Tải bản đầy đủ

Luận văn thạc sĩ Dạy học câu cho học sinh lớp 4 theo hướng phát triển năng lực giao tiếp

Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

DẠY HỌC CÂU CHO HỌC SINH LỚP 4
TRƯỜNG TIỂU HỌC HOÀNG ĐỘNG, THỦY NGUYÊN
THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC TIỂU HỌC
MÃ SỐ: 60.14.01.01

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thuận


HẢI PHÒNG - 2017


Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố ở bất kì
công trình nào khác. Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận
văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hải Phòng, ngày 2 tháng 5 năm 2017
Tác giả


Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

ii

LỜI CẢM ƠN
A.Anh – xtanh – nhà bác học vĩ đại của thế kỉ XX từng nói: “Mọi con
đường đi đến khoa học đều chông gai, nếu thiếu nhiệt tình và nghị lực thì
không thể vượt qua”. Sau khi thực hiện đề tài, tác giả càng cảm thấy thấm thía
điều đó.
Để thực hiện thành công đề tài này, trước tiên, tôi xin bày tỏ sự kính
trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Nguyễn Thị Thuận, người đã tận tình
hướng dẫn cũng như truyền cảm hứng nghiên cứu khoa học cho tôi trong suốt
quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trường Đại học Hải
Phòng, trường Đại học Sư phạm Hà Nội và các quý thầy cô trong Ban giám
hiệu, phòng Đào tạo sau Đại học – trường Đại học Hải Phòngđã tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận


văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ của Ban giám hiệu, các
thầy cô giáo và các em học sinh Trường Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên
đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu, điều tra và thực
nghiệm để hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn tạo điều
kiện, cũng như luôn động viên, khích lệ tôi hoàn thành luận văn.
Hải Phòng, ngày 2 tháng 5 năm 2017
Tác giả


iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................. ii
MỤC LỤC ...................................................................................................... iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ......................................................................... iv
DANH MỤC BẢNG ....................................................................................... v
MỞ ĐẦU......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI ....................................... 10
1.1. Cơ sở lí luận ........................................................................................... 10
1.1.1. Năng lực .............................................................................................. 10
1.1.2. Năng lực giao tiếp................................................................................ 12
1.1.3. Dạy học phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 4 ................... 15
1.2. Nhận xét về dạy học câu trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4........ 19
1.2.1. Nhiệm vụ của dạy học câu ở Tiểu học ................................................ 19
1.2.2. Nội dung dạy học câu ở Tiểu học ....................................................... 19
1.2.3. Hệ thống bài tập dạy học câu của lớp 4 ............................................... 23
1.3. Một số đặc điểm tâm, sinh lí của học sinh lớp 4.................................... 26
1.4. Thực trạng của việc dạy học câu cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học
Hoàng Động, Thủy Nguyên theo hướng phát triển năng lực giao tiếp .........27
1.4.1. Mục đích nghiên cứu thực trạng .......................................................... 27
1.4.2. Đối tượng khảo sát .............................................................................. 27
1.4.3. Nội dung và phương pháp khảo sát thực trạng .................................... 27
1.4.4. Kết quả khảo sát thực trạng và nhận xét .............................................. 29
1.5. Tiểu kết chương 1 ................................................................................... 37
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC CÂU CHO HỌC SINH LỚP
4 TRƯỜNG TIỂU HỌC HOÀNG ĐỘNG, THỦY NGUYÊN THEO
HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP ...................................... 38
2.1. Nguyên tắc xây dựng phương pháp ........................................................ 38


iii

2.1.1. Bám sát mục tiêu, nội dung chương trình dạy học tiếng Việt ở Tiểu
học.................................................................................................................. 38
2.1.2. Nguyên tắc gắn liền lí thuyết với thực hành ........................................ 38
2.1.3. Nguyên tắc trực quan ........................................................................... 39
2.1.4. Nguyên tắc phát huy tính tích cực trong hoạt động giao tiếp của học
sinh ................................................................................................................ 39
2.2. Một vài lưu ý khi tổ chức dạy học câu cho học sinh Tiểu học theo hướng
phát triển năng lực giao tiếp .......................................................................... 39
2.3. Một số phương pháp và hệ thống bài tập dạy học câu cho học sinh lớp 4
trường Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên theo hướng phát triển năng lực
giao tiếp......................................................................................................... 41
2.3.1. Vận dụng một số phương pháp dạy học tiếng Việt tiêu biểu vào dạy câu
cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên nhằm phát
huy năng lực giao tiếp ................................................................................... 41
2.3.2. Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập dạy học câu cho học sinh lớp 4
trường Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên theo hướng phát triển năng lực
giao tiếp ......................................................................................................... 55
2.4. Tiểu kết chương 2 ................................................................................... 62
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM.................................................. 64
3.1. Mục đích thực nghiệm ............................................................................ 64
3.2. Nội dung thực nghiệm ............................................................................ 65
3.3. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm ......................................................... 65
3.3.1. Đối tượng thực nghiệm ........................................................................ 65
3.3.2. Địa bàn thực nghiệm ........................................................................... 66
3.4. Thời gian thực nghiệm ........................................................................... 67
3.5. Phương pháp thực nghiệm ...................................................................... 67
3.6. Tổ chức thực nghiệm .............................................................................. 68
3.6.1. Tiến hành thực nghiệm ........................................................................ 68


