Tải bản đầy đủ

Luận văn thạc sĩ Dạy học số tự nhiên cho học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm

Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
-------------

DẠY HỌC SỐ TỰ NHIÊN CHO HỌC SINH LỚP 2 THÔNG QUA
HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM

LUẬN VĂN THẠC SỸ GIÁO DỤC HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu Học
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Vũ Quốc Chung

HẢI PHÒNG, NĂM 2017



Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

i
LỜI CAM ĐOAN

Luận văn: “Dạy học số tự nhiên cho học sinh lớp 2 thông qua hoạt động
trải nghiệm” được tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Quốc
Chung.
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Kết quả của
luận văn là trung thực và không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả
khác.
Hải Phòng, tháng 4 năm 2017
Tác giả


Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

ii
LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện Đề tài: “Dạy học số tự nhiên cho
học sinh lớp 2 thông qua hoạt động trải nghiệm” tôi đã nhận được nhiều sự
quan tâm và tạo điều kiện, giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân của các thầy cô giáo
và các em học sinh trường Tiểu học Thực Hành.
Tôi xin trân trọng cảm ơn trường Đại học Hải Phòng và Phòng sau Đại hoc,
Khoa Giáo dục Tiểu học của nhà trường - Nơi tôi đã học Thạc Sỹ Giáo dục Tiểu
học Khóa I (2015 - 2017) ở đó.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Vũ Quốc Chung đã
tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn thành Luận văn Thạc sỹ này.
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn trường Đại học Hải Phòng, trân trọng
cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh, các anh chị em, bạn bè, đồng
nghiệp và gia đình đã động viên, khích lệ và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này.
Hải Phòng, tháng 4 năm 2017


Tác giả


iii

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN…………………………………………………………….... i
LỜI CẢM ƠN………………………………………………………………..... ii
MỤC LỤC…………………………………………………………………........iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT………………………………………………...... vi
DANH MỤC BẢNG…………………………………………………………....vii
DANH MỤC HÌNH…………………………………………………………..... vii
MỞ ĐẦU……………………………………………………………………......1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN………………………………..
7
1.1.Tổng quan nghiên cứu…………………………………………………..... 7
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới……………………………………… 7
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam………………………………………..10
1.2. Một số khái niệm có liên quan…………………………………………… 11
1.2.1. Quan niệm về hoạt động trải nghiệm…………………………………... 11
1.2.2. Quan niệm về học tập trải nghiệm………………………………………. 12
1.2.3. Học tập thông qua hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn
Toán tiểu học…………………………………………...................................

16

1.2.4. Hoạt động trải nghiệm trong dạy học số tự nhiên ở lớp 2........................ 18
1.3. Đặc điểm, vai trò của hoạt động trải nghiệm ………………………....... 18
1.3.1. Đặc điểm của học tập qua hoạt động trải nghiệm…………………....... 18
1.3.2. Vai trò của học tập qua hoạt động trải nghiệm…………………………...23
1.4. Quy trình tổ chức các hoạt động trải nghiệm……………………………... 25
1.5. Nội dung chương trình và thực trạng về dạy học số tự nhiên ở lớp 2......... 30
1.5.1. Chương trình số tự nhiên lớp 2……………………………………….... 30
1.5.2. Thực trạng dạy học số tự nhiên ở lớp 2 theo quan điểm HĐTN……….. 31


iv
1.6. Các phương pháp dạy môn Toán lớp 2

34

Kết luận chương 1…………………………………………………………….... 36
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC SỐ TỰ NHIÊN CHO HỌC
SINH LỚP 2 THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM.............................37
2.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp dạy học số tự nhiên lớp 2 thông qua hoạt
động trải nghiệm. ………………………………………………………………..37
2.3. Một số biện pháp về dạy học số tự nhiên ở lớp 2 thông qua hoạt động
trải nghiệm. ……………………………………………………………….……........
38
2.3.1. Biện pháp 1: Tổ chức cho học sinh hoạt động trên các mô hình trực
quan……………………………………………………………………….....

38

2.3.2. Biện pháp 2: Dạy học tổ chức cho học sinh thực hành hoạt động phân
tích cấu cấu tạo số để đặt tính và thực hiện phép tính thông qua hoạt động
trải nghiệm.........

47

2.3.3. Biện pháp 3: Tổ chức cho học sinh thực hành hoạt động tính nhẩm
qua các tình huống cụ thể liên quan đến tính chất phép tính và cấu tạo số................
53
2.3.4. Biện pháp 4: Tổ chức cho học sinh thực hành vận dụng các phép tính
vào giải toán có liên quan........................................................................................
56
2.3.5. Biện pháp 5: Tổ chức cho học sinh một số hoạt động hỗ trợ rèn luyện
khả năng sử dụng ngôn ngữ toán học trong dạy học số tự nhiên.…………...............
62
2.3.6. Biện pháp 6: Xây dựng tình huống, câu hỏi, bài tập có nội dung thực
tiễn trong dạy học học số tự nhiên ở lớp 2. ...........................................................
63
Kết luận chương 2………………………………………………………....…… 64
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM……………………………….….....…
66
3.1. Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm……………………………………....… 66
3.1.1. Mục đích……………………………………………………………....... 66
3.1.2. Nhiệm vụ……………………………………………………….....…….. 66


