Tải bản đầy đủ

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế: Pháp luật về kế toán doanh nghiệp từ thực tiễn thành phố Hà Nội

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN KIM PHƯỢNG

PHÁP LUẬT VỀ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành : Luật kinh tế
Mã số : 8.38.01.07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN VĂN TUYẾN

HÀ NỘI – 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi. Các
số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được
công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác. Các thông tin trích dẫn trong
luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.

Hà Nội, ngày 22 tháng 8 năm 2018
Tác giả luận văn

Nguyễn Kim Phượng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN DOANH
NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP ................. 5
1.1. Những vấn đề lý luận về kế toán doanh nghiệp ...................................... 5
1.2. Những vấn đề lý luận về pháp luật kế toán doanh nghiệp .................... 22
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY .......................................................................... 26
2.1. Khái quát về cơ sở pháp lý của kế toán doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
...................................................................................................................... 26
2.2. Đánh giá thực trạng pháp luật về kế toán doanh nghiệp ở Việt Nam hiện
nay ................................................................................................................ 28
Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KẾ TOÁN DOANH
NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ MỘT SỐ KIẾN
NGHỊ .............................................................................................................. 65
3.1. Thực tiễn thực hiện pháp luật kế toán doanh nghiệp trên địa bàn thành phố
Hà Nội .......................................................................................................... 65
3.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về kế toán
doanh nghiệp ở Việt Nam ............................................................................ 68
KẾT LUẬN .................................................................................................... 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 74


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT

CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ

BCTC

Báo cáo tài chính

CTKT


Công tác kế toán

DN

Doanh nghiệp

DNNN

Doanh nghiệp nhà nước

IASs

Hệ thống kế toán

IFRSs

Chuẩn mực quốc tế về kế toán

SXKD

Sản xuất kinh doanh

HTTK

Hệ thống tài khoản

HTX

Hợp tác xã

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

NSNN

Ngân sách Nhà nước

TSCĐ

Tài sản cố định

TSCĐHH

Tài sản cố định hữu hình


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bất kỳ quốc gia nào và dù là các doanh nghiệp trong hay ngoài nước,
kế toán cũng đều chiếm một vị trí quan trọng và không thể thiếu trong quá trình
vận hành và hoạt động của doanh nghiệp đó. Kế toán doanh nghiệp là một trong
những khâu quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nghề kế toán đòi hỏi người làm phải năng động, sáng tạo, trung thực và cẩn thận,
kế toán viên cũng sẽ được cung cấp các công cụ hỗ trợ công việc hiệu quả và đáng
tin cậy.
Những năm qua ở Việt Nam, cùng với sự hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường nói chung, Nhà nước ta cũng đã chú trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật
về kế toán trong đó có kế toán doanh nghiệp. Pháp luật trong lĩnh vực này đã quy
định cụ thể theo tất cả các thành phần kế toán; xác định rõ nhiệm vụ, đối tượng và
các yêu cầu đối với kế toán doanh nghiệp… Chính vì vậy, pháp luật về kế toán
thời gian qua đã tạo điều kiện để các doanh nghiệp tổ chức tốt công tác kế toán
của doanh nghiệp mình, đồng thời giúp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực
hiện tốt các chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động tài chính kế toán
trong các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu
đã đạt được, pháp luật về kế toán vẫn còn tồn tại những vướng mắc, bất cập như
thiếu tính đồng bộ, có nhiều vấn đề về nghiệp vụ chưa được hướng dẫn chi tiết,
kịp thời.
Để nghiên cứu và tìm hiểu kỹ hơn các nhận định trên, học viên quyết định
chọn đề tài “Pháp luật về kế toán doanh nghiệp từ thực tiễn thành phố Hà
Nội” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Không thể phủ nhận rằng pháp luật về kế toán doanh nghiệp đóng vai trò quan
trọng trong công tác quản lý của Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Chính vì vậy, trong thời gian qua đã có nhiều công
trình nghiên cứu khác nhau đề cập đến vấn đề kế toán doanh nghiệp, cả từ khía cạnh

1


kinh tế cũng như khía cạnh pháp lý, mặc dù số lượng các công trình nghiên cứu từ góc
độ pháp lý về vấn đề kế toán doanh nghiệp là không nhiều.
Ở mức độ khái quát, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu
sau đây có đề cập đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài luận văn:
- Giáo trình “Pháp luật kế toán” của Học viện ngân hàng năm 2012;
- Luận văn thạc sỹ luật học với đề tài: “Thực trạng pháp luật kế toán ở Việt
Nam hiện nay và hướng hoàn thiện” của Vũ Quốc Việt, Viện Đại học Mở Hà Nội,
năm 2015;
- Bài viết: “Sửa đổi Luật kế toán cho phù hợp với yêu cầu của hội nhập”
của tác giả Phúc Khang đăng trên báo Kiểm toán số 21/2013;
- Bài viết: “Hoàn thiện hệ thống pháp luật kế toán, nâng cao chất lượng hoạt
động kế toán – kiểm toán và hội nhập quốc tế” của ThS. Phan Dũng đăng trên tạp
chí Phát triển và hội nhập số 12 tháng 9, 10/2013...
Về cơ bản, các công trình nghiên cứu và các bài viết trên mới chỉ dừng lại
ở việc phân tích các quy định của pháp luật kế toán nói chung mà chưa đi sâu vào
phân tích thực trạng pháp luật tại một vùng địa lý cụ thể. Do đó, chưa thấy được
rõ thực tế thực hiện quy định pháp luật kế toán ở các đơn vị kế toán tại nơi đó như
thế nào. Với cách nhìn nhận và đánh giá như vậy, tác giả luận văn cho rằng công
trình nghiên cứu khoa học pháp lý ở cấp độ luận văn thạc sĩ về đề tài: “Pháp luật
về kế toán doanh nghiệp từ thực tiễn thành phố Hà Nội” là cần thiết và có ý
nghĩa trên cả phương diện lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là đánh giá toàn diện về thực trạng
pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về kế toán doanh nghiệp ở Việt Nam hiện
nay. Từ đó, đề xuất định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về kế toán
doanh nghiệp ở Việt Nam.
Để đạt được mục đích trên, luận văn đặt ra và thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ một số vấn đề lí luận về kế toán doanh nghiệp và pháp luật kế toán
doanh nghiệp, cấu trúc của pháp luật về kế toán doanh nghiệp, các nguyên tắc
điều chỉnh bằng pháp luật đối với các hoạt động kế toán;