iii

3.6.2. Kết quả thực nghiệm ........................................................................... 68
3.7. Tiểu kết chương 3 ................................................................................... 70
KẾT LUẬN ................................................................................................... 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 75
NGỮ LIỆU KHẢO SÁT ............................................................................... 77
PHỤ LỤC


iv

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Kí hiệu

Giải thích

GV

Giáo viên

HS

Học sinh

NDDH

Nội dung dạy học

PPDH

Phương pháp dạy học

SGK

Sách giáo khoa


v

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số hiệu

Tên bảng

bảng

Trang

Bảng thống kê thời lượng và nội dung dạy học câu ở
1.1

Tiểu học

19

1.2

Bảng tổng hợp kết quả khảo sát giáo viên

29

1.3

Bảng tổng hợp kết quả khảo sát học sinh

34

Kết quả thực nghiệm của lớp thực nghiệm và đối
3.1

chứng trong nhóm 1

69

Kết quả thực nghiệm của lớp thực nghiệm và đối
3.2

chứng trong nhóm 2

69


1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học nhằm hình thành và phát triển ở HS
cả bốn kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp
trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy và học tiếng
Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy. Môn Tiếng Việt cung cấp cho
HS những kiến thức sơ giản về xã hội, tự nhiên, con người, văn hóa, văn học
của Việt Nam và nước ngoài. Môn Tiếng Việt còn bồi dưỡng tình yêu tiếng
Việt và hình thành ý thức giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp
phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Dạy học tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp có thể
được hiểu như một nguyên tắc hay một phương pháp dạy học nhưng đều có
chung một mục đích: Làm cho HS có khả năng sử dụng thành thạo ngôn ngữ,
có khả năng vận dụng tốt các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết khi trực tiếp tham
gia vào các hoạt động giao tiếp của cộng đồng.
Dạy học câu theo hướng phát triển năng lực giao tiếp có thể được hiểu là
quan tâm đến việc phát triển năng lực tạo ra câu nói, hành động nói (câu là
đơn vị nhỏ nhất dùng để giao tiếp, ngoài đoạn văn và văn bản cũng có chức
năng giao tiếp thì câu là đơn vị đầu tiên, nhỏ nhất đảm nhiệm được chức năng
này). Tuy nhiên, khả năng tạo câu dù quan trọng nhưng cũng không phải là
năng lực duy nhất mà người học cần được cung cấp. Năng lực giao tiếp không
chỉ dừng lại ở việc nghe, nói, đọc, viết câu mà quan trọng hơn là còn phải biết
sử dụng những câu đó như thế nào để đạt hiệu quả giao tiếp trong những tình
huống khác nhau.
Luyện từ và câu là một phân môn mới. Mục tiêu của phân môn này đặt
ra là nhằm mở rộng, làm giàu vốn từ ngữ cho HS và hướng dẫn cho các em sử
dụng từ - câu một cách chính xác và hiệu quả trong hoàn cảnh giao tiếp cụ
thể.


2
Khi HS bước vào lớp 4 – độ tuổi đầu của giai đoạn thứ hai ở bậc Tiểu
học, các em đã quen với hoạt động chủ đạo là học tập. Những kiến thức khoa
học và kĩ năng giao tiếp của HS đang dần được hoàn thiện. Khác với lớp 2 –
3, đặc điểm ngôn ngữ của HS lớp 4 phát triển cả ba mặt: ngữ âm, từ vựng và
ngữ pháp. Vốn từ của các em được tăng lên do được học nhiều môn học,
phạm vi tiếp xúc được mở rộng. Bên cạnh đó, kiến thức dạy học về câu ở lớp
4 mới bắt đầu được hình thành rõ nét và có hệ thống lí thuyết chặt chẽ. Vì thế,
nếu học tốt về câu ở lớp 4 theo quan điểm giao tiếp sẽ giúp HS có nền tảng
vững chắc để sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt hiệu quả trong các cấp học tiếp
theo và trong thực tiễn cuộc sống.
Tuy nhiên, khả năng sử dụng ngôn ngữ khi giao tiếp còn hạn chế thể
hiện qua việc các em hiểu vấn đề nhưng chưa biết cách diễn đạt hay diễn đạt
khô khan, nghèo ý... Ngôn ngữ của HS đang dần phát triển qua hoạt động
giao tiếp. Việc dạy và học câu mới chủ yếu dừng lại ở việc phân tích cấu trúc
ngữ pháp, nặng tính hình thức thông qua con đường nhận diện, phát hiện các
hiện tượng ngôn ngữ theo sách giáo khoa và sách giáo viên một cách cứng
nhắc mà chưa gắn với kĩ năng sử dụng tiếng Việt của HS. Chính vì vậy, việc
dạy học câu chưa đi tới đích là hình thành năng lực giao tiếp cho HS để vận
dụng chúng trong lời nói và để nói... Vì vậy, cần có những phương pháp, cách
thức tổ chức dạy học phù hợp vừa gây hứng thú học tập cho HS vừa phát huy
năng lực giao tiếp của HS.
Mặt khác, để tìm hiểu sâu hơn, bao quát hơn về thực trạng dạy học câu
trong phân môn Luyện từ và câu cho HS lớp 4, người viết đã lựa chọn trường
Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên là địa điểm cụ thể để nghiên cứu, vì
trường là nơi chúng tôi đang trực tiếp công tác và giảng dạy nên có điều kiện
hiểu biết sâu sắc đặc điểm của trường và đặc điểm dạy học câu cho HS lớp 4.
Người viết mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng
Việt cho nhà trường nói chung và bản thân người viết nói riêng.


