Tải bản đầy đủ

Luận văn thạc sĩ Đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và đánh giá học sinh trong dạy học số và phép tính ở lớp 2.

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Đất nước ta đang trong trong thời kì cách mạng khoa học và công nghệ.
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã ban hành và đưa ra quan
điểm chỉ đạo vô cùng đúng đắn: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo
dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm
chất người học”[1].
Trong Nghị quyết cũng đã chỉ rõ vấn đề đổi mới phương pháp dạy học
(PPDH) và đánh giá (ĐG) học sinh (HS): “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ PPDH
theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng
kiến thức, kĩ năng của người học; đổi mới căn bản hình thức và phương
pháp thi, kiểm tra, ĐG kết quả GDĐT; phối hợp sử dụng kết quả ĐG trong
quá trình học với ĐG cuối kì, cuối năm học; ĐG của người dạy với tự ĐG
của người học; ĐG của nhà trường với ĐG của gia đình và xã hội” [1].
Để đáp ứng kịp thời yêu cầu của xã hội ngày nay là đào tạo ra những
con người có phẩm chất và năng lực tốt,Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT
ngày 26/12/2018 của Bộ GDĐT ban hành Chương trình giáo dục phổ thông

(CTGDPT) cũng đã xác định: “Chương trình giáo dục phổ thông hình thành
và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu sau: yêu nước, nhân ái,
chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm”; “Những năng lực chung được hình
thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: năng
lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn
đề và sáng tạo”; “Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ
yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực
ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng
lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất [2].


2

Thực hiện chủ trương trên, nhiều giáo viên (GV) đã hiểu và có
những nhận thức đúng đắn về đổi mới PPDH và ĐGHS. Hơn thế, họ đã xác
định rõ sự cần thiết và mong muốn được thực hiện đổi mới đồng bộ giữa
PPDH và ĐGHS. Thực tế những người thầy tâm huyết, tích cực đó đã vận
dụng linh hoạt các PPDH và thực hiện ĐGHS thường xuyên, khéo léo góp
phần phát triển năng lực, phẩm chất (NLPC) HS, giúp HS có cơ hội rèn
luyện kĩ năng sống và các hoạt động xã hội cho bản thân tốt hơn.
Bên cạnh đó, việc đổi mới PPDH và ĐGHS ở các trường tiểu học
vẫn còn nhiều tồn tại ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục. Chẳng hạn, đội
ngũ giáo viên chưa tích cực trong đổi mới PPDH, chủ đạo vẫn là phương
pháp truyền thụ một chiều, nặng về lí thuyết. Hoặc GV chưa chú trọng
trong ĐG thường xuyên – ĐG còn chung chung, chưa chú trọng phát triển
khả năng tự ĐG và ĐG lẫn nhau của HS. Đặc biệt đa số GV chưa thực sự quan
tâm rèn luyện kĩ năng sống, kĩ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho
HS thông qua kiến thức các môn học, bài học. Vì vậy, ở họ việc nhận thức về
sự cần thiết đổi mới “đồng bộ” PPDH gắn liền với ĐGHS là chưa cao.
Chưa hiểu dược tác dụng của sự đổi mới đó: thực hiện tốt sẽ góp phần phát
triển năng lực, phẩm chất cho học sinh.
Xuất từ lí luận và thực tiễn trên chúng tôi mạnh dạn đề cập nghiên cứu
đến Đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và đánh giá học sinh trong dạy
học số và phép tính ở lớp 2.
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
2.1. Nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới ngày nay, dạy học Toán theo định hướng phát triển năng
lực, phẩm chất cho học sinh có rất nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục quan
tâm, nghiên cứu:
V.A Krutexki - Nguyên Phó viện trưởng viện nghiên cứu tâm lý học




3

thuộc Viện Hàn lâm khoa học giáo dục Liên Xô cũ đã nghiên cứu công trình
“Tâm lý năng lực Toán học” và chỉ ra cấu trúc bao gồm các thành phần [24]:
- Về mặt thu nhận thông tin toán học: năng lực tri giác, năng lực nắm
cấu trúc hình thức bài toán.
- Về mặt chế biến thông tin toán học:
* Năng lực tư duy logic: quan hệ số lượng và không gian, hệ thống ký
hiệu số và dấu.
* Năng lực khái quát hóa: quan hệ toán học và các phép toán.
* Năng lực rút gọn quá trình suy luận toán học và hệ thống các phép
toán tương ứng.
* Tính linh hoạt của quá trình tư duy trong hoạt động toán học.
* Khuynh hướng vươn tới của tính rõ ràng, đơn giản, hợp lí của lời giải.
* Năng lực nhanh chóng và dễ dàng sửa lại phương hướng của quá trình
tư duy.
- Về mặt lưu trữ thông tin toán học: trí nhớ khái quát về các quan hệ
toán học, sơ đồ suy luận và chứng minh, phương pháp giải toán.
- Về thành phần tổng hợp khái quát: khuynh hướng khái quát của trí tuệ.
Theo Tâm lý năng lực Toán học của V.A Krutecxki: “Những năng lực
Toán học được hiểu là những đặc điểm tâm lý cá nhân (trước hết là những
đặc điểm của hoạt động trí tuệ) đáp ứng những yêu cầu của hoạt động toán
và trong những điều kiện vững chắc như nhau thì là nguyên nhân của sự
thành công trong việc nắm vững một cách sáng tạo toán học với tư cách là
một môn học, đặc biệt nắm vững tương đối nhanh, dễ dàng, sâu sắc những
kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trong lĩnh vực Toán học”[24].
Hiện nay, ở các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến gia như Nhật,
Singapore, ... luôn coi trọng việc dạy học theo hướng phát triển năng lực cho


