Tải bản đầy đủ

Đọc hiểu văn bản “chữ người tử tù” (nguyễn tuân) theo định hướng phát triển năng lực ngữ văn cho học sinh THPT (2016)

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

HỨA THỊ HƯƠNG

DẠY HỌC ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN
“CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ” (NGUYỄN TUÂN)
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC NGỮ VĂN CHO HỌC SINH
THPT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

HÀ NỘI - 2016


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

HỨA THỊ HƯƠNG


DẠY HỌC ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN
“CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ” (NGUYỄN TUÂN)
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC NGỮ VĂN CHO HỌC SINH
THPT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học
ThS. TRẦN HẠNH PHƯƠNG

HÀ NỘI - 2016


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai và thực hiện đề tài “Đọc - hiểu văn bản “Chữ
người tử tù” (Nguyễn Tuân) theo định hướng phát triển năng lực Ngữ văn cho học
sinh THPT”, tác giả đã thường xuyên nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi
của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy cô trong tổ phương
pháp dạy học Ngữ văn và ThS. Trần Hạnh Phương - người hướng dẫn trực tiếp.
Tác giả khóa luận xin được bày tỏ sự biết ơn và gửi lời cảm ơn chân thành
đến các thầy cô giáo. Do năng lực nghiên cứu có hạn, khóa luận chắc chắn không
tránh khỏi những thiếu xót. Rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của thầy cô và
các bạn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 11 tháng 05 năm 2016
Tác giả khóa luận

Hứa Thị Hương


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp Đại học với đề tài “Đọc - hiểu văn
bản “Chữ người tử tù” (Nguyễn Tuân) theo định hướng phát triển năng lực Ngữ văn
cho học sinh THPT” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Tôi xin chịu trách
nhiệm về công trình nghiên cứu của mình.
Hà Nội, ngày 11 tháng 05 năm 2016
Tác giả khóa luận
Hứa Thị Hương



MỘT SỐ THUẬT NGỮ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
GV: Giáo viên
HS: Học sinh
THPT: Trung học phổ thông
SGK: Sách giáo khoa
CH: Câu hỏi
DKTL: Dự kiến trả lời
VQN: Viên quản ngục
HC: Huấn Cao
BH: Bài học
TD: Tác dụng
ND: Nội dung
NT: Nghệ thuật


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài............................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu........................................................................................ 2
3. Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu ............................................................... 4
4. Đối tượng nghiên cứu.................................................................................... 4
5. Phạm vi nghiên cứu....................................................................................... 5
6. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 5
7. Đóng góp của khóa luận................................................................................ 5
8. Bố cục của khóa luận .................................................................................... 5
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN .......................... 6
1.1. Cơ sở lí luận ............................................................................................... 6
1.1.1. Lý thuyết đọc - hiểu ................................................................................ 6
1.1.1.1. Khái niêm đọc - hiểu ............................................................................ 6
1.1.1.2. Chức năng của đọc - hiểu..................................................................... 7
1.1.2. Lý thuyết tiếp nhận.................................................................................. 7
1.1.2.1. Khái niệm ............................................................................................. 7
1.1.2.2. Bạn đọc với vấn đề tiếp nhận văn học ................................................. 8
1.1.3. Năng lực Ngữ văn ................................................................................... 9
1.1.3.1. Khái niệm ............................................................................................. 9
1.1.3.2. Cấu trúc ................................................................................................ 9
1.1.3.3. Những năng lực Ngữ văn ................................................................... 10
1.2. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 14
1.2.1. Dạy học Ngữ văn truyền thống ............................................................. 14
1.2.2. Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực Ngữ văn cho học
sinh THPT ....................................................................................................... 15
CHƯƠNG 2. PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGỮ VĂN CHO HỌC SINH
THPT QUA DẠY HỌC VĂN BẢN “CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ” - NGUYỄN
TUÂN.............................................................................................................. 17


2.1. Vị trí, vai trò của Nguyễn Tuân trong chương trình Ngữ văn THPT ...... 17
2.2. Các nguyên tắc dạy trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Ngữ văn cho học sinh THPT........................................................................... 17
2.2.1. Nguyên tắc dạy học Ngữ văn gắn với đời sống .................................... 17
2.2.2. Nguyên tắc tạo không khí tích cực trong giờ giảng.............................. 18
2.2.3. Nguyên tắc dạy học Ngữ văn phải phối hợp linh hoạt các phương pháp
......................................................................................................................... 18
2.2.4. Nguyên tắc dạy học Ngữ văn phải phát huy cao độ năng lực chủ thể của
học sinh ........................................................................................................... 18
2.2.5. Nguyên tắc dạy học Ngữ văn phải đảm bảo quan điểm tích hợp ......... 18
2.3. Phát triển năng lực Ngữ văn cho học sinh THPT qua dạy học văn bản
“Chữ người tử tù” - Nguyễn Tuân .................................................................. 19
2.3.1. Năng lực đọc - hiểu ............................................................................... 19
2.3.1.1. Phương pháp đọc................................................................................ 19
2.3.1.2. Phương pháp đàm thoại...................................................................... 21
2.3.1.3. Phương pháp thuyết trình:.................................................................. 22
2.3.2. Năng lực tiếp nhận ................................................................................ 23
2.3.2.1. Phương pháp dạy học nhóm............................................................... 23
2.3.2.3. Phương pháp dạy học theo sơ đồ tư duy............................................ 27
2.3.3. Năng lực cảm thụ thẩm mĩ .................................................................... 32
2.3.3.1. Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề .............................................. 32
2.3.4.1. Phương pháp đàm thoại...................................................................... 35
2.3.4.2. Kĩ thuật trình bày một phút ................................................................ 36
CHƯƠNG 3. GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM ................................................. 38
KẾT LUẬN .................................................................................................... 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
“Văn học là nhân học” (M.Gorki). Văn chương vừa là khoa học, vừa là nghệ
thuật. Văn chương không chỉ cung cấp cho con người những tri thức rộng lớn về
mọi mặt của đời sống xã hội cho con người với ý nghĩa “mở ra những chân trời
mới” mà nó còn góp phần tích cực hoàn thiện và phát triển nhân cách con người,
dạy cho con người sống phải hướng đến những cái Chân - Thiện - Mĩ.
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình
giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học - từ chỗ quan tâm
tới việc học sinh học được gì đến chỗ quan tâm tới việc học sinh học được cái gì
qua việc học. Để thực hiện được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc
chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học,
cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất.
Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn
diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực
tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
Trong những năm qua, việc dạy học Ngữ văn ở nhà trường phổ thông còn
thiếu sự sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực,
tự lực của học sinh… chưa nhiều. Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức, việc
rèn luyện kỹ năng chưa được quan tâm. Hoạt động kiểm tra, đánh giá chưa thực sự
khách quan, chính xác (chủ yếu tái hiện kiến thức), chú trọng đánh giá cuối kì chưa
chú trọng đánh giá quá trình. Tất cả những điều đó dẫn tới học sinh học thụ động,
lúng túng khi giải quyết các tình huống trong thực tế.
Trước bối cảnh đó cũng như để chuẩn bị cho quá trình đổi mới chương trình
- SGK sau năm 2015, việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát
triển năng lực của người học là cần thiết để thúc đẩy quá trình học tập của học sinh
cũng như có những tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động dạy
học và giáo dục.

