Tải bản đầy đủ (.docx) (76 trang)

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM, HƯỚNG NGHIỆP TRONG NHÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.31 MB, 76 trang )

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH LÂM ĐỒNG
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM ĐÀ LẠT

TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM, HƯỚNG NGHIỆP
TRONG NHÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
(Theo tiếp cận năng lực trong chương trình giáo dục phổ thông mới)

Giảng viên:

Th.s Nguyễn Văn Thường

Đà Lạt, tháng 07 năm 2019


CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM, HƯỚNG NGHIỆP
TRONG NHÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
(Theo tiếp cận năng lực trong chương trình giáo dục phổ thông mới)
Thời gian: Ngày 08 – 09 tháng 07 năm 2019
Địa điểm: Trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt
Số 109 Yersin, phường 10, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

Thứ Hai – 08/07/2019
HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM, HƯỚNG NGHIỆP
07:30 – 08:00
08:00 – 08:30
08:30 – 09:30
09:30 – 09:45
09:45 – 11:30
11:30 – 13:30


13:30 – 14:45
14:45 – 15:00
15:00 – 16:30

Tiếp đón học viên
Khai giảng và giới thiệu nội dung chương trình bồi dưỡng
 Hệ thống giá trị cốt lõi trong hoạt động trải nghiệm và hướng
nghiệp
Giải lao
 Nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức họat động trải
nghiệm
Nghỉ trưa
 Giới thiệu một số hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp cho
học sinh THCS ở Lâm Đồng
Giải lao
 Giải pháp xây dựng, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ nhà
giáo đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình hoạt động trải
nghiệm và hướng nghiệp cho học sinh THCS

Thứ Ba – 09/07/2019
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP VÀ GIÁO DỤC
KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG TRƯỜNG THCS
08:00 – 09:30
09:30 – 09:45
09:45 – 11:30
11:30 – 13:30
13:30 – 14:45
14:45 – 15:00
15:00 – 16:30


 Nội dung giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh trong
trường THCS
Giải lao
 Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho HS trường THCS
 Hướng dẫn soạn bài giáo dục kỹ năng sống
Nghỉ trưa
 Thực hành tiết dạy kỹ năng sống cho HS trường THCS
Giải lao
 Giới thiệu một số chương trình giáo dục kỹ năng sống cho
HS trường THCS
 Bế mạc và chụp hình lưu niệm

2


LỜI MỞ ĐẦU

Xuất phát từ mục tiêu của đổi mới giáo dục theo Nghị quyết 29-NQ/TW
của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số
88/2014/QH13 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông và
Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27/ 3/ 2015 về
việc phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ
thông. Trên cơ sở đó, ngày 26/12/2018, Bộ GD&ĐT đã có Thông tư số
32/2018/TT-BGDĐT ban hành Chương trình giáo dục phổ thông.
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, hướng nghiệp xuất hiện như một nội
dung mới trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã dành được sự quan
tâm của hầu hết các nhà giáo dục trong nước. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
hướng nghiệp không gọi là môn học mà là hoạt động giáo dục bắt buộc. Một
chương trình giáo dục của bất kỳ quốc gia nào cũng bao gồm nội dung dạy học
(các môn học) và nội dung giáo dục (các hoạt động giáo dục). Hoạt động giáo

dục là hoạt động nhằm phát triển những phẩm chất nhân cách, kỹ năng sống hay
là năng lực tâm lý xã hội giúp học sinh có thể thích nghi, thích ứng với xã hội,
dễ dàng hòa nhập với xã hội, làm chủ bản thân, biết sống tích cực và hạnh
phúc... Đây là những mặt vô cùng quan trọng để tạo nên cuộc sống có ý nghĩa
của mỗi cá nhân.
Trong chương trình giáo dục phổ thông mới được Bộ Giáo dục và Đào tạo
ban hành, Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục được thực hiện bắt buộc
từ lớp 1 đến lớp 12. Chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo
hướng tiếp cận năng lực, nghĩa là cả hoạt động dạy học các môn học lẫn các
hoạt động giáo dục trong nhà trường đều phải tận dụng mọi cơ hội cho học sinh
trải nghiệm; trong đó, hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục thể
hiện sự đổi mới căn bản về “dạy người”; đồng thời với việc trải nghiệm trong
môn học nhằm đổi mới căn bản về “dạy chữ”. Hoạt động trải nghiệm, hướng
nghiệp là điểm nhấn của Chương trình mới, đòi hỏi phải được xây dựng sao cho
100% học sinh tham gia, được rèn luyện, và 100% học sinh được đánh giá trong
các hoạt động đó.
Trước đòi hỏi đó, nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên
của các trường sư phạm nói chung và Trường CĐSP Đà Lạt nói riêng, cung cấp
nguồn nhân lực cho ngành GDĐT đáp ứng yêu cầu xã hội, thích ứng với sự thay
đổi của chương trình GDPT mới trong đó có hoạt động trải nghiệp, hướng
nghiệp, đòi hỏi các cấp lãnh đạo quản lý và đội ngũ giảng viên trong nhà trường
phải quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu cơ sở lý luận, thực trạng và các vấn đề thực
3


tiễn về hoạt động trải nghiệm sáng tạo; đề xuất các biện pháp, cách thức tổ chức
hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh và cách thức đào tạo sinh viên sư
phạm theo chương trình giáo dục phổ thông mới đáp ứng mục tiêu đào tạo và
yêu cầu xã hội; đồng thời có biện pháp nâng cao nhận thức GV, CB và SV nhà
trường về chương trình môn học Hoạt động trải nghiệp, hướng nghiệp, phương

pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp thời đại cách mạng công
nghệ 4.0 phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông tổng thể hiện nay.
Với các hoạt động giáo dục trước đây ở trường THCS chúng ta thấy có
hoạt động ngoài giờ lên lớp. Thực tế cho thấy hiện nay đã có mốt số trường làm
khá tốt về nội dung giáo dục ngoài giờ lên lớp nhưng cũng còn rất nhiều trường
chưa quan tâm thoả đáng tới vấn đề này. Vì vậy, đó cũng là lý do vì sao trong
nhiều năm qua, chúng ta vẫn vẫn thấy các trường chú trọng nhiều cho “dạy chữ”
hơn mà chưa tập trung thích đáng cho “dạy người”. Hoạt động trải nghiệm sáng
tạo, hướng nghiệp trong chương trình tổng thể chính là hoạt động giáo dục
(nghĩa hẹp) phù hợp với thực tế và có thể đem lại hiệu quả cao trong công tác
giáo dục (nghĩa rộng) cho học sinh.
Chính từ vấn đề nêu trên chúng tôi đưa ra chuyên đề: “Tổ chức hoạt động
trải nghiệm, hướng nghiệp trong nhà trường THCS” nhằm đưa ra các phương
pháp giáo dục phát huy được năng lực và sở trường của học sinh đảm bảo yêu
cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới. Xây dựng một số nội dung hoạt
động trải nghiệm phù hợp với học sinh THCS ở Lâm Đồng.

4


NỘI DUNG
I.

Hệ thống giá trị cốt lõi trong hoạt động trải nghiệm và hướng
nghiệp cho học sinh THCS

1. Tổng quan về hoạt động trải nghiệm và hướng nghiệp

1.1.