4

học sinh: ở Hàn Quốc để đáp ứng nhu cầu của xã hội trong việc hình thành và
phát triển những năng lực, phẩm chất cần thiết cho học sinh thì nội dung
chương trình sách giáo khoa của họ được cập nhật liên tục. Hơn thế, ở các
nước này, nhiều nhà nghiên cứu giáo dục đã chỉ ra rằng học sinh Tiểu học có
khả năng vận dụng toán học vào thực tiễn và giải quyết vấn đề cuộc sống có
liên quan là rất tốt, vượt trội so với trẻ cùng tuổi ở một số nước khác.
2.2. Nghiên cứu trong nước
Hiện nay, nhiều người làm công tác giáo dục đặc biệt quan tâm và
nghiên cứu việc dạy học theo hướng phát triển năng lực cho người học. Nó
trở thành một xu hướng nghiên cứu giáo dục ở Việt Nam.
Ta thấy, trong vài năm trở lại đây, những đề tài khoa học về phát triển
năng lực học sinh thông qua dạy học Toán được các nhà giáo dục đề cập và
nghiên cứu nhiều. Chẳng hạn: “Phát triển chương trình theo định hướng phát
triển năng lực” của Lương Việt Thái (2011), ... Ngoài ra, các tạp chí giáo dục
có uy tín cũng đăng nhiều bài báo về định hướng phát triển năng lực cho học
sinh thông qua dạy học toán như: “Đổi mới dạy học môn Toán ở Tiểu học
theo định hướng phát triển năng lực học sinh” của Hoàng Mai Lê -Vụ Giáo
dục Tiểu học, Bộ Giáo dục và Đào tạo (Tạp chí Giáo dục Tiểu học số
16/2017)[9], “Tổ chức hoạt động dạy học môn Toán ở tiểu học theo định
hướng phát triển năng lực học sinh”- Hoàng Mai Lê (Tạp chí Khoa học giáo
dục, số 27, tháng 3/2018)[10], “Đổi mới đồng bộ phương pháp và ĐGHS ở
nhà trường tiểu học”- Hoàng Mai Lê (Tạp chí Giáo dục, số 405, kì 1[11]. Đặc
biệt, năm 2018 Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình giáo dục phổ thông theo hướng
phát triển năng lực.
Như vậy, đề tài chúng tôi nghiên cứu là một trong những đề tài các nhà
khoa học, các nhà giáo dục hiện nay đang rất quan tâm. Mặc dù vậy, cho đến
thời điểm hiện tại chưa có công trình nghiên cứu nào đưa ra các biện pháp cụ


5

thể nhằm phát triển năng lực cho học sinh lớp 2 thông qua hoạt động đổi mới
đồng bộ phương pháp dạy học và đánh giá học sinh trong dạy học trong dạy
số và phép tính lớp 2. Trên cơ sở kế thừa kết quả các công trình nghiên cứu
trước, chúng tôi tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu sâu để đề xuất thực hiện đổi
mới đồng bộ phương pháp dạy học và đánh giá học sinh trong dạy học số và
phép tính lớp 2 góp phần phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh từ đó
góp phần nâng cao chất lượng dạy học Toán nói chung dạy học số và phép
tính lớp 2 nói riêng trong trường tiểu học.
3. Mục đích nghiên cứu
Nâng cao hiệu quả việc đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và đánh
giá học sinh được tiến hành qua nghiên cứu và đề xuất các biện pháp tổ chức
hoạt động dạy học.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về số và phép tính lớp 2 và các năng lực
chung, năng lực đặc thù của môn Toán.
4.2. Khảo sát thực trạng tổ chức hoạt động đổi mới đồng bộ phương
pháp dạy học và đánh giá học sinh trong dạy học số và phép tính lớp 2 cho
học sinh ở một số trường Tiểu học trên địa bàn quận Lê Chân - thành phố Hải
Phòng và phân tích nguyên nhân của thực trạng.
4.3. Trên cơ sở phân tích thực trạng và nguyên nhân, đề xuất một số
biện pháp tổ chức hoạt động dạy học đổi mới đồng bộ PPDH và ĐGHS trong
dạy số và phép tính ở lớp 2.
4.4. Tổ chức thực nghiệm sư phạm: kiểm nghiệm tính khả thi của các
biện pháp đã đề xuất và điều chỉnh (nếu cần).
5. Phạm vi đề tài
Tác giả luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động dạy học số và phép
tính lớp 2 theo hướng đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và đánh giá học


6

sinh.
6. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
6.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học đổi mới đồng bộ PPDH và ĐGHS trong dạy số và
phép tính lớp 2.
6.2. Đối tượng nghiên cứu
Hình thức tổ chức hoạt động dạy học theo hướng đổi mới đồng bộ
PPDH và ĐGHS trong dạy số và phép tính lớp 2.
7. Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi được đặt ra cho nghiên cứu của tôi là:
Vai trò của việc tổ chức hoạt động dạy học số và phép tính lớp 2 theo
hướng đổi mới đồng bộ PPDH và ĐGHS như thế nào?
Cần thực hiện những biện pháp, hình thức tổ chức dạy học như thế nào
để đổi mới đồng bộ PPDH và ĐGHS. Việc đổi mới đó nâng cao hiệu quả khi
dạy số và phép tính ở lớp 2 cho học sinh như thế nào?
8. Giả thuyết khoa học
Hoạt động dạy học số và phép tính lớp 2 theo định hướng phát triển
năng lực, phẩm chất sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học toán trong các
trường tiểu học. Hoạt động đổi mới đồng bộ PPDH và ĐGHS trong dạy số và
phép tính lớp 2 phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh đã và đang được
thực hiện ở các trường tiểu học, song hiệu quả chưa cao, giáo viên chưa thực
sự chú trọng.
Việc nâng cao nhận thức về tổ chức hoạt động dạy học đổi mới đồng bộ
PPDH và ĐGHS trong dạy số và phép tính lớp 2 và áp dụng một số biện pháp
tổ chức hoạt động phù hợp góp phần nâng cao chất lượng dạy học Toán lớp 2,
đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giáo dục và sự phát triển của xã hội.


