Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu ảnh hưởng tính thanh khoản đến hiệu quả hoạt động của các Công ty phi tài chính, niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

PHAN ĐỨC CHUNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG TÍNH THANH KHOẢN
ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY
NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN TRỊ KINH DOANH

Mã số: 60.34.01.02

Đà Nẵng - 2018


Công trình được hoàn thành tại
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN


Ngƣời hƣớng dẫn KH: PGS.TS. TRƢƠNG HỒNG TRÌNH

Phản biện 1: TS. LÊ THỊ MINH HẰNG
Phản biện 2: PGS.TS. BÙI DŨNG THỂ

Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá Luận văn tốt
nghiệp Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh họp tại Trường Đại học Kinh tế,
Đại học Đà Nẵng vào ngày 18 tháng 8 năm 2018

Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp luôn được các nhà
quản trị và nhà đầu tư quan tâm. Có nhiều nhóm nhân tố ảnh hưởng
đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, trong đó tính thanh khoản
có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp không? đo
lường, đánh giá mức độ ảnh hưởng như thế nào? Mặc dù có một số
nghiên cứu đã được thực hiện, nhưng đến nay tính thanh khoản ảnh
hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ở các nước
khác nhau là khác nhau. Vậy ở Việt Nam ảnh hưởng của tính thanh
khoản đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp như thế nào?
Để giúp nhà quản trị trong quản lý điều hành doanh nghiệp đạt
hiệu quả tốt, giúp nhà đầu tư thấu hiểu một phần về doanh nghiệp,
tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hƣởng tính thanh khoản đến
hiệu quả hoạt động của các Công ty phi tài chính, niêm yết tại sở
giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu ảnh hưởng các yếu tố thanh khoản đến hiệu
quả hoạt động của các Công ty phi tài chính, niêm yết tại sở giao
dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu:
Tính thanh khoản ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các
Công ty phi tài chính, niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán thành
phố Hồ Chí Minh.


- Phạm vi nghiên cứu:
+ Giới hạn không gian: Dữ liệu nghiên cứu với 228 Công ty Cổ
phần phi tài chính niêm yết tại Hose.


2
+ Giới hạn thời gian: Giai đoạn 5 năm từ 2013 – 2017.
4. Mô hình và phƣơng pháp nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu:
Nghiên cứu này sử dụng mô hình Nghiên cứu mô tả. Với ưu
điểm chính của nghiên cứu mô tả là nó sử dụng dữ liệu định tính và
định lượng để phân tích, đo lường, giúp mô tả và đánh giá mối quan
hệ tác động của một hoặc nhiều biến độc lập đến biến phụ thuộc
được chọn. Từ đó đưa ra giải đáp cho các mục đích nghiên cứu và
hàm ý chính sách.
* Phƣơng pháp ƣớc lƣợng định tính:
Phương pháp định tính được sử dụng để lựa chọn các biến trong
nghiên cứu. Biến phụ thuộc đƣợc chọn là hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp, thông qua các chỉ tiêu tài chính là tỷ suất lợi nhuận
sau thuế trên tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
ROE; Các biến độc lập đƣợc chọn là tính thanh khoản thông qua
các chỉ số là tỷ lệ nắm giữ tiền mặt (CASH), tỷ lệ thanh toán hiện
hành (CR - Current ratio), tỷ lệ khả năng dòng tiền thanh toán
(OCFR - Operating Cash Flow Ratio).
* Phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng:
Nghiên cứu định lượng được sử dụng là phương pháp hồi quy
tuyến tính bội đa biến giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập được
chọn theo ước lượng phương sai bình phương nhỏ nhất. Các mô hình
hồi quy OLS, mô hình tác động cố định FEM (Fixed Effect Model),
mô hình tác động ngẫu nhiên REM (Random Effect Model). Sử dụng
phần mềm Eviews để tiến hành phân tích định lượng, kiểm tra lựa
chọn mô hình phù hợp, kiểm định và khắc phục khuyết tật của mô
hình và tiến hành hồi quy. Dữ liệu dạng bảng (panel data) được thiết
lập để áp dụng. Tiến hành phân tích, đo lường, đánh giá, mô tả xem


3
liệu các biến độc lập có tác động lên biến phụ thuộc không? Tác
động thuận, nghịch, mạnh yếu như thế nào?
5. Bố cục đề tài:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Hàm ý chính sách
6. Một số nghiên cứu thực nghiệm trƣớc đây
6.1 Nghiên cứu quốc tế
Nghiên cứu của Raheman và Mohamed (2007) [34] đã tiến
hành phân tích tác động của quản lý vốn lưu động đến hoạt động của
công ty tại Pakistan. Kết quả của nghiên cứu xác định rằng chu kỳ
chuyển đổi tiền mặt, vòng quay hàng tồn kho có tác động đáng kể
đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp.
Sharma và Kumar (2011) [37] tiến hành xác định hiệu quả của
việc quản lý vốn lưu động đối với lợi nhuận của các công ty Ấn Độ,
sử dụng mẫu gồm 263 công ty phi tài chính được niêm yết trên Sở
Giao dịch Chứng khoán Bombay, từ năm 2002 - 2008. Nghiên cứu
tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa quản lý vốn lưu động đến lợi
nhuận công ty và chu kỳ chuyển đổi tiền tệ không có ý nghĩa thống
kê đối với ROA. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng các khoản phải thu
có tác động tích cực đến ROA, các khoản phải trả có ý nghĩa tiêu cực
với ROA.
Vahid, Mohsen và Mohammadreza (2012) [26] đã điều tra tác
động của chính sách quản lý vốn lưu động đến khả năng sinh lợi của
các doanh nghiệp và giá trị của các công ty niêm yết tại Sở Giao dịch
Chứng khoán Tehran. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng và chính
sách quản lý vốn hoạt động thụ động. Kết quả của nghiên cứu thấy