Mô hình học trải nghiệm của David Kolb

“Học trải nghiệm” là cách học thông qua làm, với quan niệm học là quá
trình tạo ra tri thức mới dựa trên trải nghiệm thực tế, đánh giá, phân tích những
kinh nghiệm, kiến thức đã có. Học thuyết này gắn liền với David Kolb và các
nhà tâm lí học, giáo dục học như: John Dewey, Kurt Lewin, Jean Piaget, Lev
Vygotsky, William James, Carl Jung, Paulo Freire, Carl Rogers và Mary Parker
Follett.
Để cụ thể hóa việc triển khai áp dụng, David Kolb đã nghiên cứu và đề xuất
mô hình học tập trải nghiệm và mô tả quá trình học tập như là một “chu trình học
tập” (xem sơ đồ ). Đây là hình thức học tập gắn liền với các hoạt động có sự
chuẩn bị ban đầu và có sự phản hồi, đề cao kinh nghiệm của người học.

Sơ đồ: Mô hình học trải nghiệm (Kolb, 1984) [1]
Mô hình học tập trải nghiệm của David Kolb yêu cầu người học chủ động
trong học tập thông qua việc lên kế hoạch, hành động, phân tích và liên hệ ngược
trở lại các lí thuyết. Mô hình này được thực hiện hiệu quả nhất khi tổ chức cho
người học làm việc độc lập, kết hợp với làm việc hợp tác theo cặp/nhóm.
Mô hình học tập trải nghiệm của David Kolb gồm 04 giai đoạn sau:
5


Giai đoạn 1: Trải nghiệm cụ thể. Học tập thông qua các hoạt động, hành vi,
thao tác cụ thể, trực tiếp gắn với bối cảnh thực tế, người học tham gia vào trải
nghiệm mới, kinh nghiệm thu được từ quá trình trải nghiệm, hoạt động trong
hoàn cảnh cụ thể. Đây là giai đoạn phát sinh dữ liệu của chu trình học tập.
Giai đoạn 2: Quan sát phản ánh. Người học tư duy trở lại các hoạt động và
kiểm tra một cách có hệ thống những kinh nghiệm đã trải qua. Từ đó, cùng nhau
chia sẻ, phân tích, thảo luận để thống nhất quan điểm, cách nhìn nhận vấn đề.
Giai đoạn 3: Khái quát hóa kết quả trải nghiệm. Học tập thông qua việc

xây dựng các khái niệm, tổng hợp và phân tích những gì quan sát được, thông qua
thao tác tư duy của chủ thể để có sự nhận biết chính xác, bản chất vềđối tượng,
đồng thời khái quát hóa kết quả trải nghiệm để thu được kiến thức (lí thuyết) mới.
Trừu tượng hóa khái niệm. Học tập thông qua việc xây dựng các khái
niệm, tổng hợp và phân tích những gì quan sát được, tạo ra lí thuyết để giải
thích kết quả quan sát được hay khái niệm trừu tượng, là kết quả thu được từ sự
tiếp nhận những yếu tố vốn có của hiện thực, qua thao tác tư duy của chủ thể để
có sự nhận biết chính xác, bản chất về đối tượng
Giai đoạn 4: Thực hành chủ động. Ở giai đoạn này, quá trình học tập thông
qua những đề xuất, thử nghiệm các phương án giải quyết vấn đề. Người học sử
dụng lí thuyết để giải quyết vấn đề, ra quyết định.
1.2. Hoạt động trải nghiệm trong chương trình GDPT của một số nước trên

thế giới
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo được hầu hết các nước phát triển quan tâm,
nhất là các nước tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển
năng lực; chú ý giáo dục nhân văn, giáo dục sáng tạo, giáo dục phẩm chất và kĩ
năng sống....
Ở Singapore: Hội đồng nghệ thuật quốc gia có chương trình giáo dục nghệ
thuật, cung cấp, tài trợ cho nhà trường phổ thông toàn bộ chương trình của các
nhóm nghệ thuật, những kinh nghiệm sáng tạo nghệ thuật...
Ở Nhật: Nuôi dưỡng cho trẻ năng lực ứng phó với sự thay đổi của xã hội,
hình thành một cơ sở vững mạnh để khuyến khích trẻ sáng tạo.
6


Ở Hàn Quốc: Mục tiêu hoạt động trải nghiệm sáng tạo hướng đến con
người được giáo dục, có sức khỏe, độc lập và sáng tạo.
1.3. Hoạt động trải nghiệm trong chương trình GDPT mới của Việt Nam.


Hoạt động trải nghiệm là hoạt động tạo cơ hội cho học sinh huy động tổng
hợp kiến thức, kỹ năng của các môn học và lĩnh vực khác nhau để trải nghiệm
tực tiễn đời sống gia đình, nhà trường và xã hội; tham gia và tất cả các khâu của
quá trình hoạt động, từ thiết kế hoạt động đến chuẩn bị, thực hiện và đánh giá
kết quả hoạt động; trải nghiệm, bày tỏ quan điểm, ý tưởng sáng tạo, lựa chọn ý
tưởng hoạt động; thể hiện và tự khẳng định bản thân, đánh giá và tự đánh giá kết
quả hoạt động…dưới sự hướng dẫn tổ chức của nhà giáo dục, qua đó hình thành
và phát triển những phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi…
Trong chương trình GDPT hiện hành của Việt Nam, kế hoạch giáo dục bao
gồm nội dung các môn học và hoạt động giáo dục gồm:
- Hoạt động tập thể như: Sinh hoạt lớp, sinh hoạt trường, sinh hoạt Đội
Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, sinh hoạt Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ
Chí Minh).
- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp được tổ chức theo các chủ đề giáo
dục.
- Hoạt động giáo dục hướng nghiệp (cấp THCS và cấp THPT) giúp HS tìm
hiểu để định hướng tiếp tục học tập và định hướng nghề nghiệp.
- Hoạt động giáo dục nghề phổ thông (cấp THPT) giúp HS hiểu được một
số kiến thức cơ bản về công cụ, kĩ thuật, quy trình công nghệ, an toàn lao động,
vệ sinh môi trường đối với một số nghề phổ thông đã học; hình thành và phát
triển kĩ năng vận dụng những kiến thức vào thực tiễn; có một số kĩ năng sử dụng
công cụ, thực hành kĩ thuật theo quy trình công nghệ để làm ra sản phẩm đơn
giản.
2. Những vấn đề cốt lõi trong hoạt động trải nghiệm và hướng nghiệp
cho học sinh THCS trong chương trình GDPT mới

7


Hoạt động trải nghiệm (cấp tiểu học) và Hoạt động trải nghiệm, hướng

nghiệp (cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông) là hoạt động giáo
dục bắt buộc được thực hiện từ lớp 1 đến lớp 12.
Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là hoạt
động giáo dục do nhà giáo dục định hướng, thiết kế và hướng dẫn thực hiện,
tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận thực tế, thể nghiệm các cảm xúc tích cực, khai
thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của
các môn học để thực hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những
vấn đề của thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội phù hợp với lứa
tuổi; thông qua đó, chuyển hoá những kinh nghiệm đã trải qua thành tri thức
mới, hiểu biết mới, kĩ năng mới góp phần phát huy tiềm năng sáng tạo và khả
năng thích ứng với cuộc sống, môi trường và nghề nghiệp tương lai.
Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp góp
phần hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và các
năng lực đặc thù cho học sinh; nội dung hoạt động được xây dựng dựa trên
các mối quan hệ của cá nhân học sinh với bản thân, với xã hội, với tự nhiên và
với nghề nghiệp.
Nội dung Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, hướng
nghiệp được phân chia theo hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản và giai
đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp.
– Giai đoạn giáo dục cơ bản:

