Tải bản đầy đủ

Giá trị của ca dao trong đời sống xưa và nay

VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI:

GIÁ TRỊ CA DAO TRONG ĐỜI SỐNG
XƯA VÀ NAY

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


1. KHÁI NIỆM:
Ca dao là thơ ca dân gian Việt Nam được truyền miệng dưới dạng những câu hát
không theo một điệu nhất định, thường phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ, dễ
thuộc. Ca dao là một từ Hán Việt, theo từ nguyên, ca là bài hát có chương khúc, giai
điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc.
2. GIÁ TRỊ CA DAO TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI:
a. Trong nghi lễ:
 Trong đời sống xã hội xưa:
Ca dao, dân ca nghi lễ là: những bài ca dao, dân ca gắn liền với những sinh hoạt
tính ngưỡng của nhân dân, gắn với phong tục của từng vùng như: khẩu nguyện, hò
đưa linh, hát sắc bùa,… Qua năm tháng ca dao dân ca dần đi vào đời sống nhười dân
như một điều quen thuộc. Điều đó như là một biểu hiện mà người xưa ghi lại về mối

quan hệ giữa con người với tự nhiên và giữa con người với nhau, thông qua quan hệ
giữa con người với lực lượng siêu nhiên do trí tưởng tượng của chính con người tạo
ra.
 Loại bài khẩn nguyện:
Gắn liền với sinh hoạt lao động, là loại sáng tác dân gian ra đời từ những thời kì
phát triển rất sớm của nhân loại.
Gắn liền với các nghi lễ mà các bộ lạc, bộ tộc tổ chức vào giai đoạn quan trọng
nhất trong một năm.
→ Phản ánh dưới hình thức những lời cầu xin, khẩn nguyện. Phần lớn là kinh
nghiệm lao động thực tiễn và những điều về thế giới xung quanh mà nhân dân ta đã
quan sát được.
Ví dụ:
Bài ca “uốn cần” thuộc nhóm các bài hát để hát chầu
Cùng với đó là những bài ca “chăn tằm”, “đi cấy”, “mắc cửi”, “may áo”,... Hoặc
là nhóm “quả cách” trong hát xoan (Bắc Ninh), những đoạn tả cảnh làm ruộng, may
áo,... Những bài ca, bài nhóm đó có thể xem như là tàn dư của loại bài ca khẩn
nguyện. Tuy vậy những tàn dư này khiến cho ta suy nghĩ về sự liên quan của dân ca
nghi lễ tế thần với những bài ca khẩn nguyện ra đời trong sự phát triển của nhân loại.
Loại hình này thể hiện sự tín ngưỡng của nhân dân ngày xưa, niềm tin của nhân dân
vào thời đó. Cũng như mong muốn của người dân, luôn mong an lành, mưa thuận gió
hòa, thuận buồm xuôi gió.
 Hò đưa linh
Được hát trong lúc đưa linh cữu người chết từ nhà ra huyệt hay trong khi linh
hồn người chết.
Có những trường hợp thì hò đưa linh chứa đựng yếu tố nghệ thuật dân gian.
Ví dụ:

2


Bài hò đưa linh mượn lời con đưa mẹ. Nói về thân thế người chết, phản
ánh được một số nét đời sống và quan điểm của nhân dân đối với các mối
quan hệ ràng buộc các thành viên trong gia đình với nhau. Dưới đây là
một bài hò đưa linh thường được hát trong những ngày xưa, nội dung bài
hò nói về sự thương tiếc vô hạn khi người mẹ qua đời:
Hụi bơ hò hụi
Khoan bơ hò khoan...
...Mẹ già thọ bệnh
Khi nóng khi lạnh
Thuốc thang chẳng rời


Mẹ về chầu trời
Xa quê ngái cảnh
Lòng con chành chạnh
Biết thuở nào khuây
Chọn tháng chọn ngày

Khăn trắng áo thùng
Nào con nào cháu
Nào cô nào cậu
Nào chị nào em
Đứng lại xung quanh
Vừa than vừa khóc…
Hò đưa linh như một lời đưa tiễn sau cùng cho những người không may qua đời. Thể
hiện tình yêu thương của người Việt Nam rất sâu sắc. Không ngoa khi nói người Việt
ta rất giàu tình cảm, luôn có tinh thần tương trợ lẫn nhau qua mối quan hệ trong gia
đình như giữa cha mẹ với con cái, ông bà với cháu, anh chị em với nhau. Qua đó phản
ánh nét đẹp trong tâm hồn con người Việt nói chung và người nông dân nói riêng.
 Dân ca sắc bùa
Dùng để hát chúc những gia đình làm những ngành nghề khác nhau như có gia
đình thì làm nghề nông, gia đình thì làm nghề chài lưới, gia đình thì làm nghề thợ
mộng:
Năm mới bước tới nhà ông
Xem trước vườn trước chẳng đồng vườn sau…
Về nội dung mà nói thì những bài sắc bùa rất gần với dân ca lao động. Vì vậy mà
các bài hát sắc bùa không chỉ được hát trong dịp tết, chúc mừng năm mới mà còn
được hát trong những trường hợp khác nữa, ở đó phản ánh một số nét về đời sống của
nhân dân lao động Việt Nam và nói lên cuộc sống ước mơ về một cuộc sống sung túc
khỏe mạnh và lâu dài.
 Dân ca tế thần