3
Hiện nay việc dạy học câu cho HS lớp 4 trường Tiểu học Hoàng Động,
Thủy Nguyên theo hướng phát triển năng lực giao tiếp vẫn còn nhiều bất cập.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến kết quả dạy học câu cho HS còn mang nặng
tính hình thức vẫn đang là vấn đề được tranh cãi. Tuy nhiên, việc tìm ra cách
dạy học câu cho HS theo hướng phát triển năng lực giao tiếp vẫn là hướng đi
cần thiết hiện nay. Làm thế nào để dạy học câu cho HS Tiểu học đạt kết quả
tốt nhất? Làm thế nào để dạy học câu cho HS Tiểu học trong hoạt động và
bằng hoạt động? Xuất phát từ những lí do nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài “Dạy học câu cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Hoàng Động,
Thủy Nguyên theo hướng phát triển năng lực giao tiếp”.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong những năm gần đây, xu hướng dạy học tiếng Việt theo hướng phát
triển năng lực giao tiếp đang là một hướng đi mới mang lại hiệu quả cao cho
quá trình dạy học trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Vận dụng
quan điểm dạy học này nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của người học;
phát huy hiệu quả sử dụng tiếng Việt trong việc thực hiện chức năng quan
trọng của ngôn ngữ - chức năng giao tiếp.
Đối với các nước trên thế giới, xu hướng dạy học tiếng mẹ đẻ cũng như
ngôn ngữ thứ hai không phải là quá mới. Dạy học ngôn bản nói và dạy học
ngôn bản viết trong giao tiếp và để giao tiếp được xem là kim chỉ nam cho
quá trình xây dựng chương trình dạy học các nước.
Chương trình tiếng Pháp của bang Quebec (Canada) [2, tr.24] nêu rõ:
“Việc giảng dạy tiếng Pháp phải dựa trên việc thực hành ngôn ngữ và trong
lớp học tiếng Pháp, HS phải luôn đặt vào những tình huống giao tiếp”.
Chương trình còn nhấn mạnh: “Cơ bản là phải đặt học sinh trong một tình
huống giao tiếp làm sản sinh lời nói hoặc sự thông hiểu”.
Chương trình giáo dục của Cộng hòa dân chủ Đức (cũ) những năm 80 [2,
tr.25] đã xác định: “Nguyên tắc chỉ đạo việc quy hoạch và dạy học tiếng mẹ
đẻ ở nhà trường... là triệt để phục vụ cho kĩ năng giao tiếp của họ”.


4
Những quan điểm chỉ đạo trên khẳng định rằng: “Dạy tiếng trong giao
tiếp, bằng giao tiếp và để giao tiếp” là phương hướng tiến bộ và hiện đại của
việc giảng dạy tiếng mẹ đẻ mà rất nhiều nước phát triển trên thế giới đang áp
dụng. Theo quan điểm này, việc dạy học ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết phải
lấy giao tiếp làm môi trường và phương pháp, lấy việc phục vụ giao tiếp làm
nhiệm vụ và mục đích cho việc dạy học tiếng hiện nay.
Ở Việt Nam, tổ chức dạy học tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực
giao tiếp cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, được bàn đến
nhiều từ những năm 90 của thế kỉ XX và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo
dục quốc tế. Tuy nhiên việc xây dựng chương trình giáo dục theo hướng phát
triển năng lực ở nước ta mới được thực hiện trong những năm gần đây. Vì vậy,
việc dạy học theo hướng phát triển này đã được sự quan tâm sâu sắc của nhà
trường và xã hội. Để tạo cơ sở vững chắc cho việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi
xin điểm qua các công trình nghiên cứu, sách, tài liệu đề cập tới phương pháp
dạy học theo hướng phát triển năng lực giao tiếp.
Trong “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học II” [29, tr.56], tác
giả Lê Phương Nga đã cung cấp các cơ sở khoa học, những đặc điểm HS Tiểu
học trong quá trình chiếm lĩnh tiếng Việt. Trong đó có phần phương pháp dạy
học Luyện từ và câu được tác giả nêu lên khái quát và đầy đủ về cách thức tổ
chức dạy học, các dạng bài tập của phân môn Luyện từ và câu.
Giáo trình “Hoạt động giao tiếp với dạy học tiếng Việt ở Tiểu học” [24,
tr.46], Đặng Kim Nga và Phan Phương Dung đã nghiên cứu khá sâu và rõ
ràng những vấn đề về hoạt động giao tiếp trong việc dạy học tiếng Việt ở Tiểu
học. Giáo trình gồm ba chương. Chương một đề cập đến vấn đề giao tiếp và
hoạt động giao tiếp; chương hai xoáy sâu vào từ và câu trong hoạt động giao
tiếp; chương ba – phần trọng tâm, có ý nghĩa thực tiễn – dạy học tiếng Việt
theo quan điểm giao tiếp. Giáo trình đã vạch ra hướng đi cụ thể cho hoạt động
dạy học trong nhà trường theo quan điểm giao tiếp: từ việc lựa chọn các tri
thức tiếng Việt, xác lập các quy tắc sử dụng tiếng Việt đến việc xác định các