v
3.2. Tổ chức và nội dung thực nghiệm. ……………………………......…….. 66
3.2.1. Tổ chức thực nghiệm…………………………………………....……… 66
3.2.2. Nội dung thực nghiệm…………………………………………......…… 67
3.3. Kết quả thực nghiệm. …………………………………………......……… 79
3.3.1. Các phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm...............................................
79
3.3.2. Kết quả trước thực nghiệm…………………………………...………… 79
3.3.3. Kết quả sau thực nghiệm……………………………….......…………… 81
Kết luận chương 3…………………………………………….....…………….. 82
KẾT LUẬN ...................................…………………………….......……………84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………..........……………87
PHỤ LỤC


vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt

Giải thích

BD

Bồi dưỡng

GD

Giáo dục

GD& ĐT

Giáo dục và Đào tạo

GDMT

Giáo dục môi trường

GV

Giáo viên

HS

Học sinh

HT

Hoàn thành

HTT

Hoàn thành tốt

HTXS

Hoàn thành xuất sắc



Hoạt động

HTTN

Học tập trải nghiệm

HĐTN

Hoạt động trải nghiệm

TN

Tự nhiên

STN

Số tự nhiên

SGK

Sách giáo khoa

KQHT

Kết quả học tập

PPDH

Phương pháp dạy học


vii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu bảng

Tên bảng

Trang

2.1

Kết quả trải nghiệm thông qua đồ dùng

42

3.1

Danh sách lớp và GV tham gia thực nghiệm

67

3.2

Bảng kết quả trước thực nghiệm

80

3.3

Bảng kết quả sau thực nghiệm

81

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hiệu hình

Tên hình

Trang

1.1

Các bước của học tâp trải nghiệm của David Kolb

8

1.2

Sơ đồ mô tả cấu trúc của HT trải nghiệm

15

1.4

Quy trình tổ chức các HĐTN về STN cho HS lớp 2

25


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà
nước và toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên trước
hết trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Với yêu cầu
đổi mới về căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 29 Hội nghị
TW 8 khóa XI của Đảng) chuyển từ quá trình giáo dục chú trọng trang bị kiến
thức sang tập trung phát triển năng lực và phẩm chất người học nhằm phát
triển con người toàn diện đáp ứng yêu cầu xã hội, phù hợp xu thế quốc tế.
Trong tác phẩm: “Học tập là một kho báu tiềm ẩn” báo cáo của “Hội đồng
quốc tế về GD cho thế kỉ XXI” gửi UNESCO khẳng định: Học tập suốt đời là
một trong những chìa khóa đáp ứng được những yêu cầu của một thế giới
thay đổi nhanh chóng, không thể thỏa mãn những đòi hỏi được nếu người học
không biết cách học. Học cách học chính là học cách tự học, tự đào tạo[1].
Nghị quyết của Ban chấp hành TW IV của Đảng cộng sản Việt Nam
khóa VIII tiếp tục chỉ rõ: “…Đổi mới mạnh mẽ phương pháp GD - ĐT, khắc
phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học.
Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến hiện đại vào quá trình dạy-học,
đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh…”
Những định hướng trên tiếp tục được thể chế hóa trong luật giáo dục
“Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, chủ động, tư duy sáng tạo
của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê và ý chí vươn lên”.
Để hình thành và phát triển năng lực của học sinh thì người giáo viên có
rất nhiều phương pháp dạy học phù hợp. Một trong những phương pháp đó là
học sinh được học tập thông qua hoạt động trải nghiệm.Trong chương trình
giáo dục phổ thông đã đề cập đến hoạt động trải nghiệm như là một môn học,
một hoạt động giáo dục nhằm phát triển năng lực của người học.

1


Vì vậy con người muốn phát triển toàn diện cần có nền tảng vững chắc
đầu tiên là cấp Tiểu học, đó là cơ sở cho việc hình thành, phát triển toàn diện
nhân cách con người. Giáo dục Tiểu học nhằm tạo cơ sở ban đầu cho sự phát
triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức trí tuệ, thể chất và thẩm mỹ và các kỹ năng
cơ bản để học sinh tiếp tục học lớp trên.
Tuy nhiên với học sinh lớp 2 còn quá nhỏ, các em rất hồn nhiên, ngây thơ
và trong sáng. Các em rất tò mò, khám phá cái mới nhưng lại thiếu sự tập
trung cao độ, khả năng ghi nhớ và chú ý chưa có chủ định nên nhanh nhớ
nhưng lại nhanh quên. Đối với trẻ em ở lứa tuổi Tiểu học thì tri giác của các
em phán ánh những thuộc tính trực quan cụ thể của sự vật, hiện tượng. Nhận
thức còn cảm tính, chưa đầy đủ, chưa có khả năng phân tích, phán đoán, suy
luận, tổng hợp…Vì vậy việc sử dụng đồ dùng học tập là phương tiện quan
trọng gậy sự chú ý, lôi cuốn, kích thích nhu cầu khám phá, trải nghiệm cái
mới tác động lên nhận thức của học sinh từ trực quan sinh động đến tư duy
trừu tượng. Trong dạy học ở Tiểu học, học tập qua HĐTN tạo cơ hội để học
sinh được trải nghiệm thực tế bằng các giác quan khác nhau, giúp phát huy
cao độ vai trò chủ thể, tích cực, độc lập, chủ động, sáng tạo của học sinh, rèn
luyện các nét tính cách tích cực cho bản thân học sinh. Giáo viên là người
đóng vai trò thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo
nhóm để học sinh trải nghiệm và tự chiÕm lĩnh nội dung tri thức, chủ động đạt
các mục tiêu về kiến thức - kĩ năng, năng lực, phẩm chất theo chương trình.
Qua đó học tập qua hoạt động trải nghiệm với môn Toán là một vấn đề khá
mới mẻ trong dạy học toán ở Tiểu học.
Toán học là một môn khoa học nghiên cứu một số mặt của thế giới hiện
thực, là một trong những môn học chính mà chúng ta đều quan tâm. Nó góp
phần quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, suy luận, giải
quyết vấn đề có căn cứ khoa học. Ngoài ra môn toán còn phát triển trí thông
minh, các suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo của người học sinh, phát triển