1


Nguyễn Tuân là một trong những tác gia lớn của nền văn học Việt
Nam là một trong 9 tác gia được chọn để dạy trong chương trình phổ thông. Ông là
nhà văn có vị trí vững chắc trong lịch sử văn học dân tộc, người đã tìm được cho
mình được tiếng nói riêng nhờ phong cách văn học đặc sắc. Phong cách này được
thể hiện rõ trong "Chữ người tử tù" - một truyện ngắn "gần đạt tới sự toàn mĩ" (Vũ
Ngọc Phan). Tác phẩm ca ngợi Huấn Cao - một nhà Nho chân chính - giàu khí
phách chọc trời khuấy nước, có tài viết chữ, qua đó khẳng định một quan niệm
sống: Phải biết yêu quý cái đẹp, đồng thời phải biết coi trọng thiên lương. Viết về
đề tài phải biết yêu quý trân trọng cái đẹp cũng đã có nhiều tác giả đề cập đến
nhưng làm thế nào để người học có thể tiếp nhận tác phẩm một cách chủ động nhất,
sáng tạo nhất và đạt hiệu quả cao nhất. Đó chính là vấn đề mà các nhà giáo dục luôn
băn khoăn dù có rất nhiều phương pháp, phương tiện, biện pháp, nhưng không phải
phương pháp, biện pháp nào cũng đạt được kết quả như mong muốn. Vì những lí
do trên, tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài: Dạy học theo định hướng phát triển
năng lực” làm đối tượng nghiên cứu.
2. Lịch sử nghiên cứu
Hiện nay, ở Việt Nam vấn đề đọc hiểu đang đứng trước nhu cầu cần được
xây dựng thành một hệ thống lí thuyết văn bản theo hướng đổi mới. Ở bậc THCS,
điều này mới chỉ được định hướng một cách khái quát bằng hệ thống các câu hỏi
đọc hiểu trong SGK Ngữ văn. Đến bậc THPT các nhà biên soạn SGK đã cung cấp
tri thức về phương pháp đọc - hiểu cụ thể hơn bằng các bước đọc hiểu một văn bản.
Có thể kể một số công trình tiêu biểu sau:
- V.A Nhicônxki trong “Phương pháp giảng dạy văn học ở trường phổ
thông” đã chú ý đến hoạt động đọc, vị trí của người HS trong trường phổ thông, đặc
biệt tác giả chú ý đến đọc diễn cảm.
- GS.TS Nguyễn Thanh Hùng (Đại học Sư phạm Hà Nội) trong bài viết
“Đọc - hiểu văn chương” trên Tạp chí giáo dục số 92, tháng 7 - 2004 cũng đưa ra
những kiến giải về khái niệm đọc hiểu. Theo ông đọc - hiểu văn chương là đọc cái
chủ quan của người viết bằng cách đồng hóa tâm hồn, tình cảm, suy nghĩ của mình

2


trong trang sách”, nghĩa là một quá trình đồng sáng tạo. Tác giả bài viết cũng chia
“đọc” làm 3 dạng: Đọc kĩ, đọc sâu, đọc diễn cảm.
- GS. Phan Trọng Luận trong cuốn “Phương pháp dạy học văn” đã xem đọc
diễn cảm là một trong 3 phương pháp thường dùng trong quá trình thâm nhập tác
phẩm. Trong chuyên luận “Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học”, tác giả đã phân
tích rõ tầm quan trọng của hoạt động đọc.
- GS.TS Trần Đình Sử trong bài viết “Dạy học văn là dạy học sinh đọc - hiểu
văn bản” đã bàn luận về vấn đề thế nào là đọc hiểu văn bản thông qua cắt nghĩa đọc
là gì và hiểu là gì. Ông cho rằng đọc - hiểu văn bản có hai bước: Hiểu thông báo và
hiểu ý nghĩa.
- Nguyễn Trọng Hoàn (2010), “Tài liệu huấn luyện giáo viên thực hiện dạy
học và kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng chương trình Giáo dục phổ
thông môn Ngữ văn”, NXB Giáo dục, cũng đã nhấn mạnh đến việc đổi mới giảng
dạy, kiểm tra, đánh giá lấy học sinh làm trung tâm của hoạt động học và giáo viên
chỉ là người hướng dẫn các em học sinh khám phá, tìm tòi phát huy hết khả năng,
năng lực của mình để giải quyết các vấn đề mà các em gặp phải trong thực tiễn.
Theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và
học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng
kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi
nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để
người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ
học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động
xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
và truyền thông trong dạy và học”. Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản,
toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản
chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người
học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này.
Qua khảo sát, có thể thấy nghiên cứu về dạy học đọc hiểu tác phẩm “Chữ
người tử tù” cũng có một số công trình:

3


- Đọc - hiểu truyện ngắn “Chữ người tử tù” (Nguyễn Tuân) ở trường phổ
thông theo đặc trưng thể loại (Khóa luận tốt nghiệp, Nguyễn Hải Hà, Đại học Sư
phạm Hà Nội)
- Rèn luyện kỹ năng đọc hiểu tác phẩm “Chữ người tử tù” - Nguyễn Tuân
cho học sinh lớp 11 (Luận văn Thạc sĩ, Trần Thị Hồng Bắc, Đại học Giáo dục).
Nhìn chung, các công trình đã đi vào nhiều phương diện, khía cạnh của đọc hiểu. Trên cơ sở kế thừa những thành tựu lí thuyết đã có vận dụng vào một tác giả
cụ thể - Tác giả Nguyễn Tuân, một tác giả có vị trí đặc biệt trong nền văn học Việt
Nam, người viết hi vọng có thể tìm ra hướng tiếp cận tích cực, góp một phần nhỏ
vào việc hình thành các thao tác, các bước đọc - hiểu trong giảng dạy văn chương
nói chung và cụ thể trong truyện ngắn “Chữ người tử tù”.
3. Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu
3.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu các vấn đề lí luận liên quan đến đề tài. Nghiên cứu các công trình
đề cập đến vấn đề dạy học đọc hiểu theo định hướng phát triển năng lực của học
sinh. Vận dụng dạy học đọc hiểu theo định hướng phát triển năng lực của học sinh
vào tác phẩm “Chữ người tử tù”.
3.2. Mục đích nghiên cứu
- Củng cố, nâng cao hiểu biết về phương pháp dạy học Ngữ văn theo hướng
đổi mới. Trên cơ sở đó giúp học sinh tiếp thu tác phẩm “Chữ người tử tù” có hiệu
quả nhất.
- Qua việc đọc hiểu văn bản “Chữ người tử tù” giúp HS hình thành được một
số năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn và vận dụng các năng lực đó vào việc
đọc hiểu các tác phẩm khác trong SGK, các tác phẩm ngoài nhà trường và trong đời
sống thực tiễn.
4. Đối tượng nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu một số phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá theo
định hướng phát triển năng lực của học sinh. Để vận dụng vào việc dạy - học tác
phẩm “Chữ người tử tù” theo chương trình chuẩn. Từ đó đưa ra những cách tiếp

4


cận, giảng dạy có hiệu quả làm tiền đề áp dụng rộng rãi cho những tác phẩm truyện
tiếp theo trong chương trình học của học sinh.
5. Phạm vi nghiên cứu
Tập trung làm rõ một số phương pháp, biện pháp, kỹ thuật dạy học của môn
Ngữ văn theo định phát triển năng lực qua tổ chức dạy học đọc - hiểu văn bản “Chữ
người tử tù”
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp so sánh
7. Đóng góp của khóa luận
Giúp sinh viên sư phạm, giáo viên thuận lợi hơn trong việc thiết kế bài học
dạy học đọc - hiểu trong giảng dạy Ngữ văn ở trường THPT theo định hướng phát
triển năng lực của học sinh. Mặt khác, khóa luận cũng góp phần nâng cao chất
lượng đọc - hiểu các văn bản văn chương ở nhà trường THPT nói chung và đọc hiểu văn bản “Chữ người tử tù” nói riêng.
8. Bố cục của khóa luận
Khóa luận gồm có:
Mở đầu:
Nội dung:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Phát triển năng lực Ngữ văn cho học sinh THPT qua đọc hiểu văn
bản “Chữ người tử tù” - Nguyễn Tuân
Chương 3: Giáo án thực nghiệm
Kết luận

5


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Lý thuyết đọc - hiểu
1.1.1.1. Khái niêm đọc - hiểu
Theo “Từ điển tiếng Việt: “Đọc là tiếp nhận nội dung của tập hợp kí hiệu”
[12, 431]
Đọc là khâu đầu tiên, là tiền đề trong việc tiếp nhận tác phẩm văn học. Đọc
không chỉ để lĩnh hội thông tin, làm giàu hiểu biết, làm phong phú tâm hồn mà còn
góp phần hoàn thiện nhân cách con người. Đọc là hoạt động đặc trưng của con
người, một hoạt động mang tính văn hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống.Đồng
thời nó cũng phản ánh những năng lực, tầm văn hóa của người tiếp nhận. Đọc gắn
liền với hiểu vì mục đích cuối cùng của đọc là để hiểu.
Theo “Từ điển tiếng Việt”: “Hiểu là để nhận ra ý nghĩa, bản chất, lí lẽ của cái
gì bằng sự vận dụng trí tuệ” [12, 567]
Hiểu còn được xem là là một cấp độ kĩ năng trong tư duy bậc cao. Hiểu là
mức độ cần đạt tới của đọc, do đó đọc luôn gắn liền với hiểu và hiểu là một đối
tượng không chỉ dừng ở quan sát nắm bắt cái bề ngoài của đối tượng mà phải đi sâu
khám phá cái bên trong của nó.
Như vậy đọc - hiểu là hai phạm trù khác nhau nhưng chúng luôn có mối quan
hệ chặt chẽ.
Vậy đọc hiểu là gì?
Theo Nguyễn Thanh Hùng; “Đọc - hiểu là một hoạt động của con người. Nó
không chỉ là hình thức nhận biết nội dung tư tưởng từ văn bản ma còn là hoạt động
tâm lí giàu cảm xúc và có tính trực giác. Đọc - hiểu mang tính chất đối diện một
mình, đối diện với văn bản. Nó có cái hay là tập trung tích đọng và lắng kết năng
lực cá nhân. Đây là hoạt động thu nạp, tỏa sáng âm thầm với sức mạnh nội hóa kinh
nghiệm sống, kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm nghệ thuật và kinh nghiệm văn hóa
trong cấu trúc tinh thần cá thể” [8, 22]

