Tải bản đầy đủ

Bai thu hoach dien an ho so hanh chinh 12_2019_Nguyen Thi Tuyet_Hoang Lan

BỘ TƯ PHÁP
HỌC VIỆN TƯ PHÁP
---o0o---

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Môn Kỹ năng của Luật sư khi tham gia giải quyết các vụ việc hành chính
Mã số hồ sơ số: 12
Diễn lần: 02
Ngày diễn:

Họ và tên

:

Mã số học viên

:

Lớp

:


0


Phần I: TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN
Ngày 23/12/2013, Đoàn kiểm tra thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
tỉnh G.L đã đến kiểm tra nhà trọ bình dân Hoàng Lan của bà Nguyễn Thị Tuyết
tại địa chỉ: Tổ 9, phường Đông Lân, thành phố P. Tại thời điểm kiểm tra, Đoàn
kiểm tra phát hiện phòng số 11 có ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị
Lành không có giấy kết hôn đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục); phòng
số 9 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy không có giấy kết hôn đang ở
chung phòng xe tivi. Tại thời điểm kiểm tra, chủ cơ sở kinh doanh phòng trọ
Hoàng Lan không vào sổ bà Nguyễn Thị Lành
Ngày 10/3/2014 Chánh Thanh tra sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh
G.L ra quyết định số 23/QĐ-XP xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động
văn hóa, thể thao và du lịch đối với bà Nguyễn Thị Tuyết đã có hành vi vi phạm
thiếu tinh thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh
doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm.
Do không đồng ý với quyết định xử phạt hành chính, ngày 24/3/2014, bà
Tuyết đã có đơn khiếu nại; ngày 20/4/2014, Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể
thao và Du lịch tỉnh G.L ban hành quyết định số 01/QĐ-TTr về việc giải quyết
đơn khiếu nại lần đầu.
Ngày 02/05/2014, bà Nguyễn Thị Tuyết có đơn khởi kiện gửi đến Tòa án
nhân dân tỉnh G.L đề nghị Tòa án giải quyết nhằm hủy quyết định số 23/QĐXPHC ngày 10/3/2014 của Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
tỉnh G.L

Phần II. NHẬN ĐỊNH MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ TỐ TỤNG
1. Đối tượng khởi kiện và thẩm quyền của Tòa
Trong hồ sơ vụ án có các quyết định hành chính sau:
- Quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh Thanh tra Sở
Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L về việc xử phạt vi phạm hành chính
trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch;
- Quyết định số 01/QĐ-TTr ngày 20/4/2014 của Chánh Thanh tra Sở Văn
hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L về việc giải quyết đơn khiếu nại lần đầu.
Cả 2 đều là các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong
công tác quản lý nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch ban hành, được áp
1


dụng một lần đối với một đối tượng cụ thể (bà Nguyễn Thị Tuyết). Các quyết


định hành chính nêu trên làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp
pháp của người khởi kiện; tuy nhiên người khởi kiện có đơn khởi kiện gửi đến
Tòa án đề nghị hủy Quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh
Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L về việc xử phạt vi phạm
hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch. Vì vậy, theo quy định
tại Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015, Quyết định số 23/QĐ-XPHC là đối
tượng khởi kiện; Quyết định số 01/QĐ-TTr ngày 20/4/2014 là quyết định giải
quyết có liên quan.
Việc Tòa án nhân dân tỉnh G.L thụ lý vụ án và giải quyết theo thủ tục tố
tụng hành chính là phù hợp về thẩm quyền theo quy định tại Điều 30, 32 Luật
Tố tụng hành chính 2015.
2. Thời hiệu khởi kiện
Ngày 02/5/2014, người khởi kiện có đơn khởi kiện gửi Tòa án nằm trong
thời hạn 01 năm kể từ ngày người khởi kiện nhận được quyết định xử phạt vi
phạm hành chính (19/3/2014 – BL36); như vậy thời hiệu khởi kiện vẫn còn theo
quy định tại Điều 116 Luật Tố tụng hành chính 2015;
3. Xác định tư cách đương sự
3.1. Người khởi kiện
- Theo đơn khởi kiện ngày 02/5/2014, người khởi kiện gồm:
Bà Nguyễn Thị Tuyết, sinh năm 1982, địa chỉ Tổ 9, phường Đông Lân,
thành phố P, tỉnh G.L; đại diện theo ủy quyền: Ông Mai Anh Tuấn, địa chỉ 33
đường Minh Khai, thành phố P tỉnh G.L
- Tại thời điểm khởi kiện, bà Tuyết trên 18 tuổi, không bị Tòa án xác định
là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức,
làm chủ hành vi. Vì vậy, bà Tuyết có đủ điều kiện năng lực pháp luật tố tụng
hành chính và năng lực hành vi tố tụng hành chính theo quy định tại Điều 54
Luật Tố tụng hành chính 2015;
3.2 Người bị khởi kiện
Căn cứ vào đối tượng khởi kiện và quy định của Luật Tố tụng hành chính
2015, người bị khởi kiện được xác định gồm:
Ông Trần Ngọc Minh – Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
tỉnh G.L (đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Văn Thành – Phó Chánh Thanh
tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L)
2