2


các phẩm chất cần thiết cho con người: cần cù, cẩn thận, vượt khó khăn, làm
việc có kế hoạch, nề nếp và tác phong khoa học. Trong trường Tiểu học cùng
với các môn học khác, môn Toán có vị trí quan trọng bởi lẽ nó là những kiến
thức mở đầu, nền tảng kiến thức đầu tiên cho học sinh ở cấp Tiểu học. Môn
Toán ở tiểu học gồm 5 mạch kiến thức: số học, đại lượng và đo đại lượng, yếu
tố hình học, giải toán có lời văn, yếu tố thống kê. Những kiến thức này tuy
đơn giản nhưng lại là những kiến thức cơ bản và là nền tảng cho quá trình học
tập sau này. Học sinh là trung tâm của quá trình trải nghiệm từ hình thành
kiến thức tới thực hành luyện tập và áp dụng giải quyết các vấn đề liên quan
trong cuộc sống. Qua đó học sinh hình thành các kĩ năng, tư duy sáng tạo.
Hơn hết Toán học với tư cách là một môn khoa học nghiên cứu một số mặt
của thế giới khách quan, có một hệ thống kiến thức cơ bản và phương pháp
nhận thức cơ bản rất cẩn thiết cho đời sống, sinh hoạt, lao động…Toán Tiểu
học có khả năng phát triển tư duy logic, bồi dưỡng và phát triển những thao
tác trí tuệ cần thiết để nhận thức thế giới hiện thực. Nó có vai trò to lớn trong
việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, suy luận, giải quyết vấn đề có căn cứ
khoa học, toàn diện chính xác phát triển trí thông minh, tư duy độc lập, sinh
hoạt sáng tạo trong việc hoàn thành và rèn luyện trong mọi lĩnh vực hoạt động
của con người.
Trong môn Toán ở Tiểu học, dạy học số tự nhiên được coi là hạt nhân
góp phần vào hình thành và phát triển năng lực tính toán, một trong những
năng lực cần thiết của người lao động. Số tự nhiên ở lớp 2 mang tính kế thừa
của lớp Mét. Tuy nhiên nó sẽ phát triển mở rộng hơn về hình thành các số đến
1000: khái niệm, đọc, viết, so sánh, cấu tạo số đến 1000…số tự nhiên với các
phép tính cộng, trừ và vận dụng giải toán có liên quan. Để học sinh nắm được
kiến thức đòi hỏi người giáo viên linh hoạt vận dụng các phương pháp, hình
thức tổ chức dạy học phù hợp mang lại hiệu quả cao nhất trong quá trình dạy
học số tự nhiên ở lớp 2. Một trong những phương pháp đó là dạy học thông
qua hoạt động trải nghiệm. Đó là cách dạy hướng vào người học “Lấy học
3


sinh làm trung tâm”. Khi đó giáo viên chỉ là người tổ chức, hướng dẫn theo
năng lực của từng cá nhân học sinh đã được trải nghiệm, tự phát hiện, tự giải
quyết vấn đề để chiếm lĩnh các kiến thức và kĩ năng nhằm phát triển toàn diện
trong quá trình học tập của các em .
Do đó việc dạy học số tự nhiên thông qua hoạt động trải nghiệm có vai
trò rất quan trọng trong việc dạy Toán Tiểu học nói chung và dạy học cho học
sinh lớp 2 nói riêng nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo
của học sinh trong quá trình học.Vì vậy tôi chọn đề tài:
“Dạy học số tự nhiên cho học sinh lớp 2 thông qua hoạt động trải
nghiệm”.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là xây dựng một số biện pháp dạy học số
tự nhiên cho học sinh lớp 2 qua hoạt động trải nghiệm nhằm góp phần nâng
cao kết quả dạy học Toán lớp 2 nói riêng và môn Toán trong trường tiểu học
nói chung.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề dạy học số tự nhiên
qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh lớp 2.
- Đề xuất một số biện pháp dạy học số tự nhiên cho học sinh lớp 2 qua
hoạt động trải nghiệm.
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các
biện pháp đề xuất.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Nội dung, phương pháp dạy học số tự nhiên qua hoạt động trải nghiệm
trong dạy học môn Toán cho học sinh tiểu học.