2


- Đánh giá thực trạng pháp luật về kế toán doanh nghiệp cũng như thực tiễn
áp dụng pháp luật về kế toán doanh nghiệp hiện nay, chỉ ra những khó khăn,
vướng mắc mà các doanh nghiệp – với tư cách là đơn vị kế toán đã và đang gặp
phải trong quá trình thực hiện pháp luật, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của
những hạn chế đó nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn cho việc đưa ra các giải pháp
hoàn thiện pháp luật về kế toán doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu nghiên cứu của luận văn là các quan điểm, lý thuyết
về kế toán doanh nghiệp; các quy định của pháp luật kế toán doanh nghiệp và thực
tiễn thực hiện pháp luật về kế toán doanh nghiệp tại Việt Nam; các giải pháp hoàn
thiện pháp luật về kế toán doanh nghiệp tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào các quy định của pháp luật
kế toán Việt Nam hiện đang áp dụng cho các đơn vị kế toán là doanh nghiệp ở
Việt Nam từ khi Luật kế toán ra đời cho đến thời điểm hiện tại. Việc nghiên cứu
thực tiễn được khảo sát chủ yếu tại các đơn vị kế toán là doanh nghiệp có trụ sở
chính trên địa bàn thành phố Hà Nội.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận là phép duy vật
biện chứng của học thuyết Mác - Lê Nin về Nhà nước và pháp luật; các lý
thuyết về kế toán doanh nghiệp nói chung và pháp luật về kế toán doanh
nghiệp nói riêng.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên
cứu thông dụng trong khoa học xã hội và nhân văn như: phương pháp phân tích,
tổng hợp; phương pháp hệ thống, khái quát hóa; phương pháp thống kê, khảo sát
thực tiễn - xã hội học kiểm chứng; phương pháp so sánh, đối chiếu…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Về ý nghĩa lý luận, luận văn hướng đến mục tiêu đánh giá toàn diện về thực
trạng pháp luật về kế toán doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, từ đó xây dựng cơ
sở lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện pháp luật về kế toán ở Việt Nam.
Về ý nghĩa thực tiễn, từ kết quả nghiên cứu, luận văn đánh giá thực

3


trạng áp dụng pháp luật về kế toán tại Việt Nam hiện nay, chỉ ra các ưu điểm
bên cạnh những hạn chế, bất cập trong thực tế thi hành pháp luật về kế toán
doanh nghiệp, tìm ra nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc đó nhằm
xây dựng cơ sở thực tiễn cho việc đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật
về kế toán doanh nghiệp.
Các kiến nghị của luận văn có thể được dùng để nghiên cứu, xem xét áp
dụng khi sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật về kế toán doanh nghiệp.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 03 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về kế toán doanh nghiệp và pháp luật về
kế toán doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về kế toán doanh nghiệp ở Việt Nam.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về kế toán doanh nghiệp trên địa
bàn thành phố Hà Nội và một số kiến nghị.

4


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN DOANH
NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP
1.1. Những vấn đề lý luận về kế toán doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm, đặc trưng của kế toán và kế toán doanh nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm kế toán và các loại hình kế toán
Trong nền kinh tế hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trường, các tài liệu kế
toán được xác định như một tấm gương phản chiếu toàn bộ hoạt động kinh tế nói
chung, quá trình sản xuất kinh doanh nói riêng. Xét về phương diện lý thuyết, khái
niệm “kế toán” có thể được tiếp cận và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
Dưới đây là một số định nghĩa tiêu biểu về “kế toán”:
Trước đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, khái niệm “kế toán”được
giải thích như sau: “Kế toán là công việc ghi chép, tính toán, phản ánh bằng con
số một cách liên tục, toàn diện và hệ thống các loại vật tư, tiền vốn và mọi hoạt
động kinh tế, qua đó mà giám đốc nắm được tình hình thực hiện kế hoạch nhà
nước, tình hình bảo vệ tài sản XHCN” [8, tr7].
Trong pháp luật thực định trước đây, tại Điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước ban
hành theo NĐ số 25- HĐBT cũng có khẳng định: “Kế toán là công việc ghi chép tính
toán bằng con số dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động, chủ yếu dưới
hình thức giá trị để phản ánh, kiểm tra tình hình vận động của các loại tài sản, quá trình
và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn và kinh phí của Nhà nước cũng
như của từng tổ chức xí nghiệp”.
Theo Luật kế toán Việt Nam 2015: “Kế toán là việc thu thập xử lý, kiểm
tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện
vật và thời gian lao động” (Điều 3 Luật Kế toán số 88/2015/QH13).
Như vậy, từ những khái niệm về kế toán nêu trên, ta có thể thấy rằng quan
niệm về kế toán là tương đối khác nhau tùy thuộc vào cách tiếp cận của người
nghiên cứu.

5


Trước đây người ta thường hiểu công việc kế toán chỉ gồm các nhiệm vụ
giữ sổ sách kế toán, ghi chép, phân loại và tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế phát
sinh. Mục đích của kế toán trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung là nhằm
cung cấp thông tin cho Nhà nước để kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch. Chức
năng của kế toán trong nền kinh tế kế hoạch hóa là phản ánh và giám đốc tài sản
XHCN và các hoạt động kinh tế. Hiện nay, công việc kế toán được hiểu rộng hơn
nhiều. Kế toán là một hệ thống thông tin dùng để đo lường, xử lý và truyền đạt
những thông tin về tài chính của một đơn vị kế toán. Thông tin này giúp người sử
dụng có thể đưa ra các quyết định hợp lý cho mình. Vì vậy, người kế toán ngày
nay không chỉ quan tâm đến việc giữ sổ sách mà phải quan tâm đến toàn bộ các
hoạt động như: việc hoạch định chương trình và giải quyết vấn đề; hướng sự quan
tâm của lãnh đạo đến những điều cần lưu tâm, đánh giá và duyệt xét các hoạt động
của đơn vị kế toán, kiểm tra sổ sách… Kế toán bao gồm việc thiết kế một hệ thống
thông tin đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng thông tin về kế toán ở cả trong
và ngoài đơn vị kế toán. Trong nền kinh tế thị trường, các đơn vị kế toán đều bình
đẳng, mối quan hệ kinh tế tài chính của các đơn vị kế toán được mở rộng. Mặt
khác, với sự phát triển đa dạng của các nguồn tạo vốn từ bên ngoài đã làm cho đối
tượng sử dụng thông tin kế toán trở nên đa dạng hơn. Mục đích của kế toán không
chỉ cung cấp thông tin chủ yếu cho bản thân doanh nghiệp, cho Nhà nước, mà còn
cung cấp thông tin cho các đối tượng như ngân hàng, các nhà đầu tư tương lai,
nhà cung cấp, khách hàng… Tuy nhiên, cho dù có sự khác biệt trong nhận thức
hay cách tiếp cận nhưng hầu hết các quan niệm về kế toán hiện nay đều thống
nhất rằng bản chất của kế toán là hệ thống thông tin và kiểm tra về hoạt động kinh
tế tài chính của một chủ thể nhất định. Do vậy, kế toán được xem là công cụ không
thể thiếu trong hệ thống quản lý kinh tế, cả ở tầm vĩ mô của nền kinh tế quốc dân
cũng như ở tầm vi mô của doanh nghiệp.
Về phương diện học thuật, kế toán có thể được phân loại theo các tiêu chí
khác nhau. Điều này giúp cho việc nhận thức đầy đủ hơn về nội dung, mục đích,
phạm vi của từng loại kế toán.
Một cách khái quát, có thể hình dung rằng kế toán được phân loại dựa vào