7

9. Phương pháp nghiên cứu
9.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Thu thập tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu: tổ chức các hoạt
động dạy học số và phép tính Toán 2. Sau đó, phân tích, phân loại và xác định
các khái niệm cơ bản.
Đọc các sách và tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan đến
việc đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và đánh giá học sinh trong dạy
học Toán để hình thành cơ sở lí luận cho đề tài.
9.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra bằng bảng hỏi: Thiết kế phiếu trưng cầu ý kiến giáo viên và
học sinh về cách tổ chức hoạt động dạy học số và phép tính ở lớp 2 qua các
câu hỏi.
- Quan sát: tập trung quan sát hoạt động dạy học của giáo viên, thái độ
học tập của học sinh trong các tiết dạy thực nghiệm số và phép tính ở lớp 2.
- Phỏng vấn: Đối tượng được phỏng vấn là giáo viên đang trực tiếp dạy
Toán 2 và học sinh lớp 2.
9.3. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm để đánh giá chất lượng
Qua các số liệu thống kê được về chất lượng học sinh trong những
năm học gần đây và thực trạng việc tổ chức các hoạt động dạy số và phép
tính ở lớp 2, phân tích cụ thể và đưa ra những nhận định, đánh giá thực trạng
và giải pháp tổ chức hoạt động dạy học đổi mới đồng bộ PPDH và ĐGHS
trong dạy số và phép tính ở lớp 2.
9.4. Nhóm phương pháp nghiên cứu hỗ trợ
Thống kê, biểu bảng, …
10. Ý nghĩa khoa học của đề tài


8

10.1. Về lí luận:
Làm sáng tỏ những vấn đề về tổ chức các hoạt động dạy học theo hướng
đổi mới đồng bộ PPDH và ĐGHS trong dạy số và phép tính lớp 2. Đồng thời,
chỉ rõ những thành công và hạn chế. Qua đó, cung cấp các cơ sở khoa học để
giáo viên xây dựng hoạt động dạy học theo hướng này một cách hiệu quả.
10.2. Về thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu là các hoạt động dạy học theo hướng đổi mới đồng
bộ PPDH và ĐGHS trong dạy số và phép tính ở lớp 2.
11. Cấu trúc của luận văn:
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực trạng của việc tổ chức hoạt động dạy
học theo hướng đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và đánh giá học sinh
trong dạy số và phép tính lớp 2.
Chương 2: Đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và đánh giá học
sinh trong dạy số và phép tính lớp 2.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.


9

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Năng lực, phẩm chất
Theo Nguồn NGƯT.TS. Phạm Văn Khanh, Phó Chủ tịch Hội Khoa học
Tâm lý – Giáo dục Việt Nam: “Phẩm chất và năng lực là hai thành phần chủ
yếu tạo nên nhân cách con người”. Vì vậy, có thể xem quá trình hình thành,
phát triển nhân cách luôn gắn liền với quá trình phát triển các yếu tố của
phẩm chất và năng lực.Mặt khác, nhân cách được xem là một chỉnh thể thống
nhất chặt chẽ giữa hai mặt phẩm chất và năng lực (đức và tài). Hai mặt của
của một chỉnh thể: đức và tài không cân xứng nhau sẽ cho ra một nhân cách
chưa hoàn thiện.Vì thế, trong quá trình giáo dục, dạy học phát triển phẩm
chất, năng lực người học là một phương pháp dạy học ưu thế nhất hướng
người học tiếp cận gần hơn với phát triển nhân cách của bản thân.
Như vậy, trong giáo dục, dạy học phát triển năng lực và phẩm chất là
vô cùng quan trọng và cần thiết.)[20].
Theo từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê, NXB Đà Nẵng, 2005)[22]:
“Phẩm chất là cái làm nên giá trị của người hay vật. Hoặc: Phẩm chất là
những yếu tố đạo đức, hành vi ứng xử, niềm tin, tình cảm, giá trị cuộc sống; ý
thức pháp luật của con người được hình thành sau một quá trình giáo dục”.
Cũng theo từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê, NXB Đà Nẵng, 2005)[22]:
“Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện
một hoạt động nào đó. Hoặc: Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các
kiến thức, kỹ năng để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối
cảnh nhất định”.
Còn theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình giáo dục phổ thông:


10

Năng lực: là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố
chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động
tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng
thú, niềm tin, ý chí,... thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt
kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.
Năng lực cốt lõi: là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kỳ ai cũng cần phải
có để sống, học tập và làm việc hiệu quả: tự chủ và tự học; giao tiếp và hợp
tác; giải quyết vấn đề và sáng tạo.
Năng lực đặc biệt: là năng khiếu thường chỉ có ở một số người.
Phẩm chất:là những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử của con
người; cùng với năng lực tạo nên nhân cách con người[2].
Phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách
nhiệm.
Theo Thông tư 22/2016 Bộ GDĐT, dạy học hướng đến rèn năng lực và
phẩn chất:
Năng lực: Tự phục vụ, tự quản; giao tiếp, hợp tác; tự học, giải quyết
vấn đề.
Phẩm chất: Chăm học chăm làm; tự tin, trách nhiệm; trung thực, kỉ
luật; đoàn kết, yêu thương [4].
1.1.2. Năng lực đặc thù của môn Toán
Theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ Giáo
dục và Đào tạo ban hành Chương trình giáo dục phổ thông – Định hướng về
nội dung giáo dục các môn học: Giáo dục môn Toán: Giáo dục toán học hình
thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và
năng lực toán học với các thành tố cốt lõi là: năng lực tư duy và lập luận toán
học, năng lực mô hình hóa toán học, năng lực giải quyết vấn đề toán học,
năng lực giao tiếp toán học, năng lực sử dụng các công cụ và phương tiện


11

học toán; phát triển kiến thức, kỹ năng then chốt và tạo cơ hội để học sinh
được trải nghiệm, áp dụng toán học vào đời sống thực tiễn. Giáo dục toán
học tạo dựng sự kết nối giữa các ý tưởng toán học, giữa Toán học với các
môn học khác và giữa Toán học với đời sống thực tiễn [2].
Theo tài liệu của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam “Hướng dẫn đánh
giá năng lực của học sinh cuối cấp tiểu học”: năng lực làm toán được hiểu là
tổ hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ, động cơ, vận dụng toán học trong các tình
huống thực tế. Nghĩa là học sinh có khả năng chỉ ra được sự liên kết giữa các
tri thức toán học và vận dụng các tri thức đó để giải quyết các vấn đề, tình
huống trong cuộc sống hàng ngày. Thực chất năng lực làm toán sẽ minh họa
qua các môn học khác, các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và
trong đời sống thực tế.
Theo Chương trình, sách giáo khoa phổ thông môn Toán (Ban hành
kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12
năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) ta hiểu rõ
thông qua môn Toán, học sinh hình thành và phát triển được
các đức tính kiên trì, kỉ luật, trung thực, hứng thú và niềm tin
trong học Toán; đồng thời thông qua môn Toán hình thành và
phát triển các năng lực tự chủ, tự học, giao tiếp hợp tác, giải
quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh. Yêu cầu cần đạt về
năng lực đặc thù Môn Toán góp phần hình thành và phát triển
cho học sinh năng lực toán học (biểu hiện tập trung nhất của
năng lực tính toán) bao gồm các thành phần cốt lõi sau: năng
lực tư duy và lập luận toán học; năng lực mô hình hoá toán
học; năng lực giải quyết vấn đề toán học; năng lực giao tiếp
toán học; năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán.
1.1.3. Quan điểm về dạy học theo hướng phát triển năng lực
Từ những năm 90 của thế kỉ XX dạy học định hướng phát triển năng