8


Ở cấp tiểu học, nội dung Hoạt động trải nghiệm tập trung vào các hoạt
động khám phá bản thân, hoạt động rèn luyện bản thân, hoạt động phát triển
quan hệ với bạn bè, thầy cô và người thân trong gia đình. Các hoạt động xã
hội và tìm hiểu một số nghề nghiệp gần gũi với học sinh cũng được tổ chức
thực hiện với nội dung, hình thức phù hợp với lứa tuổi.
Ở cấp trung học cơ sở, nội dung Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp

tập trung hơn vào các hoạt động xã hội, hoạt động hướng đến tự nhiên và
hoạt động hướng nghiệp; đồng thời hoạt động hướng vào bản thân vẫn
được tiếp tục triển khai để phát triển các phẩm chất và năng lực của học
sinh.
– Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp:
Ngoài các hoạt động hướng đến cá nhân, xã hội, tự nhiên, nội dung Hoạt
động trải nghiệm, hướng nghiệp ở cấp trung học phổ thông tập trung hơn vào
hoạt động giáo dục hướng nghiệp nhằm phát triển năng lực định hướng nghề
nghiệp. Thông qua các hoạt động hướng nghiệp, học sinh được đánh giá và tự
đánh giá về năng lực, sở trường, hứng thú liên quan đến nghề nghiệp, làm cơ sở
để tự chọn cho mình ngành nghề phù hợp và rèn luyện phẩm chất và năng lực để
thích ứng với nghề nghiệp tương lai.
Mục tiêu chung của hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp
Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp hình
thành, phát triển ở học sinh năng lực thích ứng với cuộc sống, năng lực thiết
kế và tổ chức hoạt động, năng lực định hướng nghề nghiệp; đồng thời góp
phần hình thành,
phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung quy định trong Chương
trình tổng thể.
Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp giúp
học sinh khám phá bản thân và thế giới xung quanh, phát triển đời sống tâm
hồn phong phú, biết rung cảm trước cái đẹp của thiên nhiên và tình người,
có quan niệm sống và ứng xử đúng đắn, đồng thời bồi dưỡng cho học sinh
tình yêu đối với quê hương, đất nước, ý thức về cội nguồn và bản sắc của
dân tộc để góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị tốt đẹp của con người Việt
Nam trong một thế giới hội nhập.
Mục tiêu cấp trung học cơ sở

9



Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp giúp học sinh củng cố thói quen
tích cực, nền nếp trong học tập và sinh hoạt, hành vi giao tiếp ứng xử có văn
hoá và tập trung hơn vào phát triển trách nhiệm cá nhân: trách nhiệm với
bản thân, trách nhiệm với gia đình, cộng đồng; hình thành các giá trị của cá
nhân theo chuẩn mực chung của xã hội; hình thành và phát triển năng lực
giải quyết vấn đề trong cuộc sống; biết tổ chức công việc một cách khoa
học; có hứng thú, hiểu biết về một số lĩnh vực nghề nghiệp, có ý thức rèn
luyện những phẩm chất cần thiết của người lao động và lập được kế hoạch
học tập, rèn luyện phù hợp với định hướng nghề nghiệp khi kết thúc giai
đoạn giáo dục cơ bản.
3. Một số khái niệm cơ bản về hoạt động trải nghiệm
Trải nghiệm sáng tạo
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Trải nghiệm là trải qua, kinh qua”. Quan niệm
này có phần đồng nhất với quan điểm triết học khi xem trải nghiệm chính là kết
qủa của sự tương tác giữa con người với thế giới khách quan. Sự tương tác này
bao gồm cả hình thức và kết quả của các hoạt động thực tiễn trong xã hội, bao
gồm cả kĩ thuật và kĩ năng, các nguyên tắc hoạt động và phát triển thế giới
khách quan.
Dưới góc nhìn sư phạm, trải nghiệm được hiểu chính là sự thực hành
trong quá trình đào tạo và giáo dục; là một trong những phương pháp đào tạo
nhằm giúp người học không những có được năng lực thực hiện mà còn có những
trải nghiệm về cảm xúc, ý chí và nhiều trạng thái tâm lí khác. Nói như vậy, học
qua trải nghiệm sẽ gắn liền với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân.
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Sáng tạo là tạo ra những giá trị mới về vật chất
hoặc tinh thần; Tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc
vào cái đã có”.Như vậy trải nghiệm sáng tạo chính là một hoạt động trong đó
con người thể hiện sự tương tác của chính bản thân với thực tiễn khách quan,
qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng
sáng tạo của cá nhân con người.

Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo là cách thức tổ chức hoạt động
giáo dục, trong đó dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, từng cá nhân
học sinh được trực tiếp tham gia vào các hoạt động thực tiễn khác nhau của đời
sống gia đình, nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt
động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất và phát huy tiềm năng
10


sáng tạo của học sinh. Hay nói một cách khác chính là giáo viên tạo cơ hội cho
học sinh trải nghiệm trong thực tiễn để tích lũy và chiêm nghiệm các kinh
nghiệm, từ đó có thể khái quát thành sự hiểu biết theo cách của riêng mình.
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục, tạo điều kiện cho
HS tự tổ chức, tham gia trực tiếp vào các hoạt động, từ đó lĩnh hội tri thức, hình
thành các năng lực và phẩm chất, nhà giáo dục (thầy cô, cha mẹ, ...) chỉ là người
hướng dẫn, hỗ trợ, tạo điều kiện cho các em hoạt động
Như vậy, có thể thấy rằng, hoạt động TNST hướng vào đối tượng HS, HS
đóng vai trò chủ động, tự chủ trong hoạt động trải nghiệm thông qua việc thực
hiện nội dung giáo dục, vận dụng hiểu biết của bản thân để tự giải quyết vấn đề
tìm ra tri thức mới, tích lũy kiến thức và dần chuyển hóa thành năng lực của bản
thân.
Quan niệm về hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường
Theo PGS.TS Đinh Thị Kim Thoa, Tổng chủ biên chương trình Hoạt
động trải nghiệm nhấn mạnh hoạt động trải nghiệm trong chương trình phổ
thông mới không phải là một môn học mà là hoạt động giáo dục được thực hiện
bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12.
“HĐTNST là các HĐGD thực tiễn được tiến hành song song với hoạt
động dạy học trong nhà trường phổ thông. HĐTNST là một bộ phận của quá
trình giáo dục, được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa ở trên lớp và có
mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động dạy học. Thông qua các hoạt động

thực hành, những việc làm cụ thể và các hành động của học sinh, HĐTNST là
các HĐGD có mục đích, có tổ chức được thực hiện trong hoặc ngoài nhà trường
nhằm phát triển, nâng cao các tố chất và tiềm năng của bản thân học sinh, nuôi
dưỡng ý thức sống tự lập, đồng thời quan tâm, chia sẻ tới những người xung
quanh.
Thông qua việc tham gia vào các HĐTNST, học sinh được phát huy vai
trò chủ thể, tính tích cực, chủ động, tự giác và sáng tạo của bản thân. Các em
được chủ động tham gia vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động: từ thiết kế
hoạt động đến chuẩn bị, thực hiện và đánh giá kết quả hoạt động phù hợp với
đặc điểm lứa tuổi và khả năng của bản thân. Các em được trải nghiệm, được bày
11


tỏ quan điểm, ý tưởng, được đánh giá và lựa chọn ý tưởng hoạt động, được thể
hiện, tự khẳng định bản thân, được tự đánh giá và đánh giá kết quả hoạt động
của bản thân, của nhóm mình và của bạn bè,…
Từ đó, hình thành và phát triển cho các em những giá trị sống và các năng
lực cần thiết. HĐTNST về cơ bản mang tính chất của hoạt động tập thể trên tinh
thần tự chủ, với sự nỗ lực giáo dục nhằm phát triển khả năng sáng tạo và cá tính
riêng của mỗi cá nhân trong tập thể. HĐTNST có nội dung rất đa dạng và mang
tính tích hợp, tổng hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực
học tập và giáo dục như: giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng
sống, giáo dục giá trị sống, giáo dục nghệ thuật, thẩm mĩ, giáo dục thể chất,
giáo dục lao động, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục môi trường, giáo dục
phòng chống ma túy, giáo dục phòng chống HIV/AIDS và tệ nạn xã hội. Nội
dung giáo dục của HĐTNST thiết thực và gần gũi với cuộc sống thực tế, đáp
ứng được nhu cầu hoạt động của học sinh, giúp các em vận dụng những hiểu
biết của mình vào trong thực tiễn cuộc sống một cách dễ dàng, thuận lợi.
HĐTNST có thể tổ chức theo các quy mô khác nhau như: theo nhóm, theo lớp,
theo khối lớp, theo trường hoặc liên trường”.