6


các tiêu chí cơ bản sau đây:
Thứ nhất, nếu dựa vào bản chất của hoạt động kế toán, có thể phân chia
thành các hình thức kế toán sau đây:
Kế toán tài chính là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp
thông tin kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính cho các đối tượng sử dụng thông
tin của đơn vị kế toán [8, tr.11].
Kế toán tài chính phản ánh thực trạng và các biến động về vốn, tài sản của
DN dưới dạng tổng quát hay phản ánh các dòng vật chất và dòng tiền tệ trong mối
quan hệ giữu DN với môi trường kinh tế bên ngoài. Kế toán tài chính cung cấp
thông tin chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp, do đó để đảm bảo
tính khách quan, thống nhất thì phải tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực và chế
độ hiện hành về kế toán của từng quốc gia. Kế toán tài chính mang tính pháp
lệnh, nghĩa là nếu muốn được thừa nhận thì kế toán tài chính phải được tổ
chức ở tất cả các đơn vị kế toán và hệ thống sổ ghi chép, trình bày và cung
cấp thông tin đều phải tuân thủ các quy định thống nhất. Thông tin của kế toán
tài chính cung cấp là những thông tin thực hiện về những hoạt động đã phát sinh,
đã xảy ra mang tính tổng hợp thể hiện dưới hình thái giá trị. Báo cáo của kế toán
tài chính là các BCTC tổng quát về sản lượng, kết quả hoạt động kinh doanh của
DN trong một thời kỳ báo cáo được thực hiện theo định kỳ thường là hàng năm.
Các báo cáo này ngoài việc sử dụng cho ban lãnh đạo doanh nghiệp còn được
cung cấp cho các đối tượng bên ngoài khác như: các nhà đầu tư, ngân hàng, các
cơ quan tài chính, cơ quan thuế…
Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin
kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội
bộ đơn vị kế toán [8, tr.12].
Kế toán quản trị hay kế toán quản lý đưa ra tất cả các thông tin kinh tế, đặc
biệt là các thông tin về thực trạng tài chính của DN. Qua đó giúp các nhà quản lý
doanh nghiệp ra quyết định điều hành một cách tối ưu nhất.
Xét theo nội dung các thông tin mà kế toán quản trị cung cấp, có thể khái
quát kế toán quản trị bao gồm:

7


(i) Kế toán quản trị các yếu tố sản xuất kinh doanh (mua sắm, sử dụng các
đối tượng lao động, hàng tồn kho, tư liệu lao động – TSCĐ, tuyển dụng và sử
dụng lao động – lao động và tiền lương…);
(ii) Kế toán quản trị về chi phí và giá thành sản phẩm (nhận diện sản phẩm,
phân loại chi phí, lập dự toán chi phí, tập hợp, tính toán, phân bổ chi phí, giá thành,
lập báo cáo phân tích chi phí theo bộ phận, theo các tình huống quyết định..);
(iii) Kế toán quản trị về doanh thu và kết quả kinh doanh (phân loại doanh
thu, xác định giá bán, lập dự toán, tính toán và hạch toán chi tiết doanh thu, phân
bổ chi phí chung, xác định kết quả và lập báo cáo phân tích kết quả chi tiết theo
bộ phận, theo các tình huống ra quyết định..);
(iv) Kế toán quản trị các khoản nợ;
(v) Kế toán quản trị các hoạt động đầu tư tài chính;
(vi) Kế toán quản trị các hoạt động khác của doanh nghiệp.
Xét theo quá trình kế toán quản trị trong mối quan hệ với chức năng quản
lý, kế toán quản trị bao gồm:
(i) Chính thức hóa các mục tiêu của đơn vị thành các chỉ tiêu kinh tế;
(ii) Lập dự toán chung và các dự toán chi tiết;
(iii) Thu thập, cung cấp thông tin về kết quả thực hiện các mục tiêu;
(iv) Soạn thảo báo cáo kế toán quản trị.
Thông tin của kế toán quản trị không chỉ là thông tin quá khứ (thông tin
thực hiện) mà còn bao gồm các thông tin về tương lai (kế hoạch, dự toán, dự
tính…). Mặt khác, thông tin kế toán quản trị không chỉ là các thông tin về giá trị
mà còn bao gồm các thông tin khác (hiện vật, thời gian lao động…).
Thông tin của kế toán quản trị đặc biệt quan trọng trong vận hành doanh
nghiệp, cụ thể như việc giúp ban lãnh đạo ra quyết định lựa chọn một trong những
phương án có hiệu quả kinh tế cao nhất như phải sản xuất những sản phẩm nào,
sản xuất bằng cách nào, bán các sản phẩm đó như thế nào, giá bao nhiêu, làm thế
nào để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và phát triển khả năng sản xuất, đồng
thời phục vụ việc kiểm soát và đánh giá doanh nghiệp đó.
Như vậy, giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị có những điểm giống

