Tải bản đầy đủ

bài tập học kì môn triết học 2

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..............................................................................................................2
NỘI DUNG...........................................................................................................2
I.LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ TIỀN CÔNG TRONG CHỦ NGHĨA TƯ
BẢN..................................................................................................................2
1. Bản chất kinh tế của tiền công..........................................................2
2.Những hình thức cơ bản của tiền công.............................................3
3. Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế.....................................5
II. CHẾ ĐỘ TIỀN CÔNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
Ở VIỆT NAM...................................................................................................6
1. Khảo sát thực tế tiền công ở Việt Nam............................................6
2. Nguyên nhân tiền lương người lao động ở Việt Nam còn th ấp. 8
3. Biện pháp..............................................................................................10
KẾT LUẬN..........................................................................................................11

PHỤ LỤC

Page1

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO



MỞ ĐẦU (8đ)
Từ trước đến nay " tiền lương" luôn là vấn đề cấp thiết đối với người lao
động. Mặc dù chế định tiền lương thích hợp sẽ tạo ra động lực lớn kích thích
người lao động hăng say sáng tạo và cống hiến cho xã hội. Chính sách tiền
lương ở nước ta ban hành năm 1993 đến nay đã bộc lộ nhiều bất cập. Vì vậy, đại
hội IX của Đảng khẳng định: " Phải cải cách cơ bản chế độ tiền lương, nâng cao
đời sống của người hưởng lương, chống đặc quyền đặc lợi". Cải cách tiền lương
ở nước ta diễn ra trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, vì vậy phải đảm bảo không xa rời lý luận của cách mạng về tiền
công( tiền lương), mà điểm mấu chốt là tiền lương phải đảm bảo đầy đủ giá trị
sức lao động. Trên cơ sở lý luận về tiền công của C. Mác và thực trạng tiền công
của người lao động trong một số doanh nghiệp ở Việt Nam, em xin lựa chọn đề
số 02: “Lý luận về tiền công của C.Mác và liên hệ với tiền công trong các
doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam hiện nay.” Từ đó để phân tích và đưa ra
những giải pháp cụ thể để nâng cao tiền công của người lao động cũng chính là
tạo tiền đề phát triển vững mạnh nền kinh tế.
NỘI DUNG
I. LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ TIỀN CÔNG TRONG CHỦ NGHĨA TƯ
BẢN
1. Bản chất kinh tế của tiền công
Tiền công là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa sức lao động, là giá cả
Page2

của hàng hóa sức lao động. Nhưng trong xã hội tư bản, tiền công thể hiện ra
như là giá cả của lao động1. Sở dĩ như vậy là vì:
- Hàng hóa - sức lao động có đặc điểm là không bao giờ tách khỏi người
bán, hơn nữa người bán chỉ nhận được giá cả sau khi đã cung cấp giá trị

1 Tiền công của chủ nghĩa Mac Lenin https://xemtailieu.com/tai-lieu/tien-cong-cua-chu-nghia-mac-lenin554337.html (2/8/2017)


sử dụng cho người mua, tức là sau khi đã cung cấp giá trị sử dụng cho
người mua, tức là sau khi đã lao động.
- Nhà tư bản bỏ tiền ra là để có sức lao động. Các nhà tư bản tìm cách mua
được sức lao động càng rẻ càng tốt, và giải thích lợi nhuận là do mua
được hàng hóa dưới giá trị và bán hàng hóa trên giá trị. Số lượng tiền
công nhiều hay ít là tùy theo ngày lao động dài hay ngắn hoặc tùy theo kết
quả lao động nhiều hay ít.
- Số lượng tiền công khác nhau trả cho những công nhân làm cùng một


công việc như nhau, đảm nhận chức năng như nhau nhưng khác nhau về
chất lượng lao động.
Hình thức bên ngoài của tiền công đã ngụy trang rất kín đáo sự bóc lột tư bản
chủ nghĩa. Nó đã biểu hiện quan hệ bóc lột thành một mối quan hệ: “thuận mua
vừa bán”, “tự do”, “bình đẳng”, giữa công nhân và nhà tư bản. Nó đã xóa mờ
mọi dấu vết của sự phân chia ngày lao động thành lao động tất yếu và lao động
thặng dư, thành lao động có công và lao động không công.
2. Những hình thức cơ bản của tiền công
Tiền công có hai hình thức cơ bản là tiền công tính theo thời gian và tiền
công tính theo sản phẩm.
2.1 Tiền công tính theo thời gian
Tiền công theo thời gian: là tiền công trả theo số lượng thời gian (giờ, ngày,
tuần, v.v...) mà người công nhân đã làm việc được.
Page3