4. Những người khác tham gia phiên tòa
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2014/QĐST-XX ngày
10/9/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh G.L, người tham gia tố tụng chỉ bao gồm
người khởi kiện và người bị khởi kiện; tuy nhiên, Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của người khởi kiện cần thiết phải tư vấn để người khởi kiện đề nghị
Tòa triệu tập bổ sung người làm chứng gồm Ông Nguyễn Văn Thường và Bà
Nguyễn Thị Lành.

Phần III. HỒ SƠ, TÀI LIỆU LUẬT SƯ CHUẨN BỊ
1. Hồ sơ tài liệu
STT

Tên tài liệu

Ngày tài liệu

Bút lục

Tài liệu người khởi kiện cung cấp
1

Bản tự khai

23/6/2014

24-25

2

Biên lai thu tiền tạm ứng án phí

11/5/2014

16

3

Đơn khởi kiện

02/5/2014

3-4

4

Quyết định số 01/QĐ-TTr về giải
quyết khiếu nại lần đầu

20/4/2014

14

5

Công văn 167

7/4/2014

12-13

6

Quyết định số 23/QĐ-XP về xử phạt
vi phạm hành chính

10/3/2014

5-6

7

Biên bản vi phạm hành chính

23/12/2013

7-8

8

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

19/11/2012

10

9

Bản cam kết thực hiện quy định an
ninh trật tự

13/11/2012

9

Tài liệu người bị khởi kiện cung
cấp
1

Công văn 04/2014/CV-TTr

29/5/2014

19-21

2

Thông báo thụ lý giải quyết khiếu nại

27/3/2014

11

3

Biên bản đối thoại

27/3/2014

37-38

4

Đơn khiếu nại (Nguyễn Thị Tuyết)

24/3/2014

36

5

Công văn số 02/2014/CV-TTr

18/3/2014

34-35

6

Biên bản làm việc với đương sự

9/3/2014

27

3


7

Giấy đề nghị (Nguyễn Thị Tuyết)

9/3/2014

30

8

Bản tường trình (Nguyễn Thị Tuyết)

12/2/2014

29

9

Công văn 02

16/1/2014

43

10

Bản tường trình (Nguyễn Thị Tuyết)

29/12/2013

28

11

Bản tường trình (Nguyễn Văn
Thường)

23/12/2013

31

12

Bản tường trình (Phan Văn)

32

13

Bản tường trình (Nguyễn Thị Thùy)

33

Tài liệu của Tòa
1

Quyết định đưa vụ án ra xét xử

10/9/2014

49

2

Biên bản lấy lời khai

17/8/2014

47

3

Biên bản lấy lời khai (Dương Văn
Thành)

24/7/2014

44

4

Biên bản lấy lời khai (Mai Anh Tuấn)

10/7/2014

45

5

Biên bản lấy lời khai (Dương Văn
Thành)

18/6/2014

46

6

Thông báo thụ lý án hành chính

13/5/2014

17-18

7

Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí

8/5/2014

15

2. Các văn bản quy phạm pháp luật cần nghiên cứu
- Luật tố tụng hành chính 2015;
(Vụ án đã được thụ lý và đưa ra xét xử trước khi luật tố tụng hành chính
2015 có hiệu lực; tuy nhiên theo yêu cầu của môn học, học viên sử dụng luật tố
tụng hành chính 2015 để nghiên cứu)
- Luật xử lý vi phạm hành chính 2012;
- Pháp lệnh phòng, chống mại dâm 2003;
- Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng
chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình;
- Nghị định số 73/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010 của Chính phủ về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
4