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông được tổ chức
dưới nhiều hình thức khác nhau như hoạt động câu lạc bộ, tổ chức trò chơi, diễn
đàn, sân khấu tương tác, tham quan dã ngoại, các hội thi, hoạt động giao lưu,
hoạt động nhân đạo, hoạt động tình nguyện, hoạt động cộng đồng, sinh hoạt tập
thể, lao động công ích, sân khấu hóa (kịch, thơ, hát, múa rối, tiểu phẩm, kịch
tham gia,...), thể dục thể thao, tổ chức các ngày hội,... Mỗi hình thức hoạt động
trên đều mang ý nghĩa giáo dục nhất định.
4.

Hoạt động giáo dục hướng nghiệp

Trong Chương trình GDPT mới, GDHN có vai trò quan trọng trong hình
thành năng lực định hướng nghề nghiệp cho học sinh và được tích hợp trong một
số môn học, hoạt động giáo dục:
Công nghệ
Giáo dục công nghệ phổ thông chuẩn bị cho học sinh học tập và làm việc
hiệu quả trong môi trường công nghệ ở gia đình, nhà trường và xã hội; hình
thành và phát triển các thành phần năng lực công nghệ: nhận thức, giao tiếp, sử
dụng, đánh giá công nghệ và thiết kế kỹ thuật; chuẩn bị cho học sinh tri thức, kĩ
12


năng nền tảng để lựa chọn ngành nghề thuộc các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ.
Giáo dục hướng nghiệp trong môn Công nghệ được triển khai chủ yếu ở các lớp
cuối cấp THCS và toàn bộ giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp.
- Cấp THCS: Ở lớp 7 và lớp 8, Chương trình môn Công nghệ giúp học
sinh tìm hiểu các ngành nghề liên quan tới các lĩnh vực nông - lâm nghiệp và
thủy sản, kỹ thuật cơ khí, kỹ thuật điện. Ở lớp 9, Chương trình môn Công nghệ
giúp học sinh tìm hiểu hệ thống nghề nghiệp, hệ thống giáo dục quốc dân, thị
trường lao động và phương pháp lựa chọn nghề nghiệp. Học sinh chọn học một

mô đun có tính nghề về công nghiệp, nông nghiệp hoặc dịch vụ; từ đó đánh giá
khả năng của bản thân đối với nghề nghiệp đó.
- Trong giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, môn Công nghệ trang
bị cho học sinh tri thức nền tảng và các năng lực cốt lõi phù hợp với sự lựa chọn
ngành nghề thuộc một trong hai định hướng công nghiệp hoặc nông nghiệp sau
khi tốt nghiệp THPT.
- Môn Tin học
Trong bối cảnh của cuộc cách mạng 4.0, có nhiều ngành nghề và việc làm
mới xuất hiện đòi hỏi kiến thức, kỹ năng tin học chuyên sâu. Môn Tin học có cơ
hội góp phần giúp học sinh định hướng nghề nghiệp tương lai hoặc ra đời khởi
nghiệp, lập nghiệp trong lĩnh vực tin học. Do vậy, Chương trình môn Tin học rất
coi trọng giáo dục hướng nghiệp.
Chương trình dành từ 6% đến 10% cho các chủ đề hướng nghiệp với tin
học. Đồng thời, tích hợp giáo dục hướng nghiệp thông qua việc giới thiệu cho
học sinh một số nghề nghiệp liên quan tới ứng dụng tin học, mạng máy tính và
Internet, một số chủ đề hiện đại của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và
hướng dẫn học sinh thực hiện các dự án học tập, tạo sản phẩm số.
- Môn Giáo dục công dân
Giáo dục hướng nghiệp cũng thể hiện rõ trong môn Giáo dục công dân,
Giáo dục kinh tế và pháp luật.
Ở cấp THCS, Chương trình môn Giáo dục công dân yêu cầu học sinh xác
định được hướng phát triển phù hợp của bản thân sau THCS với sự tư vấn của
thầy giáo, cô giáo và người thân. Nội dung giáo dục hướng nghiệp được tích hợp
vào các chủ đề: Xác định mục tiêu cá nhân, Sống có lý tưởng, Quyền và nghĩa
vụ lao động của công dân, Quyền tự do kinh doanh và nghĩa vụ đóng thuế.
Ở cấp THPT, Chương trình môn Giáo dục kinh tế và pháp luật yêu cầu
học sinh bước đầu biết tạo lập, xây dựng ý tưởng cho một hoạt động kinh doanh
nhỏ; lựa chọn được mô hình hoạt động kinh tế thích hợp trong tương lai đối với
bản thân; xác định được hướng phát triển phù hợp của bản thân sau THPT.
Chương trình hướng dẫn học sinh tìm hiểu những chủ đề và chuyên đề học tập

13


làm nền tảng cho định hướng nghề nghiệp như: Nền kinh tế và các chủ thể của
nền kinh tế, Thị trường và cơ chế thị trường, Sản xuất kinh doanh và các mô
hình sản xuất kinh doanh, Mô hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ
(lớp 10); Lạm phát, thất nghiệp, Thị trường lao động, Việc làm, Ý tưởng, cơ hội
kinh doanh và các năng lực cần thiết của người kinh doanh, Đạo đức kinh
doanh, Một số vấn đề về luật pháp lao động (lớp 11); Hội nhập kinh tế quốc tế,
Lập kế hoạch kinh doanh, Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, Một số quyền
và nghĩa vụ của công dân về kinh tế, Một số vấn đề về Luật Doanh nghiệp.
- Môn Nghệ thuật
Môn Nghệ thuật là một môn học ghép, gồm hai môn là Âm nhạc và Mỹ
thuật.
- Âm nhạc
Chương trình môn Âm nhạc góp phần định hướng nghề nghiệp cho những
học sinh có năng khiếu và nguyện vọng được làm việc trong các lĩnh vực liên
quan đến âm nhạc.
Từ lớp 1 đến lớp 9, bên cạnh việc hình thành và phát triển các năng lực
âm nhạc cơ bản, thông qua các hoạt động học tập âm nhạc đa dạng và phong
phú như hát, đọc nhạc, nghe nhạc, chơi nhạc cụ và thưởng thức âm nhạc, học
sinh còn được tạo điều kiện để nhận ra sở trường và phát huy năng khiếu âm
nhạc của bản thân và bước đầu có ý thức về nghề nghiệp.
Trong giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp. Chương trình môn Âm
nhạc giúp học sinh nâng cao năng lực âm nhạc và kĩ năng thực hành, mở rộng
hiểu biết về âm nhạc trong mối tương quan với các yếu tố lịch sử, văn hoá và xã
hội; giúp học sinh phát huy tiềm năng hoạt động âm nhạc, có định hướng nghề
nghiệp phù hợp với khả năng của bản thân...
Nội dung dạy học trọng tâm bao gồm những kiến thức và kĩ năng âm nhạc
mở rộng, nâng cao về hát, chơi nhạc cụ, nghe nhạc, đọc nhạc, lí thuyết âm nhạc,