6


Theo Nguyễn Thái Hòa trong “Vấn đề đọc - hiểu và dạy học đọc - hiểu”:
“Đọc - hiểu dù đơn giản hay phức tạp đều là hành vi ngôn ngữ, sử dụng một loại thủ
pháp và thao tác bằng cơ quan thị giác, thính giác để tiếp nhận, phân tích, giai mã
và ghi nhớ nội dung thông tin, cấu trúc văn bản” [3, 6]
Hiểu một cách ngắn gọn thì đọc - hiểu là một quá trình mà người đọc bằng
hoạt động học thực hiện mục đích của việc đọc.
Trong dạy học Ngữ văn hiện nay, đọc - hiểu được coi là phương pháp dạy
học đặc thù. Tuy nhiên để hoạt động này diễn ra đúng nghĩa của nó trong quá trình
dạy học, giáo viên phải là người tổ chức cho học sinh khám phá được nội dung tư
tưởng nghệ thuật của tác phẩm để có thể vận dụng vào việc phân tích tác phẩm và
tự rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm quý báu.
1.1.1.2. Chức năng của đọc - hiểu
Trong thời đại bùng nổ công nghệ như hiện nay, con người có rất nhiều cách
để tiếp cận tác phẩm văn học. Trong đó đọc - hiểu là con đường hữu hiệu giúp bạn
đọc chiếm lĩnh tác phẩm bởi văn chương là loại hình nghệ ngôn từ nên chỉ có đọc
mới có thể giúp bạn đọc chiếm lĩnh những giá trị và ý nghĩa của tác phẩm.
Người đọc bằng những hiểu biết của cá nhân sẽ chuyển hóa các kí hiệu ngôn
ngữ trong văn bản thành những thông tin thẩm mĩ. Tùy theo các cấp độ đọc khác
nhau mà mỗi người thu về cho mình những lượng thông tin không giống nhau.
Thông qua việc đọc - hiểu tác phẩm văn chương, người đọc sẽ tự rút ra cho bản thân
những bài học kinh nghiệm quý báu về cuộc đời, con người.
Đọc - hiểu giúp cho quá trình khám phá nội dung tư tưởng nghệ thuật của tác
phẩm trở nên dễ dàng. Từ đó, có thể vận dụng phương pháp dạy học đọc - hiểu vào
việc đọc và tạo lập văn bản tương đương.
Đọc - hiểu không chỉ là hoạt động thông thường mà đã trở thành hoạt động
văn hóa thể hiện tầm đón nhận của mỗi bạn đọc. Đọc - hiểu trở thành một phương
pháp, một con đường đặc trưng để tiếp nhận tác phẩm văn học.
1.1.2. Lý thuyết tiếp nhận
1.1.2.1. Khái niệm
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” tiếp nhận văn học là: “Hoạt động chiếm
lĩnh giá trị tư tưởng thẩm mĩ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự cảm thụ văn bản

7


ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài năng
tác giả cho đến tác phẩm sau khi đọc”. [2, 325]
Theo tác giả cuốn giáo trình “ Lí luận văn học” do Phương Lựu (chủ biên) thì
“tiếp nhận văn học là giai đoạn hoàn tất quá trình sáng tác” của văn học [10, 215].
Như vậy, các ý kiến, quan niệm có nội hàm tương đối khác nhau nhưng hầu
hết các khái niệm mà các tác giả đưa ra đều thể hiện rõ bản chất của quá trình tiếp
nhận văn học. Đó là quá trình người đọc thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác
phẩm để khám phá, phát hiện và chiếm lĩnh những giá trị tư tưởng thẩm mĩ mà nhà
văn muốn gửi gắm qua tác phẩm. Cũng có khi người đọc trở thành người sáng tạo
văn bản, đem lại cho văn bản một cách hiểu mới, một giá tri mới. Vì vậy, theo thời
gian lịch sử, tiếp nhận văn học có tác dụng to lớn trong thúc đẩy ảnh hưởng của văn
học biến một văn bản khô khan thành một thế giới sống động, phong phú.
1.1.2.2. Bạn đọc với vấn đề tiếp nhận văn học
Nghệ sĩ sáng tạo tác phẩm văn học là để truyền thụ những khái quát, cảm
nhận về những vấn đề phong phú của hiện thực đời sống. Không có người đọc thì
mọi tác phẩm chỉ là trang giấy bất động, hoàn toàn không có giá trị. Người đọc
chính là người thẩm định, quyết định sự tồn tại của tác phẩm. Người nghệ sĩ chỉ là
người sáng tạo ra tác phẩm.
Tiếp nhận văn học là một quá trình diễn ra trong tư duy, tình cảm, tâm lí,
sinh lí của bạn đọc và hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ , năng lực hiểu biết về văn
học nghệ thuật, vào nghề nghiệp của họ cũng như vào thời đại, xã hội mà họ đang
sống. Tuy nhiên ở mỗi thời điểm, cùng một bạn đọc lại có sự lĩnh hội khác nhau.
Khi đọc “Truyện Kiều” của Nguyễn Du vua Tự Đức đòi đánh cho tác giả 100 roi,
còn Chu Mạnh Trinh thì phê phán Kiều “Đoạn trường đáng kiếp tà dâm”; Nguyễn
Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh lại cho rằng “Truyện Kiều” là: “Quốc hồn, Quốc túy:
Truyện Kiều còn nước nam còn”…Như vậy, ý nghĩa khách quan của tác phẩm hoàn
toàn được tiếp nhận khác nhau ở mỗi bạn đọc. Tác động thẩm mĩ của tác phẩm càng
lớn thì độc giả tiếp thu càng đa dạng, tạo nên tính dị biệt trong tiếp nhận.
Mặt khác, trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học, bên cạnh tính khách
quan cần đảm bảo thì người đọc cũng gặp phải muôn vàn khó khăn, thử thách do