12

lực đã được bàn đến rất nhiều và hiện nay đã trở thành xu hướng giáo dục
toàn cầu. Ở Việt Nam, Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 của
Ban chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo đã đưa ra quan điểm chỉ đạo: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng
cao dân trí, đào tạo nhận lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình
giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và
phẩm chất người học.”[1].
Để việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực có hiệu quả cần
phải bắt đầu từ việc xác định các năng lực, phẩm chất quan trọng mà người
học được phát triển, sau đó là xây dựng, phát triển nội dung, kế hoạch dạy học
và đặc biệt chú ý đến các phương pháp đánh giá nhằm đảm bảo mục đích của
quá trình giáo dục. Có thể thấy, yếu tố quan trọng của giáo dục là phải xây
dựng được các chuẩn đầu ra. Các chuẩn đó thể hiện được mục tiêu giáo dục
và đặc biệt thiết lập được các điều kiện và cơ hội để khuyến khích HS có thể
đạt được các mục tiêu ấy. Cụ thể, HS cần đạt được những năng lực, phẩm
chất chung, tối thiểu (để con người có thể sống hòa đồng và phát triển trong
một cộng đồng). Từ các năng lực, phẩm chất chung ấy, mỗi môn học lại xác
định một số năng lực đặc thù. Đối với môn Toán, hiện nay có bốn cách tiếp
cận phát triển năng lực người học:
Thứ nhất: hình thành và phát triển các năng lực then chốt mang đặc
tính bộ môn: NL giải quyết vấn đề, NL mô hình hóa toán học, NL giao tiếp,
NL sử dụng các công cụ, phương tiện học toán, NL tự học Toán
Thứ hai: theo đặc trưng bộ môn GV cần quan tâm đến việc hình thành
phương pháp mô hình hóa toán học cho người học.
Thứ ba: tăng cường tính ứng dụng của giáo dục toán học trong nhà
trường. Đảm bảo một cách hài hòa giữa nội dung giáo dục toán học với xu
hướng phát triển của kinh tế, khoa học và đời sống xã hội hiện tại.
Thứ tư: Tập trung rèn kĩ năng sống cho học sinh bằng cách đổi mới nội


13

dung dạy học toán.
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi tập trung vào hướng tiếp cận
thứ nhất: hình thành và phát triển các năng lực then chốt mang đặc tính bộ
môn. Để đạt được điều đó dạy học phải mạnh dạn chuyển quá trình thuyết,
giảng giải một cách khô khan, áp đặt thành quá trình tự học, tự tìm tòi, khám
phá một cách thật hứng thú của HS. Trong mỗi giờ học, mỗi HS cần biết rõ
mục tiêu học tập của mình một cách cụ thể phù hợp với mức độ tiếp thu của
bản thân. Đáp ứng mục tiêu trên, mỗi GV đứng lớp đều phải có ý thức tổ chức
tốt các hoạt động học cho học sinh: linh hoạt trong dạy học cá nhân, cặp
nhóm hay toàn lớp. Trong quá trình dạy học đặc biệt chú trọng tới các hoạt
động thực hành của học sinh và sự ứng dụng kiến thức bài học vào đời sống
thực tế sao cho gần gũi, phù hợp. Chỉ giảng giải toàn lớp khi cần nhận xét,
đánh giá chung, thống nhất các phương án, đáp án hoặc hướng dẫn hoạt động
mà toàn lớp đều gặp khó khăn.
Thông tư 22/2016 TT-BGDĐT, ban hành nội dung về đánh giá chất
lượng học tập, giáo dục của HS: đánh giá được thực hiện ở tất cả các tiết học,
các bộ môn theo quy định của chương trình với mục đích đánh giá sự tiến bộ
của bản thân từng HS. Để thực hiện tốt điều đó, GV phải tăng cường quan sát
hoạt động của học sinh, từ đó khuyến khích, động viên nhắc nhở kịp thời để
HS vượt qua được khó khăn trong học tập. Đồng thời qua đây GV có cơ hội
điều chỉnh hoạt động dạy học của bản thân, đảm bảo chất lượng dạy học, mục
tiêu các bài dạy: giúp HS phát triển kiến thức kĩ năng, năng lực, phẩn chất[4].
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Môn Toán ở Tiểu học
1.2.1.1. Mục tiêu dạy học môn Toán ở Tiểu học
Trong chương trình phổ thông môn Toán ở Tiểu học có vị trí vô cùng
quan trọng: giúp HS tìm hiểu và nhận biết được các yếu tố hình học tồn tại


14

trong không gian, trong đời sống; biết được mối quan hệ số lượng như lớn
hơn, bé hơn,... mối quan hệ giữa các yếu tố đại lượng thời gian, khối lượng,
độ dài, diện tích hay chuyển động,... Ngoài ra, môn Toán còn giúp HS rèn
luyện tư duy, phát triển một số năng lực, phẩm chất cơ bản, cốt lõi.
Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học quy định mục tiêu môn
Toán ở trường Tiểu học nhằm giúp học sinh:
- Có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học (các số tự nhiên,
phân số, số thập phân); các đại lượng thông dụng (độ dài, khối lượng, diện
tích, thể tích, thời gian hay chuyển động, ...); một số yếu tố hình học cơ bản
và các yếu tố thống kê đơn giản.
- Bước đầu phát triển năng lực tư duy, năng lực, phẩm chất cơ bản, cốt
lõi: khả năng suy luận, diễn đạt (nói và viết); cách phát hiện và giải quyết vấn
đề; ứng dụng kiến thức vào cuộc sống ở mức độ đơn giản. Có hứng thú học
tập môn Toán, biết làm việc khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo.
Mục tiêu dạy học môn Toán ở cấp Tiểu học nhấn mạnh đến việc HS
được lĩnh hội những kiến thức và kĩ năng cơ bản, thiết thực, có hệ thống.
Thông qua dạy học môn Toán ở Tiểu học GV chú trọng rèn luyện khả năng
diễn đạt, ứng xử, giải quyết các tình huống có vấn đề và phát triển năng lực tư
duy cũng như các phẩm chất cơ bản và kĩ năng sống cho học sinh.
1.2.1.2. Chương trình Toán Tiểu học
Chương trình môn Toán ở Tiểu học gồm 5 mạch kiến thức:
Số học và các phép tính (nội dung trọng tâm - hạt nhân của chương
trình môn Toán ở Tiểu học). Số và phép tính ở Tiểu học phần lớn là số tự
nhiên và số thập phân, còn phân số được đề cập ít, những nội dung cơ bản
nhất để phục vụ cho dạy học số thập phân và một số ứng dụng trong thực tế.
Các yếu tố đại số như: dùng dấu (lớn, nhỏ, bằng) để so sánh, dùng chữ thay số
(biểu thức có chứa chữ) ,biểu thức số.. cũng được tích hợp trong nội dung số


