trọng. Do
HS tiểu học là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng. Ở mỗi trẻ luôn
tiềm tàng khả năng phát triển về trí tuệ, lao động, rèn luyện và hoạt động xã
hội để đạt một trình độ nhất định về lao động nghề nghiệp, về quan hệ giao
lưu và chăm lo cuộc sống cá nhân, gia đình. Trẻ em ở lứa tuổi tiểu học là thực
thể đang hình thành và phát triển cả về mặt sinh lý, tâm lý, xã hội các em
đang từng bước gia nhập vào xã hội thế giới của mọi mối quan hệ. Do đó, HS
tiểu học chưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất và năng lực như một công dân
trong xã hội, mà các em luôn cần sự bảo trợ, giúp đỡ của người lớn, của gia
đình, nhà trường và xã hội. HS tiểu học dễ thích nghi và tiếp nhận những cái
mới và luôn hướng tới tương lai. Nhưng cũng thiếu sự tập trung cao độ, khả
năng ghi nhớ và chú ý có chủ định chưa được phát triển mạnh, tính hiếu động,
dễ xúc động còn bộc lộ rõ nét.
Vì vậy, sự hình thành và phát triển nhân cách của HS là một quá trình
diễn ra dưới các tác động giáo dục và dạy học được tổ chức, thực hiện ở nhà
trường, gia đình và xã hội, là quá trình bắt đầu đối với mỗi người ngay khi họ
tham gia vào xã hội loài người. HS lứa tuổi tiểu học là một giai đoạn cụ thể
tham gia vào quá trình xã hội hóa cá nhân với tư cách là thành viên xã hội
trong đó hoạt động vui chơi là một nhu cầu không thể thiếu đối với các em
bởi nó cần thiết cho sự phát triển tâm lý, thể lực, nhân cách các em.
Tổ chức dạy học có lồng ghép nội dung văn hóa địa phương, tham gia
các trò chơi dân gian hay tham gia trải nghiệm lễ hội làng có mục đích, có kế
hoạch giữ vai trò to lớn trong thực hiện mục tiêu giáo dục của bậc học nói
chung, mục tiêu phát triển nhân cách nói riêng.
Lâu nay, mỗi khi đề cập đến vấn đề giữ gìn các di sản văn hóa, bảo tồn
các di tích lịch sử, khu lưu niệm các danh nhân, bảo tồn các nét đẹp văn hóa
qua các lễ hội… Trong ngôn ngữ thường là để ghi nhớ công lao của các thế hệ


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×