5
kĩ năng sử dụng tiếng Việt cần rèn luyện cho HS và việc lựa chọn, sử dụng
các phương pháp, hình thức tổ chức nào trong dạy học tiếng Việt...
Trong tạp chí “Khoa học và Giáo dục” số 68, tháng 5/2011 [36, tr.25],
tác giả Đỗ Ngọc Thống viết bài “Xây dựng chương trình giáo dục theo hướng
tiếp cận năng lực”. Bài viết đề cập đến việc xây dựng chương trình giáo dục
phổ thông theo hướng tiếp cận năng lực. Trong bài, tác giả tập trung vào một
vài cách tiếp cận cơ bản được nhiều nước vận dụng trong các lần phát triển
chương trình gần đây nhất, đặc biệt là hướng tiếp cận năng lực.
Trong bài viết “Từ khái niệm năng lực giao tiếp đến vấn đề dạy học
trong nhà trường phổ thông hiện nay” (Tạp chí Ngôn ngữ, số 4/2006) [14,
tr.32], Vũ Thị Thanh Hương đã đề cập và phân tích khá sâu khái niệm năng
lực giao tiếp, đã dẫn ra những ý kiến khác nhau của các học giả (Chomsky,
Cambell & Wales, Hymes, Bachman... ) xoay quanh khái niệm “năng lực giao
tiếp”. Tác giả bài viết so sánh, đối chiếu nội dung kiến thức tiếng Việt được
trình bày trong các chương trình tiếng Việt hiện hành (của Bộ Giáo dục và
Đào tạo) với các nội dung của mô hình lí thuyết về năng lực giao tiếp. Tác giả
nhận xét: “Có thể nói trong tất cả các tài liệu về chương trình mà chúng tôi
được tiếp cận cho đến bây giờ, quan điểm giao tiếp là sợi chỉ đỏ xuyên suốt
toàn bộ mục tiêu giảng dạy tiếng Việt ở tất cả các cấp trong nhà trường phổ
thông hiện nay.” Tác giả bài viết tiến hành khảo sát chương trình tiếng Việt ở
các cấp học để làm rõ vấn đề: “liệu nội dung của chương trình có thực sự
đảm bảo cung cấp đủ kiến thức để giúp các em hình thành và rèn
luyện tốt năng lực giao tiếp?”. Tác giả có trình bày kết quả khảo sát và kết
thúc bài viết với vài lời nhận xét ngắn gọn.
Nhóm tác giả Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán trong cuốn
“Phương pháp dạy học Tiếng Việt” [3, tr.19] cũng nêu rõ: “Ngôn ngữ là hệ
thống hoạt động chức năng, tách khỏi hoạt động chức năng thì nó không còn
sức sống, trở thành một hệ thống khô cứng. Nói cách khác, ngôn ngữ phải
được thể hiện trong các dạng lời nói khác nhau, mọi quy luật, cấu trúc và hoạt


6
động của hệ thống ngôn ngữ chỉ được rút ra trên cơ sở nghiên cứu lời nói sinh
động”. Các tác giả trên cũng cho rằng giao tiếp là một trong bốn phương pháp
cơ bản, đặc thù của việc dạy tiếng Việt trong nhà trường; là phương pháp
quan trọng trong việc tổ chức dạy học tiếng Việt. “Phương pháp giao tiếp là
phương pháp hướng dẫn học sinh vận dụng lí thuyết được học vào thực hiện
các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp... Phương pháp giao tiếp trở thành
phương pháp chủ yếu để phát triển lời nói cho học sinh. Phương pháp này có
thể được áp dụng khi dạy từ ngữ, câu, phong cách và đặc biệt là trong các bài
thuộc phân môn tập làm văn”.
Theo tác giả Lê A [2, tr.36], “Dạy tiếng Việt là dạy cho các em một hoạt
động giao tiếp bằng ngôn ngữ, một loại hoạt động cơ sở của mọi loại hoạt
động của con người... Trong hoạt động học phải hướng tới hoạt động giao tiếp
và được tiến hành bằng chính hoạt động giao tiếp”. “Học sinh phải học ngôn
ngữ với tư cách là một yếu tố trong giao tiếp nghĩa là dạy ngôn ngữ khi nó
thực hiện chức năng giao tiếp. Khi nắm được quy tắc nội bộ ngôn ngữ và ảnh
hưởng của những yếu tố ngoài ngôn ngữ đối với ngôn ngữ thì học sinh có thể
sử dụng ngôn ngữ phù hợp với tình huống giao tiếp và đạt được hiệu quả giao
tiếp” từ đó “giúp học sinh làm quen với môi trường sống của các em”.
Tác giả Lê Phương Nga – người có nhiều công trình và chuyên đề
nghiên cứu về dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp thì cho rằng cần
đặt ra vấn đề đổi mới phương pháp dạy học trong các phân môn Tiếng Việt ở
Tiểu học, vấn đề bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng cho học sinh Tiểu học. Với
“Dạy học ngữ pháp ở Tiểu học” [25, tr.63], tác giả đã tìm hiểu thực trạng dạy
ngữ pháp ở Tiểu học, những khó khăn và hạn chế của GV trong quá trình dạy
học, các lỗi ngữ pháp trong đó có lỗi về câu mà HS thường mắc phải ... Từ
thực trạng trên, tác giả đã đưa ra phương hướng dạy ngữ pháp ở Tiểu học. Để
thực hiện phương hướng này, giáo viên phải tuân theo một số nguyên tắc cụ
thể và quan trọng nhất là nguyên tắc giao tiếp. Nói cách khác, những đóng