8


“sự chuyên chế về khoảng cách” (cách dùng của GS. ĐăngThành Lê). Đó là khoảng
cách về không gian, thời gian lịch sử, khoảng cách về tâm lí, ngôn ngữ, văn hoá…
Vì vậy, khi tiếp nhận một tác phẩm văn học đòi hỏi người đọc phải luôn vận động
để rút ngắn khoảng cách, tiến tới tiếp nhận tác phẩm văn học một cách đúng hướng
và toàn diện nhất. Nhưng khoảng cách này có thể khắc phục băng nhiều biện pháp.
1.1.3. Năng lực Ngữ văn
1.1.3.1. Khái niệm
- Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên): Năng lực là:“ Khả năng, điều
kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Phẩm chất
tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó
với chất lượng cao”.
- Theo tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định
hướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành năm
2014: “Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức
kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng
hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định. Năng lực
thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiến
thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực
hiện một loại công việc nào đó. Năng lực bao gồm các yếu tố cơ bản mà mọi người
lao động, mọi công dân đều cần phải có, đó là các năng lực chung, cốt lõi”.
Có nhiều cách hiểu về năng lực Ngữ văn. Căn cứ vào mục tiêu, tính chất và
nội dung chương trình môn học này từ trước đến nay; từ cách hiểu chung về năng
lực, có thể nói năng lực Ngữ văn là khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ năng cơ
bản về văn học và tiếng Việt để thực hành giao tiếp trong cuộc sống. Năng lực Ngữ
văn gồm 2 năng lực bộ phận là: Năng lực tiếp nhận văn bản (đọc, nghe, quan sát... )
và Năng lực tạo lập văn bản (viết, nói, trình bày... ).
1.1.3.2. Cấu trúc
Cấu trúc năng lực mà mỗi học sinh cần có được sau khi đọc - hiểu một tác
phẩm văn học đó là kiến thức, kỹ năng và thái độ.
- Kiến thức: Những hiểu biết, những tri thức mà học sinh có được thông qua
quá trình học tập, nghiên cứu.

9


- Kĩ năng: Kỹ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuần
thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh
nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi. Kỹ năng được hình thành khi chúng ta áp
dụng kiến thức vào thực tiễn. Kỹ năng học được do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc
một nhóm hành động nhất định nào đó. Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ
ràng. Những kĩ năng của học sinh được hình thành thông qua việc thực hiện các
hoạt động học và thực hành trong đời sống thực tiễn.
- Thái độ: Trong học tập, thái độ chính là những nhận thức, giá trị sống và
định hướng hành vi của học sinh sau khi học một nội dung nào đó.
1.1.3.3. Những năng lực Ngữ văn
* Năng lực đọc hiểu
Đọc hiểu là một trong những năng lực tối thiểu cần thiết cần cho một học
sinh chuẩn bị bước vào cuộc sống trưởng thành và cũng là những giá trị nền tảng
không thể thiếu trong quá trình học tập suốt đời. Vì thế, đọc và dạy học đọc là một
trọng tâm quan trọng trong chương trình dạy tiếng của các quốc gia nói chung và
việc dạy Tiếng Việt - Văn học Việt Nam nói riêng. Yêu cầu về đọc của chương
trình Ngữ văn Việt Nam có sự thay đổi qua từng giai đoạn không chỉ dừng lại ở yêu
cầu “đọc để thu thập và truyền đạt thông tin”. Việc tiếp cận và phát triển năng lực
cho người học trong đó có năng lực đọc hiểu đáp ứng yêu cầu giải quyết những
nhiệm vụ, tình huống phức tạp và đa dạng của cuộc sống thực là xu thế tất yếu của
giáo dục thời đại.
Môn Ngữ văn giúp học sinh hình thành và phát triển hai năng lực: Năng lực
tiếp nhận văn bản (đọc, nghe, quan sát…), năng lập tạo lập văn bản (viết, nói, trình
bày…) . Năng lực đọc hiểu thuộc năng lực tiếp nhận nó bao gồm việc tiếp nhận, lí
giải, khôi phục nội dung đã được truyền đi, giải mã đúng và chính xác nội dung
thông tin đã được tạo lập. Chúng ta đã biết, từ văn bản đến người tiếp nhận có một
khoảng cách lớn bởi không phải lúc nào cũng có thể giải mã hết được tất cả lượng
thông tin trong văn bản được tạo lập, lí giải được nguyên nhân lựa chon nội dung,
hình thức văn bản cũng như tình cảm của người tạo lập văn bản. Năng lực đọc hiểu
được xem như là năng lực nền tảng của việc tiếp cận tác phẩm văn chương.

10


Dạy học đọc - hiểu là một trong những nội dung cơ bản của đổi mới phương
pháp dạy học Ngữ văn trong việc tiếp nhận văn bản. Vậy thế nào là dạy học đọc
hiểu? Dạy học đọc - hiểu không nhằm truyền thụ một chiều cho học sinh những
cảm nhận của giáo viên về văn bản được học, mà hướng đến việc cung cấp cho học
sinh cách đọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề về nội dung và nghệ thuật của
văn bản, từ đó hình thành cho học sinh năng lực tự đọc một cách tích cực, chủ động
có sắc thái cá nhân. Hoạt động đọc - hiểu cần được thực hiện theo một trình tự từ dễ
đến khó, từ thấp đến cao, trải qua các giai đoạn từ đọc đúng, đọc thông đến đọc
hiểu, từ đọc tái hiện sang đọc sáng tạo. Khi hình thành năng lực đọc - hiểu của học
sinh cũng chính là hình thành năng lực cảm thụ thẩm mỹ, khơi gợi liên tưởng, tưởng
tượng và tư duy. Năng lực đọc - hiểu còn là sự tích hợp kiến thức kỹ năng của các
phân môn cũng như kinh nghiệm sống của học sinh.
* Năng lực tiếp nhận
Năng lực tiếp nhận văn bản là khả năng lĩnh hội, nắm bắt được các thông
tin chủ yếu; từ đó hiểu đúng, hiểu thấu đáo, thấy cái hay, cái đẹp của văn bản, nhất
là văn bản văn học. Muốn có năng lực tiếp nhận phải biết cách tiếp nhận.
Tức là dựa vào những yếu tố, cơ sở nào (từ, ngữ, câu, đoạn, hình ảnh, biểu
tượng, số liệu, sự kiện, tiêu đề, dấu câu…) để có thể có được các thông tin và cách
hiểu ấy.
Đánh giá năng lực tiếp nhận thường dựa vào kết quả của 2 kĩ năng chính là
nghe và đọc. Nghe và phản hồi các thông tin nghe được một cách nhanh chóng,
chính xác, không rơi vào tình trạng “ông nói gà, bà nói vịt”.
Việc các nước phát triển trong nhiều kỳ thi phải tổ chức thi nói chính là để
kiếm tra năng lực nghe/nói, năng lực trình bày miệng. Do tính chất và yêu cầu tổ
chức phức tạp hơn nên hình thức thi nói ít được vận dụng. Việc đánh giá năng lực
tiếp nhận chủ yếu dồn vào kĩ năng đọc hiểu văn bản.
Văn bản ở đây cần hiểu theo nghĩa rộng. Đó không chỉ là các tác phẩm thơ
văn nghệ thuật mà còn là các loại văn bản không phải là văn chương, như văn bản
viết về lịch sử, địa lý, toán học, sinh học… khoa học thường thức hoặc một thông

