Tải bản đầy đủ

Tóm tắt luận văn Thạc sĩ: Ảnh hưởng của mức độ công bố thông tin đến chi phí vốn chủ sở hữu của các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

PHAN THÙY DUNG

ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG
TIN ĐẾN CHI PHÍ VỐN SỞ HỮU CỦA CÁC CÔNG
TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG
KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
MÃ SỐ: 60.34.03.01

Đà Nẵng – Năm 2018


Công trình được hoàn thành tại
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐƯỜNG NGUYỄN HƯNG


Phản biện 1: TS. Nguyễn Hữu Cường
Phản biện 2: PGS.TS. Võ Văn Nhị

Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ Kế toán họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà
Nẵng vào ngày 18 tháng 8 năm 2018

Có thể tìm hiểu luận văn tại:
 Trung tâm Thông tin-Học liệu, Đại học Đà Nẵng
 Thư viện trường Đại học Kinh tế, ĐHĐN


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2007, thị trường chứng
khoán Việt Nam đã trở thành một kênh đầu tư hấp dẫn đối với các
nhà đầu tư trong và ngoài nước, là kênh huy động nguồn vốn trung
và dài hạn cho nền kinh tế. Việc hội nhập kinh tế quốc tế đã làm tăng
tính thanh khoản trên thị trường chứng khoán. Điều này cho phép các
công ty có thể huy động được nguồn vốn rẻ hơn, tăng cường đầu tư
ra bên ngoài, đồng thời tăng khả năng cạnh tranh và mở rộng cơ hội
kinh doanh. Thị trường chứng khoán hoạt động trên cơ sở thông tin
hoàn hảo. Song ở thị trường mới nổi như Việt Nam hiện nay, thông
tin truyền tải tới nhà đầu tư không đầy đủ và không giống nhau đã
làm ảnh hưởng đến các quyết định của nhà đầu tư. Vì vậy, để đảm
bảo lợi ích cho nhà đầu tư do các tác động tiêu cực của thị trường
mang lại và đảm bảo cho thị trường vốn hoạt động hiệu quả, các
công ty đã tăng cường công bố thông tin (CBTT) ra bên ngoài nhằm
giảm thiểu tình trạng thông tin bất đối xứng, qua đó tác động tích cực
đến giá cổ phiếu và làm giảm chi phí vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, một
số ý kiến lại cho rằng, không nên CBTT nhiều bởi CBTT sẽ làm
giảm vị thế cạnh tranh, thậm chí có thể làm tăng chi phí vốn chủ sở
hữu. Và đây là một vấn đề đang gây ra nhiều tranh cãi đối với nhà
quản lý cũng như nhà đầu tư trên thị trường vốn trong thời gian vừa
qua. Mặt khác, hiện nay tác giả chưa thấy nghiên cứu nào ở Việt
Nam quan tâm đến mối quan hệ giữa chi phí vốn chủ sở hữu và mức
độ CBTT. Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, tác giả đã chọn đề tài luận
văn để nghiên cứu là: “Ảnh hưởng của mức độ công bố thông tin đến
chi phí vốn chủ sở hữu của các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch


Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh”.


2
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận văn là tập trung nghiên cứu ảnh
hưởng của mức độ CBTT đến chi phí vốn chủ sở hữu của các công ty
niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
(HOSE). Trên cơ sở đó đưa ra một số hàm ý chính sách CBTT tối ưu
để đạt được lợi ích từ chi phí vốn chủ sở hữu.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: nghiên cứu ảnh hưởng
của mức độ CBTT đến chi phí vốn chủ sở hữu của các công ty niêm
yết trên HOSE. Cụ thể là: CBTT tự nguyện trên báo cáo thường niên
và chi phí vốn chủ sở hữu của các công ty niêm yết trên HOSE.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là: các công ty phi tài chính
niêm yết trên HOSE trong vòng 5 năm (12/2012-12/2016).
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu các dữ liệu qua thời
gian kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, thu thập số liệu, vận dụng mô
hình đã nghiên cứu để kiểm chứng số liệu, phân tích kết quả và đưa
ra kết luận về mức độ ảnh hưởng của CBTT đến chi phí vốn chủ sở
hữu của các công ty niêm yết trên HOSE.
5. Bố cục đề tài
Luận văn gồm có ba chương, cụ thể là:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chi phí vốn chủ sở hữu, mức độ công
bố thông tin và ảnh hưởng của mức độ công bố thông tin đến chi phí
vốn chủ sở hữu
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và Hàm ý chính sách
6. Tổng quan về nghiên cứu
Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của mức độ
CBTT đến chi phí vốn chủ sở hữu. Một trong những nghiên cứu đầu


3
tiên về mối quan hệ giữa chi phí vốn chủ sở hữu và CBTT được thực
hiện bởi Botosan (1997). Botosan đã tiến hành phân tích dữ liệu năm
1990 của 122 công ty Mỹ hoạt động trong ngành sản xuất máy móc.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, công bố báo cáo năm có mối quan hệ
ngược chiều đến chi phí vốn chủ sở hữu đối với những công ty có
chuyên gia phân tích kém nhưng không tìm thấy mối quan hệ giữa
các biến này với công ty có chuyên gia phân tích tốt. Hơn nữa,
trong một nghiên cứu mở rộng của Botosan và Plumlee (2002) với
3618 quan sát của 668 công ty trong giai đoạn 1985-1996. Kết quả
nghiên cứu cho thấy rằng, công bố báo cáo năm sẽ làm giảm chi phí
vốn chủ sở hữu, tuy nhiên chi phí vốn chủ sở hữu lại tăng lên khi
công bố báo cáo quý. Richardson và Welker (2001) đã tiến hành
phân tích dữ liệu từ 124 công ty niêm yết tại Canada trong giai đoạn
1990 đến 1992, kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu của
Botosan (1997). Bên cạnh đó, Hail (2002) đã tìm ra mối quan hệ
ngược chiều giữa chi phí vốn chủ sở hữu và CBTT tự nguyện khi
kiểm tra một mẫu của 73 công ty niêm yết tại Thụy Sỹ trong năm
1997, kết quả này trái ngược với nghiên cứu của Botosan (1997).
Cũng liên quan đến thị trường Thụy Sỹ, Petrova và cộng sự (2012)
đã tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa chi phí vốn chủ sở hữu và
mức độ CBTT tự nguyện trên 121 công ty phi tài chính niêm yết
trong năm 2008. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, mức độ CBTT tự
nguyện càng cao thì chi phí vốn chủ sở hữu càng thấp và việc lựa
chọn chính sách kế toán không ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa chi
phí vốn chủ sở hữu và mức độ CBTT tự nguyện.
Một khía cạnh khác, Cheng và cộng sự (2006) đã tiến hành
nghiên cứu về mối quan hệ giữa chi phí vốn chủ sở hữu và CBTT tài
chính trên 348 công ty trong giai đoạn 2001 đến 2002. Trong nghiên
cứu này, các tác giả đã đưa ra một biến mới là quyền cổ đông. Để đo