Phần IV. LẬP KẾ HOẠCH HỎI
(Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Người khởi kiện)
1. Hỏi để làm rõ về thẩm quyền ban hành Quyết định số 23/QĐXPCH ngày 10/3/2014
Hỏi đại diện của Người bị khởi kiện
1. Ai là người có thẩm quyền ban hành quyết định số 23?
2. Văn bản pháp lý nào là căn cứ để ban hành quyết định số 23?
3. Hành vi vi phạm của bà Tuyết thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước nào?
4. Chánh thanh tra Sở có thẩm quyền xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý
nhà nước đó không?
2. Hỏi để làm rõ về trình tự, thủ tục ban hành Quyết định số 23/QĐXPCH ngày 10/3/2014
Hỏi đại diện của Người bị khởi kiện
1. Hành vi vi phạm của bà Tuyết bị phát hiện khi nào?
2. Quyết định số 23 được ban hành sau bao nhiêu ngày từ ngày bị phát
hiện? Có văn bản thông báo gia hạn không?
3. Ông Thường và bà Lành có bị xử phạt hành chính không? (Nếu có) Bị
xử phạt vì hành vi vi phạm gì?
Hỏi đại diện của Người khởi kiện
1. Sau khi bị lập Biên bản vi phạm, bà Tuyết có được yêu cầu giải trình
không? Bà có văn bản giải trình không?
2. Bà có được thông báo về việc gia hạn thời hạn xử phạt không?
3. Hỏi để làm rõ về nội dung Quyết định số 23/QĐ-XPCH ngày
10/3/2014
Hỏi đại diện của Người bị khởi kiện
1. Tại thời điểm kiểm tra, Đoàn kiểm tra đã phát hiện bà Tuyết vi phạm
như thế nào?
2. Vi phạm nào là cơ sở để ra quyết định xử phạt?
Hỏi Người làm chứng – Ông Nguyễn Văn Thường và Bà Nguyễn Thị
Lành
5


1. Tại thời điểm kiểm tra, ông bà có quan hệ với nhau như thế nào? Ông
bà đang làm gì?
2. Tại thời điểm kiểm tra hoặc sau đó, có ai yêu cầu ông bà cung cấp giấy
tờ/thông tin để chứng minh mối quan hệ đó không?
3. Ông bà có đi cùng nhau khi đến thuê phòng tại cơ sở Hoàng Lan
không?
4. Ông bà có bị xử phạt vi phạm hành chính về việc quan hệ vợ chồng
(quan hệ tình dục) bị phát hiện không?
Hỏi đại diện của Người khởi kiện
1. Cơ sở Hoàng Lan kinh doanh dịch vụ gì?
2. Khi khách hàng đến thuê dịch vụ thì phải làm gì? Xuất trình giấy tờ gì?
3. Cơ sở có phổ biến nội quy cho khách hàng không?
4. Ông Thường và bà Lành đi cùng nhau khi đến thuê phòng không? Ông
bà có xuất trình đầy đủ giấy tờ theo quy định của cơ sở kinh doanh không?

Phần V: DỰ THẢO LUẬN CỨ CỦA LUẬT SƯ
(Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Người khởi kiện)

Kính thưa Hội đồng xét xử,
Thưa vị đại diện Viện kiểm sát,
Thưa các vị luật sư đồng nghiệp, cùng toàn bộ quý vị đã có mặt trong
phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay,
Tôi là luật sư …, đến từ Văn phòng Luật sư …, Đoàn luật sư thành phố
Hà Nội. Nhận lời yêu cầu của người khởi kiện (bà: Nguyễn Thị Tuyết), tôi tham
dự phiên tòa hôm nay để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Tuyết.
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả phần hỏi và tranh luận tại
phiên tòa. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Tuyết, tôi xin
nêu quan điểm như sau:
Ngày 23/12/2013, Đoàn kiểm tra thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
tỉnh G.L đã đến kiểm tra nhà trọ bình dân Hoàng Lan của bà Nguyễn Thị Tuyết
tại địa chỉ: Tổ 9, phường Đông Lân, thành phố P. Tại thời điểm kiểm tra, Đoàn
kiểm tra phát hiện: “phòng số 11 có ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị
6