15

học.

Đại lượng và phép đo đại lượng: gồm các biểu tượng về đại lượng cơ
bản và đơn vị đo đại lượng cơ bản thường gặp trong cuộc sống hằng ngày (độ
dài, khối lượng, diện tích, thể tích, thời gian, chuyển động, ...). Nội dung này
được giới thiệu dần theo hướng đồng tâm ở từng khối lớp, gắn liền với sự
phát triển về các vòng số và HS công nhận bằng con đường trực giác.
Yếu tố thống kê: Lớp 3 mới có nội dung yếu tố thống kê. Nội dung là
những kiến thức ban đầu gắn liền với thực tiễn đời sống hàng ngày phù hợp
với trình độ nhận thức của HS và chủ yếu được tích hợp trong nội dung số
học và đo lường.
Yếu tố hình học: cũng là một trong những yếu tố cơ bản trong chương
trình môn Toán ở Tiểu học. Nội dung kiến thức gồm các biểu tượng ban đầu
của một số hình thường gặp trong cuộc sống, một số tính chất cơ bản của các
hình đó, ứng dụng của nó trong thực tế đời sống. Yếu tố này được sắp xếp xen
kẽ hợp lí với các nội dung khác trong chương trình.
Giải toán có lời văn: kiến thức được sắp xếp theo hướng đồng tâm
thành một hệ thống từ thấp đến cao trong từng khối lớp (từ lớp 1 đến lớp 5).
Đầu tiên là các bài toán đơn giải bằng một phép tính, rồi đến toán hợp giải
bằng các phép tính và một số dạng bài toán điển hình và bài toán liên quan
đến chuyển động.
Nhìn một cách tổng thể, chương trình môn Toán ở Tiểu học được chia
thành hai giai đoạn:
Giai đoạn 1 (các lớp 1,2,3): trong giai đoạn này lớp 2 đặc biệt quan
trọng, học sinh mới chuyển hoạt động chủ đạo từ vui chơi sang học tập một
cách chính thức nên việc học tập của các em chủ yếu dựa vào các yếu tố trực
quan, vì thế khi dạy học chỉ tập trung đề cập đến những nội dung có tính tổng


16

thể, gần giũ với kinh nghiệm sống của học sinh. Ở giai đoạn này HS bước đầu
phát triển năng lực tư duy, bước đầu biết lựa chọn và tìm cách giải quyết vấn
đề một cách hợp lí.
Giai đoạn 2 (các lớp 4,5): trong giai đoạn này mức độ yêu cầu cao hơn,
không lạm dụng phương tiện trực quan, áp dụng các hình thức học tập có tính
chủ động, sáng tạo. Bước đầu tạo cho HS làm quen với các nội dung có tính
khái quát, có cơ sở lí luận. Vì thế, ở giai đoạn này dạy học tiếp tục phát triển
năng lực tư duy cho HS nhưng ở mức độ cao hơn: tự học, tự giải quyết vấn đề
để phát triển các kĩ năng tư duy và hình thành phẩm chất trí tuệ.
1.2.1.3. Nội dung dạy học số và phép tính môn Toán lớp 2
* Các số trong phạm vi 1000.
* So sánh các số có 3 chữ số
* Viết số thành tổng các trăm, chục,…
* Bốn phép tính trên số tự nhiên:
- Phép cộng có nhớ trong phạm vi 100, 1000 (không nhớ).
- Bảng cộng
+ Số hạng – Số hạng – Tổng
+ Tìm số hạng trong một tổng.
+ Phép trừ có nhớ trong phạm vi 100, 1000 (không nhớ).
- Bảng trừ
+ Số bị trừ – Số trừ – Hiệu
+ Tìm số bị trừ - Tìm số trừ
- Phép nhân (Tổng các số hạng bằng nhau thành phép nhân)
+ Thừa số – Thừa số – Tích
+ Tìm một thừa số của phép nhân.
- Phép chia (Nhân, chia đến 5)


17

+ Số bị chia – Số chia – Thương
+ Tìm số bị chia.
+ Một phần hai, một phần ba, một phần tư, một phần năm
+ Số 1 và số 0 trong phép nhân, phép chia.
1.2.2.Cơ hội phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh thông qua
đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và đánh giá học sinh trong dạy số và
phép tính ở lớp 2.
1.2.2.1.Cơ hội từ định hướng đổi mới phương pháp dạy học.
Để mỗi GV đứng lớp hoàn toàn chủ động, sáng tạo trong xây dựng hoạt
động học cho học sinh cần thiết định hướng đổi mới phương pháp dạy học
(PPDH). Từ định hướng đúng đắn này, GV cơ hội lựa chọn, vận dụng những
phương pháp, kĩ thuật dạy học tiên tiến phù hợp với bản thân, với hoàn cảnh
để tổ chức hoạt động học cho học sinh theo hướng tích cực hóa. Chẳng hạn:
phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp gợi mở - vấn đáp, kĩ thuật “động
não”, kĩ thuật “khăn trải bàn”,… tạo cơ hội cho học sinh phát triển tối đa
năng lực bản thân. Phương pháp dạy học truyền thống cũng có điểm mạnh
riêng (GV đóng vai trò trung tâm của hoạt động dạy học, cung cấp tri thức
cho HS), nhưng cũng có những hạn chế nhất định (HS chỉ việc tiếp thu tri
thức một cách thụ động …). Trong dạy học theo định hướng đổi mới thì HS
đóng vai trò làm trung tâm: chủ động xây dựng tri thức cho bản thân. GV chỉ
là người tổ chức, chỉ đạo và định hướng các hoạt động học của HS, để HS có
cơ hội phát triển năng lực, tự tìm ra tri thức. Trong quá trình tìm tòi, tự tìm ra
tri thức các em phải đối mặt và giải quyết với nhiều thách thức và khó khăn,
nhiều tình huống có vấn đề nảy sinh: xác định tình huống có vấn đề là gì, có
mấy cách để giải quyết, giải pháp nào tối ưu nhất trong giải quyết tình huống
có vấn đề đó… . Đây là quá trình, là cơ hội để học sinh tự điều chỉnh nhận
thức, tự điều chỉnh hành vi phát triển tối đa năng lực, phẩm chất của bản thân.
1.2.2.2. Cơ hội từ đặc điểm trình độ nhận thức của học sinh lớp 2