7
góp của tác giả có vai trò quan trọng trong việc định hướng và triển khai quá
trình dạy học Tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực giao tiếp.
Các đề tài trên đã nghiên cứu về dạy học theo quan điểm giao tiếp, tuy
nhiên phần lớn các đề tài lại chủ yếu đi vào xây dựng hoặc thiết kế hệ thống
bài tập rèn luyện kĩ năng theo hướng giao tiếp cho HS mà chưa có nhiều công
trình đi sâu vào việc nghiên cứu dạy lí thuyết câu theo hướng phát triển năng
lực giao tiếp cho HS Tiểu học, tức là ngay ở phần hình thành kiến thức về câu
cho HS cần phải gắn các nội dung dạy học với các nhân tố giao tiếp như: mục
đích giao tiếp, nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nội dung giao tiếp
trước khi học sinh làm bài tập thực hành... Chúng tôi hi vọng đề tài sẽ đóng
góp một phần nhỏ vào đổi mới phương pháp dạy học và phát huy được khả
năng sử dụng câu trong hoạt động giao tiếp cho HS Tiểu học; đồng thời hi
vọng kết quả nghiên cứu của chúng tôi là những gợi ý giúp GV tiến hành nội
dung bài giảng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là dạy học câu cho học sinh lớp 4
trường Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên theo hướng phát triển năng lực
giao tiếp.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian có hạn chúng tôi chưa có điều kiện nghiên cứu dạy học câu
cho HS lớp 4 trong phạm vi cả nước, mà chỉ giới hạn nghiên cứu dạy học câu
theo hướng phát triển năng lực giao tiếp cho HS lớp 4 của một trường cụ thể,
nơi chúng tôi đang công tác – Trường Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên,
thành phố Hải Phòng.
4. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát hệ thống lí thuyết về câu lớp 4, đề tài nghiên cứu
nhằm xác lập cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn cho việc lựa chọn phương pháp
dạy học câu cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên


8
theo hướng phát triển năng lực giao tiếp; đồng thời xây dựng bài tập giao tiếp
hình thành khái niệm về câu cho học sinh lớp 4 trường Tiểu học Hoàng Động,
Thủy Nguyên. Từ đó tổ chức thực nghiệm các bài tập giao tiếp cũng như các
phương pháp, hình thức dạy học câu theo hướng phát triển năng lực giao tiếp
phù hợp với mục tiêu chương trình, khắc phục những hạn chế hiện thời của
SGK Tiếng Việt hiện nay khi dạy học câu cho HS Tiểu học.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng đề tài.
- Tìm ra một số biện pháp dạy học câu cho học sinh lớp 4 trường Tiểu
học Hoàng Động, Thủy Nguyên theo hướng phát triển năng lực giao tiếp.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá khả năng thực thi của
hệ thống bài tập giao tiếp và các phương pháp dạy câu đã đề ra đồng thời
phân tích kết quả thực nghiệm...
6. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề mà đề tài đặt ra, chúng tôi đã sử dụng những
phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Khảo sát bài làm của HS, phỏng vấn
GV, dự giờ để quan sát việc sử dụng phối hợp các biện pháp nâng cao hiệu
quả dạy học câu của GV. Nghiên cứu những kinh nghiệm dạy học câu trước
đây và hiện nay cho HS Tiểu học theo hướng phát triển năng lực giao tiếp.
- Phương pháp thống kê – phân loại: Sử dụng toán thống kê để phân tích,
so sánh, đối chiếu số liệu, rút ra kết luận cần thiết.
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Dùng để phân tích tổng hợp các tài
liệu liên quan tới đề tài.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Dạy thực nghiệm một số tiết về
câu trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4 trường Tiểu học Hoàng Động,
Thủy Nguyên để đánh giá tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất..., kiểm
tra giả thuyết đã nêu ra bằng thực tế dạy học.


9
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội
dung của luận văn được triển khai thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.
Chương 2: Một số phương pháp dạy học câu cho học sinh lớp 4 trường
Tiểu học Hoàng Động, Thủy Nguyên theo hướng phát triển năng lực giao
tiếp.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.