4
lường chi phí vốn chủ sở hữu, các tác giả đã sử dụng mô hình tăng
trưởng thu nhập theo giá (PEG). Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng,
các công ty có quyền cổ đông và mức độ minh bạch thông tin tài
chính càng cao thì chi phí vốn chủ sở hữu càng thấp. Bên cạnh đó,
Barth và cộng sự (2011) đã thực hiện một nghiên cứu đầu tiên về
mối quan hệ giữa chi phí vốn chủ sở hữu và minh bạch thu nhập. Kết
quả cho thấy sự minh bạch thu nhập càng cao thì chi phí vốn chủ sở
hữu càng thấp.
Qua tổng quan các nghiên cứu được thực hiện trên thế giới liên
quan đến luận văn, có thể thấy rằng, mối quan hệ giữa chi phí vốn
chủ sở hữu và mức độ CBTT là một trong những đề tài được rất
nhiều nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm. Tại Việt Nam, đề tài này
vẫn chưa được đi sâu vào nghiên cứu. Hầu như các nghiên cứu này
thường mang tính chất riêng lẻ và chủ yếu tập trung vào nghiên cứu
về chi phí vốn hoặc nghiên cứu về CBTT. Cho đến nay, tác giả chưa
thấy nghiên cứu chứng thực nào ở Việt Nam công bố kết quả về mối
quan hệ giữa chi phí vốn và CBTT. Vì vậy, trong nghiên cứu này tác
giả sẽ thực hiện phân tích hồi quy để làm rõ mối quan hệ giữa chi phí
vốn chủ sở hữu và CBTT tự nguyện trên báo cáo thường niên của
các công ty niêm yết trên HOSE. Trên cơ sở đó, tác giả sẽ đưa ra một
số hàm ý chính sách CBTT tự nguyện tối ưu để đạt được lợi ích từ
chi phí vốn chủ sở hữu, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động trên
thị trường chứng khoán Việt Nam.


5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHI PHÍ VỐN CHỦ SỞ HỮU, MỨC ĐỘ
CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC ĐỘ
CÔNG BỐ THÔNG TIN ĐẾN CHI PHÍ VỐN CHỦ SỞ HỮU
1.1. TỔNG QUAN VỀ CHI PHÍ VỐN CHỦ SỞ HỮU VÀ
CÔNG BỐ THÔNG TIN
1.1.1. Chi phí vốn chủ sở hữu
a. Khái niệm về chi phí vốn chủ sở hữu
Vốn là một trong những nhân tố cần thiết của quá trình sản xuất
kinh doanh. Cũng như bất kỳ một nhân tố nào khác, để sử dụng vốn,
công ty cần phải bỏ ra một chi phí nhất định. Có thể hiểu, chi phí vốn
là chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn. Mỗi một hình thức sử dụng
vốn thì có một chi phí vốn khác nhau. Theo cách phân loại phổ biến
nhất, nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm: nợ phải trả và vốn chủ
sở hữu. Trong đó, nguồn vốn chủ sở hữu được huy động bằng cổ
phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi, vốn góp cổ đông và lợi nhuận giữ lại.
Chi phí vốn chủ sở hữu được định nghĩa là tỷ suất sinh lợi tối thiểu
mà các nhà đầu tư kỳ vọng khi đầu tư vào một công ty (Botosan
(2006), Gitman (2009)). Lúc đó nhà đầu tư sẽ yêu cầu một mức sinh
lợi tương xứng với mức độ rủi ro mà nhà đầu tư có khả năng gặp
phải khi đầu tư. Trong khi đó, dưới góc độ của doanh nghiệp, chi phí
vốn chủ sở hữu là tỷ suất sinh lợi phải đạt được khi doanh nghiệp sử
dụng một nguồn vốn chủ sở hữu và đảm bảo rằng tỷ suất sinh lợi của
vốn chủ sở hữu hoặc thu nhập trên một cổ phiếu không bị sụt giảm.
Có thể thấy, chi phí vốn chủ sở hữu là một chỉ số tài chính quan
trọng đối với những người hoạt động thị trường chứng khoán, đặc
biệt là đối với nhà quản lý và nhà đầu tư. Do đó, việc xác định chi
phí vốn chủ sở hữu sẽ làm cơ sở nền tảng cho các nhà quản lý trong
việc lựa chọn dự án đầu tư nhằm gia tăng giá trị doanh nghiệp.