4


4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Dạy học số tự nhiên ở Tiểu học.
- Dạy học số tự nhiên cho HS lớp 2 .
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Nghiên cứu các cơ sở lí luận về các định hướng dạy học số tự nhiên cho
học sinh lớp 2 thông qua HĐTN. Nghiên cứu dạy học qua HĐTN đối với dạy
học môn toán lớp 2
- Phương pháp điều tra - khảo sát:
Điều tra, khảo sát thực trạng thực trạng dạy học số tự nhiên cho học sinh
lớp 2.
- Phương pháp đàm thoại, vấn đáp, trò chuyện:
Trao đổi, thảo luận với GV, HS. Quan sát hoạt động học tập của học sinh
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
Nghiên cứu thực tiễn việc dạy học số tự nhiên ở lớp 2 để lấy kinh nghiệm
cho hoạt động học tập của học sinh thông qua HĐTN
- Phương pháp quan sát sư phạm:
Quan sát và lấy thông tin từ GV và HS qua các phiếu thực nghiệm.
Tìm hiểu nhận thức của GV và HS về hoạt động trải nghiệm
Đề xuất phương pháp dạy học số tự nhiên qua HĐTN.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
Tiến hành thực nghiệm Sư phạm nhằm kiểm tra tính đúng đắn của giả
thuyết khoa học đã nêu ra.

5


- Phương pháp thống kê toán học
6. Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn về dạy học số tự nhiên cho học
sinh lớp 2 qua HĐTN.
- Đề xuất một số biện pháp dạy học số tự nhiên cho học sinh lớp 2 qua
HĐTN.
- Đánh giá kết quả của HS thông qua HĐTN.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo và các phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Một số biện pháp dạy học số tự nhiên cho học sinh lớp 2 thông
qua hoạt động trải nghiệm.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.

6


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Nghiên cứu về học tập qua HĐTN trên thế giới
Trên thế giới kĩ năng tính toán được nhiều nước phát triển đặc biệt quan
tâm. Nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục dùng công nghiên cứu về vấn đề này
và đã tìm ra phương pháp tốt nhất giúp học sinh có thể chiếm lĩnh kiến thức
một cách đầy đủ, chắc chắn nhất.
Chương trình môn Toán cấp tiểu học của nhiều nước rất chú trọng việc
dạy số tự nhiên. Bởi số tự nhiên có từ lâu đời và nó gắn liền cuộc sống con
người thông qua trực quan, sự vật hiện tượng trong thực tế. Có thể nói tư
tưởng giáo dục qua trải nghiệm đã manh nha xuất hiện từ thời cổ đại và dần
dần được phát triển bởi các nhà giáo dục trên thế giới, được nhiều nước có
nền giáo dục tiên tiến trên thế giới coi như triết lí giáo dục của quốc gia.
Các nhà giáo dục dựa trên quan điểm triết học về giáo dục của mình đã
nghiên cứu về vai trò của trải nghiệm đối với giáo dục ở những góc độ khác
nhau: “Quan điểm về phương pháp giáo dục coi trong thực hành, vận dụng”
Khổng Tử ) 551- 479 TCN; “Quan điểm về dạy học phải đảm bảo mối liên hệ
với đời sống, giáo dục thông qua trò chơi, hoạt động ngoài lớp, ngoài thiên
nhiên” của J.A Cô - men - xki; Học thuyết giáo dục Mác - Ănghen và Lê - nin
về: “Giáo dục kĩ thuật tổng hợp và giáo dục kết hợp với lao động sản xuất”
trên cơ sở phát triển đề cương về giáo dục kĩ thuật tổng hợp của Crupxcaia.
Nhà triết học Hy Lạp - Xôcrát (470 - 399 TCN) ở phương Tây. Năm 1946,
nhà sáng lập tâm lí học Mĩ Zadek Kurt Lewin (1890 - 1947) cho rằng việc học
tập đạt kết quả tối đa khi có một sự xung đột căng thẳng biện chứng giữa kinh
nghiệm cá nhân với việc phân tích giải quyết nhiệm vụ học tập. Lewin đã
khẳng định kinh nghiệm chủ quan của cá nhân là một thành phần quan trọng
của học tập qua hoạt động trải nghiệm.
Quan điểm học qua trải nghiệm chỉ trở thành tư tưởng giáo dục chính
thống và phát triển thành học thuyết khi gắn liền với các nhà tâm lí học, giáo

7


dục hoc như: John Dewey, Kurt Lewin, Jean Piaget, Lev Vygotsky, David
Kolb, Wiliam James, Carl Jung, Paulo Freire, Carl Rogers và các nhà giáo
dục hiện đại sau này… Có thể nhắc tới 3 mô hình học tập trải nghiệm cổ điển
tiêu biểu nửa đầu thế kỉ 19: Mô hình học tập trải nghiệm của Kurt Lewin về
nghiên cứu hành động và đào tạo trong phòng thí nghiệm, mô hình học từ
kinh nghiệm của John Dewey, mô hình học tập và phát triển nhận thức của
Jean Piaget. Đây được coi như cơ sở khoa học nền tảng của việc phát triển lí
thuyết học tập trải nghiệm của D. Kolb sau này [2].
Chính vì vậy năm 1984, trên cơ sở những nghiên cứu của Dewey, Lewin,
Piaget, LevVygotsky và các nhà nghiên cứu khác về kinh nghiệm và học tập
dựa vào kinh nghiệm, David Kolb (1939), nhà giáo dục Hoa Kì đã nghiên cứu
cho sản xuất một công trình về học tập qua trải nghiệm: Trải nghiệm học tập:
Kinh nghiệm là nguồn học tập và phát triển. David Kolb đã chính thức giới lý
thuyết học tập qua hoạt động trải nghiệm, cung cấp một mô hình học tập qua
hoạt động trải nghiệm để ứng dụng trong trường học, tổ chức kinh tế và hầu
như bất cứ nơi nào con người được tập hợp với nhau. Đối với Kolb: “Học tập
là quá trình mà trong đó kiến thức được tạo ra thông qua việc chuyển đổi
kinh nghiệm”.