10
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Năng lực

Theo quan điểm của những nhà tâm lí học, năng lực là tổng hợp các đặc
điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một
hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao.
Từ điển tiếng Việt [33] có giải thích: Năng lực là: “Khả năng, điều kiện
chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Phẩm chất
tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động
nào đó với chất lượng cao”
Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định
hướng phát triển năng lực của HS do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành năm
2014 [9, tr.10] thì năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt
và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá
nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong
bối cảnh nhất định. Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố
(phẩm chất của người lao động, kiến thức và kĩ năng) được thể hiện thông qua


11
các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó. Năng
lực bao gồm các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần
phải có, đó là các năng lực chung, cốt lõi. Định hướng chương trình giáo dục
phổ thông sau năm 2015 đã xác định một số những năng lực cốt lõi mà học
sinh Việt Nam cần phải có như:
– Năng lực làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm:
+ Năng lực tự học.
+ Năng lực giải quyết vấn đề.
+ Năng lực sáng tạo.
+ Năng lực quản lí bản thân.
– Năng lực xã hội, bao gồm:
+ Năng lực giao tiếp.
+ Năng lực hợp tác.
– Năng lực công cụ, bao gồm:
+ Năng lực tính toán.
+ Năng lực sử dụng ngôn ngữ.
+ Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin.
Cho dù khái niệm về năng lực được diễn đạt dưới nhiều dạng không
giống nhau nhưng có thể rút ra một số đặc điểm chung cơ bản về năng lực:
Nói đến năng lực là đề cập đến xu thế đạt được một kết quả nào đó của một
công việc cụ thể, do một con người cụ thể thực hiện (năng lực học tập, năng lực tư
duy, năng lực tự quản lí bản thân,... không tồn tại năng lực chung chung)
Năng lực là một yếu tố cấu thành trong một hoạt động cụ thể. Năng lực
chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể. Vì
vậy, năng lực vừa là mục tiêu, vừa là kết quả hoạt động, nó là điều kiện của
hoạt động nhưng cũng phát triển trong chính hoạt động đó.
Từ đó, chúng ta có thể nhận định năng lực của HS phổ thông chính là khả
năng vận dụng kết hợp kiến thức, kĩ năng và thái độ để thực hiện tốt các nhiệm
vụ học tập, giải quyết có hiệu quả những vấn đề có thực trong cuộc sống của


12
các em. Vì vậy, muốn hình thành, rèn luyện, đánh giá năng lực ở HS tất yếu
phải tăng cường đưa các em vào tình huống thực, tăng cường tham gia vào hoạt
động để làm ra sản phẩm.
1.1.2. Năng lực giao tiếp
Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin giữa các thành viên trong xã hội
có tính mục đích. Đây là loại hoạt động xã hội mang tính đặc thù, là loại hoạt
động cơ bản và thiết yếu làm cho xã hội tồn tại và phát triển. Có nhiều
phương tiện để giao tiếp, trong đó ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất
cơ bản nhất.
Thuật ngữ “năng lực giao tiếp” tuy xuất hiện sau thuật ngữ “năng lực
ngôn ngữ” nhưng nhờ sự xuất hiện ấy mà “năng lực giao tiếp” đã làm thay
đổi quan điểm dạy học tiếng Việt hiện nay, trở thành mục đích cuối cùng của
việc dạy và học tiếng Việt. Khái niệm “năng lực giao tiếp” được hiểu thông
qua sự đối lập với khái niệm “năng lực ngôn ngữ”. Năng lực ngôn ngữ là khả
năng của con người tạo ra được những câu đúng trên cơ sở nắm vững những
kiến thức ngữ pháp, từ vựng, ngữ âm, tu từ... của ngôn ngữ đó. Còn năng
lực giao tiếp, đó là việc lựa chọn và hiện thực hóa những chương trình của
hành vi lời nói tùy thuộc vào khả năng định hướng trong hoàn cảnh này hoặc
khác, khả năng phân loại các tình huống sao cho phù hợp với chủ đề, nhiệm
vụ và mục đích giao tiếp ở người học trước khi giao tiếp và trong quá trình
mô phỏng các tình huống giống và gần giống như giao tiếp thực. Nói cách
khác, năng lực giao tiếp chính là khả năng tham gia vào giao tiếp.
Hoạt động giao tiếp gồm hai quá trình xảy ra tương tác lẫn nhau là tạo
lập và tiếp nhận lời nói. Giao tiếp đều diễn ra ở hai dạng: dạng nói và dạng
viết. Theo đó, để dạy cho HS năng lực giao tiếp phải dạy các em cả 4 hoạt
động: nghe, nói, đọc, viết. Bốn hoạt động này xảy ra trong những tình huống
giao tiếp cụ thể gồm nhiều nhân tố ảnh hưởng tương hỗ lẫn nhau. Hoạt động
sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp chi phối bởi các nhân tố giao tiếp khác như
nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, đối tượng giao tiếp và đặc biệt là mục