Lành không có giấy kết hôn đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục); phòng
số 9 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy không có giấy kết hôn đang ở
chung phòng xe tivi. Tại thời điểm kiểm tra, chủ cơ sở kinh doanh phòng trọ
Hoàng Lan không vào sổ bà Nguyễn Thị Lành”.
Căn cứ nội dung phát hiện như trên, Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, thể
thao và du lịch ban hành Quyết định số 23/QĐ-XPHC để xử phạt vi phạm hành
chính đối với bà Tuyết với quy kết bà Tuyết có hành vi vi phạm: “thiếu tinh thần
trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều
kiện về an ninh, trật tự để hoạt động mại dâm” và áp dụng khoản 1 Điều 25 Nghị
định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ để xử phạt bà Tuyết.
Về thẩm quyền
Theo quy định tại Điều 69 của Nghị định 167/2013/NĐ-CP thì Thanh tra
Văn hóa, thể thao và du lịch chỉ có thẩm quyền xử phạt đối với những hành vi vi
phạm quy định tại Mục 4 Chương II của Nghị định (cụ thể đó là các hành vi vi
phạm về phòng, chống bạo lực gia đình quy định từ Điều 49 đến Điều 65);
Trong khi đó, hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 25 mà Chánh Thanh
tra Sở Văn hóa, thể thao và du lịch quy kết cho khách hàng của tôi thuộc mục 2
Chương II (nhóm các hành vi vi phạm về phòng, chống tệ nạn xã hội) thuộc
thẩm quyền của Thanh tra Lao động, thương binh và xã hội.
Như vậy rõ ràng: việc Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, thể thao và du lịch
ban hành quyết định số 23/QĐ-XPHC để xử phạt hành vi vi phạm quy định tại
khoản 1 Điều 25 Nghị định 163/2013/NĐ-CP là hoàn toàn trái thẩm quyền.
Về trình tự, thủ tục
Thứ nhất, về thời hạn ra quyết định xử phạt
Từ ngày Đoàn kiểm tra lập Biên bản vi phạm ngày 23/12/2013 đến ngày
Chánh Thanh tra Sở Sở Văn hóa, thể thao và du lịch ra quyết định xử phạt số
23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 là 77 ngày. Thời hạn ra quyết định xử phạt này vi
phạm quy định thời hạn tối đa phải ra quyết định xử phạt theo quy định tại
khoản 1 Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 (tối đa 37 ngày đã bao
gồm thời hạn gia hạn). Ngoài ra, việc gia hạn thời hạn cũng không thể hiện đã
được phê duyệt bằng văn bản theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 66. Hồ sơ vụ
án chỉ thể hiện việc Chánh Thanh tra Sở có báo cáo xin gia hạn (BL43).
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 65 Luật xử lý vi phạm hành chính
2012, trường hợp đã hết thời hạn ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền sẽ
không được ra quyết định xử phạt. Tuy nhiên, Chánh Thanh tra Sở vẫn ban hành
7


Quyết định số 23/QĐ-XPHC khi đã hết thời hạn là có sự vi phạm nghiêm trọng
về trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, về xác minh tình tiết của vụ việc
Biên bản vi phạm ngày 23/12/2013 thể hiện, tại thời điểm kiểm tra, Đoàn
kiểm tra phát hiện “Phòng 11 có ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị
Lành không có giấy kết hôn đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục)” BL7.
Đây là tình tiết quan trọng Chánh Thanh tra Sở cần phải xác minh làm rõ đó có
phải là “hoạt động mại dâm” hay không? từ kết quả xác minh đó mới có cơ sở
xác định có hay không hành vi vi phạm hành chính của bà Tuyết – chủ cơ sở nhà
trọ. Tuy nhiên, hồ sơ vụ án không có bất cứ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh
ông Chánh Thanh tra Sở đã thực hiện việc xác minh. Việc không xác minh tình
tiết quan trọng của vụ việc là vi phạm nghiêm trọng quy định tại điểm a, e khoản
1 và khoản 2 Điều 59 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012; đồng thời dẫn đến
những sai lầm nghiêm trọng về nội dung, mà tôi sẽ trình sau đây.
Về nội dung
Thứ nhất, việc ban hành Quyết định số 23/QĐ-XPHC có sự mâu thuẫn,
tùy tiện trong việc áp dụng pháp luật và xác định hành vi vi phạm
- Tại Biên bản vi phạm hành chính (BL 7), Đoàn kiểm tra xác định bà
Tuyết vi phạm quy định tại Nghị định 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của
Chính phủ nhưng lại không chỉ ra cụ thể hành vi vi phạm đó được quy định tại
điều khoản nào của Nghị định. Đến khi ra quyết định xử phạt, Chánh Thanh tra
Sở lại xác định bà Tuyết vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị định
167/2013/NĐ-CP;
- Tại Biên bản vi phạm hành chính, hành vi vi phạm được xác định là
“thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hành vi vi phạm như trên”. “Hành vi vi
phạm như trên” thực chất lại chỉ là các sự việc, hiện tượng mà Đoàn kiểm tra đã
phát hiện và mô tả lại “phòng số 11 có ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn
Thị Lành không có giấy kết hôn đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục);
phòng số 9 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy không có giấy kết hôn
đang ở chung phòng xe tivi. Tại thời điểm kiểm tra, chủ cơ sở kinh doanh phòng
trọ Hoàng Lan không vào sổ bà Nguyễn Thị Lành”. Đến khi ra quyết định xử
phạt, Chánh Thanh tra Sở lại xác định hành vi vi phạm là “Thiếu tinh thần trách
nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về
an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm”, hành vi này không hề tồn tại
trong Biên bản vi phạm hành chính (BL7)
8