11


báo nơi công cộng, một bản thuyết minh công dụng và cấu tạo của máy móc, một
đơn xin việc…
Nhiều nước gọi đó là văn bản thông tin - một loại văn bản rất gần gũi với
mọi người và thường xuyên gặp trong cuộc sống. Về phương diện cấu trúc, bố cục
cũng không chỉ kiểm tra mình loại văn bản viết liền mạch trên trang giấy mà còn rất
nhiều loại văn bản kết hợp giữa kênh chữ và kênh hình (biểu đồ, đồ thị, minh họa,
công thức, tranh ảnh, hình khối, bản đồ…), người ta gọi là văn bản không liền mạch
(Non-Continuous Texts). Tất cả đều là những văn bản cần đọc hiểu và phải dạy cho
học sinh cách đọc hiểu mỗi loại văn bản.
Tóm lại, bên cạnh việc yêu cầu học sinh đọc hiểu một đoạn văn, bài thơ; nhà
trường cần dạy và yêu cầu các em biết đọc hiểu các loại văn bản thông tin, trong đó
có rất nhiều văn bản kết hợp kênh chữ và kênh hình, học sinh phải biết đọc hình kết
hợp với đọc chữ để nắm được thông tin và hiểu đúng ý nghĩa của văn bản.
* Năng lực cảm thụ thẩm mĩ
Năng lưc cam thụ thâm mi thê

hiên kha năng cua môi ca nhân trong viêc

nhân ra đươc cac gia tri thâm mi cua sư vât , hiên tương, con ngươi va cuôc sông ,
thông qua nhưng cam nhân , rung đông trươc cai đep va cai thiên , tư đo biêt hương
nhưng suy nghi , hành vi của mình theo cái đẹp , cái thiện . Như vậy, năng lực
cảm thụ (hay năng lực trí tuệ xúc cảm) thường dùng với hàm nghĩa nói về các chỉ số
cảm xúc của mỗi cá nhân. Chỉ số này mô tả khả năng tự nhận thức để xác định,
đánh giá và điều tiết cảm xúc của chính mỗi người, của người khác, của các nhóm
cảm xúc.
Năng lưc cam thu thâm mi la năng lưc đăc thu cua môn hoc Ngư vă,ngăn vơi
tư duy hinh tương trong viêc tiêp nhân văn ban văn hoc. Quá trình tiếp xúc với tác
phẩm văn chương là quá trình người đọc bước vào thế giới hình tượng của tác phẩm
và thế giới tâm hồn của tác giả từ chính cánh cửa tâm hồn của mình. Năng lực cảm
xúc như trên đã nói được thể hiện ở nhiều khía cạnh; trong quá trình người học tiếp
nhận tác phẩm văn chương năng lực cảm xúc được thể hiện ở những phương diện
sau:
- Cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học, biết rung động trước những hình
ảnh, hình tượng được khơi gợi trong tác phẩm về thiên nhiên, con người, cuộc sống
qua ngôn ngữ nghệ thuật.
12


- Nhận ra được những giá trị thẩm mĩ được thể hiện trong tác phẩm văn học:
cái đẹp, cái xấu, cái hài, cái bi, cái cao cả, cái thấp hèn... từ đó cảm nhận được
những giá trị tư tưởng và cảm hứng nghệ thuật của nhà văn được thể hiện qua tác
phẩm.
- Cảm hiểu được những giá trị của bản thân qua việc cảm hiểu tác phẩm văn
học; hình thành và nâng cao nhận thức và xúc cảm thẩm mĩ của cá nhân; biết cảm
nhận và rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, cuộc sống; có những
hành vi đẹp đối với bản thân và các mối quan hệ xã hội; hình thành thế giới quan
thẩm mĩ cho bản thân qua việc tiếp nhận tác phẩm văn chương.
Từ việc tiếp xúc với các văn bản văn học, HS sẽ biết rung động trước cái
đẹp, biết sống và hành động vì cái đẹp, nhận ra cái xấu và phê phán những hình
tượng, biểu hiện không đẹp trong cuộc sống, biết đam mê và mơ ước cho cuộc sống
tốt đẹp hơn.
* Năng lực đánh giá
Năng lực đánh giá Ngữ văn là năng lực nhìn nhận phát hiện giá trị của tác
phẩm ở tầm khái quát, vĩ mô trong nhiều quan hệ giữa tác phẩm với tác giả, với
những tác phẩm khác của các tác giả khác, với đời sống xã hội phát sinh của tác
phẩm, với đời sống xã hội ngày nay. Năng lực đánh giá đòi hỏi học sinh phải có
những hiểu biết ngoài tác phẩm, phải đặt tác phẩm trong nhiều quan hệ so sánh đối
chiếu với thời đại với với các sáng tác và tác phẩm… để có thể đưa ra những nhận
định khách quan có giá trị về vai trò, về vị trí của tác phẩm trong lịch sử sáng tác
của nhà văn cũng như ở tiến trình lịch sử văn học. Năng lực này không những cần
thiết để hiểu, cảm được tác phẩm một cách đúng đắn mà còn mà còn cần thiết để
học sinh có thể vận dụng chuyển tải hiểu biết về tác phẩm cũng như về lịch sử văn
học để làm một bài văn nghị luận văn học có kết quả tốt nhất. Năng lực này giúp
cho học sinh mở rộng giới hạn hiểu biết về một tác phẩm để đi rộng ra bối cảnh lịch
sử văn học, xã hội của tác phẩm. Đọc một bài thơ học sinh có thể cảm thụ được vẻ
đẹp của bài thơ đó và tâm hồn trí tuệ cũng được phát triển hơn. Song dù sao, đó
cũng chỉ mới là những thu hoạch đóng khung trong bản thân một bài thơ, một tác
phẩm mà thôi. Khi học sinh biết đánh giá tác phẩm là lúc học sinh tự nâng tầm hiểu
13