thưởng thức âm nhạc (thời lượng học tập là 70 tiết/năm). Bên cạnh đó, những
học sinh có sở thích và năng khiếu âm nhạc có thể chọn các chuyên đề học tập
(35 tiết/năm học) về kĩ năng biểu diễn âm nhạc, phương pháp soạn đệm cơ bản,
sử dụng một số phần mềm âm nhạc để phát triển kĩ năng, kiến thức có thể chuẩn
bị cho những nghề nghiệp liên quan đến âm nhạc trong tương lai.
- Mỹ thuật
Trong môn Mỹ thuật, nội dung giáo dục hướng nghiệp được thực hiện qua
mạch Mỹ thuật ứng dụng. Ở cấp tiểu học, chương trình hướng dẫn học sinh tìm
hiểu và làm các sản phẩm thủ công, như đồ chơi, đồ dùng học tập, đồ dùng cá
nhân, đồ lưu niệm, đồ gia dụng, đồ trang trí nội thất bằng vật liệu sẵn có; thông
14


qua đó, giúp học sinh làm quen với các nghề thủ công phổ biến ở địa phương,
góp phần giáo dục hướng nghiệp.
Ở cấp THCS, chương trình lớp 8, lớp 9, mỗi lớp dành khoảng 10% tổng
thời lượng của chương trình cho nội dung giáo dục hướng nghiệp.
Ở cấp THPT, chương trình gồm nhiều nội dung lựa chọn gắn với các
ngành nghề liên quan đến mỹ thuật và có tính ứng dụng cao trong thực tiễn, như:
Thiết kế đồ họa, Thiết kế thời trang, Lý luận và lịch sử mĩ thuật, Hội họa, Đồ
họa; trong đó có một số ngành nghề có ưu thế tiếp cận với cuộc cách mạng công
nghiệp 4.0 như: Thiết kế công nghiệp, Thiết kế mỹ thuật đa phương tiện, Thiết
kế mỹ thuật sân khấu, điện ảnh…
- Hướng nghiệp trong hoạt động trải nghiệm
Hoạt động hướng nghiệp là một trong bốn mạch nội dung hoạt động chính
và được thực hiện trong cả hai giai đoạn giáo dục cơ bản và giáo dục định hướng
nghề nghiệp, giúp học sinh hiểu biết về nghề nghiệp và những phẩm chất liên
quan tới nghề nghiệp, có khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với sự tư vấn
của thầy cô và gia đình, biết lập và thực hiện kế hoạch học tập đáp ứng yêu cầu
của nghề nghiệp.

Nội dung hoạt động hướng nghiệp gồm:
+ Tìm hiểu nghề nghiệp (Ý nghĩa, đặc điểm và yêu cầu của nghề. Tìm
hiểu yêu cầu về an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp. Tìm hiểu thị trường lao động);
+ Hoạt động rèn luyện phẩm chất, năng lực phù hợp với định hướng nghề
nghiệp (Tự đánh giá sự phù hợp của bản thân với định hướng nghề nghiệp. Rèn
luyện phẩm chất và năng lực phù hợp với định hướng nghề nghiệp);
+ Hoạt động lựa chọn hướng nghề nghiệp và lập kế hoạch học tập theo định
hướng nghề nghiệp (Tìm hiểu hệ thống trường trung cấp, cao đẳng, đại học và
các cơ sở giáo dục nghề nghiệp khác của địa phương, Trung ương. Tham vấn ý
kiến của thầy cô, người thân và chuyên gia về định hướng nghề nghiệp. Lựa
chọn cơ sở đào tạo trong tương lai và lập kế hoạch học tập phù hợp với định
hướng nghề nghiệp).
5.

Đặc điểm của hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp

Hoạt động trải nghiệm tạo cơ hội cho học sinh: huy động tổng hợp kiến thức, kỹ
năng của các môn học và lĩnh vực giáo dục khác nhau để trải nghiệm thực tiễn đời sống
gia đình, nhà trường và xã hội; tham gia vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động, từ
thiết kế hoạt động đến chuẩn bị, thực hiện và đánh giá kết quả hoạt động; trải nghiệm,
bày tỏ quan điểm, ý tưởng sáng tạo, lựa chọn ý tưởng hoạt động; thể hiện và tự khẳng
định bản thân, đánh giá và tự đánh giá kết quả hoạt động của bản thân, của nhóm và của
15


các bạn... dưới sự hướng dẫn, tổ chức của nhà giáo dục, qua đó hình thành và phát triển
những phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi được áp dụng trong chương trình tổng thể.
Chương trình Hoạt động trải nghiệm mang tính linh hoạt, mềm dẻo. Các cơ sở
giáo dục có thể căn cứ vào bốn nội dung hoạt động chính là Hoạt động phát triển cá
nhân; Hoạt động lao động; Hoạt động xã hội và phục vụ cộng đồng; Hoạt động giáo dục

hướng nghiệp để thiết kế thành các chủ đề hoạt động phù hợp với nhu cầu, đặc điểm
tâm sinh lý của học sinh, điều kiện của nhà trường, của địa phương.
Hoạt động trải nghiệm được thực hiện dưới bốn loại hoạt động chủ yếu: Sinh
hoạt dưới cờ; Sinh hoạt lớp; Hoạt động giáo dục theo chủ đề và Hoạt động câu lạc bộ,
thông qua bốn nhóm hình thức tổ chức: Hình thức có tính khám phá; Hình thức có tính
thể nghiệm, tương tác; Hình thức có tính cống hiến; Hình thức có tính nghiên cứu, phân
hoá.
Hoạt động trải nghiệm có thể được tổ chức trong và ngoài lớp học, trong và ngoài
trường học theo quy mô cá nhân, nhóm, lớp học, khối lớp hoặc quy mô trường, Hoạt
động trải nghiệm huy động sự tham gia, phối hợp, liên kết của nhiều lực lượng giáo dục
trong và ngoài nhà trường như: Giáo viên chủ nhiệm lớp, Giáo viên bộ môn, Cán bộ
Đoàn, Tổng phụ trách Đội, Ban Giám hiệu nhà trường, cha mẹ học sinh, chính quyền địa
phương, các tổ chức, cá nhân và đoàn thể trong xã hội.
Chương trình Hoạt động trải nghiệm đảm bảo tính chỉnh thể, sự nhất quán và
phát triển liên tục qua các lớp, các cấp. Chương trình Hoạt động trải nghiệm được thiết
kế đồng tâm, xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 12 với các mạch nội dung thống nhất dựa trên
các mối quan hệ giữa cá nhân học sinh với bản thân, giữa học sinh với người khác và
cộng đồng, giữa học sinh với môi trường, giữa học sinh với nghề nghiệp.
Chương trình Hoạt động trải nghiệm ở phổ thông được triển khai qua 4 nhóm nội
dung; được phân chia theo hai giai đoạn:
- Giai đoạn giáo dục cơ bản: Hoạt động trải nghiệm thực hiện mục tiêu hình thành
các phẩm chất, thói quen, kĩ năng sống,... thông qua việc tham gia sinh hoạt tập thể, câu
lạc bộ, dự án học tập, hoạt động lao động, hoạt động xã hội và phục vụ cộng đồng,... Bằng
hoạt động trải nghiệm của bản thân, mỗi học sinh vừa tham gia vừa thiết kế và tổ chức các
hoạt động cho chính mình, qua đó tự khám phá, điều chỉnh bản thân, điều chỉnh cách tổ
chức hoạt động để sống và làm việc hiệu quả.
16