6
b. Các loại chi phí vốn chủ sở hữu
b.1. Chi phí vốn cổ phần thường
 Chi phí vốn lợi nhuận giữ lại
Lợi nhuận sau thuế của công ty thuộc về người nắm giữ cổ phiếu
thường. Chi phí của lợi nhuận giữ lại được đo lường bằng chi phí cơ
hội, tức là nếu những lợi nhuận này được chia thì cổ đông có thể đầu
tư và thu lợi nhuận từ bên ngoài doanh nghiệp.
 Chi phí vốn cổ phần thường mới
Chi phí vốn cổ phần thường mới là mức tỷ suất lợi nhuận tối thiểu
cần phải đạt được về sự đầu tư mới được tài trợ bằng cổ phiếu thường
mới để giữ cho thu nhập của các cổ đông cũ không bị giảm sút.
b.2. Chi phí vốn cổ phiếu ưu đãi
Chủ sở hữu của cổ phiếu ưu đãi được nhận tiền lãi cố định hàng
năm theo tỷ lệ phần trăm so với mệnh giá. Nhưng tiền lãi phải trả
cho cổ phiếu ưu đãi không được trừ ra khỏi thu nhập chịu thuế thu
nhập doanh nghiệp. Và người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi không có
quyền tham gia phân phối lợi nhuận cao, do đó không được hưởng tỷ
suất tăng trưởng của lợi nhuận.
b.3. Chi phí vốn cận biên
Trong kinh doanh, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng muốn tối giảm
chi phí, do đó các công ty sẽ lựa chọn nguồn vốn có chi phí thấp nhất
đến nguồn vốn có chi phí cao hơn. Khi doanh nghiệp cố gắng huy
động thêm những đồng vốn mới thì chi phí sử dụng của mỗi đồng
vốn tại một thời điểm nào đó sẽ tăng lên. Vì vậy, chi phí cận biên về
sử dụng vốn là chi phí cho một đồng vốn tăng thêm khi vượt qua một
mức vốn nào đó. Chi phí vốn cận biên sẽ tăng lên khi càng nhiều vốn
được huy động trong một giai đoạn nào đó.


7
c. Phương pháp đo lường chi phí vốn chủ sở hữu
Để đo lường chi phí vốn, nghiên cứu này xem xét ba mô hình sau:
(1) Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM)
(2) Mô hình Fama-French ba nhân tố
(3) Mô hình tăng trưởng thu nhập theo giá (PEG)
1.1.2. Công bố thông tin và mức độ công bố thông tin
a. Khái niệm về công bố thông tin
Trong luận văn này, CBTT được nghiên cứu là thông tin tự
nguyện. Có nhiều định nghĩa khác nhau về CBTT tự nguyện. Theo
Meek và cộng sự (1995) CBTT tự nguyện là công bố những thông
tin vượt quá các quy định bắt buộc, những thông tin này được lựa
chọn tự do từ nhà quản lý công ty nhằm cung cấp các thông tin về kế
toán và các thông tin khác có liên quan đến nhu cầu của người sử
dụng. CBTT tự nguyện giúp công ty đạt được mục tiêu huy động vốn
với chi phí thấp (Choi,1973). Sự cạnh tranh về vốn sẽ khiến cho các
công ty tăng lượng CBTT tự nguyện ra bên ngoài nhằm cung cấp tín
hiệu tích cực cho nhà đầu tư về triển vọng tăng trưởng, do đó sẽ làm
tăng giá trị cổ phiếu hơn.
b. Mức độ công bố thông tin
Sau khi lựa chọn được các mục thông tin cần được thiết lập, tiến
hành đối chiếu với báo cáo thường niên thu thập được. Các mục
thông tin được trình bày thì sẽ được cho điểm và ngược lại. Có hai
cách để cho điểm đối với chỉ mục thông tin, như sau:
- Đo lường không có trọng số
- Đo lường có trọng số
1.2. CÁC LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHI PHÍ
VỐN CHỦ SỞ HỮU VÀ CÔNG BỐ THÔNG TIN
1.2.1. Lý thuyết đại diện (Agency theory)
Lý thuyết đại diện định nghĩa mối quan hệ đại diện như một hợp
đồng, theo đó một hay nhiều người quan trọng cam kết với người đại


8
diện để thực hiện một vài dịch vụ nhân danh họ (Jensen & Meckling,
1976). Lý thuyết đại diện giả định rằng cả hai bên đều muốn tối đa
hóa lợi ích của mình.
1.2.2. Lý thuyết tín hiệu (Signaling theory)
Spence (1973) đã đưa ra lý thuyết tín hiệu với giả định rằng tồn
tại thông tin bất đối xứng và một trạng thái cân bằng trong đó đối
tượng có lợi thế về thông tin tốt hơn nên cung cấp một số tín hiệu
cho các đối tượng khác. Các công ty có kết quả hoạt động tốt thường
sử dụng thông tin tài chính như là một công cụ truyền tín hiệu đến thị
trường (Ross, 1977).
1.2.3. Lý thuyết thông tin bất đối xứng (Asymmetric
information theory)
Thông tin bất đối xứng xảy ra khi một hoặc nhiều nhà đầu tư sở
hữu được thông tin riêng (Kyle, 1985) hoặc có nhiều thông tin đại
chúng hơn về một công ty (Kim và Verrecchia, 1994 và 1997). Tình
trạng thông tin bất đối xứng tạo ra những rủi ro tiềm ẩn, gây ra hiện
tượng cung cầu ảo trên thị trường chứng khoán, khiến nhà đầu tư
không thể nhận biết được cổ phiếu của công ty hoạt động tốt với cổ
phiếu của công ty hoạt động kém và đưa ra các quyết định chính
xác. Vì vậy, để giảm thiểu tình trạng thông tin bất đối xứng, các công
ty đã tích cực CBTT giúp nhà đầu tư biết đến uy tín, danh tiếng cũng
như tiềm năng của công ty, từ đó làm tăng giá trị cổ phiếu và giảm
chi phí vốn chủ sở hữu.
1.2.4. Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary Costs Theory)
Nội dung của lý thuyết này nhấn mạnh đến các lợi ích mà nhà
quản lý nhận được và chi phí cho việc công bố thông tin ra bên
ngoài. Việc CBTT nhiều hơn đến các nhà đầu tư có thể làm ảnh
hưởng đến vị thế cạnh tranh của công ty trên thị trường chứng khoán.
Darough (1993) cho rằng, các công ty có thể chấp nhận chi phí vốn
cao hơn để hạn chế CBTT nhằm tránh làm giảm vị thế cạnh tranh.