4
rằng áp dụng một chính sách quản lý vốn lưu động theo chiều hướng
thụ động có ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận và giá trị của công ty.
Bhunia và Das (2012) [39] đã tiến hành nghiên cứu để kiểm tra
mối quan hệ giữa cơ cấu nguồn vốn và khả năng sinh lời của các
công ty tư nhân Ấn Độ. Các biến độc lập được sử dụng trong nghiên
cứu này là tỷ lệ thanh toán hiện hành, tỷ lệ thanh toán nhanh, tỷ lệ
tiền mặt, tỷ lệ nợ /vốn chủ sở hữu, tỷ lệ lãi suất, tỷ lệ doanh thu hàng
tồn kho, chu kỳ vốn lưu động. Lợi tức trên vốn ROE đã được sử
dụng làm thước đo cho lợi nhuận. Sử dụng phân tích nhiều hồi quy,
nghiên cứu đã tìm thấy một mối quan hệ yếu giữa tất cả các cấu trúc
quản lý vốn lưu động và lợi nhuận.
Nhóm tác giả Ogundipe S.E, Idowu và Ogundipe L.O (2012)
[38] đã tiến hành nghiên cứu để kiểm tra tác động quản lý vốn lưu
động đối với hiệu quả hoạt động và giá trị thị trường của các công ty.
Các nghiên cứu đã sử dụng Tobin’ Q, ROA, EBIT và ROI như là các
biến phụ thuộc, các biến độc lập là chu kỳ chuyển đổi tiền mặt; Tỉ lệ
thanh toán hiện tại; tài sản ngắn hạn/tổng tài sản; nợ ngắn hạn/ tổng
tài sản; và tỷ lệ nợ / tài sản. Kết quả nghiên cứu xác định rằng có mối
quan hệ tiêu cực đáng kể tồn tại giữa chu kỳ chuyển đổi tiền tệ và
định giá thị trường và kết quả hoạt động của một công ty.
Ehiedu (2014) [40] đã tiến hành một nghiên cứu về tác động của
thanh khoản đến khả năng sinh lời của một số Công ty được lựa chọn
ở Nigeria. Kết quả cho biết có đến 50% các công ty được phân tích
cho thấy một mối tương quan dương đáng kể giữa tỷ lệ thanh toán
hiện tại và khả năng sinh lời tiếp cận theo tỷ suất lợi nhuận sau thuế
trên tổng tài sản ROA.
2.4.2 Nghiên cứu trong nƣớc
Nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phi Anh (2010) [3] với 428 doanh


5
nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ 20072009. Nghiên cứu này đã xác định các nhân tố ảnh hưởng đến cấu
trúc tài chính và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp thông qua cách
tiếp cận phân tích đường dẫn. Kết quả nghiên cứu cho thấy
đối với hiệu quả tài chính, tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
(ROE) trung bình của các doanh nghiệp là 7,63% và chỉ tiêu này
cũng có sự biến động khá lớn giữa các doanh nghiệp. Kết quả nghiên
cứu chỉ ra rằng cả Hiệu quả hoạt động kinh doanh và Cấu trúc tài
chính có tác động cùng chiều đến ROE và hai nhân tố này giải thích
được 90% sự biến động của ROE.
Nghiên cứu của Huỳnh Phƣơng Đông (2010) [4] đã nghiên cứu
với mẫu là 131 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch
Chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2006-2008. Nghiên cứu này
tìm ra mối quan hệ mạnh ngược chiều giữa khả năng sinh lời và chu
kỳ chuyển đổi tiền mặt; nó có nghĩa là chu kỳ chuyển đổi tiền mặt
càng dài thì lợi nhuận công ty thu được càng thấp. Kết quả cũng tìm
thấy mối quan hệ nghịch giữa chu kỳ chuyển đổi tiền trung bình,
doanh thu hàng tồn kho và lợi nhuận. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng
cho thấy rằng các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi cao có xu
hướng trì hoãn thời gian trả nợ.
Trong nghiên cứu của Chu Thị Thu Thủy và cộng sự (2015)
[7], Nghiên cứu sử dụng số liệu của 230 công ty cổ phần phi tài
chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí
Minh (HOSE) giai đoạn năm 2011-2013. Kết quả nghiên cứu đã chỉ
ra rằng hiệu quả tài chính (ROA) của các công ty bị ảnh hưởng đáng
kể bởi tỷ lệ vốn nhà nước, đòn bẩy tài chính, năng lực quản lý, quy
mô công ty, khả năng thanh toán hiện hành và chu kỳ sản xuất kinh
doanh của công ty. Nghiên cứu chỉ ra rằng khả năng thanh toán hiện


6
hành và chu kỳ sản xuất kinh doanh của công ty tác tiêu cực (-) đến
hiệu quả tài chính qua ROA và ROE.
Nghiên cứu của Trần Tiến Dũng (2017) [8] về một số nhân tố
ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của Doanh nghiệp bất động sản,
với biến phụ thuộc là lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Kết quả
nghiên cứu đã chỉ ra rằng biến CR: Tỷ số thanh toán ngắn hạn tác
động ngược chiều (-) đến hiệu quả kinh doanh và có ý nghĩa thống
kê ở mức 5%.