biết của bản thân cao hơn, rộng hơn và cách nhìn về tác phẩm cũng được mở rộng
hơn. Và chính bản thân tác phẩm cũng được đặt vào một vị trí có tầm khái quát hơn.
Năng lực này rất cần thiết cho việc nâng cao khả năng làm văn của học sinh trong
nhà trường nói riêng cũng như khả năng sáng tạo nói chung.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Dạy học Ngữ văn truyền thống
Môn Ngữ văn được coi là môn học chủ đạo trong nhà trường phổ thông.
Nhưng từ nhiều năm nay, việc dạy học môn Ngữ văn vẫn thực hiện theo phương
pháp dạy học truyền thống thiên về lí thuyết, thầy cô giáo soạn bài giảng, truyền thụ
đến học sinh, học sinh tiếp thu kiến thức ấy, ghi nhớ và vận dụng vào bài kiểm tra.
Cứ như thế tạo thành một chu kì khép kín. Phương pháp dạy học này cũng có những
ưu điểm riêng không thể phủ nhận là đã đạt được những kết quả đáng kể trong việc
bồi dưỡng học sinh giỏi. Tuy nhiên trong môi trường giáo dục ngày nay phương
pháp truyền thống ấy cũng bộc lộ không ít những nhược điểm như: học sinh thụ
động, chỉ biết tiếp nhận một chiều chứ không có sự tương tác lại với GV, HS không
tự nghiên cứu, tìm hiểu. Như thế, hậu quả khó tránh khỏi là HS dần mất đi năng lực
tư duy, tự cảm thụ tác phẩm mà chỉ chấp nhận và sao chép lại cảm thụ của thầy cô;
GV chỉ thuyết giảng; thỉnh thoảng lại đặt câu hỏi chiếu lệ sẽ không thể nắm bắt
được hiệu quả tiếp thu cũng như quan điểm, thái độ của học sinh. Cảm nhận văn
học mang tính chủ quan của GV không có sự phản hồi từ HS sẽ dễ trở thành khiên
cưỡng áp đặt. Giờ đọc văn vì không có sự tương tác qua lại giữa thầy và trò trở nên
buồn tẻ, nặng nề không hứng thú. Khi tiếp xúc với tác phẩm văn học, học sinh chỉ
hiểu theo một chiều, ít chịu khó phát hiện, vốn từ ngữ nghèo, diễn đạt kém. Vì vậy,
không đạt hiệu quả cao khi cảm nhận tác phẩm văn chương.
Trước thực trạng ấy, có thể thấy đổi mới phương pháp dạy học là việc làm
cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng đối với việc cải thiện môn Ngữ văn vốn đang mất
dần sức hút đối với học sinh.
Trong những năm qua, ngành giáo dục đã có nhiều cải cách quan trọng từ
giáo dục ở bậc tiểu học cho đến đào tạo đại học và sau đại học. Riêng ở phổ thông,

14


sự đổi mới thể hiện trên nhiều phương diện, rõ nhất là về chương trình, sách giáo
khoa và đặc biệt là phương pháp dạy học. Mục đích của việc đổi mới phương pháp
dạy học ở trường phổ thông là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy
học theo “phương pháp dạy học tích cực” nhằm giúp học sinh phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần
hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập
và thực tiễn, tạo niềm tin, niềm vui hứng thú trong học tập.
1.2.2. Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực Ngữ văn cho học
sinh THPT
Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh là thông
qua môn học học sinh có khả năng kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến
thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm… nhằm đáp ứng hiệu quả một số yêu cầu phức
hợp của hoạt động trong một số hoàn cảnh nhất định. Các năng lực đặc thù của môn
học gồm: Năng lực đọc - hiểu, năng lực giao tiếp tiếng Việt và năng lực thưởng
thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ, năng lực đánh giá... Ngoài ra, học sinh cũng cần
được phát huy các năng lực khác như: Năng lực giải quyết vấn đề, giao tiếp, sáng
tạo, hợp tác, tự quản bản thân…
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình
giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học, nghĩa là từ chỗ quan
tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái
gì qua việc học. Để đảm bảo điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc
chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học,
cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực và phẩm chất. Điều
này đã được triển khai và thực hiện nhiều năm nay, nhiều GV đã có những nhận
thức đúng đắn về đổi mới phương pháp dạy học và đã xác định rõ sự cần thiết,có
mong muốn thực hiện đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học. Một số GV đã vận
dụng được các phương pháp theo định hướng đổi mới của chương trình giáo dục
hiện nay. Tuy nhiên hoạt động đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường phổ
thông hiện nay vẫn chưa mang lại nhiều hiệu quả cao. Dạy học truyền thụ một chiều

15


vẫn là phương pháp dạy học chủ đạo của GV, số GV thường xuyên chủ động, sáng
tạo trong việc phối hợp các phương pháp dạy học cũng như sử dụng các phương
pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của HS chưa nhiều. Dạy học
vẫn nặng về lí thuyết, quá chú trọng nội dung bài học mà chưa chú trọng đầy đủ đến
chủ thể người học cũng như việc rèn luyện kĩ năng sống, kĩ năng giải quyết các tình
huống trong thực tiễn cho HS thông qua vận dụng tri thức tổng hợp chưa thực sự
được quan tâm. Hoạt động kiểm tra đánh giá chưa đảm bảo yêu cầu khách quan,
chính xác, việc kiểm tra chủ yếu chú ý đến yêu cầu tái hiện lại kiến thức và đánh giá
qua điểm số đã dẫn đến tình trạng GV và HS duy trì lối dạy học “đọc chép” thuần
túy. HS học tập thiên về ghi nhớ, ít quan tâm vận dụng kiến thức đã học được.
Trước những thực trạng đó và để chuẩn bị cho quá trình đổi mới chương trình, sách
giáo khoa giáo dục phổ thông sau 2018, cần thiết phải đổi mới đồng bộ phương
pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục theo định hướng phát triển năng
lực người học.