3


Ghi lại được truyền thống lịch sử địa phương gắn liền với lịch sử dân tộc. Vd: hát
về Lý Thường Kiệt trong hát Dậm (Hà Nam), hát về Lê Phụng Hiểu trong chèo chải
(Thanh Hóa), Phù Đổng Thiên Vương trong hát Ải Lao (Bắc Ninh)
Nội dung của một số bài ca có đôi khi có cả yếu tố kịch dưới hình thức diễn
xướng về anh hùng (như trong hát Ải Lao) thuật lại những giai đoạn lịch sử oanh liệt
của dân tộc, thể hiện lòng tự hào và nhớ ơn sâu sắc của nhân dân ta đối với các anh
hùng dân tộc.
Những loại dân ca này phần lớn ca ngợi anh hùng dân tộc và phản ánh lịch sử
dân tộc, thể hiện lòng tin, niềm mong ước được che chở, ban phước và làm ăn thuận
lợi. Dưới đây là 1 đoạn trong bài hát trong lễ dâng hương ngày xưa:
Uy linh dẹp quỷ trừ tà,
Bao nhiêu quỷ dữ tống ra nẻo ngoài
Tốt lành phù hộ gái trai,
Già thêm sức khỏe, tuổi dài xinh thay...
(Múa hương, trong hát Dậm)
Ca dao, dân ca gắn với sinh hoạt thế tục (sinh hoạt lao đông, sinh hoạt gia đình,
sinh hoạt xã hội). Loại trừ những sinh hoạt nghi lễ có tính chất thần bí, biến những
yếu tố hình thức có thể tiếp thu được của sinh hoạt nghi lễ thành những tập quán sinh
hoạt có tính chất thế tục. Không chỉ vậy còn là sự tiếp nối truyền thống, ghi lại lịch sử,
lưu truyền những nét văn hóa của người sáng tác xưa.
 Trong đời sống xã hội nay:

 Hát xoan:
Ngược dòng thời gian, xưa kia hát Xoan được người dân rất yêu chuộng thường
được biểu diễn vào dịp đầu xuân. Có ba hình thức hát Xoan: hát thờ cúng các vua
hùng và Thành hoàng làng; há nghi lễ cầu mùa tươi tốt, cầu sức khoẻ; và hát lễ hội là
hình thức để nam nữ giao duyên.
Khởi đầu một cuộc hát, phường Xoan phải sửa mâm lễ dâng lên miếu, hát chào
vua và mời vua về đình xem dân làng múa hát. Khi các thủ tục dâng lễ đã hoàn tất,
đoàn kiệu bát cống do 8 chàng trai trẻ trung, chưa vợ, nhà không tang, cùng với đầy
đủ nghi trượng, cờ quạt, trống chiêng khởi kiệu rước vua từ miếu về đình. Khi rước
phải có 4 đào Xoan trẻ, chưa chồng đi dưới gầm kiệu hát điệu Phụ giá:
Tám người trai kiệu bước vào
Tay lót khăn đào rước lấy vua lên
Vua lên thánh đức trị vì
Vua về nghe hát, mừng làng sống lâu.
Ngoài ra, “Xin huê”, “Đố huê” là những câu đố lắt léo của các trai làng vận ra để
chọc ghẹo, thử tài ứng đối của các cô đào Xoan như:
Trai làng:
Anh xin nàng chút huê trong yếm, sao nàng?
4


Đào xoan:
Huê trong yếm anh thuận huê gì?
Trai làng:
Huê trong yếm anh thuận huê hương
Đào Xoan:
Huê hương mùa này chưa nở
Để một mai nó nở, em lại bẻ cho chàng
Để chàng thêm yêu, để chàng thêm nhớ
Để huê nụ héo, huê hời huê hỡi là huê.
Bên cạnh đó, “Đố chữ” là bài giảng nghĩa của các từ Hán. Những chữ đem ra đố
là những chữ thường gặp trong đời sống nông thôn Việt Nam thời nho học phát triển.
Mục đích của hát Đố chữ nhằm khích lệ tinh thần hiểu học của con cháu trong làng
xã. Lời ca có đoạn:
Trai làng:
Anh đố em biết chữ gì trên trời rơi xuống?
Anh đố em biết chữ gì làm ruộng nuôi ta?
Anh đố em biết chữ gì nên việc cửa việc nhà?
Anh đố em biết chữ gì thấy người qua mà chẳng chào?
Đào Xoan:
Anh đã đố anh phải giảng
Qua hoà em chẳng biết thời anh giảng có dân lòng nghe.
Trai làng:
Vũ là mưa trên trời rơi xuống
Ngưa là trâu àm ruộng nuôi ta
Thê là vợ nên việc cửa việc nhà
Nộ là giận thấy người qua là chẳng chào.
Hát xoan thật sự là một loại hình nghệ thuật có giá trị văn hoá cao. Ngày nay vẫn
được lưu truyền, gìn giữ và phát huy một cách tự nguyện như ông cha họ đã làm trong
lịch sử. Ngày 24 tháng 11 năm 2011, tại Bali (Indonexia) UNSCO chính thức công bố
đã ghi danh hát Xoan của Việt Nam vào Danh mục Di sản văn hoá phi vật thể của
nhân loại.
 Hát sắc bùa
Hát sắc bùa thường được diễn vào mùa xuân, đặc biệt vào các ngày Tết, bao gồm
một đoàn người là các đôi trai gái, nam mang trống cơm nữ mang “sênh tiền”, đứng
đầu là một vị trưởng đoàn đi đến từng nhà và hát chính, đoàn nam nữ đi theo để phụ
hoạ. Các bà hát sắc bùa mang nội dung ca ngợi mùa xuân, ca ngợi chủ nhà và chúc
chủ nhà một năm mới an khang thịnh vượng. Chủ nhà mời đoàn hát sắc bùa vào nhà
xông đất để mong một năm mới tốt đẹp:
5


Mở ngõ đã rồi
Thiệt là chúng tui
Sắc bùa là hiệu
Xưa thầy dạy biểu
Hết năm bảy ngày
Sắc hết đông tây
Đêm vùa trừ tịch
Khai phương khai tịch
Sát quỷ trừ tà
Mừng rước xuân qua
Cho nhà hưng thịnh