Thứ hai, như tôi đã trình bày ở trên, hành vi thực tế bị phát hiện ở phòng
11 có phải là “hoạt động mại dâm” hay không chưa được xác minh làm rõ
- Thực tế là, pháp luật hiện hành của Việt nam không có bất cứ quy định
nào nghiêm cấm việc nam nữ đủ năng lực hành vi dân sự tự nguyện, đồng thuận
quan hệ tình dục không vì mục đích tiền và lợi ích vật chất khác. Pháp luật chỉ
nghiêm cấm đối với hành vi quan hệ tình dục vì mục đích tiền và lợi ích vật chất
khác, cụ thể theo quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 3 Pháp lệnh phòng, chống
mại dâm 2003 thì “Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác
để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác”; “Mua dâm là hành vi của người
dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu”;
“Tổ chức hoạt động mại dâm là hành vi bố trí, sắp xếp để thực hiện việc mua
dâm, bán dâm”.
- Hồ sơ vụ án, kết quả xét hỏi ngày hôm nay đã cho thấy: Trong xuyên
suốt quá trình xử lý, Chánh Thanh tra Sở đã không có bất kỳ biện pháp nghiệp
vụ nào để xác minh mối quan hệ giữa ông Thường và bà Lành; trong khi ông
Thường và bà Lành đã có tường trình là vợ chồng (BL31).
Như vậy, việc Thanh tra Sở chỉ dựa vào một dấu hiệu duy nhất “không có
giấy đăng ký kết hôn” để quy kết hành vi quan hệ tình dục của ông Thường và
bà Lành là “hoạt động mại dâm” để từ đó xử phạt vi phạm hành chính đối với
khách hàng của tôi là sai lầm nghiêm trọng trong xác định hành vi vi phạm dẫn
đến oan sai cho người bị xử phạt. Ngoài ra, Chánh Thanh tra Sở đã rất thiếu
trách nhiệm, vi phạm nguyên tắc “người có thẩm quyền xử phạt phải chứng
minh” trong xử phạt vi phạm hành chính khi đẩy trách nhiệm chứng minh cho
khách hàng của tôi, yêu cầu khách hàng của tôi phải cung cấp giấy đăng ký kết
hôn của ông Thường và bà Lành (BL 19, 20, 38); trong khi đó, không có bất cứ
quy định nào của pháp luật quy định đây là giấy tờ tùy thân công dân bắt buộc
phải mang theo mình, phải xuất trình khi thuê phòng nghỉ.

Từ các lý lẽ nêu trên, tôi xin khẳng định Quyết định xử phạt số 23/QĐXPHC trái pháp luật trên cả 3 phương diện: thẩm quyền; trình tự, thủ tục; nội
dung. Vì vậy, tôi kính mong Hội đồng xét xử xem xét toàn bộ sự việc một cách
nghiêm minh, khách quan, từ đó quyết định chấp thuận với yêu cầu của khách
hàng của tôi, bà Nguyễn Thị Tuyết là: Hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành
chính trong hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo số 23/QĐ-XPHC
ngày 10/3/2014 của Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh G.L;
đồng thời, hủy quyết định hành chính có liên quan là quyết định giải quyết khiếu
9


nại số 01/QĐ-TTr ngày 20/4/2014 để đảm bảo cho quyền và lợi ích chính đáng
của bà Tuyết.
Thưa Hội đồng xét xử, trên đây là toàn bộ quan điểm của tôi với tư cách
là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện, tôi hoàn toàn tin
tưởng vào sự công minh của Hội đồng xét xử về một quyết định khách quan,
hợp tình hợp lý.
Tôi xin chân thành cảm ơn Hội đồng xét xử cùng toàn thể quý vị đã chú ý
lắng nghe!

10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×