16


CHƯƠNG 2
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGỮ VĂN CHO HỌC SINH THPT
QUA DẠY HỌC VĂN BẢN “CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ” - NGUYỄN TUÂN
2.1. Vị trí, vai trò của Nguyễn Tuân trong chương trình Ngữ văn THPT
Nguyễn Tuân là một tác gia lớn của nền văn học Việt Nam là một trong
9 tác gia được chọn để dạy trong chương trình phổ thông. Ông là nhà văn có vị trí
vững chắc trong lịch sử văn học dân tộc, người đã tìm được cho mình được tiếng
nói riêng nhờ phong cách văn học đặc sắc. Ngòi bút của ông đi vào nhiều vấn đề,
nhiều vẻ của những hình tượng. Và ở hai thời kì trước và sau Cách mạng tháng
Tám, sáng tác của Nguyễn Tuân có những khác biệt rõ nét. Tìm hiểu văn chương
Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám có thể thấy cái đẹp ở “Chữ người tử tù”
trong tập truyện ngắn đầu tay “ Vang bóng một thời” viết về những con người trong
quá khứ, từng “vang bóng” - những anh hùng hảo hán nhất thế. Nguyễn Tuân đã cố
níu kéo những giá trị tinh thần, giá trị văn hóa của dân tộc còn ẩn sâu hoặc lấp ló
thú chơi chữ của những nhân vật trong tác phẩm. Đề cao vẻ đẹp thiên lương của
những con người biết trân trọng cái đẹp, biết ngông trên cái tài năng của mình. Vì
vậy dạy “Chữ người tử tù” trong trường phổ thông sẽ góp phần đưa những giá trị
về vẻ đẹp một thời đã qua đến với học sinh và giúp các em tiếp cận với “người
chiến sĩ ngôn từ đã đưa cái đẹp thăng hoa đến một độ cao hiếm thấy trong văn học
Việt Nam” (Hoài Anh).
2.2. Các nguyên tắc dạy trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Ngữ văn cho học sinh THPT
2.2.1. Nguyên tắc dạy học Ngữ văn gắn với đời sống
“Giờ giảng tốt thường được bắt đầu từ thực tiễn và kết thúc bằng thực tiễn” Ulrich Lipp. Những gì được dạy trên lớp phải gắn với cuộc sống bên ngoài, ở quá
khứ, hiện tại và tương lai của người học. Đối với những người lớn tuổi nếu nội dung
học không liên quan đến việc họ đang làm, họ sẽ không muốn học, không có hứng
thú để học. Họ chỉ có thể hiểu lí thuyết qua các ví dụ thực tế. Trong dạy học, người

17


GV đưa ra các ví dụ liên quan đến các công việc hằng ngày của người học là cách
vào bài tốt, những ví dụ khiến người học tò mò và nhận thức được rằng giờ học sẽ
gần gũi và hữu ích hơn với họ khi đó họ sẽ tập trung và tiếp thu tốt hơn. Sau khởi
đầu thuận lợi, người dạy có thể đưa ra kiến thức mới về lí thuyết . Đến cuối bài,
người dạy cần phải móc nối kiến thức, lập lại mối liên hệ giữa bài học với thực tế
của người học.
2.2.2. Nguyên tắc tạo không khí tích cực trong giờ giảng
Việc học sẽ đơn giản hơn khi giữa học và chơi không đối nghịch nhau mà
ngược lại. Khi người học tìm thấy niềm vui trong học tập thì việc học sẽ trở nên dễ
dàng hơn.
Có rất nhiều cách khác nhau để tạo nên không khí tích cực,vui vẻ trong giờ
học: Trò chơi khởi động tạo tâm thế cho học sinh trước khi vào bài mới tạo sự thích
thú, hào hứng; sử dụng ngôn ngữ cơ thể, cử chỉ thân thiện, linh hoạt thay đổi các
phương pháp để tạo sự sinh động, sử dụng các phương tiện, kĩ thuật, tranh ảnh...
2.2.3. Nguyên tắc dạy học Ngữ văn phải phối hợp linh hoạt các phương pháp
Trong một bài học, người dạy phải linh hoạt kết hợp nhiều phương pháp dạy
học khác nhau. Tùy thuộc vào nội dung của từng bài sử dụng các phương pháp sao
cho phù hợp. Trong một bài người dạy chỉ sử dụng đi lặp lại một số phương pháp
quen thuộc thì sẽ gây tâm lí nhàm chán, thụ động, không gây được sự chú ý, tập
trung của người học. Để bài học đạt được hiệu quả như mong muốn người dạy phải
phối hợp linh hoạt các phương pháp.
2.2.4. Nguyên tắc dạy học Ngữ văn phải phát huy cao độ năng lực chủ thể của
học sinh
Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh tích cực chủ động trong việc tiếp
thu kiến thức. Khi được khuyến khích người học sẽ trở nên chủ động, tích cực học
hỏi với tinh thần thoải mái. Giáo viên có thể tổ chức việc học phát huy cao độ năng
lực chủ thể của học sinh bằng nhiều cách khác nhau: Tạo cơ hội cho người học
đóng góp, phát biểu ý kiến, làm việc nhóm, làm bài tập thực hành...
2.2.5. Nguyên tắc dạy học Ngữ văn phải đảm bảo quan điểm tích hợp
Nguyên tắc này cần được thể hiện trong quá trình tổ chức dạy học. Theo tinh
thần này khi dạy một văn bản văn học cần hướng dẫn cho học sinh khai thác tối đa

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×