Hay ở Bến Tre, khi đội hát đến cổng ngõ gia chủ, dưới sự chỉ huy của ông bầu,
các nghệ nhân trong đội hát nổi nhạc, vỗ trống cơm, gõ sanh tiền và hát bài “Khai
môn”:
Mở cửa mở cửa
Khoen trên cài xỏ
Ngõ dưới còn gài
Chả phụ đứng ngoài
Thần tài sát quỷ
Thầy quỷ lao xao
Ông ngồi giường cao
Mở chặng đường nào
Năm mới giàu sang
Bình an vô sự”
Khi gia chủ ra mở cửa, ông bầu vào nhà vái lạy. Các thành viên trong đội xếp
thành hai hàng rồi hát chúc xuân, sau đó cả đội hát bài chúc ông bài. Khi hát xong,
ông bầu làm nghi thức dàn bùa.
Từng một thời thịnh hành trên vùng sông nước phương nam, nhưng sau bao biến
đổi thăng trầm, hát sắc bùa dần bị mai một. Từ năm 1985 đến 1998, tục hát sắc bùa
gần như không còn do các nghệ nhân lớn tuổi đã qua đời gần hết và không có thế hệ
nào kế thừa. 1998 Hát sắc bùa được đề nghị đăng ký vào dự án Bảo tồn và phát huy
các giá trị di sản văn hoá phi vật thể cộng đồng các dân tộc Việt Nam do Viện Văn hoá
thông tin chịu trách nhiệm quản lý và điều hành.
 Hát Dô
Hát dô là thể loại dân ca nghi lễ, hình thành và phát triển trên mảnh đất xã Liệp
Tuyết, gắn với tín ngưỡng thờ Đức Thánh Tản, vị thần đứng đầu trong “Tứ bất tử”
linh thiêng của dân tộc ta. Nội dung của diễn xướng hát Dô phản ánh nhận thức của
người dân lao động về thiên nhiên, con người, mơ ước về một cuộc sống ấm no, hạnh
phúc. Theo đúng lệ tục, cứ 36 năm ứng với ba sáu làn điệu mới tới kỳ hội thì phải đợi
6


đến 2034 hội hát Dô mới được tiếp diễn. Tương truyền rằng 36 năm làn điệu này mới
được vang lên một lần, nếu ai vi phạm sẽ có những cái chết bất tử hoặc sẽ gặp những
chuyện xui xẻo, thăng trầm, tao đoạn trong cuộc sống. Thậm chất còn được ghi nhớ
bằng thơ để khuyên nhủ con cháu:
Con hát tuổi hạn hai mươi
Nếu qua độ ấy thì thôi hát hò
Bao giờ đến hội hát Dô
Thì còn phải kiếm gái tơ chưa chồng.
Nỗi ám ảnh và lời nguyền được truyền từ đời này sang đời khác khiến cho làn
điệu hát Dô có nguy cơ thất truyền. 1926 là lễ hội cuối cùng được tổ chức. Từ đó trở
đi không ai biết đến làn điệu, một câu hát Dô nữa. 1989, hiểu được giá trị của kafn
điệu hát cổ này nên trung tâm văn hoá tỉnh Hà Tây và huyện có ý định phục hồi lại hát
Dô.
Lời hát Dô bí hiểm là thế nhưng người dân Liệp Tuyết vẫn quan niệm rằng:
Quà Thánh rơi ở giữa làng
Phúc tôi nhặt được phải năng giữa gìn
Hai con một nách không tiền
Hát Dô tôi biết còn “hèm” thì quên đi.
(hèm: xui xẻo, hoặc bị Thánh vật)
Thế nên từ đó hát Dô ở Liệp Tuyết đã trở lại trong mỗi hội xuân và còn đi ra
nước ngoài.
b. Trong lao động – sản xuất
 Trong đời sống xã hội xưa:
Ca dao là nơi thể hiện sinh động tính cách tâm hồn văn hóa truyền thống của dân
tộc, của các vùng miền.
Từ thuở khai hoang lập địa, con người đã quen hình thức săn bắt, hái lượm. Tiêu
thụ sản vật tự nhiên hơn việc tổ chức sản xuất độc canh, ngoại trừ cây lúa vốn là đặc
điểm nổi bật của cộng đồng cư dân nông nghiệp vùng Đông Nam Á.
Với thiên nhiên hùng vĩ, trù phú của Việt Nam, con người có nhiều cơ hội để hòa
vào tự nhiên hơn. Con người và thiên nhiên gắn bó chặt chẽ với nhau trong một tổng
thể phức tạp mà cũng thật đơn giản.
Trong lao động, ca dao thường được thể hiện qua hình thức diễn xướng bằng các
điệu hò, hát, lý,… Mỗi thể loại có những môi trường và hình thức thể hiện khác nhau.
Qua hình thức diễn xướng như vậy, ca dao trở thành dân ca. Có thể gọi chung là Ca
dao - dân ca lao động.
Ca dao - dân ca lao động là những bài ca, bài thơ được hò hát trong lao động với
điều kiện là tiết tấu, nhịp điệu, sắc thái biểu cảm, tốc độ, cường độ và cách thức diễn
xướng của nó phải gắn chặt với các quá trình của một công việc cụ thể nào đó của
nhân dân. Ca dao - Dân ca lao động chỉ nảy sinh trên cơ sở của những công việc có sự
7


lặp đi lặp lại về nhịp điệu và động tác lao động. Đó là những công việc như chèo ghe,
đương đệm, tát nước, phát cỏ, kéo gỗ, giã gạo, xay lúa…
Ca dao Lao động ngoài việc thúc đầy tinh thần lao động, nó còn đúc kết nhiều
bài học kinh nghiệm của ông cha ta trong lao động sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực
nông nghiệp:
Bao giờ đom đóm bay ra,
Hoa gạo rụng xuống thì tra hạt vừng.
Gió đông là chồng lúa chiêm,
Gió bắc là duyên lúa mùa.
Khó thay công việc nhà quê,
Quanh năm khó nhọc, dám hề khoan thai.
Tháng chạp thì mắc trồng khoai,
Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà,
Tháng ba cày bở ruộng ra,
Tháng tư bắc mạ, thuận hòa mọi nơi,
Tháng năm gặt hái vừa rồi,
Bước sang tháng sáu, nước trôi đầy đồng.
Nhà nhà vợ vợ chồng chồng,
Đi làm ngoài đồng, sá kể sớm trưa...
Tháng sáu, tháng bảy, khi vừa,
Vun trồng giống lúa, bỏ chừa cỏ tranh.
Tháng tám lúa giỗ đã đành,
Tháng mười cắt hái cho nhanh kịp người.
Khó khăn làm mấy tháng trời,
Lại còn mưa nắng thất thời khổ trông!
Cắt rồi nộp thuế nhà công!
Từ rày mới được yên lòng ấm no.
Bên cạnh đó, ca dao lao động còn nói lên nỗi vất vả, lo lắng của người nông dân
trong lao động sản xuất:
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần!
Ơn trời mưa nắng phải thì
Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu.
Người ta đi cấy lấy công,
8


Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề.
Trông trời, trông đất, trông mây
Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm
Trời yên, biển lặng mới yên tấm lòng.
Song dẫu cực nhọc, gian khổ nhưng với tinh thần chịu thương, chịu khó, lạc
quan của mình, người nông dân vẫn tin vào một ngày mai tươi sáng hơn:
Công lênh chẳng quản lâu đâu,
Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng.
Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang
Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu
Qua đây, ca dao - dân ca đã mang giá trị tinh thần to lớn trong lao động sản
xuất của người lao động nói riêng và người nông dân nói chung. Ca dao giúp mọi
người hăng say lao động, giải trí sau những giờ làm việc mệt mỏi. Và cũng nhờ ca
dao lao động, người ta có thể gián tiếp gửi tâm tư tình cảm tâm tư của mình vào
đó:
Rủ nhau xuống bể mò cua
Đem về nấu quả mơ chua trên rừng
Em ơi ! Chua ngọt đã từng
Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau

 Trong đời sống xã hội nay:
Ca dao - Dân ca thông thường chính là bài học, những kinh nghiệm mà ông cha
dựa vào sự trải nghiệm, quá trình sinh hoạt - thử nghiệm, thất bại bao lần rồi rút ra,
đúc kết và ngắn gọn lại, gửi gắm vào từng câu chữ cho con cháu chúng ta sau này. Và
ca dao dân ca được sinh ra trong chính những câu chuyện, trong đời sống sinh hoạt
của người dân lao động là phần lớn, cũng chính vì thế mà ca dao dân ca về lao động sản xuất chiếm phần lớn kho tàng ca dao - dân ca trong mỗi con người chúng ta. Từ
những câu ca dao tưởng chừng như quen thuộc như:
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.
Hay:
Người ta đi cấy lấy công,
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề
Trông trời, trông đất, trông mây
Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm
9


Trời yên, biển lặng mới yên tấm lòng.
Đã chứa đựng hình ảnh những giọt mồ hôi, công sức, sự lo lắng, nhọc nhằn mà
người nông dân đã bỏ ra trên ruộng đồng để đổi về những hạt gạo, mà khi đến tay
chúng ta chình là những bát cơm thơm, dẻo. Tuy ở thời đểm hiện tại, máy móc hỗ trợ
phần lớn công việc của người nông dân, nhưng không ai có thể phủ nhận những công
sức ấy. Cũng thông qua câu ca dao ấy, truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của dân
tộc một lần nữa được nhắc lại.
Bên cạnh đó, tinh thần đoàn kết cũng được gửi gắm cả vào trong ca dao lao động
với những hình ảnh như là giàn bầu, giàn bí:
Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn
Hình ảnh trận lũ không hề xa lạ với người dân miền Trung cũng như cả nước:
Nước lụt thì lụt cả vùng
Già trẻ, trai gái, ta cùng đắp đê.
Và hơn hết là tinh thần lao động không ngại thử thách, không ngại điều mới, điều
mà giới trẻ ngày nay rất thiếu đã luôn được nhắc đến:
Đi buôn không lỗ thì lời
Đi ra cho biết mặt trời mặt trăng.
Câu ca dao nghe rất nhẹ nhàng khi “không lỗ thì lời”, và phải đi mới biết “mặt
trời, mặt trăng” trông như thế nào, giống như phải ra đồng mới biết cấy mạ, trồng lúa;
phải đi đánh cá mới biết phải đợi, phải canh, phải kéo lưới như thế nào
Ca dao - Dân ca trong lao động sản xuất tuy không có quá nhiều sự cải biến
nhưng cũng rất khó để phủ nhận giá trị cả về lượng kiến thức mà các câu ca dao ấy
mang lại. Tuy thời điểm hiện tại, khi mà công nghệ kĩ thuật ngày càng dần thay thế,
hỗ trợ con người trong sản xuất thì những công nghệ ấy vẫn là dựa trên các bài học
tích góp mà phát triển. Đồng thời, ca dao dân ca cũng chính là tiếng hát của người lao
động khi mà nơi đồng áng, trên dông ngòi vẫn là những câu hát của Lý qua cầu, Lý
kéo chài, Hò giã lúa,… khiến cho những giờ làm việc trôi nhanh hơn mà hình ảnh lao
động được truyền tải, được cảm nhận một cách du dương bởi mọi người.
c. Trong giáo dục:
 Trong đời sống xã hội xưa
Câu ca dao được ông cha ta đúc kết từ quy luật của tự nhiên, xã hội thành những
kinh nghiệm, kiến thức hết sức quý giá được thể hiện bằng những câu ca dao. Trong
đó có ca dao nói về giáo dục. Trải qua thời gian, những kinh nghiệm, kiến thức đó
ngày càng được bồi đắp, gìn giữ và được ông cha ta truyền lại cho các thế hệ sau học
tập và noi theo. Sở dĩ người xưa dùng ca dao để làm vũ khí sáng tác mang tính giáo
dục là vì:
 Ngôn ngữ gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày, giàu hình ảnh so sánh, ẩn
dụ.
10