8


và khác nhau như sau:
- Giống nhau: Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều đề cấp đến các sự
kiện kinh tế trong doanh nghiệp và đều quan tâm đến tài sản, nợ phải trả, nguồn
vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động, quá trình lưu chuyển tiền
tệ của doanh nghiệp. Một bên phản ảnh tổng quát, một bên phản ảnh cụ thể, chi
tiết của sự tổng quát đó. Ngoài ra, kế toán quản trị và kế toán tài chính đều dựa
trên những ghi chép ban đầu của kế toán; kế toán quản trị và kế toán tài chính đều
biểu hiện trách nhiệm của người quản lý và đều là công cụ quản lý doanh nghiệp.
- Khác nhau: Một là, về đối tượng sử dụng thông tin, đối tượng sử dụng
thông tin của kế toán quản trị là các thành viên bên trong doanh nghiệp: Ban giám
đốc, chủ sở hữu, Trưởng bộ phận... Trong khi đó, đối tượng của kế toán tài chính
chủ yếu là ở bên ngoài doanh nghiệp: Các cổ đông, Cơ quan thuế, Cơ quan quản
lý tài chính... Hai là, về nguyên tắc trình bày và cung cấp thông tin, thông tin kế
toán tài chính phải tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực và chế độ hiện hành về kế
toán của từng quốc gia. Trái lại, trong nền kinh tế thị trường, do yêu cầu phải nắm
bắt nhanh các cơ cội kinh doanh đa dạng nên thông tin kế toán quản trị cần phải
linh hoạt, nhanh chóng và phù hợp với từng quyết định của người quản trị, không
buộc phải tuân thủ các nguyên tắc hay chuẩn mực kế toán chung. Ba là, về tính
pháp lý của kế toán: Kế toán tài chính có tính pháp lệnh, nghĩa là hệ thống sổ sách,
ghi chép, trình bày và cung cấp thông tin của kế toán tài chính đều phải tuân theo các
quy định thống nhất nếu muốn được thừa nhận. Ngược lại, tổ chức công tác quản trị
lại mang tính nội bộ, thuộc thẩm quyền của từng doanh nghiệp phù hợp với đặc thù
quản lý, yêu cầu quản lý, điều kiện và khả năng quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp.
Bốn là, về đặc điểm của thông tin: Thông tin của kế toán tài chính là thông tin thực
hiện về những nghiệp vụ đã phát sinh, đã xảy ra, được thu thập từ các chứng từ ban
đầu về kế toán. Trong khi đó, thông tin của kế toán quản trị chủ yếu đặt trọng tâm cho
tương lai vì phần lớn nhiệm vụ của nhà quản trị là lựa chọn phương án, đề án cho một
sự kiện hoặc một quá trình chưa xảy ra. Năm là, về hình thức báo cáo sử dụng: Báo
cáo được sử dụng trong kế toán tài chính là các báo cáo kế toán tổng hợp (gọi là các
Báo cáo tài chính) phản ánh tổng quát về sản nghiệp, kết quả hoạt động của doanh

9


nghiệp trong một thời kỳ (gồm Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Thuyết minh báo cáo tài chính). Trong khi đó báo
cáo của kế toán quản trị đi sâu vào từng bộ phận, từng khâu công việc của doanh
nghiệp (như báo cáo chi phí sản xuất và giá thành, báo cáo nợ phải trả, báo cáo nhập
xuất và tồn kho của hàng tồn kho...).
Ngoài hai hình thức cơ bản là kế toán tài chính và kế toán quản trị, tại khoản
2 Điều 9 của Luật kế toán 2015 nhà làm luật cũng quy định: “Khi thực hiện công
việc kế toán tài chính và kế toán quản trị, đơn vị kế toán phải thực hiện kế toán
tổng hợp và kế toán chi tiết”.
Kế toán tổng hợp đòi hỏi đơn vị kế toán phải thu thập, xử lý, ghi chép và cung
cấp thông tin tổng quát về hoạt động kinh tế và tài chính của đơn vị. Kế toán tổng
hợp sử dụng đơn vị tiền tệ để phản ánh tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản,
tình hình và kết quả hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán [8, tr.12].
Kế toán chi tiết đòi hỏi đơn vị kế toán phải thu thập, xử lý, ghi chép và cung
cấp thông tin chi tiết bằng đơn vị tiền tệ, đơn vị hiện vật và đơn vị thời gian lao
động theo từng đối tượng kế toán cụ thể trong đơn vị kế toán. Kế toán chi tiết
minh họa cho kế toán tổng hợp. Số liệu kế toán chi tiết phải khớp đúng với số liệu
kế toán tổng hợp trong một kỳ kế toán [8, tr.13].
Vậy, có phải kế toán tài chính là kế toán tổng hợp còn kế toán quản trị là
kế toán chi tiết hay không ?
Để hiểu rõ về các thuật ngữ trên, ta cần tìm hiểu mối quan hệ giữa kế toán
tài chính với kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết.
- Về mối quan hệ giữa kế toán tài chính và kế toán tổng hợp: Kế toán tổng hợp
là một bộ phận của kế toán tài chính, nhằm trình bày các số liệu báo cáo mang tính
tổng hợp về tình hình tài sản, doanh thu, chi phí và kết quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp trong một kỳ kế toán vào một thời điểm nhất định. Nói cách khác, kế
toán tổng hợp chỉ liên quan đến tài khoản của sổ cái tổng hợp và BCTC.
- Về mối quan hệ giữa kế toán tài chính và kế toán chi tiết: Kế toán chi tiết
là một bộ phận của kế toán tài chính, nhằm chứng minh các số liệu ghi trong tài
khoản tổng hợp là đúng trong quá trình ghi chép và lập báo cáo kế toán, đây

10


cũng là công việc phải làm trước khi khóa sổ kế toán để quyết toán. Thuật ngữ
thông thường được gọi là đối chiếu giữa tổng hợp và chi tiết. Ví dụ như việc đối
chiếu giữa tài khoản phải thu với sổ công nợ chi tiết của từng khách hàng, đối
chiếu tài khoản phải trả với sổ chi tiết của từng nhà cung cấp hay việc đối chiếu
tài khoản nguyên vật liệu với sổ chi tiết vật tư, đối chiếu tài khoản chi phí sản
xuất kinh doanh dở dang với thẻ chi tiết tính giá thành sản phẩm.
Tóm lại, trong kế toán tài chính bao giờ cũng có kế toán tổng hợp và kế
toán chi tiết. Vì vậy kế toán tài chính không phải kế toán tổng hợp và kế toán quản
trị không phải là kế toán chi tiết.
1.1.1.2. Khái niệm và đặc trưng của kế toán doanh nghiệp
a) Khái niệm kế toán doanh nghiệp
Trong các doanh nghiệp, để quản lý tài sản và quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh (SXKD) cần phải sử dụng hàng loạt các công cụ quản lý khác nhau.
Đối với doanh nghiệp, kế toán có chức năng thu nhận, xử lý, hệ thống hóa thông
tin về toàn bộ hoạt động kinh tế tài chính phát sinh ở DN nhằm cung cấp những
thông tin cần thiết phục vụ công tác quản lý kinh tế tài chính trong DN.
Từ phân tích trên đây, có thể thấy rằng “Kế toán doanh nghiệp là việc thu
thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình
thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động tại doanh nghiệp”.
Thông thường kế toán doanh nghiệp được chia ra làm hai bộ phận chính
gồm kế toán nội bộ và kế toán thuế.
Kế toán nội bộ là một bộ phận không thể thiếu đối với mỗi DN, công việc
chủ yếu là thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo
yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán. Báo
cáo kế toán nội bộ có trách nhiệm ghi nhận chi tiết và chính xác cho các nhà quản
trị, lãnh đạo của doanh nghiệp.
Kế toán thuế là một bộ phận đóng vai trò quan trọng trong hệ thống kế toán
doanh nghiệp. Công việc chính của bộ phận kế toán thuế bao gồm thu thập, xử lý,
kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính bằng BCTC cho đối
tượng có nhu cầu sử dụng thông tin của đơn vị kế toán.