Kinh nghiệm rời
rạc.

Quan sát và phân
tích

Thử áp dụng khái
niệm vào tình
huống mới.

Hình thành khái
niệm trừu tượng
hóa khái quát
hóa.

Hình 1.1: Các bước của học tâp trải nghiệm của David Kolb

8


Từ năm 1984 đến nay, từ mô hình học tập qua hoạt động trải nghiệm của
David Kolb cùng một số tác giả khác đã có nhiều công trình nghiên cứu có
liên quan đến học tập qua hoạt động trải nghiệm, tập trung vào các lĩnh vực
khác nhau: kinh tế, giáo dục, văn hóa…Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, có
thể kể đến các công trình nghiên cứu sau:
- Phong cách học tập và không gian học: Tăng cường học tập qua hoạt
động trải nghiệm trong giáo dục đại học (2015 ) của Kolb, KY, Kolb, DA.
- Học cách học từ kinh nghiệm là con đường để suốt đời học tập và phát
triển của Passarelli, A, Kolb, DA.
- “Học qua làm, học bắt đầu từ làm”của J.Deway: Quan điểm về dạy học
qua trải nghiệm là trẻ em phải học tập trong chính cuộc sống xã hội. Ông đề
cao phương pháp dạy học trải nghiệm, ông nhấn mạnh: sự phát triển thể chất
của trẻ sẽ đi trước về giác quan, theo đó trẻ hành động trước khi có nhận thức
đầy đủ về hành động đó, trẻ thường hành động khi chưa có kinh nghiệm. Do
đó, trong thực tế của trẻ có thể chưa đầy đủ hoặc hành động hấp tấp, nhưng
điều đó đã cho trẻ thêm trải nghiệm về cuộc sống. Vì vậy để phát triển trí tuệ
cho học sinh, phương pháp dạy học phải bằng trải nghiệm và thông qua trải
nghiệm, nghĩa là để cho trẻ được trực tiếp tham gia vào hoạt động.
Năm 1995, Conrad và Hedin đã phỏng vấn 4000 học sinh trong 33
chương trình học tập trải nghiệm khác nhau và rút ra được kết luận là sự học
qua trải nghiệm đã đem lại kết quả tích cực đối với sự phát triển tâm lí của
người học.
Năm 1996, Hiệp hội Giáo dục trải nghiệm của Canada đã tổng kết và
đưa ra một số tiêu chí để đảm bảo tổ chức hoạt động trải nghiệm có hiệu quả.
Các tác giả đã trình bày lý thuyết về học tập qua hoạt động trải nghiệm.
Theo đó kiến thức được tạo ra từ kinh nghiệm thông qua một chu kì học tập:
Hành động -> phản ánh kinh nghiệm -> trừu tượng hóa khái niệm-> thử

9


nghiệm, vận dụng. Qua đó, cung cấp một cái nhìn tổng quan về phương thức
học tập cũng như các không gian diễn ra quá trình tổ chức học tập. Trong chu
trình học tập qua HĐTN, các giai đoạn được liên kết thành một không gian
kinh nghiệm để tạo ra một chu kì học tập xoắn ốc nhằm thu nhận được kiến
thức mới và phát triển học tập suốt đời.
Nhìn chung, “Học tập trải nghiệm” là một lí thuyết học tập được thế giới
rất coi trọng bởi nó đề cao việc hình thành năng lực của con người thông qua
những trải nghiệm thực tiễn, điều đó hoàn toàn phù hợp với các quy luật về
tâm lí trong việc hình thành phát triển nhân cách cho học sinh.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Chương trình môn Toán Tiểu học năm 1981 và năm 2000 đến nay đã làm
rõ cơ sở lí luận toán học và phương pháp dạy học nội dung số học và các phép
tính với số tự nhiên rất rõ. Thời lượng trong chương trình Toán cấp Tiểu học
dành cho học số và phép tính khá nhiều. Nội dung dạy học số tự nhiên được
mở rộng và sắp xếp phù hợp với khả năng tiếp nhận của học sinh. Mặc dù có
sự thay đổi nhưng còn mang tính hàn lâm. Học sinh tiếp nhận tri thức còn
mang tính một chiều, chưa phát huy hết năng lực, vốn kinh nghiệm sẵn có của
học sinh.
Năm 2006, học tập qua hoạt động trải nghiệm được đề cập ở Việt Nam
trong tài liệu “Học mà chơi - Chơi mà học: Hướng dẫn các hoạt động GDMT
trải nghiệm” do dự án GDMT Hà Nội và trung tâm Con người và Thiên nhiên
biên soạn[12].
Năm 2011, lần đầu tiên môn học “Giáo dục trải nghiệm” được giảng dạy
cho sinh viên thuộc chương trình đào tạo Cử nhân khoa học ngành quản lí,
liên kết giữa khoa Quốc tế - Đại học Quốc gia Hà Nội với Đại học Keuka, Mĩ.
Nội dung và mục tiêu của môn học là giúp sinh viên gần gũi hơn với cuộc
sống, với xã hội và có thêm được những trải nghiệm thực tế, những điều mà
các em có thể chưa nắm bắt được khi học qua sách vở tại trường đại học.
10