 Lời thơ thường ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thuộc và dễ truyền miệng.
Chính vì những triết lí đó nên ca dao có giá trị to lớn trong xã hội ngày xưa đặc biệt
là trong giáo dục.
Từ xưa, ông cha ta đã quan niệm mục đích của việc học trước hết là để làm
người, rồi sau đó là tham gia việc làng, việc nước:
Học là học để làm người
Biết điều hơn thiệt biết lời thị phị
Câu ca dao này có ngụ ý là muốn khuyên chúng ta phải học tập để trở thành người có
ích và nên học những gì tốt chứ không nên học tập những cái xấu.
Với lối so sánh, ví von mộc mạc, ông cha ta đã khẳng định vai trò quan trọng của
việc học tập:
Người mà không học, khác gì đi đêm
Người không học như ngọc không mài
Ngọc kia chẳng giũa chẳng mài
Cũng thành vô dụng cũng hoài ngọc đi
Hai câu ca dao trên ý nói nếu không học con người sẽ trở nên mù mờ, tăm tối, dẫu có
là ngọc đi chăng nữa mà không được mài, được giũa thì ngọc ấy cũng chẳng có giá trị.
Hay:
Học là học biết giữ giàng
Biết điều nhân nghĩa biết đàng hiếu trung
Câu ca dao trên để khuyên mọi người chúng ta cần phải học tập những đạo lý, lễ
nghĩa làm người.
Hoặc:
Người không học, không có sự hiểu biết
Trẻ mà không học, lớn không làm được việc gì
Câu ca dao trên cho thấy việc học không có bất cứ giới hạn nào, mà học tập vừa là
trách nhiệm, vừa là quyền lợi, nó luôn đòi hỏi sự nỗ lực và quyết tâm cao của mỗi con
người.
Giá trị của việc học tập và sự hiểu biết luôn được coi trọng, đề cao. Những phẩm
chất tốt đẹp của con người, những giá trị đích thực của đời người chỉ có thể được tạo
nên bởi học tập.
Làm người mà được khôn ngoan
Cũng nhờ học tập mọi đường mọi hay
Và còn rất nhiều câu ca dao nói về học tập:
Nghề gì đã có trong tay
Mai sau rồi cũng có ngày ích to
11


Học trò học hiếu học trung
Học cho đến mức anh hùng mới thôi
Học là học để mà hành
Vừa hành vừa học mới là điều khôn
Dẫu rằng thông hoạt, chẳng học cũng hư đời
Tài chí bằng trời, chẳng học cũng là phải khổ
Nói tóm lại cách giáo dục chân thực, hóm hỉnh bằng ca dao của ông cha ta đã tạo nên
đời sống vật chất và tinh thần phong phú. Bằng những kinh nghiệm, kiến thức sống
mà giá trị của ca dao trong xã hội xưa đặc biệt là trong giáo dục vẫn được nhân dân
lưu truyền cho tới ngày nay. Nhờ những câu ca dao này mà bao thế hệ học trò đã
thành người. Từ đó mà giá trị của ca dao được nâng lên một tầm cao mới.
 Trong đời sống xã hội nay:
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, ca dao vẫn còn giữ vai trò và giá trị quan
trọng lĩnh vực giáo dục. Cụ thể ca dao được thầy cô và học sinh, sinh viên sử dụng
trong việc học tập, nghiên cứu hay thậm chí là để giải trí và giao tiếp hằng ngày với
nhau.
Cụ thể hơn như:
 Giảng viên, sinh viên, học sinh sử dụng ca dao để làm tư liệu dẫn chứng
trong bài giảng, tiết học, buổi thuyết trình có chủ đề liên quan nhằm tăng sự
sinh động và sức hấp dẫn cho người nghe.
 Nhà trường, các câu lạc bộ tổ chức các hoạt động liên quan đến ca dao như
biểu diễn ca dao trên sân khấu hiện đại, các cuộc thi, các hoạt động giao lưu
văn hóa, biểu hiện đáng khích lệ cho nỗ lực của thời nay trong việc bảo tồn
những giá trị truyền thống, cũng đã thể hiện được niềm tự hào dân tộc trong
khát vọng quảng bá những nét đẹp tinh túy của hồn Việt ra thế giới…
Tuy nhiên, do sự phát triển của đô thị hóa, làng mạc bờ tre dần nhường chỗ cho
đường bê tông, nhà cao tầng, cuộc sống nhanh hơn và hối hả hơn, mối quan hệ giữa
người với người dần trở nên lỏng lẻo, ca dao cũng dần mất đi môi trường diễn xướng
của nó. Giới trẻ ngày ngày chạy theo thế giới mạng ảo mà mất dần kiến thức về ca
dao. Vì vậy cần có những hoạt động tích cực để giúp các bạn hiểu và giữ gìn thể loại
ca dao này.
3. TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN
Để khai thác rõ hơn về giá trị của ca dao - dân ca trong đời sống xưa và nay,
ngoài việc tìm hiểu về các hình thức lưu truyền và nội dung phản ánh thì những yếu tố
về lịch sử và xã hội, đất nước và con người trong ca dao - dân ca Việt Nam cũng
chiếm một vị trí không nhỏ. Bởi chính những điều này đã thể hiện khá rõ rệt các giá