7
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ
TÍNH THANH KHOẢN
Hiệu quả hoạt động của các công ty luôn là chủ đề đã thu hút rất
nhiều sự quan tâm từ các chuyên gia tài chính, các nhà nghiên cứu,
các cổ đông đến các nhà quản trị doanh nghiệp.
1.1.1. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Theo quan điểm của nhà kinh tế học người Anh, Adam Smith
(1723-1790) [10], cho rằng: “Hiệu quả - Kết quả đạt được trong hoạt
động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”. Với cách tiếp cận này,
việc xác định hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thuần túy dựa
vào có tiêu thụ được sản phẩm hay không. Quan điểm này chưa phân
định rõ hiệu quả và kết quả kinh doanh khi chưa tính đến yếu tố chi
phí để đạt được kết quả kinh doanh đó.
Theo Iswatia & Anshoria (2007) [13] hiệu quả hoạt động của
một tổ chức đạt được thông qua việc quản lý các nguồn lực bằng một
số cách thức khác nhau để phát triển lợi thế cạnh tranh.
Theo Paul A Samuemlson (1915-2009) [14] viết trong cuốn
Kinh tế học chỉ ra: “Hiệu quả tức là sử dụng một cách hữu hiệu nhất
các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của
con người”. Theo cách tiếp cận này, đã chỉ rõ được hai đặc tính của
phạm trù hiệu quả đó là sử dụng tối ưu các nguồn lực và mục đích
của hoạt động. Tuy nhiên, cách tiếp cận này chưa đưa đến cách thức
xác định hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói riêng.
Tác giả Nguyễn Văn Tạo [2] cho rằng, “Hiệu quả hoạt động
kinh doanh không chỉ là sự so sánh giữa chi phí đầu vào và kết quả
nhận được ở đầu ra; hiệu quả hoạt động kinh doanh được hiểu trước


8
tiên là việc hoàn thành mục tiêu, nếu không hoàn thành mục tiêu thì
không thể có hiệu quả và để hoàn thành mục tiêu ta phải sử dụng
nguồn lực như thế nào”. Như vậy, theo quan điểm này thì hiệu quả
được gắn với một mục tiêu nhất định và việc sử dụng nguồn lực một
cách phù hợp nhất.
Tác giả Trần Thị Thu Phong (2013) [5] “Biểu hiện cao nhất,
tập trung nhấp của hiệu quả kinh doanh là khả năng sinh lời, việc
phân tích hiệu quả kinh doanh phải tập trung phân tích khả năng sinh
lời của các nguồn lực sử dụng cho hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên,
khả năng sinh lời chỉ có thể đạt được khi doanh nghiệp có năng lực
hoạt động tốt, thể hiện thông qua việc quản lý và sử dụng có hiệu
quả các nguồn lực của doanh nghiệp. Chính vì vậy, để đánh giá được
đầy đủ hiệu quả kinh doanh theo đó sẽ bao gồm phân tích 2 nội dung
là phân tích hiệu quả hoạt động và phân tích khả năng sinh lời”.
Tác giả Đoàn Thục Quyên (2015) [6] cho rằng: “Hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp là phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ
giữa kết quả kinh doanh mà doanh nghiệp thu được với chi phí hoặc
nguồn lực bỏ ra để đạt được kết quả đó. Hiệu quả kinh doanh được
xác định bằng các chỉ tiêu kinh tế đặc trưng, phản ánh mối quan hệ
tỷ lệ so sánh giữa chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh đạt được với
các chỉ tiêu phản ánh chi phí hoặc nguồn lực đã sử dụng vào sản xuất
kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp”.
Như vậy có nhiều quan điểm về phạm trù hiệu quả hoạt động và
cách thức xác định hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tác giả
đồng thuận với cách tiếp cận của các tác giả Nguyễn Văn Tạo [2],
Trần Thị Thu Phong [5], Đoàn Thục Quyên [6].
Trong phạm vi nghiên cứu này, khái niệm hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp được hiểu là phạm trù kinh tế phản ánh mối quan


9
hệ giữa hiệu quả kinh doanh mà doanh nghiệp thu được là cao nhất
với chi phí và các nguồn lực bỏ ra nhỏ nhất để đạt được kết quả kinh
doanh mang lại hiệu quả đó, đã tính đến các rủi ro liên quan trong
tầm kiểm soát của doanh nghiệp.
1.1.2. Đo lƣờng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thường được đo lường
bằng các thông số chỉ tiêu tài chính sau:
a. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu ROS (Return on
sales)
Chỉ tiêu này cho biết với một đồng doanh thu thuần từ bán hàng
và cung cấp dịch vụ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ
số này chính là biên lợi nhuận thuần (Profit Margin), thường được
dùng để so sánh giữa các công ty cùng nghành với tỷ số bình quân
của toàn ngành tương ứng. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu
(ROS) = Lợi nhuận sau thuế trong kỳ (lợi nhuận ròng) / Doanh thu
trong kỳ. Trong đó: Lợi nhuận ròng = Doanh thu thuần - Giá vốn
hàng bán - Chi phí quản lý, chi phí bán hàng - Thuế TNDN phải nộp.
b. Tỷ suất thu nhập trên vốn sử dụng ROCE (Return On
Capital Employed)
Tỷ suất thu nhập trên vốn sử dụng là chỉ số thể hiện khả năng thu
lợi nhuận của một doanh nghiệp dựa trên lượng vốn đã sử dụng. Tỷ
suất thu nhập trên vốn sử dụng (ROCE) = Lợi nhuận trước thuế và
lãi vay (EBIT) / Vốn sử dụng trong kỳ. Trong đó: Vốn sử dụng =
Tổng tài sản – Nợ ngắn hạn
ROCE được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp. Để tạo ra mức thu nhập cao, công ty phải huy động vốn theo
cách ít tốn kém nhất. Tuy nhiên, ROCE cũng có thể phản ánh không
chính xác hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp có lượng tiền dự