13
đích giao tiếp. Muốn tham gia vào hoạt động giao tiếp, HS vừa phải biết tiếp
nhận, vừa phải biết sản sinh ra văn bản (bao gồm cả nói và viết) nhưng các kĩ
năng đó phải có sự biến đổi, chuyển hóa về chất, tức là tạo ra và làm giàu
năng lực sử dụng lời nói của cá nhân, vì dạy giao tiếp chính là dạy lời nói.
Theo hướng này, người học sẽ ít quan tâm đến các quy tắc ngôn ngữ, sẽ quan
tâm đến việc tạo ra câu nói, lời nói cụ thể. Lời nói thì vô cùng phong phú,
sinh động, vô hạn, biến đổi trong các hoàn cảnh sử dụng (giao tiếp) khác
nhau.
Có thể định nghĩa năng lực giao tiếp như sau: “Năng lực giao tiếp là khả
năng giao tiếp có liên quan đến những người khác với độ chính xác, rõ ràng,
dễ hiểu, chặt chẽ, chuyên môn, hiệu quả phù hợp. Đó là một thước đo để xác
định mức độ các mục tiêu nào có sự tương tác đang đạt được” [14, tr.28]. Tuy
nhiên năng lực giao tiếp còn tùy thuộc vào tình huống hay ngữ cảnh mà trong
đó sự tương tác diễn ra. Giao tiếp được coi là thành công đối với một nhóm
trong một tình huống nào đó nhưng nó có thể không được coi là thành công đối
với nhóm khác trong một tình huống khác.
Giao tiếp là sự chia sẻ ý nghĩa, tình cảm, thông tin với một hoặc nhiều
người. Nhưng giao tiếp chỉ đơn thuần là nói chuyện với ai đó thì có thực sự
mang lại kết quả như ta mong đợi chưa? Không chỉ đơn giản là thế, giao tiếp
còn bao hàm rất nhiều vấn đề khác như: Bạn nói như thế nào? Bạn hiểu đối
tượng giao tiếp với mình như thế nào? Làm thế nào để hai bên có thể hiểu rõ
về các thông tin cùng trao đổi? Bạn làm thế nào để lần giao tiếp đó đạt được
hiệu quả như mong đợi...? Vì vậy, kĩ năng giao tiếp liên quan tới nhiều hoạt
động từ kĩ năng viết đến kĩ năng nói, kết hợp với tư thế, cử chỉ điệu bộ, động
tác để diễn tả quan điểm và mục đích của vấn đề muốn đề cập.
Phát triển năng lực giao tiếp cho HS Tiểu học là quá trình tổ chức các
hoạt động giáo dục nhằm giúp người học hình thành và rèn luyện các thao tác,
hành động để trao đổi, tiếp nhận, xử lí thông tin bằng ngôn ngữ và phi ngôn
ngữ trong các mối quan hệ của HS ở gia đình, nhà trường, xã hội...


14
Thông qua giao tiếp, con người được tiếp nhận thông tin để biến nó
thành tri thức, kĩ năng sống của mỗi người. Giáo dục nhằm phát triển năng
lực giao tiếp cho HS giữ vai trò quan trọng bởi vì: Phát triển năng lực giao
tiếp giúp hình thành và phát triển nhân cách của HS. Việc vận dụng kĩ năng
giao tiếp vào trong cuộc sống của mỗi con người chính là năng lực vận dụng
có hiệu quả những tri thức về giao tiếp, giúp cá nhân tạo dựng được chỗ đứng
trong xã hội. Xét trong quan hệ liên nhân, nếu kĩ năng giao tiếp tốt sẽ giúp cá
nhân tạo dựng được hình ảnh tốt về bản thân và các mối quan hệ hợp tác tốt
trong xã hội. Đối với lứa tuổi HS đang trong giai đoạn hình thành và phát triển
nhân cách thì năng lực giao tiếp đóng vai trò quan trọng bởi nhờ có kĩ năng
giao tiếp các em học tập hiệu quả, nhờ có kĩ năng giao tiếp các em tự tin tham
gia vào hoạt động giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội, trải nghiệm bản
thân...
Phát triển năng lực giao tiếp tạo nên hệ giá trị sống tích cực của HS.
Giáo dục kĩ năng giao tiếp cho HS tiểu học giữ vai trò rất to lớn trong việc bắt
đầu tạo nên hệ giá trị sống cho các em, giúp các em thể hiện được giá trị của
bản thân vào cuộc sống và từ đó các em trưởng thành với một hệ giá trị tích
cực bởi thành quả của quá trình giáo dục. Bên cạnh đó, việc dạy học nhằm
phát triển năng lực giao tiếp còn xây dựng và tạo nên nét văn hóa trong nhà
trường. Đó là văn hóa ứng xử và văn hóa giao tiếp.
Phát triển năng lực giao tiếp cho HS, giúp các em tạo lập các mối quan hệ
tốt đẹp trong cuộc sống. Năng lực giao tiếp ảnh hưởng trực tiếp tới việc thiết
lập các mối quan hệ, đến công việc ở mọi lứa tuổi. Năng lực giao tiếp tốt là một
thế mạnh đối với bất cứ ai trong công việc nói chung và đối với HS Tiểu học
trong học tập, rèn luyện nói riêng. Đối với lứa tuổi học trò, giao tiếp là phương
tiện cho phép HS xây dựng cầu nối với bạn bè, với các nền văn hóa của nhân
loại, với thầy cô giáo và với người khác, với chính bản thân mình, thuyết phục
người khác chấp nhận ý kiến của các em để giải quyết các vấn đề học tập, rèn
luyện và bày tỏ được nhu cầu của bản thân.