Những năm gần đây ngành giáo dục Việt Nam hội nhập cùng thế giới,
đổi mới chương trình sách giáo khoa, hình thức, phương pháp dạy học theo
hướng “Tích cực hóa người học” lấy “ Học sinh làm trung tâm” của quá trình
giáo dục. Do vậy người học sinh cần tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri
thức bằng những hoạt động trải nghiệm cá nhân trong môn học.
1.2. Một số quan niệm có liên quan
1.2.1. Quan niệm về hoạt động trải nghiệm
Đối với mỗi nhà nghiên cứu, mỗi kĩnh vực thì quan điểm về hoạt động
trải nghiệm khác nhau. Hoạt động trải nghiệm được hiểu bao gồm HĐ chính
khóa và HĐ ngoại khóa.
Ở Hàn Quốc, hoạt động thực tiễn tiến hành song song với HĐ trong
chương trình GD được gọi là HĐ đặc biệt, hoạt động ngoại khóa sáng
tạo…Nhưng đến năm 2009 thống nhất được gọi là HĐ trải nghiệm sáng tạo.
Hoạt động trải nghiệm ở nước Anh: Một trong những trung tâm trải
nghiệm được nhiều học sinh tham gia là Trung tâm “Chân trời rộng mở”thành lập năm 2004. Trung tâm tổ chức hàng loạt các HĐ ngoài trời cho tất cả
các lứa tuổi học đường, từ tổ chức trải nghiệm thiên nhiên cho học sinh tiểu
học đến các HĐ phiêu lưu, mạo hiểm cho học sinh các cấp trên. Nhiều hoạt
động liên kết với các chủ đề của chương trình dạy học và phù hợp với đối
tượng học sinh.
Ở Việt Nam: Thuật ngữ : “HĐTN sáng tạo” mới xuất hiên vài năm khi
chúng ta triển khai thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện GD& ĐT nói chung
và đổi mới căn bản, toàn diện với GD phổ thông nói riêng theo Quyết định số
404/QĐ-TTg ngày 27/3/2015 của thủ tướng Chính phủ, thực hiện Nghị quyết
số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung
ương khóa XI. Theo Tiến sĩ Vũ Đình chuẩn, tính chất của HĐTN thể hiện
ngay ở tên gọi. Thứ nhất, các HĐTN phải thông qua thực hành, thông qua làm,

11


thông qua hành động dựa trên kinh nghiệm của mỗi cá nhân. Thứ hai, đòi hỏi
học sinh phải có sáng kiến, đáp ứng yêu cầu sáng tạo và nuôi dưỡng tính sáng
tạo. Các HĐ này cũng đề cao tinh thần nhân văn, làm cho việc giáo dục ở nhà
trường trở nên hấp dẫn và thú vị hơn.
Trải nghiệm dưới góc nhìn sư phạm được hiểu:
Trải nghiệm trong đào tạo là một hệ thống kiến thức và kĩ năng có được
trong quá trình giáo dục và đào tạo chính quy.
Trải nghiệm là kiến thức, kĩ năng mà trẻ nhận được bên ngoài các cơ sở
giáo dục thông qua sự giao tiếp với nhau, với người lớn hay qua những tài
liệu tham khảo không được giảng dạy trong nhà trường…
Trải nghiệm (qua thực nghiệm, thử nghiệm) là một trong những phương
pháp đào tạo, trong điều kiện thực tế hay lí thuyết nhất định để thiết lập hoặc
minh họa cho một quan điểm lí luận cụ thể.
Theo Wikipedia: Trải nghiệm là kiến thức hay sự thành thạo một sự kiện
hoặc một chủ đề bằng cách tham gia hay chiếm lĩnh nó.
1.2.2. Quan niệm học tập trải nghiệm.
Mỗi cá nhân con người sống trong môi trường xã hội luôn luôn thực hiện
việc học. Về bản chất, con người luôn luôn thực hiện việc học vì con người
luôn tiếp nhận các kích thích từ môi trường để thích nghi và phát triển. Việc
học này có thể tự giác hoặc tự phát và hiệu quả của nó phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như: phụ thuộc vào sự tích cực của cá nhân người học, phụ thuộc vào
môi trường GD, phụ thuộc người dạy, đặc điểm tâm sinh lí của cá nhân người
học…
Con người chúng ta học rất nhiều điều từ cuộc sống, nhiều kiến thức
khoa học từ các lĩnh vực khác nhau cũng nhằm để phát triển trí tuệ và phẩm
chất nhân cách của bản thân[34].