10
trữ lớn. Lượng tiền này được tính là một phần của số vốn mà doanh
nghiệp sử dụng thậm chí ngay cả khi nó chưa được dùng tới.
c. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE (Return on
Equity)
Tỷ suất này đo lường mức lợi nhuận sau thuế thu được trên mỗi
đồng vốn của chủ sở hữu trong kỳ. Đây là một chỉ số được sử dụng
rất phổ biến bởi tính đơn giản, dễ hiểu và dễ so sánh giữa các doanh
nghiệp cùng ngành nghề với quy mô khác nhau, giữa các doanh
nghiệp ở các ngành nghề khác nhau. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên
vốn chủ sở hữu (ROE) = Lợi nhuận sau thuế trong kỳ/ Vốn chủ sở
hữu bình quân trong kỳ.
d. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản ROA (Return on
Assets)
Tỷ suất này còn được gọi là tỷ suất sinh lời ròng của tài sản
(ROA). Nó phản ánh mỗi đồng vốn sử dụng trong kỳ tạo ra bao
nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tài sản
(ROA) = Lợi nhuận sau thuế trong kỳ/ Tổng tài sản bình quân.
Chỉ số ROA có tính đến tổng số lượng tài sản được sử dụng để
tài trợ các hoạt động kinh doanh. Chỉ số này xác định công ty có thể
tạo ra một tỷ suất lợi nhuận ròng như thế nào trên tổng tài sản bình
quân.
Qua các tỷ suất lợi nhuận được liệt kê trên, tác giả chọn chỉ tiêu
ROA và ROE để đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cho
phạm vi nghiên cứu này.
1.1.3. Thanh khoản và đo lƣờng tính thanh khoản của doanh
nghiệp
Theo Begg, Fisher và Rudiger (1991) [9] tính thanh khoản đề
cập đến tốc độ và sự chắc chắn mà một tài sản có thể được chuyển


11
đổi trở lại thành tiền bất cứ khi nào chủ sở hữu tài sản muốn. Tiền
mặt là tài sản thanh khoản nhất. Công ty có tính thanh khoản cao là
công ty lưu giữ đủ tài sản và tiền mặt thanh khoản cùng với khả năng
huy động vốn nhanh từ các nguồn khác để đáp ứng được nghĩa vụ
thanh toán và cam kết tài chính một cách kịp thời.
Theo Kesimli & Gunay (2011) [20] Thanh khoản là khoản đầu
tư vào tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, thanh lý trong vòng một năm
hoặc ít hơn và rất cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh hàng
ngày của công ty.
Các chỉ tiêu tài chính thường được sử dụng để đo lường tính
thanh khoản bao gồm: Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt (CASH); Tỷ lệ thanh
toán hiện hành (Current Ratio); Tỷ lệ thanh toán nhanh (Quick
Ratio); Tỷ lệ khả năng dòng tiền thanh toán OCFR (Operating Cash
Flow Ratio).
a. Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt (CASH):
Theo Myers và Majluf (1984) [11], chỉ tiêu nắm giữ tiền mặt là
chỉ số thể hiện khả năng thanh khoản cao nhất vì tiền và các khoản
tương đương tiền là các loại tài sản có tính thanh toán cao và nhanh
nhất của một doanh nghiệp. CASH = Tiền + các khoản tương đương
tiền / Nợ ngắn hạn.
b. Tỷ lệ thanh toán nhanh QR (Quick Ratio)
Chỉ số này bao gồm các tài sản có tính thanh khoản cao như tiền,
hoặc các khoản tiền có thể huy động trong thời gian ngắn. Khả năng
thanh toán nhanh không tính đến hàng tồn kho do hàng tồn kho nếu
muốn dùng để thanh toán cần có thời gian để thanh lý. Tỷ lệ thanh
toán nhanh QR = Tiền + tương đương tiền +Phải thu ngắn hạn/ Nợ
ngắn hạn.


12
c. Tỷ lệ thanh toán hiện hành CR (Current Ratio)
Chỉ số phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của
doanh nghiệp. Chỉ số càng lớn, khả năng thanh toán càng cao. Tỷ lệ
thanh toán hiện hành CR = Tài sản ngắn hạn/ Nợ ngắn hạn.
d.Tỷ lệ khả năng dòng tiền thanh toán OCFR (Operating Cash
Flow Ratio)
OCFR là tỷ lệ giữa lượng tiền được tạo ra từ hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp và nợ ngắn hạn. Đây là chỉ số có thể đo
lường các khả năng thanh toán bằng tiền của doanh nghiệp trong
ngắn hạn. Tỷ lệ khả năng dòng tiền thanh toán OCFR = (EBIT +
Khấu hao - Thuế)/ Nợ ngắn hạn. Trong đó: EBIT = Lợi nhuận trước
thuế và lãi vay.
1.2. TỔNG QUÁT MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CƠ BẢN
1.2.1 Lý thuyết vay thƣơng mại
Lý thuyết này được phát triển bởi Adam Smith [10] ở Anh trong
thế kỷ 18 (1723 - 1790). Adam Smith đã trình bày lịch sử ra đời của
tiền tệ thông qua sự phát triển của lịch sử trao đổi, từ súc vật làm
ngang giá đến kim loại vàng, ông đã nhìn thấy sự phát triển của các
hình thái giá trị. Ông đã chỉ ra bản chất của tiền là hàng hoá đặc biệt
có chức năng đặc biệt là chức năng phương tiện lưu thông. Theo lý
thuyết này, một ngân hàng thương mại nên cung cấp các khoản vay
ngắn hạn để đáp ứng yêu cầu về vốn và hạn chế cho vay dài hạn.
Tuy nhiên, đã có một số chỉ trích như: Lý thuyết cho vay thương
mại chưa phản ánh đầy đủ ngân hàng có thể đảm bảo tính thanh
khoản của tài sản thế chấp có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt
mà không bị mất mát.
1.2.2 Lý thuyết thanh khoản
Lý thuyết này bắt nguồn từ Morton (1939) [28] "Liquidity