Cần phân biệt tiền công giờ, tiền công ngày, tiền công tuần, tiền công tháng.
Tiền công ngày và tiền công tuần chưa nói rõ được mức tiền công đó cao hay là
thấp, vì nó còn tùy theo ngày lao động dài hay ngắn. Do đó muốn đánh giá chính
xác mức tiền công không chỉ căn cứ vào mức tiền công ngày, mà phải căn cứ
vào độ dài của ngày lao động và cường độ lao động. Giá cả của một giờ lao
động là thước đo chính xác mức tiền công tính theo thời gian.
Đơn vị tiền công tính theo thời gian trung bình được tính theo công thức :


Giá trị (hay giá cả) hằng ngày của sức lao động
Tiền công theo giờ =
Ngày lao động với một số giờ nhất định
Thực hiện chế độ tiền công theo thời gian, nhà tư bản có thể không thay đổi tiền
công ngày, tiền công tuần, mà vẫn hạ thấp được giá cả lao động do kéo dài ngày
lao động hoặc tăng cường độ lao động. Trả tiền công kéo dài thời gian còn có lợi
cho nhà tư bản khi tình hình thị trường thuận lợi, hành hóa tiêu thụ dễ dàng, thực
hiện lối làm việc thêm giờ, tức là làm việc ngoài số giờ quy định của ngày lao
động. Còn khi thị trường không thuận lợi buộc phải thu hẹp sản xuất, nhà tư bản
buộc phải rút ngày ngày lao động và thực hiện lối trả công theo giờ, do đó hạ
thấp tiền công xuống rất nhiều. Như vậy, công nhân không những thiệt thòi khi
ngày lao động bị kéo dài quá độ, mà còn bị thiệt khi phải làm việc bớt giờ.
2.2 Tiền công tính theo sản phẩm
Tiền công tính theo sản phẩm là hình thức tiền công mà số lượng của nó phụ
thuộc vào số lượng sản phẩm hay số lượng những bộ phận của sản phẩm mà
công nhân đã sản xuất ra hoặc số công việc đã hoàn thành.
Mỗi sản phẩm được trả công theo một đơn giá nhất định. Đơn giá tiền công
được xác định như sau:
Tiền công trung bình một ngày của công nhân
Page4

Đơn giá tiền công =

Số lượng sản phẩm của công nhân đó trong một
ngày lao động bình thường
Về thực chất, đơn giá tiền công là tiền công, trả cho thời gian cần thiết sản xuất
ra một sản phẩm. Vì thế tiền công tính theo sản phẩm là hình thức biến tướng
của tiền công tính theo thời gian.


Thực hiện tiền công tính theo sản phẩm, một mặt, giúp cho nhà tư bản trong việc
quản lý, giám sát quá trình lao động của công nhân dễ dàng hơn; mặt khác, kích
thích công nhân lao động tích cực, khẩn trương tạo ra nhiều sản phẩm để nhận
được tiền công cao hơn.
Về mặt lịch sử, tiền lương tính theo thời gian được áp dụng rộng rãi trong giai
đoạn đầu phát triển của chủ nghĩa tư bản, còn ở giai đoạn sau thì tiền lương tính
theo sản phẩm được áp dụng rộng rãi hơn. Hiện nay, hình thức tiền lương tính
theo thời gian ngày càng mở rộng.
3. Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế
3.1 Tiền công danh nghĩa:
Là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao động của mình
cho nhà tư bản. Tiền công được sử dụng để tái sản xuất sức lao động, nên tiền
công danh nghĩa phải được chuyển hóa thành tiền công thực tế.
3.2 Tiền công thực tế:
Là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hành hóa tiêu dùng và dịch vụ mà
công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình.
Các loại tiền công luôn luôn vận động và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Tiền công danh nghĩa có thể tăng lên hay giảm xuống tùy theo sự biến động
trong quan hệ cung-cầu về hàng hóa sức lao động trên thị trường. Trong một
thời gian nào đó, nếu tiền công danh nghĩa vẫn giữ nguyên, nhưng giá cả của tư
Page5