Ở giai đoạn này, mỗi học sinh bước đầu xác định được sở trường và hình

thành một số phẩm chất, năng lực của người lao động và người công dân có
trách nhiệm.
Đối với giáo dục tiểu học, nội dung chương trình Hoạt động trải nghiệm
tập trung nhiều hơn vào các hoạt động phát triển bản thân, kĩ năng sống, quan hệ
với bạn bè, thầy (cô) và người thân trong gia đình. Bên cạnh đó, các hoạt động
lao động, hoạt động xã hội và làm quen với một số nghề gần gũi cũng được tổ
chức thực hiện.
Đối với giáo dục trung học cơ sở, chương trình tập trung nhiều hơn vào
các hoạt động xã hội, hoạt động phục vụ cộng đồng và bắt đầu đẩy mạnh các
hoạt động hướng nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động phát triển cá nhân, hoạt động lao
động vẫn được tiếp tục triển khai để phát triển các phẩm chất và năng lực của
học sinh.
- Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp: Đối với giáo dục trung học
phổ thông, chương trình Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp tiếp tục phát triển
những phẩm chất và năng lực đã hình thành từ giai đoạn giáo dục cơ bản thông
qua hoạt động phát triển cá nhân, hoạt động lao động, hoạt động xã hội và phục
vụ cộng đồng và hoạt động giáo dục hướng nghiệp nhưng tập trung cao hơn vào
việc phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp. Thông qua các chủ đề sinh
hoạt tập thể, hoạt động lao động sản xuất, câu lạc bộ hướng nghiệp và các hoạt
động định hướng nghề nghiệp khác, học sinh được đánh giá và tự đánh giá về
năng lực, sở trường, hứng thú liên quan đến nghề nghiệp; có thể tự chọn cho
mình ngành nghề phù hợp; được rèn luyện phẩm chất và năng lực để thích ứng
với nghề nghiệp tương lai.
6. Phương thức thực hiện hoạt động trải nghiệm cho học sinh
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đưa ra một số phương thức phù hợp
trong giáo dục trải nghiệm cho học sinh THCS như sau:
Phương thức Khám phá: là cách tổ chức hoạt động tạo cơ hội cho học
sinh trải nghiệm thế giới tự nhiên, thực tế cuộc sống và công việc, giúp học sinh
khám phá những điều mới lạ, tìm hiểu, phát hiện vấn đề từ môi trường xung
quanh, bồi dưỡng những cảm xúc tích cực và tình yêu quê hương đất nước.

17


Nhóm phương thức tổ chức này bao gồm các hoạt động tham quan, cắm trại,
thực địa và các phương thức tương tự khác.
Phương thức Thể nghiệm, tương tác: là cách tổ chức hoạt động tạo cơ hội
cho học sinh giao lưu, tác nghiệp và thể nghiệm ý tưởng như diễn đàn, đóng
kịch, hội thảo, hội thi, trò chơi và các phương thức tương tự khác.
Hoạt động trải nghiệm được tổ chức trong và ngoài lớp học, trong và
ngoài trường học; theo quy mô nhóm, lớp học, khối lớp hoặc quy mô trường;
với bốn loại hình hoạt động chủ yếu là Sinh hoạt dưới cờ, Sinh hoạt lớp, Hoạt
động giáo dục theo chủ đề và Hoạt động câu lạc bộ; với sự tham gia, phối hợp,
liên kết của nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như: giáo viên
chủ nhiệm lớp, giáo viên môn học, cán bộ tư vấn tâm lí học đường, cán bộ Đoàn
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, cán bộ Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam,
cán bộ phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, cán bộ quản lí nhà
trường, cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương, các tổ chức, cá nhân trong xã
hội.
Tất cả các phương thức nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của học sinh; làm cho mỗi học sinh đều sẵn sàng tham gia trải nghiệm tích cực.
Tạo điều kiện cho học sinh trải nghiệm, sáng tạo thông qua các hoạt động
tìm tòi, vận dụng kiến thức và kinh nghiệm đã có vào đời sống; hình thành, phát
triển kĩ năng giải quyết vấn đề và ra quyết định dựa trên những tri thức và ý
tưởng mới thu được từ trải nghiệm.
Tạo cơ hội cho học sinh suy nghĩ, phân tích, khái quát hoá những trải
nghiệm để kiến tạo kinh nghiệm, kiến thức và kĩ năng mới.
Lựa chọn linh hoạt, sáng tạo các phương pháp giáo dục phù hợp: phương
pháp nêu gương; phương pháp giáo dục bằng tập thể; phương pháp thuyết phục;
phương pháp tranh luận; phương pháp luyện tập; phương pháp khích lệ, động
viên; phương pháp tạo sản phẩm và các phương pháp giáo dục khác.

Một số hình thức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Chương trình hoạt động trải nghiệm được thực hiện dưới 4 hình thức tổ
chức:
- Hình thức có tính khám phá (thực địa - thực tế, tham quan, cắm trại,
trò chơi...);
18


Hình thức có tính thể nghiệm, tương tác (diễn đàn, giao lưu, hội thảo,
sân khấu hoá...);
- Hình thức có tính cống hiến (thực hành lao động; hoạt động tình
nguyện, nhân đạo...);
- Hình thức có tính nghiên cứu (dự án và nghiên cứu khoa học, hoạt
động theo nhóm sở thích).
Các nhà trường, giáo viên (GV) cần chủ động lựa chọn các hình thức tổ
chức cụ thể từ cả 4 nhóm hình thức, miễn sao phù hợp với điều kiện của nhà
trường và địa phương khi tổ chức hoạt động trải nghiệm
-



Những hình thức tổ chức Hoạt động trải nghiệm trong nhà trường

HĐTN mà đỉnh cao là TNST được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau
như hoạt động câu lạc bộ, tổ chức trò chơi, diễn đàn, sân khấu tương tác, tham
quan dã ngoại, các hội thi, hoạt động giao lưu, hoạt động nhân đạo, hoạt động
tình nguyện, hoạt động cộng đồng, sinh hoạt tập thể, lao động công ích, sân
khấu hóa (kịch, thơ, hát, múa rối, tiểu phẩm, kịch tham gia,...), thể dục thể thao,
tổ chức các ngày hội,... Mỗi hình thức hoạt động trên đều mang ý nghĩa giáo dục
nhất định. Dưới đây là một số hình thức tổ chức của HĐTNST trong nhà trường

phổ thông.
- Hoạt động câu lạc bộ (CLB): CLB là hình thức sinh hoạt ngoại khóa
của những nhóm học sinh cùng sở thích, nhu cầu, năng khiếu,... dưới sự định
hướng của những nhà giáo dục nhằm tạo môi trường giao lưu thân thiện, tích
cực giữa các học sinh với nhau và giữa học sinh với thầy cô giáo, với những
người lớn khác. Hoạt động của CLB tạo cơ hội để HS được chia sẻ những kiến
thức, hiểu biết của mình về các lĩnh vực mà các em quan tâm, qua đó phát triển
các kĩ năng của HS. CLB là nơi để học sinh được thực hành các quyền trẻ em
của mình như quyền được học tập, quyền được vui chơi giải trí và tham gia các
hoạt động văn hóa, nghệ thuật; quyền được tự do biểu đạt; tìm kiếm, tiếp nhận
và phổ biến thông tin,... Thông qua hoạt động của các CLB, nhà giáo dục hiểu
và quan tâm hơn đến nhu cầu, nguyện vọng mục đích chính đáng của các em.
CLB hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, thống nhất, có lịch sinh hoạt định kì
và có thể được tổ chức với nhiều lĩnh vực khác nhau như: CLB học thuật; CLB
thể dục thể thao; CLB văn hóa nghệ thuật; CLB võ thuật; CLB hoạt động thực
tế; CLB trò chơi dân gian...
19