13
and Solvency". Theo lý thuyết này, thanh khoản không phải là vấn đề
mà sự chuyển đổi tài sản không có thiệt hại vật chất mới là vấn đề.
Morton khẳng định, "để đạt được mức dự trữ tối thiểu, không phải
dựa vào hóa đơn thu nợ duy trì số lượng tài sản có thể chuyển sang
các ngân hàng khác khi cần thiết. Nó phải có thuộc tính có thể
chuyển nhượng ngay cho người khác mà không mất mát. Trong
trường hợp khủng hoảng thanh khoản chung, ngân hàng nên duy trì
tính thanh khoản bằng cách sở hữu tài sản có thể được chuyển sang
Ngân hàng Trung ương ".
Tuy nhiên, đã có một số chỉ trích như: Trong giai đoạn khủng
hoảng, các cổ phiếu và trái phiếu của các công ty có uy tín tốt cũng
không thu hút được người mua, chi phí chuyển dịch tài sản sẽ rất cao
và có thể mất tính chuyển đổi. Vì vậy, cả lý thuyết vay thương mại
cũng như Lý thuyết thanh khoản và khả năng chuyển đổi chưa thể
phân biệt tính thanh khoản một cách đầy đủ.
1.2.3 Lý thuyết trách nhiệm nhà quản trị
Tổ chức tài chính Anglo-Saxon đề cập trong những năm 1970
khi lãi suất có nhiều biến động. Đây là một trong những lý thuyết
quản lý thanh khoản quan trọng. Các lý thuyết quản lý nợ cho rằng
các ngân hàng có thể đáp ứng các yêu cầu thanh khoản của họ bằng
cách đấu thầu trên thị trường cho các quỹ bổ sung để đáp ứng nhu
cầu vay vốn và rút tiền. Không cần tuân theo các quy định về thanh
khoản cũ như duy trì tài sản thế chấp.


14
CHƢƠNG 2
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
2.1. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Để phân tích sự ảnh hưởng của tính thanh khoản đến hiệu quả
hoạt động của các Công ty, mô hình phân tích hồi quy tuyến tính bội
đa biến được tác giả sử dụng.
Y = α + βi*Xi + ε (2.1)
Triển khai chi tiết theo các biến đã chọn như sau:
ROAit = α + β1*CASHit + β2*CRit + β3*OCFRit + εit (2.2)
ROEit = α + β1*CASHit + β2*CRit + β3*OCFRit + εit (2.3)
Trong đó:
Y biến phụ thuộc, là hiệu quả hoạt động được thể hiện thông qua
chỉ tiêu tài chính ROA và ROE
X biến độc lập, là thanh khoản của doanh nghiệp thể hiện qua
CASH, CR, OCFR.
α

: Hệ số chặn;

ε: Sai số của mô hình;

ROA: Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản;
ROE: Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu;
i: Doanh nghiệp thứ i (i= 1, 2, 3….);
t: Thời gian năm thứ t (t=1, 2…5);
β1, β2, β3: là các hệ số hồi quy của mô hình;
CASH: tỷ lệ nắm giữ tiền mặt;
CR: Tỷ lệ thanh toán hiện hành;
OCFR: Tỷ lệ khả năng dòng tiền thanh toán.
2.2. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU:
Giả thiết H1: Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt CASH tác động tích cực
(thuận chiều) đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp;
Giả thiết H2: Tỷ lệ thanh toán hiện hành CR tác động tích cực


15
(thuận chiều) đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp;
Giả thiết H3: Tỷ lệ khả năng dòng tiền thanh toán OCFR tác
động tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp;
2.3. CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH VÀ PHƢƠNG PHÁP ĐO
LƢỜNG
2.3.1. Biến phụ thuộc-Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Biến phụ thuộc của mô hình là hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp, thông qua hai chỉ tiêu tài chính là tỷ suất sinh lời trên tổng
tài sản ROA và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ ROE.
2.3.2. Các biến đôc lập - thanh khoản của doanh nghiệp.
Biến độc lập của mô hình là thanh khoản của doanh nghiệp,
thông qua 3 chỉ tiêu là tỷ lệ nắm giữ tiền mặt, tỷ lệ thanh toán hiện
hành và tỷ lệ khả năng dòng tiền thanh toán (OCFR).
Bảng 2.2. Tóm tắt các biến nghiên cứu và cách đo lường
Tên biến

Cách đo lƣờng

Kỳ vọng

Biến phụ thuộc
1

ROA

2

ROE

Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản
Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu

× 100%
× 100%

Biến độc lập
1

CASH

Tiền + các khoản
tương đương tiền

+

Nợ ngắn hạn
2

CR

3

OCFR

Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
EBIT + Khấu hao - Thuế
Nợ ngắn hạn