11


Theo quy định của pháp luật kế toán ở nhiều quốc gia, các đối tượng của kế
toán doanh nghiệp bao gồm: Tài sản; nợ phải trả và vốn chủ sở hữu; doanh thu, chi
phí kinh doanh, chi phí khác và thu nhập; thuế và các khoản phải nộp NSNN; kết
quả và phân chia kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh; tài sản, các khoản phải thu,
nghĩa vụ phải trả khác có liên quan đến doanh nghiệp.
Với chức năng phản ánh và kiểm tra, cung cấp thông tin toàn bộ các hoạt
động kinh tế của DN, kế toán doanh nghiệp có những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Thu thập xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng kế toán và nội
dung công việc kế toán, theo chuẩn mực và chế độ kế toán.
- Ghi chép, tính toán, phản ánh số hiện có, tình hình luân chuyển và sử dụng
tài sản, vật tư, tiền vốn, quá trình và kết quả hoạt động SXKD và tình hình sử
dụng kinh phí (nếu có) của doanh nghiệp.
- Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch SXKD, kế hoạch thu chi tài chính,
kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi phí tài chính, các nghĩa vụ thu, nộp, thanh
toán nợ; kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài sản; phát
hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán.
- Cung cấp các số liệu, tài liệu cho việc điều hành hoạt động SXKD, kiểm
tra và phân tích hoạt động kinh tế, tài chính phục vụ công tác lập và theo dõi việc
thực hiện công tác thống kê và thông tin kinh tế.
Về lý thuyết, để hoạt động kế toán doanh nghiệp đạt hiệu quả cao, kế toán
doanh nghiệp cần đáp ứng những yêu cầu nhất định như:
- Kế toán phải chính xác, trung thực, khách quan;
- Kế toán phải kịp thời;
- Kế toán phải đầy đủ;
- Kế toán phải rõ ràng, dễ hiểu, dễ so sánh và đối chiếu.
Những yêu cầu này đối với kế toán phải được thực hiện đầy đủ. Tuy nhiên,
trong từng giai đoạn phát triển và mục đích sử dụng thông tin kế toán mà yêu cầu
này hay yêu cầu khác sẽ được chú trọng hơn.
b) Đặc trưng của kế toán doanh nghiệp
Từ kết quả phân tích trên đây, có thể thấy rằng kế toán doanh nghiệp có

12


những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, kế toán doanh nghiệp có nhiệm vụ phản ánh và giám độc một
cách liên tục, toàn diện và có hệ thống tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong
thực tế của doanh nghiệp – với tư cách là một đơn vị kế toán (các hoạt động liên
quan đến tải sản và nguồn vốn của đơn vị). Kế toán doanh nghiệp không phản ánh
tất cả các hoạt động của đơn vị cũng như không phản ánh tất cả nội dung liên quan
đến nghiệp vụ kinh tế phát sinh mà chỉ phản ánh sự biến động của tài sản và nguồn
của nghiệp vụ kinh tế đó.
Thứ hai, kế toán doanh nghiệp phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
của doanh nghiệp thông qua một hệ thống các phương pháp khoa học như: chứng
từ, đối ứng tài khoản, tính giá, tổng hợp, cân đối kế toán, các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh được phản ánh thông qua kế toán theo một trình tự nhất định dựa trên
các phương pháp kế toán này. Vậy nên, công tác kế toán doanh nghiệp đòi hỏi
người làm kế toán phải có những hiểu biết nhất định về kế toán chứ không đơn
thuần là liệt kê các nội dung kinh tế phát sinh tại đơn vị. Chính vì thế, người thưc
hiện công việc kế toán phải là người có đủ tiêu chuẩn và điều kiện nhất định do
pháp luật quy định (Điều lệ kế toán trưởng xí nghiệp quốc doanh). Trong quá trình
quản lý nền kinh tế xã hội con người đã sử dụng nhiều loại hạch toán để phản anh
và giám đốc các thông tin kinh tế xã hội đó kế toán chỉ là một loại hạch toán,
ngoài kế toán còn có hạch toán nghiệp vụ và hạch toán thống kê. Hạch toán nghiệp
vụ được sử dụng nhiều trong các đơn vị kế toán. Nó hiện kế hoạch, tiến độ cung
ứng sản phẩm, tình hình tiêu thụ nguyên vật liệu… để chỉ đạo thường xuyển và
kịp thời các loại nghiệp vụ đó. Phương pháp áp dụng cho loại hạch toán này rất
đơn giản, việc thu thập tin tức có thể chỉ cần thông quan điện thoại, truyền miệng.
Loại hach toán này chỉ phản ánh cá nghiệp vụ mang tính chất riêng lẻ và phục vụ
cho các quyết định điều hành tức thời. Hạch toán thống kê cũng được áp dụng
nhiều trong đời sống nhưng, với khác với hạch toán nó được thực hiện trong một
phạm vi rộng: cả nước, toàn bộ nền kinh tế, địa phương và được áp dụng không
chỉ trong các hoạt độn kinh tế mà còn nghiên cứu các hiện tượng xã hội khác như:
thống kê số lượng hộ đói nghèo trong cả nước, thông kế số lượng thương binh,

13


liệt sĩ của địa phương... Hơn nữa, thống kê không nghiên cứu và giám đốc một
cách toàn diện và liên tục, mà chủ nghiên cứu và giám đốc trong điều kiện thời
gian, địa điểm cụ thể.
1.1.2. Nguyên tắc và trình tự thực hiện kế toán doanh nghiệp
Trước hết, về nguyên tắc kế toán doanh nghiệp.
Xét trên phương diện lý thuyết, các nguyên tắc kế toán là những chuẩn mực,
quy ước và những hướng dẫn xuyên suốt trong quá trình thực hiện các công việc
kế toán nhằm phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính đạt được các mục tiêu đầy
đủ, dễ hiểu, đáng tin cậy và có thể so sánh được. Theo thông lệ quốc tế các nguyên
tắc được kế toán được ghi nhận trong pháp luật hiện hành ở các quốc gia hiện nay
thường bao gồm:
(i) Giá trị tài sản và nợ phải trả được ghi nhận ban đầu theo giá gốc. Sau
ghi nhận ban đầu, đối với một số loại tài sản hoặc nợ phải trả mà giá trị biến động
thường xuyên theo giá thị trường và giá trị của chúng có thể xác định lại một cách
đáng tin cậy thì được ghi nhận theo giá trị hợp lý tại thời điểm cuối kỳ lập BCTC;
(ii) Các quy định và phương pháp kế toán đã chọn phải được áp dụng nhất
quán trong kỳ kế toán năm; trường hợp thay đổi các quy định và phương pháp kế
toán đã chọn thì đơn vị kế toán phải giải trình trong BCTC;
(iii) Đơn vị kế toán phải thu thập, phản ánh khách quan, đầy đủ, đúng thực
tế và đúng kỳ kế toán mà nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh;
(iv) Báo cáo tài chính phải được lập và gửi cơ quan có thẩm quyền đầy đủ,
chính xác và kịp thời. Thông tin, số liệu trong BCTC của đơn vị kế toán phải được
công khai theo quy định;
(v) Đơn vị kế toán phải sử dụng phương pháp đánh giá tài sản và phân bổ
các khoản thu, chi một cách thận trọng, không được làm sai lệch kết quả hoạt động
kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán;
(vi) Việc lập và trình bày BCTC phải bảo đảm phản ánh đúng bản chất của
giao dịch hơn là hình thức, tên gọi của giao dịch.
Thực tế cho thấy, các nguyên tắc này cũng đã và đang được ghi nhận trong
Luật kế toán Việt Nam 2015.