9
1.3. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC ĐỘ
CÔNG BỐ THÔNG TIN ĐẾN CHI PHÍ VỐN CHỦ SỞ HỮU
1.3.1. Tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí vốn
chủ sở hữu
Esmaeelzadeh và cộng sự (2012) đã thực hiện phân tích các nhân
tố ảnh hưởng đến chi phí vốn chủ sở hữu dựa trên 90 công ty niêm
yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Tehran. Các nhân tố được xác
định ảnh hưởng đến chi phí vốn chủ sở hữu trong nghiên cứu này là:
mức độ CBTT, tỷ lệ nợ, lĩnh vực hoạt động và quy mô công ty. Kết
quả nghiên cứu cho thấy, quy mô công ty và lĩnh vực hoạt động là
những nhân tố ảnh hưởng đến chi phí vốn chủ sở hữu. Một nghiên
cứu khác của Gebhardt và cộng sự (2002) đã chỉ ra rằng, tỷ lệ giá trị
ghi sổ/giá thị trường (B/M) là biến quan trọng nhất giải thích chi phí
vốn chủ sở hữu, tuy nhiên kết quả nghiên cứu không tìm thấy mối
quan hệ tiêu cực giữa quy mô công ty và phần bù rủi ro.
1.3.2. Đo lường chi phí vốn chủ sở hữu và mức độ công bố
thông tin trong các nghiên cứu liên quan
Với mỗi cách tiếp cận trong mỗi nghiên cứu thực chứng về mối
quan hệ giữa chi phí vốn chủ sở hữu và mức độ CBTT thì sẽ có một
phương pháp đo lường chi phí vốn chủ sở hữu và mức độ CBTT
khác nhau. Botosan (1997) đã sử dụng mô hình đánh giá dựa trên cơ
sở kế toán (Accounting Base Assessment Model - EBO) để đo lường
chi phí vốn chủ sở hữu. Bên cạnh đó, tác giả xây dựng danh mục
CBTT với năm thành phần là: thông tin cơ bản, tóm tắt về kết quả
hoạt động trong 5 năm hoặc 10 năm qua, thông tin phi tài chính
chính, thông tin dự báo, phân tích và bàn luận về quản lý. Các chỉ
mục CBTT sẽ được cho điểm tùy theo nội dung, cụ thể là: 1 điểm đối
với chỉ mục thông tin công bố về thông tin giới thiệu công ty, 2 điểm
đối với chỉ mục thông tin công bố về số liệu thống kê và các tỷ số tài
chính và 3 điểm đối với chỉ mục thông tin công bố về thông tin dự


10
báo. Mỗi thành phần CBTT tương ứng với 20% trong tổng số điểm
CBTT. Trong nghiên cứu này, mức độ CBTT của mỗi thành phần
được xác định bằng cách lấy tổng điểm các chỉ mục thông tin thành
phần chia cho số điểm tối đa đạt được cho thành phần đó, rồi nhân
với 20%. Còn mức độ CBTT của mỗi công ty được xác định bằng
tổng điểm các chỉ mục của năm thành phần CBTT.
1.3.3. Ảnh hưởng của mức độ công bố thông tin đến chi phí
vốn chủ sở hữu
Trước đây, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu thực chứng về mối
quan hệ giữa chi phí vốn chủ sở hữu và CBTT nhưng kết quả nghiên
cứu vẫn chưa thống nhất. Thông thường, CBTT càng nhiều thì chi phí
vốn chủ sở hữu càng thấp. Tuy nhiên, nghiên cứu của Botosan và
Plumlee (2002) lại có kết quả trái ngược với kỳ vọng. Trong nghiên
cứu của họ có ba loại thông tin được công bố là: báo cáo năm, báo cáo
quý và báo cáo hoạt động quan hệ đầu tư. Botosan và Plumlee (2002)
cho rằng việc công bố các báo cáo năm sẽ làm giảm chi phí vốn chủ sở
hữu, nhưng chi phí vốn chủ sở hữu lại tăng khi CBTT kịp thời (báo
cáo quý và báo cáo hoạt động quan hệ đầu tư). Các tác giả cũng không
tìm thấy được mối quan hệ giữa chi phí vốn chủ sở hữu và mức độ
CBTT về hoạt động quan hệ đầu tư. Có thể được giải thích rằng, công
bố thường xuyên hơn sẽ làm biến động tâm lý của các nhà đầu tư trong
ngắn hạn dẫn đến việc đánh giá thấp giá trị cổ phiếu và làm tăng chi
phí vốn chủ sở hữu. Mặt dù, kết quả nghiên cứu của Botosan và
Plumlee (2002) trái ngược với lý thuyết, tuy nhiên kết quả này vẫn
được nhiều sự đồng thuận từ phía nhà quản lý.
Ngược lại, trong nghiên cứu của Geitzmann và Ireland (2005) lập
luận rằng CBTT càng nhiều chi phí vốn chủ sở hữu càng thấp. Và
các tác giả chỉ ra rằng, vấn đề về đo lường chỉ số CBTT trong nghiên
cứu của Botosan và Plumlee (2002) đã dẫn đến chi phí vốn chủ sở
hữu tăng lên khi CBTT kịp thời.


11
1.4. KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU
Trong luận văn này, CBTT mà tác giả hướng đến đó là thông tin
tự nguyện được công bố trong các báo cáo thường niên trên website
của công ty. Bên cạnh đó, tác giả sẽ chọn mô hình tăng trưởng thu
nhập theo giá (PEG) để đo lường chi phí vốn chủ sở hữu và sử dụng
phương pháp đo lường có trọng số để đo lường mức độ CBTT.
Nghiên cứu này sẽ kiểm tra ảnh hưởng của mức độ CBTT tự nguyện
đến chi phí vốn chủ sở hữu. Qua đó, tác giả sẽ đưa ra một số hàm ý
chính sách CBTT tự nguyện tối ưu để đạt được lợi ích từ chi phí vốn
chủ sở hữu, góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư trên thị trường
chứng khoán Việt Nam.