+
+


16
2.4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu định lượng được sử dụng với phương pháp hồi quy
tuyến tính bội đa biến. Biến phụ thuộc là hiệu quả hoạt động và các
biến độc lập là tính thanh khoản của doanh nghiệp. Sử dụng phần
mềm Eviews để tiến hành phân tích định lượng. Dữ liệu dạng bảng
(panel data) được thiết lập để áp dụng.
Các mô hình hồi quy theo phương pháp ước lượng giá trị phương
sai bình phương nhỏ nhất OLS, mô hình tác động cố định FEM
(Fixed Effect Model), mô hình tác động ngẫu nhiên REM (Random
Effect Model).
Kiểm định lựa chọn mô hình hồi quy: Kiểm định sự bằng nhau
của các tác động cố định để lựa chọn giữa 2 mô hình hoặc OLS hoặc
FEM; Kiểm định Hausman để lựa chọn giữa 2 mô hình FEM và
REM. Nếu mô hình tác động ngẫu nhiên REM được lựa chọn, tiếp
tục kiểm định F_Test để lựa chọn mô hình tác động ngẫu nhiên REM
hoặc OLS thông thường.
Sau khi chọn được mô hình hồi quy phù hợp, tiếp tục kiểm tra
khuyết tật của mô hình, như kiểm tra đa cộng tuyến thông qua nhân
tử phóng đại VIF, kiểm định tư tương quan theo phương pháp
Breusch–Godfrey, kiểm định phương sai sai số thay đổi theo phương
pháp White, khắc phục khuyết tật mô hình (nếu có), cuối cùng hồi
quy tuyến tính đa biến theo phương pháp ước lượng bình phương
tổng quát khả thi FGLS và diễn dải kết quả nghiên cứu.
2.5. DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
Dữ liệu dùng nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp, bao gồm báo cáo tài
chính năm (đã kiểm toán) của 228 Công ty niêm yết tại Hose, thời
gian 5 năm liền kề từ 01/2013 đến 12/2017, như vậy mẫu có 228x5 =
1.140 quan sát.


17
CHƢƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ DIỄN GIẢI Ý NGHĨA
Kết quả nghiên cứu phân tích thống kê thể hiện tại bảng 3.1
Bảng 3.1. Kết quả phân tích thống kê mô tả dữ liệu
ROA

ROE

CASH

CR

OCFR

5.8981

10.6954

0.5036

2.5807

0.4268

Median 4.7500

10.8100

0.1871

1.5951

0.1609

Mean

Kết quả nghiên cứu xác lập ảnh hưởng của thanh khoản (CASH,
CR, OCFR) đến hiệu quả hoạt động (ROA, ROE) được tóm lược tại
bảng 3.19
Bảng 3.19. Kết quả hồi quy ROA, ROE theo mô hình FGLS
Variable

FGLS - ROA
Coefficient

Prob.

FGLS – ROE
Coefficient

Prob.

C

4.5051

0.0000

9.82367

0.0000

CASH

0.0543

0.7302

-0.00374

0.9889

-0.6526

0.0000

-1.11541

0.0000

OCFR

7.1450

0.0000

8.79070

0.0000

R-squared

0.9589

0.9259

0.9485

0.9072

92.1910

49.3902

0.0000

0.0000

CR

Adjusted
R-squared
F-statistic
Prob(F-statistic)

Từ bảng 3.2 nhận thấy:
+ Kết quả nghiên cứu ảnh hƣởng tính thanh khoản đến hiệu
quả hoạt động của doanh nghiệp, tiếp cận theo chỉ số đo lƣờng tỷ
suất lợi nhuận sau thuế trên tài sản ROA nhƣ sau:


18
Các biến độc lập (tính thanh khoản) có khả năng giải thích biến
thiên của biến phụ thuộc ROA ở mức rất cao R2 = 0.9589 là 95,89%
Có 2 biến độc lập là CR và OCFR có ý nghĩa mang tính thống kê
đối với ROA, đều có giá trị P-value = 0.00 < 5%. Biến CASH không
có ý nghĩa thống kê đối với ROA với P-value = 0.7302 > 5%.
Phương trình hồi quy tổng quát với ROA:
ROAi = 4.5051 + 0.0543*CASHi - 0.6526*CRi + 7.1450*OCFRi
Nhận thấy Tỷ lệ khả năng dòng tiền thanh toán OCFR có tác
động rất mạnh, thuận chiều với tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tài sản
ROA với ý nghĩa cụ thể là: nếu CASH và CR không đổi thì khi
OCFR thay đổi 1 đơn vị sẽ làm cho ROA thay đổi 7,145 đơn vị.
+ Kết quả nghiên cứu ảnh hƣởng tính thanh khoản đến hiệu
quả hoạt động của doanh nghiệp, tiếp cận theo chỉ số đo lƣờng tỷ
suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu ROE nhƣ sau:
Các biến độc lập (tính thanh khoản) có khả năng giải thích biến
thiên của biến phụ thuộc ROE ở mức rất cao là 92,59%. Có 2 biến
độc lập là CR và OCFR có ý nghĩa thống kê đối với ROE, đều có giá
trị P-value = 0.00 < 5%. Biến CASH không có ý nghĩa thống kê đối
với ROE với P-value = 0.9889 > 0.05.
Phương trình hồi quy tổng quát với ROE như sau
ROEi = 9.82367 - 0.00374*CASHi - 1.11541*CRi + 8.7907*OCFRi
Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt CASH có tác động tiêu cực đến ROE ở
mức độ rất yếu; Tỷ lệ thanh toán hiện hành CR có tác động tiêu cực
đáng kể đến ROE; tỷ lệ khả năng dòng tiền thanh toán OCFR có tác
động rất mạnh, thuận chiều với tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn
chủ sở hữu ROE với ý nghĩa: nếu CASH và CR không đổi thì khi
OCFR thay đổi 1 đơn vị sẽ làm cho ROE thay đổi 8.7907 đơn vị.