14


Thứ hai, về trình tự thực hiện kế toán doanh nghiệp.
Không thể phủ nhận rằng quy trình kế toán tổng hợp có vai trò rất quan
trọng đối với bất kỳ DN nào. Quy trình kế toán giúp cho nhà quản lý có cái nhìn
toàn diện về quy trình hoạt động của từng nhân viên từ đó có thể ra quyết định
chính xác cho việc tái cấu trúc lại bộ phận kế toán để hoạt động hiệu quả hơn,
đồng thời có những quy định chặt chẽ để quản lý thu – chi tiền và tài sản hiệu quả,
tránh lãng phí và thất thoát. Theo thống kê, trình tự kế toán thường bao gồm các
bước sau đây:
Bước 1: Tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế phát sinh;
Bước 2: Lập, xử lý kiểm tra và sắp xếp chứng từ kế toán;
Bước 3: Tiến hành ghi sổ sách kế toán;
Bước 4: Cuối kỳ (Thực hiện bút toán cuối kỳ và bút toán kết chuyển), khóa
sổ, xác định số dư;
Bước 5: Lập bảng cân đối số phát sinh;
Bước 6: Lập BCTC, quyết toán thuế;
Bước 7: In sổ sách, đóng quyển và lưu kho.
Về nguyên tắc, các bước trên đây phải được đơn vị kế toán tuân thủ, thực
hiện trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm đảm bảo chất lượng
quản trị doanh nghiệp cũng như đảm bảo tuân thủ Luật kế toán.
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến nội dung kế toán doanh nghiệp
Về lý thuyết, kế toán doanh nghiệp chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác
nhau, trong đó phải kể đến một số yếu tố cơ bản như:
Thứ nhất, hệ thống chuẩn mực kế toán.
Hiện nay, hệ thống kế toán và chuẩn mực quốc tế về kế toán (IASs/ IFRSs)
được soạn thảo bởi hội đồng chuẩn mực quốc tế (IASB). Nó được soạn thảo và
công bố theo những quy trình rất chặt chẽ để đảm bảo chất lượng của các chuẩn
mực và tính thực hành cao. Rất nhiều quốc gia của Châu Á và trên thế giới đang
điều chỉnh chuẩn mực của mình để phù hợp hơn với IFRS và giảm thiểu sự khác
nhau nếu có.
Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) được xây dựng dựa trên các chuẩn mực

15


kế toán quốc tế (IAS/IFRS) từ những năm 2000 đến năm 2005 theo nguyên tắc vận
dụng có chọn lọc thông lệ quốc tế, phù hợp với nền kinh tế và trình độ quản lý của
doanh nghiệp Việt Nam tại thời điểm ban hành chuẩn mực. Ngoài ra, tại Việt Nam
hệ thống kế toán bao gồm cả chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán, mô hình này khác
biệt so với các nước trên thế giới.
Dựa vào các kết quả nghiên cứu đồng thời dựa trên nghiên cứu định tính
thông qua việc phỏng vấn các chuyên gia, có thể khái quát các yếu tố sau ảnh
hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán tại các DN ở Việt Nam.
Tại Việt Nam việc tồn tại song song chuẩn mực kế toán và chế độ kế
toán, một mặt thể hiện sự hội nhập của Việt Nam với thông lệ chung của kế
toán quốc tế, mặt khác thể hiện sự quản lý thống nhất của Nhà nước về kế
toán. Chính những đặc trưng này đã hình yếu tố ảnh hưởng đến vận dụng
chuẩn mực kế toán [16].
Với đặc điểm về quản lý thống nhất của Nhà nước và một hệ thống pháp lý mang
dáng dấp kiểu đạo luật (code law), việc vận dụng chuẩn mực kế toán ở Việt Nam chỉ có
thể biểu hiện qua hệ thống tài khoản kế toán và biểu mẫu BCTC thống nhất.
Khi đưa chuẩn mực kế toán vào vận dụng trong thực tiễn, nhiều ý kiến nhận
thấy nội dung các chuẩn mực còn khá mới với nhiều khái niệm và thuật ngữ, trong
khi đó kế toán viên chỉ am hiểu và vận dụng trên cơ sở các thông tư hướng dẫn
chi tiết trong công tác kế toán, điều đó ảnh hưởng đến việc vận dụng các chuẩn
mực kế toán.
Ở Việt Nam, việc ghi nhận và đo lường kế toán thường dựa trên cơ sở
quy định của thuế. Nhận thức đó đã ăn sâu và tác động lớn vào hành vi của
người làm kế toán dù những cải cách gần đây đã thay đổi tác động của thuế
với kế toán.
Thứ hai, kinh nghiệm và năng lực của kế toán viên.
Lịch sử phát triển của kế toán các nước cho thấy, sự phát triển của kế toán
có liên quan đến mức độ giáo dục và chuyên nghiệp của kế toán viên [Choi &
cộng sự, 2011]. Chất lượng nguồn lực kế toán có tầm ảnh hưởng lớn trong các
nhân tố, mở ra vấn đề quan trọng trong chiến lược phát triển kế toán trong thời