12


- Học qua thực hành: Thực hành là việc người học vận dụng những
kiến thức lý luận được học vào một ngữ cảnh mới của thực tiễn. Thông qua
thực hành, người học chính xác hóa và củng cố kiến thức thu được, hiểu kiến
thức lí luận một cách sâu sắc hơn và đồng thời chiếm lĩnh được một số kĩ
năng thực hiện.
- Học qua thực tập (tập làm): Thực tập là việc làm chiếm lĩnh tri thức
hay hình thành kĩ năng chủ yếu thông qua các hành vi, hành động trực tiếp
của người học với đối tượng cần chiếm lĩnh trong một môi trường thực tế xác
định.Trong quá trình thực tập, người học tự rút ra kinh nghiệm, dần hình
thành hiểu biết mới, năng lực mới. Thực tập (hay tập làm) thường sử dụng
khá đa dạng, nó có thể được sử dụng với một số nội dung hình thức có tính kĩ
thuật hoặc được sử dụng khi tập làm một nghề nào đó sau thời gian quá trình
Đào tạo, tức là tập làm sau khi người học được trang bị tri thức lí luận và kĩ
năng nghề nghiệp nhất định cho một nghề, một lĩnh vực nhất định nào đó.
- Học qua trải nghiệm (HT trải nghiệm): Theo PGS.TS Đinh Thị Kim
Thoa, con người ta có học bằng nhiều cách khác nhau như học thông qua thầy,
qua bạn, học thông qua trường lớp, …hay tự học.
Bên cạnh hai cách thức học nêu trên học nêu trên (học thông qua thực
hành, học thông qua thực tập) con người ta còn học được nhiều kinh nghiệm
từ chính những trải nghiệm của bản thân. Những kinh nghiệm đã có luôn luôn
được bổ sung thường xuyên bởi trải nghiệm của cá nhân. Những trải nghiệm
này rất quan trọng đối với việc học bởi vì có nhiều kiến thức, kinh nghiệm mà
con người chỉ có thể có được thông qua trải nghiệm.
Học qua thực hành, thực tập hay hoặc qua trải nghiệm đều là những cách
thức học tập gắn liền với thực tiễn, là những phương thức học tập hiệu quả.
Nhưng dù có học theo cách nào đi chăng nữa thì con người cũng phải học
bằng hoạt động, học thông qua các hoạt động, học trong hoạt động và dựa
trên những kiến thức, kinh nghiệm đã có của chính bản thân mình.
Định nghĩa của Hiệp hội giáo dục trải nghiệm quốc tế: “Giáo dục trải
nghiệm là một phạm trù bao hàm nhiều phương pháp, trong đó người dạy
13


khuyến khích người học tham gia trải nghiệm thực tế. Sau đó phản ánh tổng
kết lại để tăng cường hiểu biết, phát triển kỹ năng, định hình các giá trị sống
và phát triển tiềm năng bản thân, tiến tới đóng góp tích cực cho cộng đồng và
xã hội”.
Học tập trải nghiệm là một phương pháp học trong đó người học được
coi là trung tâm tự mình khám phá vấn đề sau khi trí tò mò muốn tìm hiểu về
điều mới được khơi gợi.
Học tập trải nghiệm (Experiential Learning) là một cách học thông qua
làm, với quan niệm học là quá trình tạo ra tri thức mới trên cơ sở trải nghiệm
thực tế, dựa trên những đánh giá, phân tích trên những kinh nghiệm có sẵn.
Học thuyết này gắn với David Kolb (1939).
- Đặc điểm của học tập trải nghiệm: Theo GS.Kolb, HT trải nghiệm có 6
đặc điểm chính[29]
1. Việc học tốt nhất là cần chú trọng đến quá trình học chứ không phải là
kết quả.
2. Học là một quá trình liên tục trên nền tảng kinh nghiệm đã có.
3. Học tập đòi hỏi việc giải quyết xung đột giữa mô hình lý thuyết với
cuộc sống thực tiễn.
4. Học tập là một quá trình thích ứng với thế giới.
5. Học tập là sự kết nối giữa con người với môi trường.
6. Học tập là quá trình kiến tạo tri thức, nó là kết quả của sự chuyển hóa
giữa kiến thức xã hội thành kiến thức cá nhân.
- Điều kiện của HTTN: Học từ trải nghiệm có liên quan trực tiếp đến
kinh nghiệm cá nhân. Theo Kolb, cần 3 điều kiện sau:
1. Người học luôn sẵn sàng tham gia trải nghiệm tích cực.
2. Người học phải có khả năng suy nghĩ về những gì mình trải nghiệm.

14


3. Người học phải có và sử dụng kĩ năng phân tích để khái quát các kinh
nhiệm mà mình có được thông qua quá trình trải nghiệm.
- Nguyên tắc của học tập trải nghiệm:
1. Tương tác
2. Thực chứng (là trải nghiệm, là bằng kinh nghiệm của bản thân)
3. Chia sẻ và hợp tác.
4. Hoạt động
- Cấu trúc của học tập trải nghiệm: Theo Kolb, tất cả những gì con người
đã trải nghiệm đều tham gia vào quá trình học tập và con người đạt đến tri
thức mới bằng trải nghiệm. Chu trình này không có một điểm duy nhất để bắt
đầu và cũng không phải theo một trật tự cứng nhắc mà người học hoàn toàn
có thể chủ động từ bất cứ điểm nào và bước tiếp theo là gì, miễn là nó (chu
trình) phù hợp với trình độ cá nhân, phù hợp với kinh nghiệm của người học
về lĩnh vực học tập nào đó và phù hợp với nội dung, điều kiện và môi trường
học tập.

Kinh nghiệm
rời rạc.

Quan sát và
phân tích

Hình thành
khái niệm trừu
tượng và khái
quát hóa.

Thử áp dụng
khái niệm vào
tình huống
mới. hóa.