- Tổ chức trò chơi: Trò chơi là một loại hình hoạt động giải trí, thư giãn; là
món ăn tinh thần nhiều bổ ích và không thể thiếu được trong cuộc sống con
người nói chung, đối với học sinh nói riêng. Trò chơi là hình thức tổ chức các
hoạt động vui chơi với nội dung kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có
tác dụng giáo dục "chơi mà học, học mà chơi".
Tổ chức diễn đàn:
Diễn đàn là một hình thức tổ chức hoạt động được sử dụng để thúc đẩy sự
tham gia của học sinh thông qua việc các em trực tiếp, chủ động bày tỏ ý kiến
của mình với đông đảo bạn bè, nhà trường, thầy cô giáo, cha mẹ và những người
lớn khác có liên quan. Diễn đàn là một trong những hình thức tổ chức mang lại
hiệu quả giáo dục thiết thực. Thông qua diễn đàn, học sinh có cơ hội bày tỏ suy

nghĩ, ý kiến, quan niệm hay những câu hỏi, đề xuất của mình về một vấn đề nào
đó có liên quan đến nhu cầu, hứng thú, nguyện vọng của các em. Mục đích của
việc tổ chức diễn đàn là để tạo cơ hội, môi trường cho học sinh được bày tỏ ý
kiến về những vấn đề các em quan tâm, giúp các em khẳng định vai trò và tiếng
nói của mình, đưa ra những suy nghĩ và hành vi tích cực để khẳng định vai trò
và tiếng nói của mình, đưa ra những suy nghĩ và hành vi tích cực để khẳng định
mình.
- Sân khấu tương tác
Sân khấu tương tác (hay sân khấu diễn đàn) là một hình thức nghệ thuật
tương tác dựa trên hoạt động diễn kịch, trong đó vở kịch chỉ có phần mở đầu
đưa ra tình huống, phần còn lại được sáng tạo bởi những người tham gia. Phần
trình diễn chính là một cuộc chia sẻ, thảo luận giữa những người thực hiện và
khán giả, trong đó đề cao tính tương tác hay sự tham gia của khán giả. Mục đích
của hoạt động này là nhằm tăng cường nhận thức, thúc đẩy để HS đưa ra quan
điểm, suy nghĩ và cách xử lí tình huống thực tế gặp phải trong bất kì nội dung
nào của cuộc sống. Thông qua sân khấu tương tác, sự tham gia của học sinh
được tăng cường và thúc đẩy, tạo cơ hội cho học sinh rèn luyện những kĩ năng
như: kĩ năng phát hiện vấn đề, kĩ năng phân tích vấn đề, kĩ năng ra quyết định và
giải quyết vấn đề, khả năng sáng tạo khi giải quyết tình huống và khả năng ứng
phó với những thay đổi của cuộc sống,...
-

Tham quan, dã ngoại
Tham quan, dã ngoại là một hình thức tổ chức học tập thực tế hấp dẫn đối
với học sinh. Mục đích của tham quan, dã ngoại là để các em học sinh được đi
-

20



thăm, tìm hiểu và học hỏi kiến thức, tiếp xúc với các di tích lịch sử, văn hóa,
công trình, nhà máy... ở xa nơi các em đang sống, học tập, giúp các em có được
những kinh nghiệm thực tế, từ đó có thể áp dụng vào cuộc sống của chính các
em.
Nội dung tham quan, dã ngoại có tính giáo dục tổng hợp đối với học sinh
như: giáo dục lòng yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước, giáo dục truyền thống
cách mạng, truyền thống lịch sử, truyền thống của Đảng, của Đoàn, của Đội
Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh. Các lĩnh vực tham quan, dã ngoại có thể
được tổ chức ở nhà trường phổ thông là:
Hội thi / cuộc thi
Hội thi/cuộc thi là một trong những hình thức tổ chức hoạt động hấp dẫn,
lôi cuốn học sinh và đạt hiệu quả cao trong việc tập hợp, giáo dục, rèn luyện và
định hướng giá trị cho tuổi trẻ. Hội thi mang tính chất thi đua giữa các cá nhân,
nhóm hoặc tập thể luôn hoạt động tích cực để vươn lên đạt được mục tiêu mong
muốn thông qua việc tìm ra người/đội thắng cuộc. Chính vì vậy, tổ chức hội thi
cho học sinh là một yêu cầu quan trọng, cần thiết của nhà trường, của giáo viên
trong quá trình tổ chức HĐTNST.
-

Mục đích tổ chức hội thi/cuộc thi nhằm lôi cuốn học sinh tham gia một
cách chủ động, tích cực vào các hoạt động giáo dục của nhà trường; đáp ứng nhu
cầu về vui chơi giải trí cho học sinh; thu hút tài năng và sự sáng tạo của học
sinh; phát triển khả năng hoạt động tích cực và tương tác của học sinh, góp phần
bồi dưỡng cho các em động cơ học tập tích cực, kích thích hứng thú trong quá
trình nhận thức.
Tổ chức sự kiện.
Tổ chức sự kiện trong nhà trường phổ thông là một hoạt động tạo cơ hội
cho học sinh được thể hiện những ý tưởng, khả năng sáng tạo của mình, thể hiện
năng lực tổ chức hoạt động, thực hiện và kiểm tra giám sát hoạt động. Thông
qua hoạt động tổ chức sự kiện học sinh được rèn luyện tính tỉ mỉ, chi tiết, đầu óc

tổ chức, tính năng động, nhanh nhẹn, kiên nhẫn, có khả năng thiết lập mối quan
hệ tốt, có khả năng làm việc theo nhóm, có sức khỏe và niềm đam mê.
-

7.

Lập kế hoạch chi tiết cho hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp

21


Trong chương trình GDPT mới, kế hoạch giáo dục bao gồm các môn học,
chuyên đề học tập và HĐTN sáng tạo; HĐGD bao gồm hoạt động dạy học và
HĐTN. So sánh môn học và hoạt động trải nghiệm trong chương trình mới được
thể hiện trong bảng sau:
Đặc trưng

Môn học

Hoạt động trải nghiệm

Mục đích Hình thành và phát
chính
triển hệ thống tri thức
khoa học, năng lực nhận
thức và hành động của
học sinh.
Nội dung

Hình thành và phát triển những phẩm chất,

tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kỹ năng
sống và những năng lực chung cần có ở
con người trong xã hội hiện đại.

- Kiến thức khoa học; nội - Kiến thức thực tiễn gắn bó với đời sống,
dung gắn với các lĩnh địa phương, cộng đồng, đất nước, mang
vực chuyên môn.
tính tổng hợp nhiều lĩnh vực giáo dục,
nhiều môn học; dễ vận dụng vào thực tế.
- Được thiết kế thành các
phần, chương, bài, có - Được thiết kế thành các chủ điểm mang
mối liên hệ logic chặt tính mở, không yêu cầu mối liên hệ chặt
chẽ.
chẽ giữa các chủ điểm

Hình thức - Đa dạng, có quy trình
tổ chức
chặt chẽ, hạn chế về
không gian, thời gian,
quy mô và đối tượng
tham gia...

- Đa dạng, phong phú, mềm dẻo, linh hoạt,
mở về không gian, thời gian, quy mô, đối
tượng và số lượng...
- Học sinh có nhiều cơ hội trải nghiệm

- Có nhiều lực lượng tham gia chỉ đạo, tổ
- HS ít cơ hội trải
chức các hoạt động trải nghiệm với các

nghiệm.
mức độ khác nhau (giáo viên, phụ huynh,
- Người chỉ đạo, tổ chức nhà hoạt động xã hội, chính quyền, doanh
họat động học tập chủ nghiệp,...)
yểu là giáo viên.

22


Tương
tác,phương
pháp

- Chủ yếu là thầy - trò.