16


gian tới. Ở đó nó hàm ý chất lượng đào tạo ở bậc đại học và đào tạo bổ sung trong
quá trình làm việc sẽ ảnh hưởng đến khả năng vận dụng chuẩn mực kế toán rất
cao. Điều này đặt ra trách nhiệm của các trường đại học cần phải thay đổi chương
trình đào tạo để người học nắm được gốc gác chuẩn mực kế toán thay vì nặng nề
việc giảng dạy ghi chép. Trong quá trình đào tạo, giảng viên cần thường xuyên đề
cập đến các chuẩn mực kế toán khi giảng dạy từng phần hành kế toán.
Thứ ba, tổ chức, tư vấn nghề nghiệp kế toán.
Hoạt động nghề nghiệp ở bất cứ nơi nào cũng chịu sự ảnh hưởng của cộng
đồng nghề nghiệp và kế toán cũng không ngoại lệ. Ở các nước theo mô hình Anglo
– Saxon, ảnh hưởng của cộng đồng kế toán rất lớn, thể hiện qua sự phát triển của
các tổ chức nghề nghiệp đối với nghề kế toán, đặc biệt hiệp hội nghề nghiệp có
vai trò quyết định trong việc thiết lập chuẩn mực kế toán.
Đơn vị kiểm toán có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định của doanh nghiệp
trong việc lựa chọn, áp dụng chuẩn mực kế toán. Thông thường nếu một DN được
kiểm toán bởi một trong các hãng kiểm toán lớn thì DN đó sẽ quan tâm nhiều hơn
đến việc vận dụng các chuẩn mực kế toán. Từ thực tiễn đó liên hệ với điều kiện Việt
Nam, nếu BCTC của một DN được kiểm toán thì mức độ tuân thủ và vận dụng các
chuẩn mực kế toán sẽ cao hơn những DN không yêu cầu bắt buộc kiểm toán.
Thứ tư, đặc điểm của doanh nghiệp.
Theo các nghiên cứu của Hunh Adams và Nguyễn Thùy Linh (2005) đã
cho thấy rằng kế toán các doanh nghiệp ở Việt Nam thường chủ yếu chỉ quan tâm
đến vấn đề kê khai thuế. Điều này đặt thêm nghi vấn về ảnh hưởng nhận thức của
chủ doanh nghiệp đến việc vận dụng chuẩn mực kế toán.
Quy mô được xem là nhân tố ảnh hưởng đáng kể đến việc vận dụng chuẩn
mực kế toán [Cooke, 1991; Meek & cộng sự, 1995]. Các DN có quy mô lớn
thường hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau, mức độ phức tạp của các nghiệp
vụ kinh tế rất cao nên việc vận dụng các chuẩn mực kế toán sẽ đầy đủ hơn. Ở một
khía cạnh khác, các DN càng lớn có nhiều nguồn lực tài chính để thực hiện các
chuẩn mực kế toán mới. Các DN có quy mô nhỏ hơn lại thấy rằng lợi ích từ việc
thực hiện chuẩn mục không đủ bù đắp các nguồn lực bỏ ra để mua phần mềm,

17


thuê tư vấn hay đào tạo nhân viên.
Thứ năm, hệ thống luật pháp.
Hệ thống luật pháp quyết định về mối quan hệ giữa các cá nhân và các định
chế. Hệ thống luật pháp phương tây bao gồm hai hướng: dân luật (code/civil law)
và thông luật (common/case law).
Trong các nước theo hệ thống dân luật, các qui định về kế toán được tích
hợp vào hệ thống pháp luật quốc gia và thường có xu hướng quy định chi tiết cách
thức và quy trình và tập trung vào hình thức pháp lý. Các nước theo hệ thống này
là các nước có ảnh hưởng bởi nguồn gốc từ Pháp, Đức. Ngược lại các nước theo
hệ thống thông luật (ảnh hưởng bởi Anh) phát triển theo cơ sở từng trường hợp
và có xu hướng tập trung vào bản chất. Tại các nước này, các quy tắc kế toán được
thiết lập bởi các tổ chức thuộc lĩnh vực tư nhân. Việc này cho phép chúng có tính
thích nghi cao hơn và dễ đổi mới hơn. Việt Nam là nước ảnh hưởng bởi Pháp và
hệ thống kế toán Việt Nam hiện hành nghiêng nhiều hơn về hệ thống kế toán tại
các nước dân luật.
Thứ sáu, mức độ phát triển kinh tế của quốc gia.
Nhân tố này ảnh hưởng đến các loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong một nền
kinh tế và quyết định loại nào là thịnh hành nhất. Loại giao dịch, trong chiều ngược
lại quyết định các vấn đề kế toán mà nó đối mặt. Ví dụ: hệ thống thưởng cho nhà
quản lý dựa trên cổ phiếu không quá quan trọng trong các nước khi mà thị trường
chứng khoán còn chưa thực sự phát triển. Ngày nay, nhiều nền kinh tế công nghiệp
đang dần chuyển mình sang kinh tế dịch vụ. Các vấn đề kế toán liên quan trọng sản
xuất như định giá TSCĐ và ghi nhận chi phí khấu hao trở nên không quan trọng. Các
thách thức mới nổi lên đối với kế toán là đánh giá các tài sản vô hình và các nguồn
lực con người. Ở Việt Nam trước đây khi nền kinh tế còn ở mức độ thấp, mức độ
hòa nhập quốc tế chưa cao thì các nghiệp vụ liên quan đến cổ phiếu, chứng khoản
phát sinh chưa nhiều. Tuy nhiên với sự phát triển của các giao dịch này ngày càng
nhiều trong thời gian gần đây đòi hỏi hệ thống kế toán phải có sụ điều chỉnh, bổ sung
để thích ứng.

18


Thứ bảy, nguồn tài chính của doanh nghiệp.
Tại các nước có thị trường vốn mạnh như Mỹ, Anh thì lợi nhuận kế toán là
thước đo năng lực điều hành công ty của nhà quản trị. Khi đó kế toán được thiết
kế để giúp các nhà đầu tư đánh giá các dòng tiền trong tương lai và các rủi ro đi
kèm và để xác định giá trị công ty. Việc công bố thông tin rất rộng rãi để đáp ứng
các nhu cầu của một lượng lớn các nhà đầu tư sở hữu cổ phiếu. Ngược lại, tại các
nước mà nguồn tài chính dựa trên quan hệ tín dụng, ngân hàng là nguồn cung cấp
tài chính chủ yếu thì kế toán tập trung vào việc bảo vệ các nhà cung cấp tín dụng
thông qua việc đo lường một cách thận trọng lợi nhuận để giảm thiểu việc chia cổ
tức và để lại vốn đủ để bảo vệ những người cho vay. Bởi vì định chế tài chính có
thể tiếp cận trực tiếp bất kỳ thông tin nào họ muốn nên việc báo cáo được công
bố rộng rãi là không cần thiết. Việt Nam là nước có thị trường chứng khoán còn
non trẻ, nguồn tài chính của các DN chủ yếu từ các ngân hàng và nhà nước nên
nghiêng về nhóm thứ hai nhiều hơn.
Thứ tám, sự ràng buộc về chính trị và kinh tế với các quốc gia khác.
Các quan niệm và kỹ thuật kế toán được chuyển giao thông qua sự xâm
lược, thương mại và các sức mạnh tương tự. Hệ thống ghi sổ kép vốn có nguồn
gốc từ Italy trong thế kỷ V và được lan truyền sang các nước Châu Âu cùng với
các tư tưởng khác trong thời Phục hưng. Chủ nghĩa thực dân Anh xuất khẩu các
kế toán viên và các kỹ thuật kế toán trong hệ thống thuộc địa của mình. Đức đánh
chiếm Pháp trong thế chiến thứ II dẫn đến việc Pháp áp dụng hệ thống kế toán
thống nhất. Mỹ áp dụng các quy tác kế toán của mình sau thế chiến thứ II. Việt
Nam thuộc khối xã hội chủ nghĩa nên kế toán Việt Nam có ảnh hưởng rất lớn bởi
kế toán Liên Xô cũ.
Thứ chín, hệ thống thuế quốc gia và quốc tế.
Tại nhiều quốc gia, các quy định về thuế quyết định các chuẩn mực kế toán
bởi các công ty phải ghi nhận doanh thu và chi phí trong hệ thống kế toán của
mình để thực hiện cho mục đích thuế. Nói cách khác các quy tắc kế toán và tài
chính là tương tự nhau. Ví dụ như Đức và Thụy Điển. Còn ở các nước khác (như
Mỹ), kế toán tài chính và kế toán thuế là riêng biệt. Lợi nhuận tính thuế là lợi