liệu tiêu dùng và dịch vụ tăng lên thì tiền công thực tế sẽ giảm xuống và ngược
lại. Mác đã vạch ra xu hướng chung của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là
nâng cao mức tiền công trung bình mà là hạ thấp mức tiền công ấy.
II, CHẾ ĐỘ TIỀN CÔNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Khảo sát thực tế tiền công ở Việt Nam
1.1. Khảo sát chung


Qua khảo sát tại 25 tỉnh thành có nhiều doanh nghiệp, với hơn 3.000 người
lao động tại 150 doanh nghiệp, viện Công nhân Công đoàn (Tổng Liên đoàn Lao
động Việt Nam) đã công bố báo cáo khảo sát tình hình lương, đời sống người lao
động cả nước năm 2018. Theo đó, tổng thu nhập trung bình của người lao động
(trừ tiền ăn ca) khoảng 5,5 triệu đồng/tháng.2
 Theo kết quả điều tra trên, mức thu nhập 5,5 triệu đồng/tháng đã bao gồm
lương cơ bản (chiếm hơn 84%, khoảng 4,6 triệu đồng/tháng), phụ cấp, trợ
cấp, tăng ca, thưởng... Mức này tăng 1,4% so với kết quả khảo sát năm
2017.
 Trong đó, lĩnh vực dệt may, giày da lương cơ bản đóng góp lớn nhất vào
thu nhập của công nhân (trên 80%), nhưng đây lại là lĩnh vực có nhiều
công nhân làm thêm, tăng ca nhất, với số giờ làm thêm cao nhất. Đồng
thời, số lương nhận được cũng thấp nhất (4,2 triệu đồng/tháng).
Với tổng thu nhập cá nhân 5,5 triệu đồng, 1 gia đình 2 vợ chồng tổng thu
nhập 11 triệu đồng/tháng, nhưng mức chi tiêu bình quân của 1 hộ gia đình
(4 người) khoảng 7,38 triệu đồng/tháng; mức chi tiêu tối thiểu khoảng 6,5
triệu đồng/tháng.
 Có 44% công nhân được hỏi cho biết có làm thêm giờ, số giờ làm thêm
trung bình 28,5 giờ/tháng (cao nhất là 50 giờ/tháng), tiền công nhận được
trung bình 832 nghìn/người/tháng.
 Qua khảo sát, có 17,4% công nhân cho biết thu nhập có dư dật và tích luỹ
(tăng 1,3% so với năm trước); 43,7% vừa đủ trang trải cuộc sống (giảm
nhập không đủ sống.

Page6

7,6%); 26,5% phải chi tiêu tằn tiện và kham khổ (tăng 5,8%); 12,5% thu

Thu nhập bình quân tháng của người lao động trong các loại hình doanh nghiệp
như sau:3 (Đơn vị tính : 1000 đồng)
Năm

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008

2 Công nhân việt nam thu nhập trung bình 5,5 triệu đồng/ tháng https://www.tienphong.vn/kinh-te/cong-nhanviet-nam-thu-nhap-trung-binh-55-trieu-dongthang-1299792.tpo (12/7/2018)
3 Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước mã số ĐT Đl 2007. G/50 của Bộ Lao động
- Thương binh và xã hội, bảo vệ năm 2009, kết quả xuất sắc; xem các trang 75- 96.


DNNN

1072 1157 1309 1617 1693 2140 2633 2950 3150

DN FDI

1767 1673 1897 1774 1780 1945 2175 2240 2750

DNTN

737

803

916

1046 1135 1303 1488 1930 1990

(Trong thu nhập của người lao động, khoảng 90% là từ tiền lương (ví dụ năm
2006, DNNN là 90,50%; DN có vốn FDI là 90,64% và DNTN là 90,12%).
→ Thực tế trên dẫn tới tỷ lệ người lao động bức xúc về tiền lương thu nhập tăng
lên, trong khi tỷ lệ hài lòng ngày càng giảm.
1.2.