12
CHƯƠNG 2
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
2.1. TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ
GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
(HOSTC) được thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg
ngày 11/07/1998 và chính thức tổ chức phiên giao dịch đầu tiên vào
ngày 28/7/2000. Sự ra đời của HOSTC đã đánh dấu một bước ngoặt
lớn trong lịch sử của thị trường chứng khoán Việt Nam. Ngày
11/05/2007, Trung Tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí
Minh được chuyển thành Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ
Chí Minh theo Quyết định số 599/QĐ -TTg và hoạt động theo mô
hình Công ty TNHH Một Thành viên với 100% vốn chủ sở hữu
thuộc Bộ Tài chính.
2.2. GIẢ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT
2.2.1. Giả thuyết nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, tác giả đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ
giữa chi phí vốn chủ sở hữu và CBTT tự nguyện là thông tin được
công bố trên báo cáo thường niên. Karim (1996) cho rằng mức độ
CBTT càng tốt càng làm giảm tình trạng thông tin bất đối xứng giữa
các nhà đầu tư và công ty, làm tăng giá trị và tính thanh khoản của cổ
phiếu trên thị trường. Các ý kiến cho thấy rằng, những công ty có
mức độ CBTT tương đối cao thường có chi phí vốn chủ sở hữu thấp
hơn (Walter, 2006). Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu lý thuyết
và thực chứng về mối quan hệ giữa CBTT và chi phí vốn chủ sở hữu
với hai nhóm quan điểm trái chiều nhau. Một số quan điểm trước đây
lại cho rằng, các công ty không nên công bố nhiều thông tin bởi nó
sẽ làm giảm vị trí cạnh tranh, thậm chí có thể làm cho chi phí vốn
chủ sở hữu tăng lên (Verrecchia (1983), Newman và Sansing


13
(1993), Darrough (1993)). Tuy nhiên, gần đây một số nghiên cứu
thực chứng đã chỉ ra rằng CBTT càng nhiều thì chi phí vốn chủ sở
hữu càng giảm thông qua việc giảm thông tin bất đối xứng (Diamond
và Verrecchia (1991), Botosan và Plumlee (2002), Richardson và
Welker (2001) và Alencar và Lopes (2010)). Mặt khác, các tài liệu lý
thuyết mở rộng cũng cho thấy rằng CBTT nhiều hơn dẫn đến chi phí
vốn chủ sở hữu thấp hơn.
Căn cứ vào lập luận trên, giả thuyết được đặt ra là:
H: Mức độ công bố thông tin tự nguyện có ảnh hưởng ngược
chiều đến chi phí vốn chủ sở hữu của các công ty niêm yết trên Sở
Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh.
2.2.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất
Căn cứ vào giả thuyết đã nêu, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu
có biến phụ thuộc được xác định là chi phí vốn chủ sở hữu và biến
độc lập là mức độ CBTT. Ngoài ra, tác giả nhận thấy biến chi phí
vốn chủ sở hữu còn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác, cụ thể
như sau:
Đòn bẩy tài chính (LEV)
Trong nghiên cứu Hail (2002), Botosan và Plumlee (2005), Leuz
và Hail (2006), Guay và cộng sự (2011) chỉ ra rằng đòn bẩy tài chính
có mối quan hệ cùng chiều với chi phí vốn chủ sở hữu. Đòn bẩy tài
chính được xem là yếu tố làm tăng rủi ro tài chính của các nhà đầu tư
cổ phiếu (Bostosan và Plumlee, 2005). Do đó, khi đòn bẩy của công
ty tăng lên thì các cổ đông sẽ yêu cầu phải trả thêm lợi tức để bù đắp
cho rủi ro của họ, dẫn đến chi phí vốn chủ sở hữu tăng lên.
Quy mô công ty (SIZE)
Các nghiên cứu trước đây của Botosan (1997), Sengupta (1998),
Hail (2002), Brown và cộng sự (2004), Agustini (2015) cho thấy
rằng quy mô công ty có mối quan hệ ngược chiều với chi phí vốn
chủ sở hữu. Các công ty có quy mô nhỏ có mức độ rủi ro cao hơn các


14
công ty có quy mô lớn, do đó, các nhà đầu tư sẽ yêu cầu một mức
sinh lời cao hơn cho các công ty có quy mô nhỏ, dẫn đến chi phí vốn
chủ sở hữu cao hơn.
Giá thị trường/giá ghi sổ (M/B)
Trong nghiên cứu của Botosan và Plumlee (2002), Khurana và
Raman (2004), Cheng và cộng sự (2006),Orens và cộng sự (2009) đã
cho thấy rằng, chỉ số M/B có mối quan hệ ngược chiều với chi phí
vốn chủ sở hữu. Nếu một công ty có giá thị trường của cổ phiếu cao
hơn giá trị ghi sổ (tức là M/B >1) thì đây thường là tín hiệu cho thấy
công ty làm ăn khá tốt, thu nhập trên tài sản cao, kỳ vọng của nhà
đầu tư về khả năng sinh lợi trên mỗi cổ phiếu cao, do đó các nhà đầu
tư sẵn lòng trả nhiều hơn cho một cổ phiếu được kỳ vọng là có tốc độ
tăng trưởng nhanh, dẫn đến chi phí vốn chủ sở hữu thấp hơn.
Tốc độ tăng trưởng (GROW)
Cooper và cộng sự (2008) cho rằng, các công ty có tỷ lệ tăng
trưởng tài sản cao hơn có xu hướng lợi nhuận cổ phiếu thấp hơn. Gul
(1999) đã giải thích các công ty tăng trưởng cao có tỷ lệ chi trả cổ
tức thấp hơn đáng kể so với các công ty tăng trưởng thấp, vì những
công ty này có dòng tiền tự do ít hơn. Ngoài ra, các nhà đầu tư có thu
nhập cao thường muốn đầu tư lại vào công ty để theo đuổi mục tiêu
tăng trưởng và họ sẵn sàng chấp nhận một tỷ suất sinh lời thấp hơn.
Bởi vì, họ thấy rằng công ty có tiềm năng phát triển trong tương lai,
do đó chi phí vốn chủ sở hữu thấp hơn.
Khả năng sinh lợi (được đo lường bằng tỷ suất sinh lợi trên
vốn chủ sở hữu: ROE)
Khả năng sinh lợi của một công ty là nhân tố thể hiện khả năng
tạo ra thu nhập khi đầu tư vào một dự án. Vì mục tiêu cuối cùng của
nhà đầu tư là lợi nhuận. Do đó, ROE của công ty càng cao thì càng
thu hút nhiều sự chú ý từ thị trường, bởi ROE càng cao thì công ty
tạo ra lợi nhuận cho cổ đông càng lớn. Thông qua đó, giúp công ty