18

HS lớp 2 thuộc giai đoạn đầu bậc Tiểu học, các em ghi nhớ kiến thức
qua trực quan tốt hơn ghi nhớ kiến thức qua tài liệu, qua lời nói. Vì ở giai
đoạn này, trí nhớ tính không chủ định vẫn chiếm ưu thế. Tư duy của HS lớp 2
còn bị ảnh hưởng nhiều của cảm xúc.
Như vậy, nhận thức của học sinh lớp 2 đang là bước ngoặt lớn. Tiếp
xúc với môi trường học tập một cách chính thức đòi hỏi các em phải tập trung
chú ý thời gian dài hơn - liên tục từ 35 - 40 phút. Nắm bắt đặc điểm đó, dạy
học cần khéo léo chuyển từ hiện tượng hiếu kì, tò mò sang tính ham hiểu biết,
hứng thú khám phá. Chính vì thế, việc giáo dục tình cảm cho học sinh ở giai
đoạn này là vô cùng cần thiết. GV cần khéo léo, tế nhị khi tác động đến các
em. Nên dẫn dắt các em đi từ hình ảnh trực quan sinh động, tạo hứng thú, tinh
thần thoải mái,vui tươi vào trong hoạt động học. Các hoạt động nên áp dụng
cho HS là trò chơi, sử dụng phương tiện đồ dùng, thảo luận nhóm, chia sẻ ý
kiến hay tình cảm cá nhân, ... Quá trình tổ chức hoạt động học tập cho HS
như vậy là điều kiện thuận lợi để giáo viên sáng tạo, đổi mới phương pháp
dạy học và đánh giá học sinh nhằm phát triển NL cho HS ở môn Toán cũng
như các môn học khác.
1.2.3. Thực trạng đồng bộ đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá
học sinh dạy số và phép tính lớp 2.
1.2.2.1. Mục đích điều tra
Tìm hiểu thực trạng việc đổi mới phương pháp và đánh giá học sinh
của GV ở một số trường Tiểu học trên địa bàn quận Lê Chân – thành phố Hải
Phòng để xây dựng những cơ sở thực tiễn cho đề tài. Từ đó, tác giả đề xuất
một số biện pháp đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và đánh giá học sinh
trong dạy học số và phép tính ở lớp 2.
1.2.2.2. Đối tượng khảo sát
Đối với GV: chúng tôi tiến hành điều tra 40 giáo viên đang trực tiếp giảng


19

dạy ở các lớp 2 tại 12 trường Tiểu học trên địa bàn Quận Lê Chân, thành phố Hải
Phòng. Các giáo viên được khảo sát ở nhiều lứa tuổi khác nhau nhưng chủ yếu
trong độ tuổi từ 25- 40 tuổi. Giáo viên có kinh nghiệm, điều kiện và khả năng
tiếp cận những đổi mới trong giáo dục hiện nay.
Đối với học sinh: chúng tôi tiến hành điều tra 145 học sinh lớp 2 đang
học tại một số trường tiểu học trên địa bàn Quận Lê Chân – thành phố Hải
Phòng.
1.2.2.3. Nội dung khảo sát
- Nhận thức của GV về đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và đánh
giá HS thông qua tổ chức hoạt động dạy học số và phép tính ở lớp 2.
- Nhận thức của GV tầm quan trọng, ý nghĩa của dạy học theo định
hướng phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh thông qua tổ chức hoạt
động dạy học số và phép tính môn Toán lớp 2.
- Việc tổ chức hoạt động dạy học theo hướng đổi mới đồng bộ PPDH
và ĐGHS ở trường Tiểu học.
- Thực trạng dạy học số và phép tính ở lớp 2.
1.2.2.4. Phương pháp khảo sát
- Phương pháp điều tra (sử dụng phiếu hỏi).
- Trao đổi trực tiếp với GV ở một số trường Tiểu học trên địa bàn quận
Lê Chân – thành phố Hải Phòng.
- Phương pháp quan sát (thu thập thông tin từ GV – HS).
1.2.2.5. Kết quả khảo sát
Qua khảo sát thực tế về đổi mới đồng bộ PPDH và ĐGHS chúng tôi nhận
thấy:
95% giáo viên được khảo sát đều nhận thấy tầm quan trọng của môn
Toán với HS lớp 2 nói riêng và HS tiểu học nói chung. Dạy học môn Toán