12


trị ca dao- dân ca về sự đồng điệu, cũng như sự đối lập trong đời sống tinh thần của xã
hội từ xưa đến nay.
a.
Trong tình hình xã hội và tình yêu đất nước:
Ca dao - dân ca Việt Nam phản ánh lịch sử Việt Nam:
Việc xác định nội dung lịch sử cho những câu ca dao phải dựa vào nhiều tài liệu,
nhiều chứng cớ lịch sử khác nhau mới có thể tin cậy được. Tuy nhiên, do nội dung lịch
sử cụ thể, có một nhóm ca dao được xếp riêng thành một loại mà chúng ta có thể gọi
là ca dao lịch sử. Đó là những câu và những bài ca ngắn lấy đề tài ở những sự kiện
lịch sử. Những biến cố lịch sử được ghi lại trong ca dao là những biến cố ít nhiều có
ảnh hưởng đến đời sống nhân dân thời ấy. Mặc dù chưa xác định được rõ ràng là câu
nào được sáng tác ngay trong khi biến cố lịch sử đang xảy ra, mới sau khi xảy ra hay
xảy ra đã lâu, nội dung của ca dao lịch sử nói chung đã phản ánh được những sự kiện
của lịch sử dân tộc. Đặc điểm của những câu ca dao này là còn giữ lại được những
danh từ riêng chỉ tên người, tên đất, tên triều đại, hay ít ra cũng phản ánh những đặc
điểm riêng biệt có thể nhận ra ngay được của một giai đoạn lịch sử nhất định. Ca dao
lịch sử không làm công việc khái quát hóa các sự kiện lịch sử, không tìm cách phát
hiện các quy luật lịch sử, mà chỉ tập trung nói về mặt nào đó của biến cố lịch sử có
liên quan đến đời sống nhân dân đương thời. Trong ca dao lịch sử, nhân dân chỉ nhắc
đến sự kiện lịch sử để nói lên thái độ, quan điểm của mình.
Ví dụ:
Ru con con ngủ cho lành,
Để mẹ gánh nước rửa bành cho voi.
Muốn coi lên núi mà coi,
Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng.
Túi gấm cho lẫn túi hồng,
Têm trầu cánh kiếm cho chồng đi quân.
Nói lên lòng yêu nước, tinh thần phấn khởi nô nức của nhân dân theo Bà Triệu khởi
nghĩa chống lại ách thống trị của quân Ngô xâm lược nước ta ở thế kỉ III.
Anh đi theo chúa Tây Sơn,
Em về cày cuốc mà thương mẹ già.
Thế kỉ XVIII, phong trào Tây Sơn lan rộng kháp cả nước, nhân dân dân Thanh Hóa
lưu truyền câu ca dao như lời kêu gọi thanh niên gia nhập nghĩa quân.
Vạn Niên là Vạn Niên nào,
Thành xây xương lính hào đào máu dân.
Phản ánh tình trạng kiêu sa, lãng phí vô độ của vua Tự Đức, đã cắm đất xây lăng
làm hao tổn rất nhiều nhân lực và vật lực.
Thời gian triều đình Huế khởi xướng công cuộc chống Pháp với các đại thần và các
tướng lãnh, dù có tâm huyết nhưng thiếu kinh nghiệm lãnh đạo chiến tranh, nên dân
chúng đã có lời bình phẩm có phần khắc nghiệt:
Nước Nam có bốn anh hùng
13


Tường gian Viêm dối Khiêm khùng Thuyết ngu
Tường là Nguyễn Văn Tường, trước sát cánh với Tôn Thất Thuyết chống Pháp, sau ra
hàng. Viêm là Hoàng Kế Viêm, trước cũng chống Pháp, sau được vua Đồng Khánh
phục chức và sai đi dụ hàng vua Hàm Nghi. Khiêm là Ông Ích Khiêm, một vị quan
thời Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường chuyên quyền, vì tính khẳng khái, không
luồn cúi cấp trên, làm phật ý hai ông Tường, Thuyết nên bị giam vào ngục. Dân gian
nói ông Khiêm 'khùng' vì có tính khí khác thường, ngang bướng, không chịu khuất
phục cường quyền. Và 'Thuyết ngu', ngụ ý cho rằng ông Thuyết là một kẻ 'hữu dũng
vô mưu'. Dù sao, dư luận quần chúng cũng chê hai kẻ gian dối và khen hai người
trung can, nghĩa khí.
Đến nay, tuy số lượng ca dao dân ca lịch sử không nhiều lắm nhưng vẫn có một
giá trị quan trọng nhất định rằng các biến cố lịch sử lưu truyền theo cách khách quan,
bởi chúng ta đều nhận ra thái độ, quan điểm của quần chúng nhân dân đối với sự kiện
đó. Hơn nữa những câu ca dao này cũng cung cấp cho thế hệ sau nhiều tài liệu
quý báu, tìm ra ý nghĩa chân thực của biến cố lịch sử thường bị các sử gia phong
kiến trước đó xuyên tạc.
Ca dao dân ca trữ tình lấy đề tài trong đời sống xã hội:
Ca dao dân ca chủ yếu ra đời trong thời kì lịch sử này phản ánh những tâm trạng
đau khổ, uất ức, thái độ phản kháng của nhân dân lao động bị đè nặng dưới ách thống
trị nặng nề của giai cấp địa chủ và chính quyền phong kiến:
Gánh cực mà đổ lên non
Còng lưng mà chạy cực còn theo sau
Trời sao trời ở không cân
Kẻ ăn chẳng hết người lần không ra
Con ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc cướp ngày là quan.
Phản ánh những khía cạnh điển hình của tâm tình nhân dân, phản ảnh hoàn cảnh sinh
sống khổ cực và tinh thần đấu tranh mãnh liệt.
Sinh con gặp phải buổi này,
Bao giờ mở mặt mở mày con ơi!
Tiếng hát ru của người mẹ thực chất là tiếng than thở của những người lao động
nghèo khổ
Cao su đi dễ khó về
Khi đi trai tráng khi về bủng beo
Phản ánh thời Pháp thuộc, người công nhân phải bỏ mạng ở những nhà máy, đồn điền