15
gây dựng được lòng tin từ nhà đầu tư, từ đó, làm cho giá cổ phiếu
tăng lên, dẫn đến chi phí vốn chủ sở hữu thấp hơn.
Thời gian niêm yết (TIME)
Các công ty có thời gian niêm yết càng lâu thì rủi ro càng thấp,
càng nhận được nhiều sự tin tưởng từ nhà đầu tư, do đó, nhà đầu tư
sẵn sàng chấp nhận mức chiết khấu về rủi ro thấp hơn, dẫn đến chi
phí vốn chủ sở hữu thấp hơn.
Chủ thể kiểm toán (AUD)
Bhayani (2012) cho rằng, việc lựa chọn các công ty kiểm toán
lớn cũng là một cách để công ty phát tín hiệu với các nhà đầu tư rằng
nội dung của các thông tin mà họ cung cấp đảm bảo tính minh bạch,
khách quan.Thông qua tín hiệu đó, giúp công ty tăng giá trị cổ phiếu
và thu hút các nhà đầu tư, từ đó làm giảm chi phí vốn chủ sở hữu.
Lĩnh vực hoạt động (IND)
Theo báo cáo của thứ trưởng Bộ Công Thương Cao Quốc
Hưng (2017) cho rằng, công nghiệp luôn là ngành xuất khẩu chủ đạo
của Việt Nam với tỷ trọng ở mức xấp xỉ 90% tổng kim ngạch xuất
khẩu cả nước qua các năm. Qua đây cho thấy ngành công nghiệp
đóng một vai trò chủ chốt trong nền kinh tế của một quốc gia, do đó,
khả năng thu hút vốn đầu tư giữa ngành công nghiệp và các ngành
khác sẽ có sự khác biệt lớn.
Từ những lập luận trên tác giả đưa ra phương trình hồi quy để
kiểm định giả thuyết về ảnh hưởng của mức độ CBTT tự nguyện đến
chi phí vốn chủ sở hữu của các công ty niêm yết trên HOSE như sau:
COECit = β0 + β1 DISCit + β2 LEVit + β3 SIZEit + β4 M/Bit +
Β5 GROWit + β6 ROEit + β7 TIMEit + β8 AUDit + β9
INDit + εit (1)
Trong đó:
- COEC: Chi phí vốn chủ sở hữu
- β0: Hệ số tự do


16
- βj: Hệ số các biến độc lập
- εit: Sai số ngẫu nhiên
- DISC: Mức độ công bố thông tin
- LEV: Đòn bẩy tài chính
- SIZE: Quy mô công ty
- M/B: Giá thị trường/giá ghi sổ
- GROW: Tốc độ tăng trưởng
- ROE: Khả năng sinh lợi
- TIME: Thời gian niêm yết
- AUD: Chủ thể kiểm toán
- IND: Lĩnh vực hoạt động
2.2.3. Đo lường các biến
a. Đo lường biến phụ thuộc
Để đo lường chi phí vốn chủ sở hữu, nghiên cứu này tác giả lựa
chọn mô hình tăng trưởng thu nhập theo giá (PEG). Mô hình PEG có
dạng như sau:
eps2 − eps1
P0

COEC = √

Trong đó:
COEC: chi phí vốn chủ sở hữu
eps1, eps2: thu nhập trên mỗi cổ phiếu dự báo cho năm thứ nhất,
năm thứ hai
P0: giá mỗi cổ phiếu năm hiện tại
b. Đo lường biến độc lập
Mức độ công bố thông tin (DISC)
 Xây dựng danh mục công bố thông tin tự nguyện
Danh mục CBTT tự nguyện gồm có 50 chỉ mục thông tin và
được chia thành 4 nhóm sau:
- Thông tin chung về công ty và chiến lược


17
- Thông tin tài chính
- Thông tin phi tài chính
- Thông tin dự báo trong tương lai
 Đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện
Nghiên cứu này tác giả sử dụng phương pháp đo lường có trọng
số. Việc xác định mức độ CBTT tự nguyện thông qua chỉ số CBTT
bởi công thức sau:
nj
∑i=1
dij
Ij =
𝑛𝑗
Trong đó:
Với: Ij: chỉ số CBTT của công ty j, 0 ≤ Ij≤ 1;
d = 2 nếu chỉ mục thông tin i được công bố về cả thông tin định
lượng và định tính, d =1 nếu chỉ mục thông tin chỉ được đề cập trong
báo cáo thường niên, d = 0 nếu chỉ mục thông tin i không được công
bố; n là số lượng chỉ mục thông tin tự nguyện mà công ty j có thể
công bố, nj=<50.
Đòn bẩy tài chính (LEV)
Trong nghiên cứu này, tác giả xác định biến đòn bẩy tài chính
bằng cách dựa trên tổng nợ phải trả chia cho vốn chủ sở hữu. Số liệu
được lấy từ BCĐKT tại thời điểm kết thúc năm tài chính của công ty
niêm yết.
LEV

=

Nợ phải trả
Vốn chủ sở hữu

Quy mô công ty (SIZE)
Trong nghiên cứu này, luận văn chọn cách xác định quy mô công
ty theo tiêu thức tổng tài sản và được đo lường bằng logarit của tổng
tài sản. Trong đó, tổng tài sản là giá trị tài sản trên BCĐKT tại thời
điểm kết thúc tài chính của công ty niêm yết trong mẫu nghiên cứu.