Hình 1.2: Sơ đồ mô tả cấu trúc của HT trải nghiệm

15


Tóm lại, quan điểm cơ bản của học từ trải nghiệm (hay thông qua trải
nghiệm) là người học phải hoạt động, phải biết phản hồi tích cực, phải biết
suy nghĩ/chiêm nghiệm trên các kinh nghiệm của mình, để từ đó khái quát
hóa và công thức hóa chúng thành các khái niệm có thể áp dụng nó vào các
tình huống mới có thể xuất hiện trong thực tế, trên cơ sở kinh nghiệm của bản
thân. Khi đó, các khái niệm mới có được thông qua trải nghiệm, được áp dụng
và kiểm nghiệm trong thực tế để người học thấy được đúng/sai, hữu dụng/vô
ích,…Từ đó lại xuất hiện các kinh nghiệm mới và chúng trở thành “đầu vào”
cho vòng học tập tiếp theo, cứ như thế lặp lại cho đến khi nào việc học đạt
được mục tiêu đã đề ra.
1.2.3. Tổ chức học sinh học Toán thông qua hoạt động trải nghiệm.
Theo từ điển Tiếng Việt, thì “tổ chức” (nghĩa động từ) là: 1. Sắp xếp, bố
trí cho thành một chỉnh thể, có một cấu tạo, một cấu trúc và những chức năng
chung nhất định. 2. “Sắp xếp, bố trí cho thành có trật tự, có nề nếp”; 3. “Làm
những gì cần thiết để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm có được hiệu quả
tốt nhất”.
Với nghĩa danh từ, “Tổ chức ”là “Tập hợp người được tổ chức lại, hoạt
động vì những quyền lợi chung, nhằm một mục đích chung”.
“ Trải nghiệm”chỉ có nghĩa là động từ, “là trải qua, kinh qua”.
“Tổ chức học sinh học Toán” là tổ chức cho học sinh học tập môn Toán.
Trong đó chủ thể là GV và đối tượng của quá trình ấy là học sinh.
“Tổ chức học sinh học Toán thông qua HĐTN” là quá trình GV tổ chức,
sắp xếp lại học sinh trong lớp để trên cơ sở đó GV chủ động tiến hành các
hoạt động dạy học, bằng những PPDH phù hợp, theo hướng tập trung học
sinh và hoạt động học, thông qua sự trải nghiệm của chính cá nhân học sinh
để giúp học sinh đạt được mục tiêu học tập, trên cơ sở đó mà phát triển cả
phẩm chất và năng lực Toán của mình.

16


Với cách hiểu như trên thì tổ chức học sinh học Toán thông qua HĐTN
đã hàm chứa ở đó: 1. Quan điểm về DH tích cực (DH tập trung vào HS và hĐ
học); 2. PPDH tích cực (DH thông qua HĐ, bằng HĐ); 3. Kỹ thuật DH (DH
chú ý tới môi trường, điều kiện và phù hợp với đối tượng HS); 4. Hàm chứa ở
đó cả HĐ đánh giá kết quả học tập của học sinh (một trong những yếu tố quan
trọng của quá trình dạy học).
Như vậy tổ chức học sinh học Toán thông qua HĐTN là quá trình dạy
học là được tiếp cận theo Cấu trúc và theo Hệ thống (quá trình dạy học là một
hệ thống toàn diện bao gồm nhiều thành tố, tương tác lẫn nhau, luôn luôn tự
phát triển thông qua việc giải quyết mâu thuẫn nội tại,…) kết hợp với tiếp cận
theo Nhân cách (nhấn mạnh tới quan niệm coi GV và HS là chủ thể trong quá
trình dạy học, nhưng vai trò của GV và HS được nhìn nhận dưới một góc độ
khác, đặc biệt là đề cao vai trò của HS trong HĐ học, chú ý tới tính riêng biệt
độc đáo của cá nhân học sinh, tới mối quan hệ tương tác giữa GV và HS,…)
và theo hoạt động (DH là tổ chức điều khiển quá trình học, là quá trình GV tổ
chức các HĐ khác nhau để HS được hoạt động và lĩnh hội kiến thức, kĩ
năng,…) trên cơ sở lý thuyết kiến tạo trong dạy học.
Học tập qua hoạt động trải nghiệm trong dạy học Toán là một cách học
mà HS sẽ được trải nghiệm những sự kiện đã hoặc vừa xảy ra chứa đựng vấn
đề cần quan tâm; sau đó phân tích, nhìn lại những kinh nghiệm đã qua, phát
hiện những đặc điểm, ý nghĩa của kinh nghiệm đó; khái quát rút ra bài học,
tìm xu hướng, lí luận chung kinh nghiệm trải nghiệm, đúc kết thành khái niệm,
lý thuyết; áp dụng thay đổi cách làm cũ, thử nghiệm cách làm mới, thực hành
hàng ngày. Học tập qua HĐTN là lấy hoạt động của học sinh làm trung tâm
và tất cả học sinh đều được trải nghiệm theo một tiến trình cụ thể. Trong trải
nghiệm tất cả học sinh đều hoạt động tối đa kinh nghiệm có sẵn cùng với các
giác quan để quan sát, cảm nhận về sự vật hiện tượng. Học sinh đều được
phát huy khả năng làm việc tự lập, làm việc theo nhóm, tư duy sáng tạo, biết

17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×