20

theo hướng đổi mới đồng bộ PPDH và ĐGHS sẽ góp phần phát triển năng lực
và phẩm chất học sinh. Cụ thể là những năng lực và phẩm chất cơ bản theo
Thông tư 22/2016 TT-BGDĐT của học sinh được phát triển đáng kể: các
năng lực - giao tiếp, hợp tác; tự học, giải quyết vấn đề; các phẩm chất - chăm
học; tự tin; trung thực; đoàn kết. Tuy nhiên, GV chưa biết cách tổ chức hoạt
động học cho học sinh để phát huy được năng lực và phẩm chất cơ bản như
trên. Đa số GV dựa vào kinh nghiệm giảng dạy, chỉ tập trung hướng dẫn học
sinh giải quyết được từng bài cụ thể, HS trình bày các bài sạch đẹp.
Hầu hết GV cũng nhận thức rõ hoạt động đổi mới đồng bộ PPDH và
ĐGHS là hoạt động đúng đắn và vô cùng thiết thực trong dạy số và phép
tính ở lớp 2 cũng như dạy học môn Toán ở Tiểu học trong giai đoạn hiện
nay ở Việt Nam.
Để có nhận thức đúng đắn và sát thực trên, trong quá trình chung tay
thực hiện đề tài GV chuẩn bị các giờ dạy vô cùng chu đáo, công phu và cẩn
thận. GV xây dựng các hoạt động học cho học sinh một cách dễ dàng theo
đúng yêu cầu là tất cả đều bắt đầu từ học sinh. Từ việc nắm bắt kiến thức mới
cũng như luyện tập, thực hành GV đã tập trung đổi mới: xây dựng hình thức,
thứ tự hoạt động học cho học sinh theo sự phân hóa đối tượng, không thiết kế
hoạt động dạy của giáo viên như cũ. Điều đó cho thấy GV đã khá chủ động
trong việc tổ chức các hoạt động học cho học sinh để các em có cơ hội phát
triển năng lực và phẩm chất.
Bên cạnh đó, ở các tiết chưa có sự tác động GV còn lúng túng trong
việc tổ chức hoạt động dạy học. Trong quá trình đánh giá kết quả học tập, hầu
hết giáo viên chưa chú trọng ghi nhận những tiến bộ của học sinh hoặc còn
chung chung. Vì học sinh không có cơ hội, không có môi trường để bộc lộ
khả năng của bản thân.


21

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Như vậy, trong chương 1, trên cơ sở tìm hiểu một số vấn đề hiểu lí
luận, chúng tôi đã làm rõ các khái niệm và thuật ngữ về năng lực, phẩm chất,
sự thể hiện đổi mới đồng bộ PPDH và ĐGHS. Chúng tôi đã phân tích đặc
điểm nhận thức của HS lớp 2, nội dung, mục tiêu, chương trình môn toán lớp
2, mạnh số và phép tính. Từ việc làm rõ các quan điểm về đổi mới đồng bộ
PPDH và ĐGHS, luận văn chỉ ra những cơ hội để HS được phát triển NL, PC
cơ bản theo Thông tư 22/2016 – Bộ GDĐT thông qua tổ chức dạy học số và
phép tính ở lớp 2.
Để làm rõ cơ sở thực tiễn của việc đổi mới đồng bộ PPDH và ĐGHS
thông qua tổ chức dạy học số và phép tính ở lớp 2, chúng tôi đã tiến hành một
số điều tra cơ bản từ thực tiễn dạy học trên địa bàn quận Lê Chân – thành phố
Hải Phòng. Kết quả điều tra cho thấy, dạy học theo hướng mới đồng bộ
PPDH và ĐGHS sẽ góp phần phát triển năng lực, phẩm chất cho HS trong
giai đoạn hiện nay. Đây đang là vấn đề nhà nghiên cứu giáo dục đặc biệt quan
tâm. Vì thế, hầu hết GV được khảo sát đều đã cho rằng về việc hình thành
năng lực, phẩm chất cho HS thông qua dạy học Toán là một xu thế tất yếu
trong xã hội ngày nay. Tuy nhiên, kết quả điều tra cũng chỉ ra nhiệm vụ
nghiên cứu cấp thiết hiện nay là hiện thực hóa các ý tưởng định hướng xây
dựng các hoạt động học cho HS theo đúng nghĩa.
Tóm lại, những vấn đề lý luận và thực tiễn đã được đưa ra trong
chương 1 sẽ là cơ sở cần thiết để đưa ra những định hướng xây dựng hoạt
động học cho học sinh theo hướng đổi mới đồng bộ PPDH và ĐGHS cụ thể
trong dạy học số và phép tính ở lớp 2.


22

CHƯƠNG 2. ĐỔI MỚI ĐỒNG BỘ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ
ĐÁNH GIÁ HỌC SINH TRONG DẠY HỌC SỐ VÀ PHÉP TÍNH Ở LỚP 2
2.1. Các nguyên tắc tổ chức hoạt động dạy học đổi mới đồng bộ
phương pháp dạy học và đánh giá học sinh theo hướng phát triển năng lực
cho học sinh.
2.1.1. Nguyên tắc đảm bảo thống nhất giữa tính khoa học và tính
giáo dục trong dạy học
Trong quá trình dạy học phải trang bị cho HS những tri thức khoa học
chân chính nó phản ánh những thành tựu khoa học, công nghệ, văn hoá hiện
đại của đất nước và thế giới. Đồng thời, trong quá trình dạy học GV cần cung
cấp cho HS những phương pháp học tập khoa học. Thông qua đó dần hình
thành cho HS những phẩm chất đạo đức cao quý của con người trong thời đại
mới. Dạy học là phải cung cấp cho người học một khối lượng kiến thức nào
đó nhưng phải làm cháy lên ở họ lòng khao khát học tập nghiêm túc. Thiếu
điều đó thì cuộc sống khó có thể hạnh phúc và ý nghĩa.
Vì vậy, thực hiện tốt nguyên tắc này, trong quá trình dạy học, GV cần
tổ chức, điều khiển HS lĩnh hội kiến thức cơ bản, hiện đại một cách vững
chắc. Đồng thời, cần tăng cường giáo dục và bồi dưỡng năng lực, phẩm chất
cho học sinh.
2.1.2. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn
trong dạy học
Trong quá trình dạy học, phải làm cho HS nắm vững những kiến thức
lý thuyết, tác dụng của nó với cuộc sống, với thực tiễn, HS có kĩ năng vận
dụng điều đó vào thực tiễn, góp phần cải tạo hiện thực khách quan.
Vì vậy, khi áp dụng nguyên tắc cần chú ý các điểm sau:


23

- Khi xây dựng kế hoạch, chương trình dạy học, cần lựa chọn phát triển
những những kiến thức cơ bản, phù hợp, gần gũi với đời sống thực tiễn của HS.
- Về nội dung dạy học: Cần làm cho học sinh thấy được nguồn gốc thực
tiễn của các khoa học, nghĩa là khoa học nảy sinh là do nhu cầu thực tiễn và
trở lại phục vụ thực tiễn ; phản ánh tình hình thực tiễn vào trong nội dung dạy
học ..., khai thác vốn sống của các em...
2.1.3.Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức chung và
vừa sức riêng trong dạy học
Đảm bảo nguyên tắc này trong dạy học là phải vận dụng nội dung,
phương pháp, hình thức dạy học thúc đẩy được sự phát triển trí tuệ của các
HS trong lớp bên cạnh đó phải quan tâm đến từng cá nhân HS, đảm bảo cho
mọi đối tượng HS đều có cơ hội phát triển ở mức tối đa so với khả năng của
các em.
Bởi thế, khi dạy học, giáo viên phải nắm vững đặc điểm chung của cả
lớp và đặc điểm riêng của từng HS về mọi mặt, nhất là về năng lực nhận thức,
động cơ, thái độ học tập.Khi lên lớp, GV phải thường xuyên nắm tình hình
lĩnh hội của học sinh để có thể kịp thời điều chỉnh hoạt động của mình cũng
như của HS, nhất là học sinh tiếp thu chậm.
2.1.4. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của
người dạy và vai trò tích cực, tự giác, độc lập của học sinh trong dạy học
Trong nguyên tắc này, khi dạy học phải đảm bảo mối quan hệ tốt nhất
giữa sự hướng dẫn sư phạm của người thầy và sự lao động tích cực, tự giác,
sáng tạo của HS.
Vì thế, đảm bảo tốt nguyên tắc này, khi dạy học cần lưu ý:
- Hoạt động dạy học phải hướng vào học sinh: phát huy cao độ tính độc
lập, tích cực, sáng tạo và tạo điều kiện cho HS có thể học tập bằng chính khả
năng của bản thân.


24

- Giáo dục cho học sinh ý thức sâu sắc, đúng đắn về mục đích, nhiệm
vụ học tập, từ đó có động cơ, thái độ học tập tốt.
- Phát huy tư duy ngôn ngữ cho học sinh, khéo léo dẫn dắt học sinh vào
các tình huống có vấn đề, giải các bài tập có tính độc lập.
- Bồi dưỡng cho HS phát triển năng lực tự học, tự tìm tòi nghiên cứu, ...
- Thu thập được thông tin ngược chiều từ phía HS để điều chỉnh và
hoàn thiện hơn công tác dạy và học.
2. 2. Về đổi mới đồng bộ PPDH và ĐGHS trong dạy học.
2.2.1. Đổi mới đồng bộ PPDH và ĐGHS trong dạy học “số và phép
tính” - môn Toán lớp 2 phát huy năng lực, phẩm chất của học sinh
Số và phép tính là mạch kiến thức cơ bản, là tiền đề cho việc học các
mạch kiến thức khác. Tình toán thành thạo mới có thể giải quyết được cái cần
tìm của bài giải, so sánh chuyển đổi đơn vị đo, phân tích số liệu thống kê
cũng như tìm được các yếu tố trong hình học. Vì vậy, để đạt hiệu quả tốt khi
dạy “Số và phép tính” ở lớp 2sự đổi mới mới đồng bộ PPDH và ĐGHS là vô
cùng cần thiết. Việc đổi mới đồng bộ đó được thể hiện cụ thể như sau:
Đổi mới PPDH trong đó có đánh giá:
Trước tiên GV cần tạo không khí cho lớp học, khởi động vừa ôn lại
kiến thức cũ - có liên quan vừa tạo động cơ học tập sôi nổi, hào hứng. Vì thế,
bắt đầu một giờ học không nên áp dụng hình thức kiểm tra bài cũ đơn thuần
như trước mà nên áp dụng phương pháp trò chơi.
Sau đó, GV cần tổ chức hoạt động sao cho HS tự giải quyết vấn đề.
Đây là hoạt động rất thiết thực, để cho HS có cơ hội bộc lộ hết khả năng: hoạt
động cá nhân độc lập trong tư duy và cách trình bày, sau đó thảo luận nhóm
để tăng khả năng giao tiếp, tìm hiểu thêm các cách làm khác nhau, cuối cùng
báo cáo và thống nhất kết quả, cách làm trước lớp.


25

Trong khi HS tự giải quyết vấn đề cá nhân hay theo nhóm, GV phải
bao quát lớp, theo dõi, quan sát kĩ quá trình làm bài của từng HS, từng nhóm
và đánh giá cụ thể sản phẩm học tập đó (đúng/sai, nhầm lẫn, hướng khắc phục
tiếp theo ...).
Như vậy, để việc dạy học “Số và phép tính” ở lớp 2đạt hiệu quả cần
tích cực đổi mới PPDH trong đó có đánh giá.
Đổi mới đánh giá trong đó có hướng dẫn HS học:
Trong quá trình HS giải quyết vấn đề, GV theo dõi và đánh giá HS
(đúng/sai) đặc biệt phải chỉ rõ, cụ thể chỗ đã đúng chỗ làm sai và yêu cầu
HS thực hiện lại. Đây là việc đánh giá thường xuyên vô cùng cần thiết, kịp
thời định hướng cho HS thực hiện đúng yêu cầu. Ở bước này, để phát huy
năng lực của các em không nên hướng dẫn ngay mà để cho HS tự định
hướng và làm lại. Sau đó, GV tiếp thục theo dõi, quan sát, nếu thấy HS làm
đúng GV phải khen ngợi ngay và tạo cơ hội cho HS giải thích cách làm để
nắm chắc vấn đề. Ngược lại, nếu HS vẫn làm sai, GV phải đặt câu hỏi gợi
mở để giúp HS vượt qua được khó khăn, hoàn thành được bài tập.
Như vậy, việc đổi mới đánh giá ở đây là phải thường xuyên, động
viên kịp thời, tạo cơ hội cho HS phát huy năng lực và không tách rời việc
đổi mới PPDH.
Qua phân tích trên, ta thấy sự cần thiết việc áp dụng đổi mới đồng bộ
PPDH và ĐGHS để dạy “Số và phép tính” ở lớp 2 đạt hiệu quả - làm cơ sở
tốt cho HS học các mạnh kiến thức khác trong môn Toán lớp 2. Điều đó có
thể nói, trong suốt quá trình DH đánh giá là bộ phận không thể tách rời. Qua
ĐG giúp HS nhận ra mình đang ở đâu trên con đường chiếm lĩnh mục tiêu bài
học (so với chuẩn kiến thức, kĩ năng), giúp GV điều chỉnh kịp thời hoạt động
dạy học. Đổi mới ĐG sẽ thúc đẩy việc đổi mới phương pháp, hình thức tổ
chức DH, ... Từ đó, chất lượng giáo dục được cải thiện và nâng cao, giúp HS
phát huy NL, PC đáp ứng sự đổi mới trong giáo dục.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×