18
Giá thị trường/giá ghi sổ (M/B)
Chỉ số M/B là tỷ lệ được sử dụng để so sánh giá thị trường của
một cổ phiếu so với giá ghi sổ của cổ phiếu đó. Chỉ số này được xác
định bằng cách lấy giá thị trường của công ty niêm yết trên HOSE chia
cho giá ghi sổ của vốn chủ sở hữu trong báo cáo tài chính năm đã kiểm
toán. Giá thị trường của công ty được xác định là lấy giá cổ phiếu nhân
với số cổ phiếu đang lưu hành bình quân, còn giá trị ghi sổ của vốn
chủ sở hữu được xác định bằng cách lấy tổng giá trị tài sản trừ cho giá
trị tài sản vô hình và giá trị nợ trên bảng CĐKT tại thời điểm kết thúc
năm tài chính của công ty niêm yết trong mẫu nghiên cứu.
M/B

=

Giá cổ phiếu x Số cổ phiếu đang lưu hành bình quân
(Tổng giá trị tài sản – giá trị tài sản vô hình – nợ)

Tốc độ tăng trưởng (GROW)
Trong nghiên cứu này, biến tốc độ tăng trưởng được đo lường
bằng tỷ lệ chênh lệch giữa giá trị tài sản của năm hiện tại so với năm
trước trên giá trị tài sản năm trước.
GROW

=

Tài sản năm t - Tài sản năm t-1
Tài sản năm t-1

Khả năng sinh lợi (ROE)
Trong nghiên cứu này, tác giả xác định biến tỷ suất sinh lời trên
vốn chủ sở hữu bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế chia cho vốn chủ sở
hữu. Trong đó, lợi nhuận sau thuế được lấy từ BCKQHĐKD, vốn
chủ sở hữu được lấy từ BCĐKT tại thời điểm kết thúc năm tài chính
của công ty niêm yết.
ROE

=

Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu


19
Thời gian niêm yết (TIME)
Trong nghiên cứu này, biến thời gian niêm yết được đo lường
bằng số năm công ty niêm yết trên HOSE.
Chủ thể kiểm toán (AUD)
Nghiên cứu sử dụng biến giả và quy ước công ty niêm yết được
kiểm toán bởi Big 4 thì được nhận giá trị là 1 và ngược lại là 0.
Lĩnh vực hoạt động (IND)
Nghiên cứu này, tác giả sử dụng biến giả và quy ước công ty
niêm yết thuộc ngành công nghiệp thì được nhận giá trị là 1 và
ngược lại là 0.
2.3. DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
Với mức độ sai sót chấp nhận ở mức 7,5%, sử dụng phương pháp
chọn mẫu phi xác xuất, chọn ngẫu nhiên 76 công ty .
Bảng 2.1: Bảng tóm tắt mẫu
Số công ty niêm yết trên HOSE tính đến ngày 31/12/2017
Loại trừ các công ty niêm yết từ ngày 01/01/2012 đến 31/12/2017
Loại trừ các công ty tài chính
Số công ty sau khi loại trừ
Số công ty chọn mẫu

351
100
14
237
76

2.4. PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH
2.4.1. Mô tả thống kê
Kết quả mô tả thống kê cho biết những thông tin ban đầu về các
biến được sử dụng trong nghiên cứu như kích cỡ mẫu, giá trị trung
bình, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất và nhỏ nhất.
2.4.2. Phân tích tương quan, đa cộng tuyến
Dựa vào hệ số tương quan Pearson r, ta có thể thấy được mối
quan hệ giữa các biến, nếu hệ số tương quan (r) giữa các biến độc lập
là cao, thì có khả năng xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.


20
2.4.3. Phân tích hồi quy
Phân tích hồi quy là nghiên cứu mối quan hệ tương quan giữa
biến phụ thuộc và các độc lập.
2.4.4. Lựa chọn mô hình
Nghiên cứu này tác giả lựa chọn mô hình hồi quy gộp (Pooled
OLS).
2.4.5. Kiểm định các điều kiện ước lượng
a. Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến
b. Kiểm định tự tương quan
c. Kiểm định phương sai thay đổi
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ
HÀM Ý CHÍNH SÁCH
3.1. PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC ĐỘ CÔNG BỐ
THÔNG TIN ĐẾN CHI PHÍ VỐN CHỦ SỞ HỮU
3.1.1. Thống kê mô tả
Kết quả mô tả thống kê thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3.1: Kết quả mô tả thống kê các biến trong mô hình
Mean

Median

Minimum

Maximum

Std. Dev.

Obs.