Khảo sát các doanh nghiệp cụ thể

Sau đây là những số liệu cụ thể về tiền công của người lao động Làm việc tại
công ty cổ phần may GB.
+ Công ty cổ phần may GB
Đối với công ty cổ phần may GB, doanh nghiệp áp dụng hình thức tiền công
tính theo thời gian, cụ thể là tính theo số giờ lao động (8h/ngày) và cứ đến cuối
tháng thì người lao động sẽ được tính lương một lần. Như vậy, mức lương tối
thiểu mà công ty áp dụng là 830.000 đồng/tháng, số tiền lương = mức lương tối
thiểu

X

hệ số trình độ học vấn (trung cấp 1.86, cao đẳng 1.86, đại học 2.34) với

mỗi công nhân. Ngoài ra, bảng lương công ty còn được chia làm 3 nhóm: bảng
lương chức vụ quản lý doanh nghiệp; bảng lương viên chức chuyên môn, nghiệp
vụ thừa hành, chuyên nghiệp; bảng lương của công nhân, nhân viên trực tiếp sản
xuất kinh doanh và phục vụ.4
Page7

Tiền lương công ty cổ phần may GB được tính theo công thức sau đây:
Tổng lương = Giá trị sức lao động + Các khoản phụ cấp + Các khoản thưởng
Lương được nhận = Tổng lương - Các khoản bảo hiểm
Như vậy, một công nhân làm việc tốt sẽ có mức lương trunh bình là
2.500.000 đồng/tháng. Đây chính là số tiền công danh nghĩa mà người công
4 Lương cơ bản của công nhân ở công ty cổ phần may GB http://maygb.com/ (29/4/2017)


nhân trong công ty nhận được. Tiền công danh nghĩa chỉ thực sự có giá trị khi nó
được chuyển sang một hình thức khác, tức là tiền công thực tế. Khi người công
nhân dùng số tiền công danh nghĩa để chi trả chi phí sinh hoạt hằng ngày như
tiền ăn, tiền sinh hoạt điện nước, những nhu cầu giải trí thường ngày... thì tiền
công danh nghĩa đã trở thành tiền công thực tế. Tuy có các khoản trợ cấp thêm
từ công ty nhưng các chi phí phát sinh từ các việc sinh hoạt trên hết 4.000.000
đồng/ tháng, bởi vậy mà mức lương danh nghĩa vẫn còn chênh lệch nhiều so với
thực tế.
2. Nguyên nhân tiền lương người lao động ở Việt Nam còn thấp
Theo báo cáo về tiền lương toàn cầu 2014 - 2015 của Tổ chức Lao động
Quốc tế (ILO), trong các nước ASEAN, lương tháng trung bình trong năm 2012
của Việt Nam ở mức xấp xỉ 181 USD, chỉ cao hơn so với Lào (119 USD),
Campuchia (121 USD) và Indonesia (174 USD). Mức lương này chỉ bằng
khoảng một nửa so với Thái Lan (357 USD), chưa bằng 1/3 của Malaysia (609
USD) và chỉ bằng 1/20 của Singapore (3.547 USD).5
Lương ở Việt Nam tăng mạnh khi tiêu dùng tư nhân, cùng với xuất khẩu, nổi lên
là động lực chính cho tăng trưởng, hãng tin Nikkei Asian Review trích báo cáo
của ngân hàng HSBC cho biết. (Phụ lục 1) . Nhưng vì sao mà tiền lương của
người công nhân Việt Nam vẫn được đánh giá là thấp?
2.1.