19
3.4. SO SÁNH KẾT QUẢ VỚI CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC
+ Đối với chỉ tiêu tỷ lệ nắm giữ tiền mặt (CASH)
Tính thanh khoản với chỉ tiêu tỷ lệ nắm giữ tiền mặt (CASH) có
tác động thuận chiều đến hiệu quả hoạt động theo chỉ tiêu ROA với
mức độ rất yếu và tác động ngược chiều đến chỉ tiêu ROE với mức
độ là không đáng kể. Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt không có ý nghĩa thống
kê đối với ROA và ROE. Kết quả này giống với kết quả nghiên cứu
của tác giả Bhunia và Das (2012) cùng chỉ tiêu nghiên cứu ROA,
ROE được thực hiện tại Ấn Độ.
+ Đối với chỉ tiêu tỷ lệ thanh toán hiện hành (CR)
Tỷ lệ thanh toán hiện hành có tác động tiêu cực đáng kể đến cả 2
chỉ tiêu ROA và ROE, mức độ tác động tiêu cực đến ROE mạnh hơn
đối với ROA; Kết quả nghiên cứu này giống với kết quả nghiên cứu
của các tác giả Ogundipe, Idowu và Ogundipe (2012); tác giả Chu
Thị Thu Thủy và cộng sự (2015); tác giả Trần Tiến Dũng (2017).
Tuy nhiên kết quả cũng cho thấy ngược với nghiên cứu của Ehiedu
(2014) được thực hiện ở Nigeria;
+ Đối với chỉ tiêu khả năng dòng tiền thanh toán (OCFR)
Tính thanh khoản theo chỉ tiêu khả năng dòng tiền thanh toán
(OCFR) được đưa vào nghiên cứu là điểm khác biệt của nghiên cứu
này. Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây có rất ít nghiên cứu
được thực hiện về tác động của nhân tố này đến ROA và ROE. Kết
quả nghiên cứu đã phát hiện về tác động tích cực mạnh mẽ, tuyến
tính thuận chiều với mức độ giải thích rất cao của khả năng dòng tiền
thanh toán OCFR đến hiệu quả hoạt động theo 2 chỉ tiêu ROA, ROE.


20
CHƢƠNG 4
THẢO LUẬN KẾT QUẢ VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH
4.1 THẢO LUẬN KẾT QUẢ
+ Thảo luận 1: Thực trạng hiệu quả hoạt động và tiềm năng
tăng hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp.
Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp theo chỉ tiêu ROA là
không cao với mức trung bình ROA = 5,89%, mức trung vị
ROA=4,75%; Như vậy tiềm năng có thể tăng và biên độ tăng hiệu
quả hoạt động của các doanh nghiệp là hoàn toàn có thể.
+ Thảo luận 2: Ảnh hưởng của tỷ lệ nắm giữ tiền mặt
Khi CASH thay đổi 1 đơn vị sẽ tác động thuận chiều làm cho
ROA thay đổi tăng 0.0543 đơn vị và ngược lại làm cho ROE giảm đi
0.00374 đơn vị. Như vậy chỉ tiêu tỷ lệ nắm giữ tiền mặt tác động đến
hiệu quả hoạt động là rất yếu và không đáng kể, các doanh nghiệp
không nên tích trữ lượng tiền mặt quá cao.
+ Thảo luận 3: Ảnh hưởng của tỷ lệ thanh toán hiện hành
Nhân tố này có tác động tiêu cực đáng kể đến cả 2 chỉ tiêu ROA
và ROE, mức độ tác động tiêu cực đến ROE mạnh hơn đối với ROA;
Nên quản lý và sử dụng vốn bằng tiền, các khoản đầu tư tài chính
ngắn hạn sao cho khả năng sinh lời là cao nhất. Đồng thời cần quản
lý các khoản phải thu và hàng tồn kho ở mức hợp lý đảm bảo cho
hoạt động phân phối và sản xuất là tối ưu. Nên duy trì nợ ngắn hạn ở
một mức hợp lý, đặc biệt là nợ chi phí thấp và thời gian trả nợ.
+ Thảo luận 4: Tỷ lệ khả năng dòng tiền thanh toán của các
doanh nghiệp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy dòng tiền mà các doanh nghiệp tạo
ra so với nợ ngắn hạn mới đạt từ 16,1% - 42,7%. Các doanh nghiệp
cần có giải pháp để nâng cao chỉ tiêu này.