- Đa chiều

- Thầy chỉ đạo, hướng - Học sinh tự hoạt động, trải nghiệm là
dẫn, trò hoạt động là chính
chính

Kiểm tra, - Nhấn mạnh đến năng - Nhấn mạnh đến kinh nghiệm, năng lực
đánh giá
lực tư duy
thực hiện, tính trải nghiệm.
- Theo chuẩn chung

- Theo những yêu cầu riêng, mang tính cá
biệt hóa, phân hóa


- Thường đánh giá kết
quả đạt được bằng điểm - Thường đánh giá kết quả đạt được bằng
số
nhận xét

Ở Tiểu học và THCS thì nhấn mạnh cảm xúc và ý tưởng sáng tạo; ở
THPT phát triển công dân toàn cầu có suy nghĩ sáng tạo. HĐTN gồm 4 nhóm
hoạt động chính: Hoạt động tự chủ (thích ứng, tự chủ, tổ chức sự kiện, sáng tạo
độc lập...); hoạt động câu lạc bộ (hội thanh niên, văn hóa nghệ thuật, thể thao,
thực tập siêng năng...); hoạt động tình nguyện (chia sẻ quan tâm tới hàng xóm
láng giềng và những người xung quanh, bảo vệ môi trường); hoạt động định
hướng (tìm hiểu thông tin về hướng phát triển tương lai, tìm hiểu bản thân...).
Có thể lựa chọn và tổ chức thực hiện một cách linh động sao cho phù hợp
với đặc điểm của học sinh, cấp học, khối lớp, nhà trường và điều kiện xã hội của
địa phương. Cuối cùng là trong chương trình chỉ nên đề cập tới “chuẩn đầu ra”
cho từng cấp học, gợi ý một số nội dung, hình thức và phương pháp tổ chức, còn
nên giao quyền chủ động cho các nhà trường, các giáo viên xây dựng những hoạt
động cụ thể phù hợp...tức là tạo ra một làn sóng đổi mới “từ dưới lên”. Nội dung
cơ bản của chương trình hoạt động trải nghiệm xoay quanh các mối quan hệ
giữa cá nhân học sinh với bản thân; giữa học sinh với người khác, cộng đồng và
xã hội; giữa học sinh với môi trường; giữa học sinh với nghề nghiệp. Nội dung
này được triển khai qua 4 nhóm hoạt động cơ bản: Hoạt động phát triển cá nhân;
hoạt động lao động; hoạt động xã hội và phục vụ cộng đồng; hoạt động hướng
nghiệp..


Lập kế hoạch chi tiết cho hoạt động trải nghiệm
23



a. Giai đoạn chuẩn bị
+ Phương tiện, tài liệu: các video, tranh ảnh về các loại nghề nghiệp; các
phiếu bài tập sẽ tổ chức giao nhiệm vụ cho HS hoạt động nhóm như phiếu bài
tập “ai làm ra hạt gạo”; “chú tài xế tài ba”,… kèm các dụng cụ, trang phục đặc
trưng cho các nghề; các khối gỗ xếp hình mô phỏng nơi diễn ra nghành nghề
tương ứng,…
+ Địa điểm tổ chức, hoạt động: việc tổ chức có HS trải nghiệm tìm hiểu
thế giới nghề nghiệp có thể diễn ra tại lớp hoặc ngoài lớp.
b. Tiến hành hoạt động trải nghiệm
Các hoạt động chính được xây dựng để tổ chức cho HS trải nghiệm tìm
hiểu thế giới nghề nghiệp như sau:
+ Hoạt động 1: GV giới thiệu chủ đề buổi sinh hoạt. Để tạo hứng thú cho
HS, GV có thể cho HS xem video, trò chơi ô chữ, thi hát,… để HS có hiểu biết
ban đầu về một số nghề nghiệp quen thuộc. Sau đó, GV khái quát và dẫn dắt vào
nội dung tìm hiểu của buổi sinh hoạt.
+ Hoạt động 2: Để HS biết rõ hơn, có những trải nghiệm tương đối về
từng nghề nghiệp trong xã hội bao gồm môi trường làm việc, các công việc
chính cũng như dụng cụ, vật dụng tương ứng với mỗi nghề nghiệp, GV cho HS
xem tranh, video về mỗi nghề, ví dụ như tranh về bác nông dân làm đất, gieo và
chăm sóc lúa, gặt lúa,…; phát phiếu học tập và hướng dẫn HS hoàn thành phiếu
học tập theo nhóm/ cá nhân; tổ chức trò chơi thi đua cho HS tìm ra những bài
hát, câu thơ, ca dao liên quan đến nghề nghiệp, kể về sở thích của bản thân đối
với một nghề nghiệp nào đó; tổ chức phần thi đóng kịch theo tổ/ nhóm, hóa
trang mô tả công việc của mỗi nghề. Trong điều kiện cho phép, khuyến khích
việc tổ chức cho HS đi tham quan thực tế như đi đến doanh trại bộ đội hay các
em được tự tay trồng và chăm sóc rau xanh trong khu vườn thực nghiệm,…
Cụ thể, lập kế hoạch chi tiết cho buổi sinh hoạt thứ nhất trong tháng sinh
hoạt chủ đề “Khám phá thế giới nghề nghiệp quanh ta”, học sinh THCS trải
nghiệm với nghề nông
Đối tượng: Học sinh lớp 6

24


• Mục tiêu và đặt tên cho hoạt động

Kiến thức : HS biết tên một số công việc của bác nông dân (cày ruộng, cấy
lúa, bón phân, gặt lúa); biết tên một số dụng cụ của bác nông dân (cái cày, cái
cuốc, cái liềm, quang gánh); biết tên một số sản phẩm của nhà nông (gạo, ngô,
khoai, rau, củ, quả,… ).
Kỹ năng: Rèn luyện cho HS các kỹ năng quan sát, kỹ năng trình bày vấn đề,
kỹ năng hoạt động tập thể, kỹ năng hoạt động nhóm.
Thái độ: Trẻ hứng thú tham gia vào các hoạt động tổ chức tại lớp (trò chơi,
hát, đóng hoạt cảnh, ...). Đồng thời qua hoạt động trải nghiệm nghề nông, giáo
dục trẻ biết công ơn của cha mẹ, cô bác nông dân làm việc rất vất vả để làm ra
sản phẩm, biết quý trọng sản phẩm, sức lao động.
Dựa vào mục tiêu nêu trên, có thể đặt tên gọi cho hoạt động là: “Trò chuyện
về bác nông dân”.
• Lập kế hoạch chi tiết cho hoạt động
-

Giai đoạn chuẩn bị

+ Phương tiện, tài liệu: các video, tranh ảnh về nghề nông, người nông dân
và dụng cụ lao động (cái cày, cái cuốc, cái liềm, quang gánh); phiếu bài tập “Bác
nông dân là những người như thế nào?”; đĩa ghi âm bài hát: “Tía má em”, trang
phục bác nông dân (áo bà ba, quần ống rộng, khăn rằn), cái cuốc, cái cày mô
phỏng kèm phân vai HS diễn hoạt cảnh bài hát “Tía má em”;...
+ Địa điểm trải nghiệm: trong lớp (xem video, tranh ảnh, chơi trò chơi, làm
phiếu bài tập) và đi tham quan vườn rau nhà trường (nếu có).
Tiến hành hoạt động trải nghiệm: Có 5 hoạt động chính sau

+ Hoạt động 1: Khởi động, khơi gợi hứng thú cho HS

-

Với trang phục, dụng cụ và phần phân vai đóng kịch đã chuẩn bị trước,
cho HS hóa trang thành bác nông dân, diễn hoạt cảnh bài hát “Tía má em” và
GV dẫn dắt vào nội dung tìm hiểu của buổi sinh hoạt chủ đề “Trò chuyện về bác
nông dân”
+ Hoạt động 2: Tìm hiểu nghề nông, bác nông dân là những người như thế
nào?
25


×