Lao động chúng ta chưa tạo ra giá trị gia tăng lớn

Chúng ta rất cố gắng, chúng ta rất chịu khó nhưng sản phẩm lao động của
Page8

chúng ta chưa đáng tiền. Khả năng tự tích lũy để tái đầu tư thấp dẫn đến tình
trạng các doanh nghiệp Việt Nam chưa tham gia đầy đủ vào tất cả các khâu của
chuỗi sản xuất hàng hóa, do đó giá trị gia tăng tạo ra chưa cao. Lấy ví dụ trong
ngành dệt may. Theo số liệu của Tập đoàn Dệt may Việt Nam, lợi nhuận của
từng khâu trong chuỗi sản xuất ngành dệt may (đã khấu trừ tiền lương) là: khâu
sản xuất sợi - 40 triệu đồng/người/năm; khâu dệt - 30 triệu đồng/người/năm,
5 Tại sao lương của người lao động Việt Nam quá thấp https://dantri.com.vn/kinh-doanh/tai-sao-luong-cuanguoi-lao-dong-viet-nam-qua-thap-1419205910.htm (14/12/2015)


khâu may - 5,5 triệu đồng/người/năm. Có thể ví dụ, một tháng, lao động Việt
Nam chỉ có thể làm ra được 4 triệu cho doanh nghiệp thì không thể mong doanh
nghiệp trả lương 4 triệu mà chỉ có thể nhận được 3 triệu là đã may mắn lắm.
Không thể để lỗ chỉ đổ lên đầu doanh nghiệp.6
2.2.

Định mức lao động trong các doanh nghiệp tư nhân quá cao

Ở một số doanh nghiệp, nhiều công nhân đã làm tới 12 giờ, thậm chí 14
giờ/ngày mà vẫn không hoàn thành định mức lao động. Một số chủ doanh
nghiệp tuyên bố dõng dạc rằng, công nhân tự kéo dài thời gian làm việc trong
ngày để tăng thu nhập chứ không yêu cầu họ làm thêm giờ! Ở những doanh
nghiệp này cũng thường xuyên thay đổi một số lượng khá lớn người lao động do
nhiều lý do, trong đó có lý do người lao động không hoàn thành nhiệm vụ mà
thực chất là chủ sử dụng đã khai thác cạn kiệt sức lao động của họ; còn công
nhân thì thường xuyên thu nhập thấp, không đủ tái sản xuất sức lao động giản
đơn (chưa nói đến tái sản xuất sức lao động kỹ thuật và tái sản xuất sức lao động
thế hệ sau) nên cũng không mặn mà với doanh nghiệp. Đây cũng là một trong
những nguyên nhân cơ bản của sự di biến động lao động với cường độ mạnh
trong thời gian qua và hiện nay.
3. Biện pháp
3.1. Tăng năng suất lao động
Tăng năng suất lao động giúp tăng doanh thu cho nhà tư bản, nếu tỉ suất giá
trị thặng dư c/m không thay đổi, do giá giá trị thặng dư tăng thêm dẫn đến tiền
Page9

công trả cho sức lao động sẽ cao hơn trước. Đối với các doanh nghiệp trả tiền
công theo sản phẩm, việc giảm thời gian hoàn thành một sản phẩm sẽ tạo điều
kiện cho người lao động làm ra được nhiều sản phẩm hơn trong một thời gian
không đổi, từ đó ảnh hưởng đến mức lương cho công nhân. Một trong những
biện pháp tăng năng suất lao động hiệu quả là cải tiến khoa học kĩ thuật. Khoa
học kĩ thuật phát triển tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng nhu
6 Vì sao tiền lương công nhân trong các doanh nghiệp tư nhân thấp
http://www.molisa.gov.vn/vi/Pages/chitiettin.aspx?IDNews=20867 (3/12/2018)


cầu của người dân, rút ngắn thời gian lao động của người lao động. Các doanh
nghiệp thu được nhiều lợi nhuận, tiền công của người lao động cũng được tăng
lên .
3.2.

Tăng độ phức tạp trong quá trình lao động

Hiện nay, chất lượng lao động thấp là nguyên nhân chính dẫn đến nhiều vị trí
chủ chốt trong doanh nghiệp phải sử dụng người nước ngoài. Đây không phải là
chuyện riêng của doanh nghiệp hay của người lao động mà đòi hỏi một chiến
lược ở tầm quốc gia. Ta cần chú trọng vào đào tạo người lao động, từ tay nghề, ý
thức, cho đến tác phong, thái độ làm việc, trong đó, trọng tâm là dạy nghề cho
lực lượng lao động lao động làm việc tại các khu công nghiệp tập trung đa dạng
hóa các kênh giao dịch trên thị trường lao động... Nếu làm được những việc này,
thị trường lao động sẽ phát triển đúng hướng, cải thiện đời sống của người lao
động.
3.3.