15
1.1.3. Dạy học phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 4
So sánh giữa cách dạy học trang bị kiến thức với dạy học theo định
hướng phát triển năng lực:

STT

Tiêu chí

Dạy học

so sánh

trang bị kiến thức

Vai trò
1

của
trường học

Dạy học theo
định hướng phát triển
năng lực

Trường học là một sự Trường học là một phần
chuẩn bị cho cuộc sống.

của cuộc sống.
Người học là những người

2

Vai trò

Người học là đối tượng tiếp tham gia tích cực, là những

của người học thu thụ động.

người giải quyết vấn đề và
là những nhà hoạch định.

3

Vai trò

GV là nguồn thông tin và là

của GV

chuyên gia.

GV là người làm đơn giản
hóa mọi việc, hướng dẫn
và bồi dưỡng tư duy.
Thông tin, khái niệm và

Tập trung chủ yếu vào sự các ý tưởng là phương tiện
4

Quan điểm
sư phạm

truyền đạt thông tin, khái để xây dựng năng lực cần
niệm và các ý tưởng từ GV cho việc học tập suốt đời
đến HS, hoặc giữa các HS một cách hiệu quả và là
với nhau.

một thành viên làm việc
có năng suất của xã hội.

Cuốn chiếu theo sách giáo Sử dụng các phương pháp

5

Phương pháp
dạy học

khoa, nhồi nhét kiến thức dạy học tích cực, chú ý cho
cho HS theo cách mà GV HS thực hành, vận dụng
hiểu, chứ không theo tư duy kiến thức vào tình huống
người học. Chủ yếu sử thực tiễn, các tình huống có


16
dụng phương pháp dạy học tính phức hợp, tìm tòi,
truyền thống.

khám phá, nghiên cứu, thực
hiện các dự án học tập, thảo
luận, thuyết trình,...
Ngôn ngữ, ngữ pháp, tiếng

Ngôn ngữ, ngữ pháp, tiếng mẹ đẻ, toán học, các khoa
6

Lĩnh vực

mẹ đẻ, toán học, các khoa học, các nghiên cứu lịch

môn học

học, các nghiên cứu lịch sử sử - xã hội, ngoại ngữ, các
- xã hội, ngoại ngữ.

kĩ năng xúc cảm - xã hội,
các năng lực sống khác.

HS phải thích ứng với các Việc học tập được cá nhân
quy định của trường lớp hóa, thích ứng với các ưu
7

Sự thích ứng

liên quan đến nội dung, thế, nhu cầu học tập,
cách tiếp cận, thời gian biểu phong cách học và hoàn
và tiến độ.

cảnh cá nhân của HS.

Dựa vào trường học: các Dựa vào trường học: các
cách tiếp cận chuẩn được cách tiếp cận được xác
Các
8

phương thức
đánh giá

lựa chọn bởi GV hoặc nhà định bởi GV, căn cứ đầu
trường để đo lường kiến vào của HS.
thức của các lĩnh vực môn
học.

Được xác định bởi GV và Được xác định bởi GV và

9

Các tiêu chí
thực hành

các nhà quản lí: kiểm tra HS theo nhu cầu, mục
vấn đáp và điểm thi, bài đích, sự quan tâm, sức
tập, sự tham dự lớp học, sự khỏe và hoàn cảnh cá
chú ý, thái độ.

nhân.


17
Đánh giá định tính bắt đầu

10

Phân loại

Chủ yếu là đánh giá định
lượng, theo thang điểm 10.

từ kiến thức hiện tại của
một HS và đo sự tiến bộ
về sau tính từ thời điểm
đó.
Sự đánh giá vẫn tiếp tục;

Sự

11

hoàn thành

Điểm thi cuối cùng và các các năng lực được đánh
quyết định vượt qua - thất bại dấu “hoàn thành” ngay khi
ở cuối học kì hay năm học.

HS đáp ứng đủ các tiêu
chí.

Qua bảng so sánh trên có thể thấy, dạy học theo hướng phát triển năng
lực có những điểm được kế thừa và phát huy của dạy học truyền thống.
Theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) [30] về đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương
pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp
đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến
khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng,
phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức
học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa
học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và
học”.
Trước đây mục tiêu giáo dục toàn diện thường được hiểu đơn giản là:
HS phải học đầy đủ tất cả các môn học thuộc các lĩnh vực khoa học tự nhiên,
khoa học xã hội và nhân văn, nghệ thuật, thể dục thể thao... Không những thế,
việc thực hiện mục tiêu giáo dục cũng nghiêng về truyền thụ kiến thức càng
nhiều càng tốt; chú trọng dạy chữ hơn dạy người, chú trọng truyền bá kiến
thức hơn đào tạo, bồi dưỡng năng lực của người học; ít yêu cầu người học vận


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×