14


Trong quá khứ, ca dao dân ca đã trải qua thời kì hoàn kim của nó, có thể nói nó
góp mặt trong mọi hoạt động của con người, góp mặt trên mọi khía cạnh của đời
sống.Ca dao dân ca ngày xưa gắn với đời sống nhân dân như một món ăn tinh thần
không thể thiếu. Họ ca hát trong lao động, nghi lễ, hội hè, dùng những lời ru như nơi
dốc tiếng lòng của mình… Đến nay, với nhịp thở của thời đạị, chúng ta có thể thấy thể
loại này vẫn đang sống, giá trị của nó chưa bao giờ mờ đi.
Ca dao - dân ca là kho tàng tài liệu phong phú về phong tục tập quán:
Thông qua ca dao - dân ca Việt Nam, chúng ta chứng kiến được một bức tranh
nhiều màu sắc và hình nét đa dạng về đất nước Việt Nam.
Từ những khung cảnh đồ sộ, hùng vĩ của những triền núi cao cho đến những dải
sông dài rộng bát ngát như:
Nhất cao là núi Ba Vì
Thứ ba Tam Đảo, thứ nhì Độc Tôn
Sông Thương nước chảy đôi dòng
Bên trong bên đục em trông bên nào?
Các đôi trai gái vẫn thường mượn núi, mượn sông mà gọi người thương hay thề
nguyền ước hẹn:
Núi cao chi lắm núi ơi
Núi che mặt trời không thấy người thương
Bao giờ cạn lạch Đồng Nai
Nát chùa Thiên Mụ mới sai lời nguyền
Bên cạnh đó, ca dao còn cho chúng ta thấy những thắng cảnh thiên nhiên, những
công trình văn hóa do bà tay của nhân dân lao động sáng tạo nên, sự giàu có về những
sản phẩm mà thiên nhiên phú sẵn cho đất nước, sự phong phú về những sản phẩm do
chính bàn tay của nhân dân tạo nên:
- Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biết như tranh họa đồ
- Đồng đăng có phố kì lừa,
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh
- Muốn ăn mật rú vô Trèn,
Muốn ăn ốc đực thì lên Thác Đài
- Hỡi cô thắt lưng bao xanh,
Có về An Phú với anh thì về,
An Phú có ruộng tứ bề
Có ao tắm mát, có nghề kẹo nha
Ca dao nêu lên những nét đặc trưng của Người Việt thông qua mái tóc, trang phục, dáng
điệu…:
- Áo đen năm nút viền bâu
Bậu về xứ bậu biết đâu mà tìm

15


- Tóc đến lưng vừa chừng em bối
Để chi dài bối rối dạ anh?
Người con gái miền Nam
- Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
Người con gái miền Bắc.
Ca dao về các món ăn cũng không kém phần phổ biến:
- Yến xào Vĩnh Sơn
Nam sâm Bố Trạch
Cua gạch Quảng Khê
Sò nghêu Quan Hà
Rượu dâu Thuần Lý
- Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng
Về sông ăn cá ,về đồng ăn cua.
- Hàng bánh hàng bún bày ra
Củ từ khoai nước nào là cháo kê
Ca dao thể hiện những phong tục truyền thống lâu đời:
- Có trầu cho miếng đỏ môi
Có rượu cho má thêm tươi má hồng
Tục ăn trầu
- Muốn ăn bánh ít lá gai
Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi
Thích lấy chồng gần
- Thuốc lào chồng hút vợ say
Thằng con châm điếu lăn quay ra nhà
Có anh hàng xóm đi qua
Hít phải khói thuốc say ba bốn tuần
Thêm chú gà trống ngoài sân
Mổ nhầm bã thuốc cánh chân cứng đờ
Lại còn chị mái hoa mơ
Hơi thuốc bay đến bơ phờ cả lông
Khói thuốc cứ toả vòng vòng
Say hết tất cả nước trong, nước ngoài
Tục hút thuốc lào.
Một số câu ca dao cho ta biết thêm về tôn giáo, tín ngưỡng, hội hè:
- Sư đang tụng niệm nam mô,
Thấy cô cắp giỏ mò cua bên chùa.
Lòng sư luống những mơ hồ,
Bỏ kinh, bỏ kệ, tìm cô hỏi chào.
Ai ngờ cô đi đằng nào,
Tay lần tràng hạt, ra vào ngẩn ngơ…
Mang tính chất trào phúng
- Một mụ già,
Mười ba mụ trẻ,

16


Nặn tay nặn mắt,
Vẽ mặt vẽ mày…
Nói về nhà bà mụ
- Mồng bốn là hội Kéo Co,
Mồng năm hội Ó chẳng cho nhau về.
Mồng sáu đi hội Bồ Đề,
Mồng bảy trở về đi hội Đống Cao . . .
Lịch vui xuân của lễ hội vùng Bắc Ninh.
Có thể nói, nền văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt Nam được lưu truyền, gìn giữ cho đến ngày
nay là nhờ một phần không nhỏ của ca ca dao- dân ca nói riêng và văn học dân gian nói
chung.

b.

Ca dao - dân ca là tiếng hát trữ tình của con người:
 Trong đời sống xã hội xưa:
Ca dao dân ca vốn mang tính chất trữ tình, nó vốn là tiếng hát của tình yêu, của
đau khổ nhưng lại giàu tinh thần hi sinh và đấu tranh dũng cảm trong quan hệ gia
đình, trong lao động và đấu tranh xã hội. Tiếng hát trữ tình đó chứa đựng những nét
tiêu biểu của tâm hồn và tính cách dân tộc. Giá trị của ca dao dân ca trong đời sống
tinh thần của nhân dân chủ yếu thể hiện qua hai đề tài:
 Đề tài trong đời sống riêng tư và đời sống gia đình
 Đề tài trong đời sống xã hội
Đời sống riêng tư và đời sống gia đình:
Ca dao dân ca về tình yêu: Trước đây, ca dao dân ca về tình yêu nam nữ được
sáng tác ra trong những điều kiện của mối quan hệ nam nữ ở nông thôn. Họ thường
gặp gỡ, tìm hiểu nhau, thổ lộ tình cảm với nhau khi lao động hay đi hội hè. Ca dao
phản ánh được mọi biểu hiện tình yêu trong tất cả những chặng đường của nó: gặp gỡ
ướm hỏi nhau, hạnh phúc với những niềm ước mơ, nỗi nhớ nhung, niềm đau khổ, lời
than thở, oán trách:
Hỏi anh tên họ là chi
Nói cho em biết mai đi em chào
Hát chào
Ca dao lấy những nét sinh hoạt, những cảnh vật quen thuộc để biểu hiện cho
niềm hạnh phúc hay đau khổ trong tình yêu:
Đã mang lấy cái thân tằm
Không vương tơ nữa cũng nằm trong tơ.
Đêm nằm tơ tưởng tưởng tơ
Chiêm bao thấy bậu dậy sờ chiếu không
Lý con tằm của Nam Trung Bộ
Có sự nghịch ngợm, lém lỉnh nhưng cũng không kém phần duyên dáng, tế nhị
của những chàng trai:
17