21
4.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH
4.2.1 Đối với các doanh nghiệp.
Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt CASH dao động quanh mức 19%-50% nợ
ngắn hạn và chỉ số này không nên duy trì ở mức quá cao;
Tỷ lệ thanh toán hiện hành CR nên duy trì dao động từ 1,6 - 2,6
lần, không nên duy trì CR ở mức cao. Cần quản lý các khoản phải
thu và hàng tồn kho ở mức hợp lý, tránh việc bán nợ quá nhiều
hoặc/và hàng tồn kho quá lớn. Bên cạnh đó việc duy trì nợ ngắn hạn
ở một mức hợp lý, đặc biệt nên duy trì nợ ngắn hạn với chi phí sử
dụng nợ thấp hoặc/và duy trì nợ chiếm dụng và thời gian thanh toán
nợ chiếm dụng ở mức cao.
Doanh nghiệp nên đặc biệt quan tâm, nhân tố khả năng dòng tiền
thanh toán OCFR. Các doanh nghiệp cần có giải pháp để nâng cao
chỉ tiêu này, càng cao càng tốt. Giảm tối đa chi phí lãi vay, nâng cao
lợi nhuận trước thuế. Tranh thủ quy định của pháp luật hiện hành để
áp dụng mức khấu hao tài sản cố định ở mức tối đa và giảm các
khoản thuế, nên tận dụng tối đa nếu có ưu đãi thuế của Nhà nước.
4.2.2 Đối với ngân hàng
Các ngân hàng nên ưu tiên cấp vốn vay cho các doanh nghiệp có
tỷ lệ khả năng dòng tiền thanh toán luôn cao hơn 42,68% và đạt hiệu
quả kinh doanh ROA cao hơn 5,89%, ROE cao hơn 10,7%.
4.2.3. Đối với các cơ quan quản lý Nhà nƣớc
Các cơ quan quản lý nhà nước cần đưa ra những biện pháp, cơ
chế, chính sách phù hợp hổ trợ nâng cao hiệu quả hoạt động của các
doanh nghiệp. Duy trì ổn định kinh tế vĩ mô; Ổn định giá trị đồng
tiền Việt Nam; Điều hành giảm lãi suất cho vay ngắn và trung hạn;
Phát triển lành mạnh và ổn định thị trường chứng khoán Việt Nam,
một trong những kênh huy động vốn hiệu quả cho doanh nghiệp.


22
4.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài còn tồn tại một số hạn chế như sau:
+ Dữ liệu dùng nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp, vì vậy không loại
trừ có thể làm ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.
+ Hạn chế nữa của đề tài là chưa tiến hành nghiên cứu cho các
nhóm doanh nghiệp thuộc các nghành nghề kinh doanh khác nhau.
4.4. HƢỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO
Hướng nghiên cứu tiếp theo: Xem xét bổ sung thêm biến, phân
chia dữ liệu theo các nhóm nghành nghề khác nhau, mở rộng mẫu
với quy mô thời gian lớn hơn 10 năm.
KẾT LUẬN CHUNG
Nhằm mục đích xác lập ảnh hưởng của tính thanh khoản đến
hiệu quả hoạt động của các Công ty phi tài chính, thông qua đó cung
cấp cho các bên liên quan có thêm góc nhìn về sự vận động và tác
động giữa các chỉ số tài chính để sử dụng. Nghiên cứu hy vọng mang
lại kết quả có ý nghĩa và hữu ích không chỉ với các nhà phân tích tài
chính, mà còn góp phần rất quan trọng đối với nhà đầu tư cũng như
các nhà quản trị doanh nghiệp và các chủ nợ, trong việc đánh giá sức
khỏe tài chính và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Luận văn đã
hoàn thành mục tiêu đặt ra, có những đóng góp về mặt lý luận cũng
như thực tiễn như sau:
Thứ nhất: luận văn tập trung làm rõ khái niệm về tính thanh
khoản và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, theo đó khái niệm
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được hiểu là phạm trù kinh tế
phản ánh mối quan hệ giữa hiệu quả kinh doanh mà doanh nghiệp
thu được là cao nhất với chi phí nguồn lực bỏ ra nhỏ nhất để đạt
được kết quả kinh doanh mang lại hiệu quả đó, đã tính đến các rủi ro
liên quan trong tầm kiểm soát của doanh nghiệp;


23
Thứ hai: luận văn đã tìm hiểu, hệ thống các lý thuyết cơ bản về
tính thanh khoản và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, một số lý
thuyêt cơ bản cổ điển về tính thanh khoản như lý thuyết vay thương
mại, lý thuyết thanh khoản, lý thuyết trách nhiệm nhà quản trị;
Thứ ba: trên cơ sở các nghiên cứu thực nghiệm đã được thực
hiện trước đây về mối quan hệ của các nhân tố liên quan đến tính
thanh khoản và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đề tài đã đúc
rút lựa chọn và xây dựng mô hình hồi quy cho nghiên cứu này với
các biến được chọn có tính lý luận và thực tiễn cao.
Thứ tư: Phương pháp nghiên cứu định lượng được ứng dụng với
mô hình phân tích hồi quy tuyến tính bội đa biến. Biến phụ thuộc là
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua 2 chỉ tiêu tỷ suất
sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ
(ROE); biến độc lập của mô hình là tính thanh khoản của doanh
nghiệp thông qua 3 chỉ tiêu tỷ lệ nắm giữ tiền mặt (CASH), tỷ lệ
thanh toán hiện hành (CR), tỷ lệ khả năng dòng tiền thanh toán
(OCFR). Phương pháp hồi quy tuyến tính bội đa biến với 3 mô hình
ước lượng ban đầu theo giá trị phương sai bình phương nhỏ nhất
OLS, mô hình tác động cố định FEM và mô hình tác động ngẫu
nhiên REM. Mẫu nghiên cứu với 228 Công ty niêm yết tại Hose 5
năm liền kề từ 2013 đến 2017, dữ liệu dạng bảng có tổng cộng 1.140
quan sát. Sử dụng phần mềm Eviews để đánh giá dữ liệu nghiên cứu,
tiến hành phân tích, đo lường, kiểm định, khắc phục khuyết tật mô
hình, điều chỉnh mô hinh và tiến hành hồi quy tuyến tính bội đa biến
theo phương pháp ước lượng bình phương tổng quát khả thi FGLS.
Nghiên cứu đã hoàn thành với kết quả xác lập được:
Ở mức trung bình tỷ lệ nắm giữ tiền mặt CASH = 50,36%,
không có ý nghĩa thống kê đối với ROA và ROE; có mức độ giải


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×