19


nhuận kế toán tài chính được điều chỉnh theo sự khác biệt giữa thuế và kế toán.
Mặc dù khi xây dựng chuẩn mực kế toán Việt nam số 17- Thuế thu nhập doanh
nghiệp Việt Nam thể hiện chấp nhận xu hướng thứ hai: sự khác biệt giữa lợi nhuận
tính thuế và kế toán. Tuy nhiên trong thực tế các quy định của thuế và kế toán là
khá đồng nhất và trong thực hành kế toán người ta cũng thường dựa vào các quy
định của thuế để làm kế toán nên sự khác biệt giữa lợi nhuận tính thuế và lợi nhận
kế toán không phát sinh nhiều.
Thứ mười, tình trạng lạm phát của nền kinh tế.
Lạm phát làm méo mó kế toán theo giá gốc bởi vì nó làm cho tài sản và các
chi phí liên quan bị đánh giá thấp và lợi nhuận bị phóng đại lên. Các nước có mức
lạm phát cao thường yêu cầu các công ty thực hiện sự điều chỉnh sự thay đổi của
gía cả trong các báo cáo. Ví dụ: Mexico áp dụng kế toán điều chỉnh theo mức giá
chung nếu lũy kế lạm phát trong 3 năm liên tiếp lớn hơn hoặc bằng 28% (lạm phát
hàng năm là 8% [6]). Trong những năm 1970, để phản ứng với mức lam phát cao
bất bình thường, cả Mỹ và Anh đều thực hiện với việc báo cáo ảnh hưởng của sự
thay đổi giá cả. Ở Việt Nam, để đáp lại với nhiều thời điểm có mức lạm phát rất
cao trong quá khứ, nhà nước đã thực hiện sự đánh giá lại tài sản. Tuy nhiên trong
thời gian gần đây có những năm lạm phát cao (năm 2008 khoảng 22%, 2011 là
18,13% [6] nhưng các doanh nghiệp không được yêu cầu điều chỉnh BCTC theo
sự thay đổi của giá cả dẫn đến sự méo mó trong lợi nhuận và tài sản.
Ngoài các yếu tố cơ bản trên đây, mức độ phát triển giáo dục của quốc gia
và truyền thống văn hóa cũng có tác động đến kế toán doanh nghiệp. Điều này thể
hiện ở chỗ:
- Các chuẩn mực kế toán và các hoạt động thực hành kế toán phức tạp sẽ
không có tác dụng nếu chúng bị hiểu nhầm và sử dụng sai. Ví dụ: các kỹ thuật
báo cáo phức tạp về biến động của chi phí sẽ không có ý nghĩa trừ khi người đọc
hiểu kế toán chi phí. Công bố các thông tin về rủi ro của các chứng khoán phái
sinh sẽ không có giá trị thông tin trừ khi chúng có thể được đọc một cách thông
thạo. Hiện tại trình độ giáo dục kế toán ở Việt Nam còn một khoảng cách khá lớn
so với các nước phát triển nên cần áp dụng nhiều biện pháp đồng bộ để thúc đẩy

20


như nhập khẩu các chương trình đào tạo kế toán quốc tế, đưa công dân sang các
nước phát triển đào tạo, tăng cường quá trình đào tạo và cấp chứng chỉ của các tổ
chức quốc tế. Từ những năm 1980, các nghiên cứu đều khẳng định văn hóa là một
nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của kế toán. Có thể nói sự khác
biệt nền văn hóa giữa các quốc gia đã tạo nên nhiều hệ thống kế toán khác nhau,
hình thành nên các cách ghi chép, tính toán và trình bày thông tin khác nhau trong
hệ thống kế toán của mỗi quốc gia.
Dựa trên các phân tích của Hofstede, Gray đã đưa ra liên kết giữa văn hóa
và kế toán [6]. Ông đã đề xuất bốn mảng giá trị văn hóa kế toán ảnh hưởng đến
thực hành BCTC của một quốc gia gồm:
(i) Tính chuyên nghiệp và sự kiểm soát bằng pháp luật: có sự đối lập giữa
ưa chuộng áp dụng các phán xét nghề nghiệp mang tính cá nhân và quy tắc tự đưa
ra hội nghề nghiệp với việc tuân thủ các quy định của pháp luật;
(ii) Tính thống nhất và linh hoạt: sự ưa chuộng tính thống nhất và nhất quán
so với việc linh hoạt trong đối phó với các tình huống;
(iii) Chủ nghĩa bảo thủ và chủ nghĩa lạc quan: sự ưa chuộng cho việc áp dụng
cách thức đo lường một cách thận trọng để đối phó với những bất ổn của các sự kiện
trong tương lai thay vì các tiếp cận lạc quan, sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm;
(iv) Bí mật và rõ ràng: sự ưu tiên cho việc đảm bảo tính bảo mật và hạn chế
tiếp cận của các thông tin kinh doanh đối lập với việc sẵn sàng công bố các thông
tin cho công chúng.
Ngoài mô hình trên, Nobes đã đưa ra mô hình đơn giản hóa các nhân tố ảnh
hưởng đến sự khác biệt trong BCTC giữa các quốc gia. Theo mô hình này có hai
nhân tố là văn hóa và bản chất của hệ thống tài chính. Nobes lập luận rằng nguyên
nhân quan trọng cho sự khác biệt trong BCTC giữa các quốc gia là sự khác biệt
về mục đích báo cáo. Hệ thống tài chính của một quốc gia được xem là nhân tố
thích hợp nhất quyết định mục đích của BCTC. Cụ thể, hệ thống tài chính của một
quốc gia qua thị trường chứng khoán mạnh với một lượng lớn các cổ đông bên
ngoài hay không sẽ quyết định bản chất của hệ thống BCTC trong một quốc gia.

21


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×