Gặp em anh nắm cổ tay
Nhờ vá cái áo nhờ may cái quần…
Ai làm cái nón quai thao
Để cho anh thấy cô nào cũng xinh
Còn về phần các cô gái thì kín đáo hơn song cũng có phần đáo để:
Sáng ngày tôi đi hái dâu,
Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn.
Hai anh đứng dậy hỏi han,
Hỏi rằng cô ấy vội vàng đi đâu?
Thưa rằng tôi đi hái dâu.
Hai anh mở túi đưa trầu cho ăn.
Thưa rằng bác mẹ tôi răn:
Làm thân con gái chớ ăn trầu người.
Nhiều bài ca dao nói đến sự gắn bó giữa nam nữ bằng giọng điệu táo bạo:
Yêu nhau cởi áo cho nhau,
Về nhà mẹ hỏi qua cầu đánh rơi.
Nhiều câu ca dao miêu tả tâm trạng nhớ nhung hay những tình yêu chân thành,
chất phác của vùng nông thôn:
Muốn khuây dạ nỏ chịu khuây
Sự đâu đem đổ da này mê man
Thò tay mà ngăt cọng ngò
Thương em đứt ruột giả đò ngó lơ
Song, số ca dao dân ca về tình yêu đau khổ cũng rất đáng kể khi cuộc sống nghèo
khổ xưa kia của người dân chỉ có thể dựa vào chế độ gia trưởng độc đoán, tục lệ khắc
khe trong xã hội phong kiến:
Hai ta là bạn thong dong
Như đôi đùa ngọc nằm trong mâm vàng
Bởi chưng thầy mẹ nói ngang
Cho nên đũa ngọc mâm vàng xa nhau
Đôi ta như cái đòng đòng,
Đẹp duyên nhưng chẳng đẹp lòng mẹ cha.
Tinh thần đấu tranh để bảo vệ tình yêu chân chính trong ca dao dân ca Việt Nam
phản ánh quan điểm về tự do yêu thương, tự do hôn nhân của nhân dân lao động:
Rủ nhau lên núi đốt than
Anh đi Tam Điệp em mang nón trình
Củi than nhem nhuốc với tình
Ghi lời vàng đá xin mình chớ quên
18


Ca dao dân ca trữ tình về sinh hoạt gia đình:
Nhân vật chính trong ca dao dân ca trữ tình là người phụ nữ lao động Việt Nam. Dưới
chế độ phong kiến, người phụ nữ là nạn nhân của nhiều tầng áp bức và là hạng người
đau khổ nhất. Tiếng hát trữ tình của họ là tiếng than thở về số phận đau khổ của mình
dưới chế độ phong kiến:
Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai…
Thân em như hạt mưa rào
Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa…
Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày
Diễn tả địa vị phụ thuộc, thấp kém của người phụ nữ trong xã hội cũ
Thân em mười sáu tuổi đầu
Cha mẹ ép gả làm dâu nhà người
Nói ra sợ chị em cười
Năm ba chuyện thảm, chín mười chuyện cay
Tối về đã mấy năm nay
Buồn riêng thì có, vui rày thì không
Ngày thời vất vả ngoài đồng
Tối về thời lại nằm không một mình
Có đêm thức suốt năm canh
Rau heo, cháo chó, loanh quanh đủ trò
Ngày nào anh bủng anh beo,
Tay cất chén thuốc, tay đèo múi chanh.
Bây giờ anh khỏi, anh lành,
Anh mê nhan sắc, anh tình phụ tôi!
Những bài ca mang tâm trạng chịu đựng
Chồng con là cái nợ nần,
Thà rằng ở vậy nuôi thân béo mầm.
Thương chồng phải khóc mụ gia
Gẫm tôi với mụ có bà con chi
19


Những bài ca mang nội dung đấu tranh
Cái cò là cái cò quăm
Mày hay đánh vợ mày nằm với ai?
Có đánh thì đánh sớm mai,
Chớ đánh chập tối chẳng ai cho nằm.
Đôi khi, trong tiếng nói phản đối cũng có pha thêm giọng điệu hóm hỉnh.

 Trong đời sống xã hội nay:
Ngày nay, ca dao dân ca vẫn còn tồn tại trên mọi phương diện của đời sống như:
thông qua âm nhạc, các hình thức diễn xướng và các lời thơ. Trên các phương diện đó,
nó diễn tả đời sống tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của nhân dân.
Đã góp phần thêm được nguồn chất liệu dồi dào và đầy cảm hứng cho các sáng tác
nghệ thuật.
Là công cụ đắc lực để thế hệ ngày nay nhận thức quá khứ, tiếp thu những vốn quý
trong tư tưởng văn hóa của ông cha ta để lại

20


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vai trò của Ca dao, Dân ca trong đời sống hiện nay.
http://blogchuyenvan.blogspot.com/2016/07/vai-tro-cua-ca-dao-dan-ca-trong-oisong.html?m=1
2. Đinh Gia Khánh, 1996, Văn học Dân gian Việt Nam.
3. Bùi Mạnh Nhị, Văn học dân gian những công trình nghiên cứu, NXB Giáo dục.
4. Viện Văn học, Tuyển tập Văn học dân gian Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam.
5. Các câu ca dao được nhắc đến trong bài luận được trích dẫn chủ yếu từ: Kho tàng
Ca dao người Việt.

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×