COEC

0.1422

0.1371

0.0458

0.2716

0.0434

380

DISC

0.5044

0.48

0.08

1.16

0.2039

380

LEV

1.4086

0.9313

0.0278

7.1871

1.4734

380

SIZE_ln

27.7734

27.5761

25.5693

31.922

1.3491

380

M_B

1.5224

1.1812

0.1468

9.4933

1.1995

380

GROW

0.129

0.0687

-0.7003

2.4071

0.2906

380

ROE

0.1449

0.1437

-1.867

0.6524

0.1631

380

TIME

7.5

7.00

2

17

2.953

380

AUD

0.41

0.00

0

1

0.492

380

IND

0.30

0.00

0

1

0.46

380


21
3.1.2. Phân tích tương quan giữa các biến trong mô hình
Kết quả phân tích tương quan bằng STATA ở bảng trên cho ra
kết quả về mối quan hệ tương quan như sau:
Các biến có quan hệ tương quan cùng chiều với chi phí vốn chủ
sở hữu (COEC) là: Quy mô công ty (SIZE), Đòn bẩy tài chính
(LEV), Chủ thể kiểm toán (AUD). Các nhân tố có mối quan hệ tương
quan ngược chiều với chi phí vốn chủ sở hữu là các biến: Thời gian
niêm yết (TIME), Khả năng sinh lợi (ROE), Giá trị thị trường/giá trị
ghi sổ (M/B) và Tốc độ tăng trưởng (GROW). Các nhân tố còn lại
không có mối quan hệ tương quan với chi phí vốn chủ sở hữu là các
biến: Mức độ công bố thông tin (DISC) và lĩnh vực hoạt động (IND).
Mặc dù, giả thuyết đặt ra là CBTT tự nguyện có ảnh hưởng
ngược chiều đến chi phí vốn chủ sở hữu. Song với kết quả nghiên
cứu là Sig.=0.689>0.05 l cho thấy biến phụ thuộc COEC và biến độc
lập DISC không có mối tương quan với nhau. Nhưng tác giả thấy
dấu âm (-) của hệ số tương quan giữa biến COEC và DISC trong
bảng 3.2 phần nào khẳng định được mối quan hệ ngược chiều giữa
chi phí vốn chủ sở hữu với mức độ CBTT tự nguyện và sự phù hợp
với kỳ vọng.
3.1.3. Kiểm tra các điều kiện ước lượng mô hình
a. Đa cộng tuyến
Tác giả nhận thấy giữa các biến trong mô hình cuối cùng không
tồn tại mối tương quan nào lớn (lớn hơn 0,8). Hầu hết sự tương quan
giữa các biến độc lập rất nhỏ hoặc không có ý nghĩa. Do đó, mô hình
không xuất hiện dấu hiệu của hiện tượng đa cộng tuyến.
b. Kiểm định tự tương quan
Để kiểm tra hiện tượng tự tương quan, tác giả sử dụng kiểm định thống
kê Breusch-Godfrey/Wooldridge, với mức ý nghĩa 5%, ta có:
Chisq = 179.26, df=5, p-value<2.2e-16<5%


22
Kết quả cho thấy mô hình chịu ảnh hưởng của hiện tượng tự
tương quan.
c. Kiểm định phương sai thay đổi
Để kiểm tra hiện tượng tự phương sai thay đổi, tác giả sử dụng
kiểm định thống kê Breusch-Pagan, với mức ý nghĩa 5%, ta có:
BP = 19.846, df = 9, p-value = 0.01889<5%
Kết quả cho thấy mô hình chịu ảnh hưởng của hiện tượng
phương sai thay đổi.
d. Phân phối chuẩn
Mô hình không hoàn toàn phân phối chuẩn, nhưng cũng tương
đối chuẩn, các ước lượng mô hình có thể tin cậy được.
3.1.4. Kết quả hồi quy
a. Giải thích kết quả hồi quy theo mô hình hồi quy gộp
Mức ý nghĩa p-value của mô hình = 2.22e-16 rất nhỏ so với 1%,
suy ra mô hình có ý nghĩa thống kê, các biến độc lập trong mô hình
giải thích được biến phụ thuộc COEC.
Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính bội cho thấy R2 hiệu chỉnh
có giá trị là 0.4444, nghĩa là mô hình hồi quy tuyến tính đã xây dựng
phù hợp với dữ liệu 44.44%. Chứng tỏ mô hình có khả năng giải
thích chi phí vốn chủ sở hữu tương đối cao.
3.2. PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CHI PHÍ VỐN CHỦ
SỞ HỮU VÀ MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN THEO NHÓM
MỨC ĐỘ RỦI RO HOẠT ĐỘNG
Giả thuyết được nêu ra là:
H’: Mức độ công bố thông tin tự nguyện có mối quan hệ càng
chặt chẽ với chi phí vốn chủ sở hữu theo mức độ tăng rủi ro hoạt
động kinh doanh của công ty.
Kết quả nghiên cứu cho thấy giữa biến chi phí vốn chủ sở hữu
(COEC) và mức độ công bố thông tin (DISC) không có quan hệ với


23
nhau. Kết quả này một lần nữa nhất quán với kết luận về kết quả hồi
quy mô hình nghiên cứu ở phần trước.
3.3. HÀM Ý CHÍNH SÁCH
3.3.1. Đối với công ty niêm yết
Các công ty niêm yết cần tăng cường quản lý và nâng cao hiệu
quả, chất lượng CBTT tự nguyện để nhà đầu tư có cái nhìn mới về
công ty. Đó cũng là chìa khóa cho sự phát triển bền vững của công
ty.
3.3.2. Đối với nhà đầu tư
Nhà đầu tư cần hiểu rõ những thông tin mang tính chất tự nguyện
được cung cấp trong báo cáo thường niên. Mức độ công bố thông tin
tự nguyện càng cao đồng nghĩa với sự minh bạch càng lớn.
3.3.3. Đối với cơ quan quản lý nhà nước
Các cơ quan quản lý nhà nước cần khuyến khích các công ty
niêm yết gia tăng CBTT tự nguyện bằng việc phát động các cuộc
bình chọn, giải thưởng cho các công ty thực hiện tốt nhằm nâng cao
ý thức trách nhiệm, thay đổi nhận thức của các công ty trong việc
làm tốt báo cáo thường niên.
3.4. KẾT LUẬN
3.4.1. Kết quả nghiên cứu đạt được
Nghiên cứu này kiểm tra mối quan hệ giữa chi phí chủ sở hữu và
mức độ CBTT tự nguyện trong các báo cáo thường niên của các công
ty niêm yết trên HOSE. Tuy nhiên, kết quả hồi quy lại không cho thấy
được ảnh hưởng của mức độ CBTT tự nguyện đến chi phí vốn chủ sở
hữu.
Ngoài ra, kết quả còn cho thấy chi phí vốn chủ sở hữu có mối
quan hệ cùng chiều với quy mô công ty và có mối quan hệ ngược
chiều với giá thị trường/giá ghi sổ, tốc độ tăng trưởng khả năng sinh
lợi và thời gian niêm yết.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×