Áp dụng chính sách tăng lương, tiền thưởng, cho người lao động
doanh nghiệp

Các doanh nghiệp nên tăng các khoản phụ cấp như: tiền công tác, tiền thưởng
chuyên môn, tiền thưởng cuối năm, tiền thưởng cho nhân viên khi doanh nghiệp
doanh thu tốt...
3.4.

Nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ trở nên phong phú, chất
lượng hơn

Page10

Hàng hóa dịch vụ đa dạng, chất lượng hơn, dấn đến sự cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp, giảm giá các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, từ đó thúc đẩy tiền
công thực tế tăng lên. Có thể thấy rõ điều này tại các siêu thị, chợ lớn trong các
dịp khuyến mại, giảm giá. Bằng biện pháp này, với một lượng tiền công danh
nghĩa không đổi, mức sống của người lao động vẫn được cải thiện.
3.5.

Giảm lạm phát


Lạm phát có nghĩa là vật giá leo thang, giá cả hàng hóa dịch vụ tăng cao,
khiến cùng một lượng tiền, người tiêu thụ mua được ít hàng hóa hơn hoặc trả
một giá cao hơn để sử dụng dịch vụ. Vì vậy, muốn tiền công thực tế tăng lên, khi
chỉ khi, lạm phát được kìm hãm sự phát triển của nó. Đó có thể là việc mở rộng
thị trường lao động, ổn định về mặt tiền lương, giữ gìn an ninh - không để
những đột biến về chính trị làm mất ổn định khu vực, nghiêm khắc chống chế
giá cả và bảo vệ lợi ích người sản xuất và tiêu dùng, bảo đảm cân bằng thu chi
tài chính, tăng cường quản lý ngoại hối, sử dụng vốn đầu tư nước ngoài hiệu
quả.7
KẾT LUẬN
Qua bài phân tích trên, chúng ta nhận thấy rằng chế độ tiền công của người
lao động ở các doanh nghiệp Việt Nam còn ở mức thấp, chưa phản ánh đúng giá
trị lao động. Mặc dù chính phủ đã đưa ra những chính sách để cải cách chế độ
tiền công song các biện pháp vẫn chưa đem lại hiệu quả. Như vậy muốn đưa nền
kinh tế Việt Nam phát triển thì trước hết phải nâng cao khả năng cạnh tranh cũng
như năng suất lao động của các doanh nghiệp. Điều này chỉ có được khi tiền
công của người lao động được cải thiện, đáp ứng được mức sống tối thiểu.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Page11

1. Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước mã số ĐT Đl
2007. G/50 của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, bảo vệ năm
2009, kết quả xuất sắc; xem các trang 75- 96.
2. Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình kinh tế chính trị Mác-Lênin (dùng
cho các khối ngành không chuyên kinh tế, quản trị kinh doanh trong
các trường đại học, cao đẳng), Nxb. CTQG, Hà Nội, 2008.
7 Giải pháp chủ yếu để thực hiện thắng lợi đề án cải cách tiền lương https://vov.vn/xa-hoi/giai-phap-chu-yeude-thuc-hien-thang-loi-de-an-cai-cach-tien-luong-763826.vov (22/05/2018)


3. Công nhân việt nam thu nhập trung bình 5,5 triệu đồng/ tháng
https://www.tienphong.vn/kinh-te/cong-nhan-viet-nam-thu-nhap-trungbinh-55-trieu-dongthang-1299792.tpo (12/7/2018)
4. Giải pháp chủ yếu để thực hiện thắng lợi đề án cải cách tiền lương
https://vov.vn/xa-hoi/giai-phap-chu-yeu-de-thuc-hien-thang-loi-de-ancai-cach-tien-luong-763826.vov (22/05/2018)
5. Lương cơ bản của công nhân ở công ty cổ phần may GB
http://maygb.com/ (29/4/2017)
6. Tại sao lương của người lao động Việt Nam quá thấp
https://dantri.com.vn/kinh-doanh/tai-sao-luong-cua-nguoi-lao-dongviet-nam-qua-thap-1419205910.htm (14/12/2015)
7. Tiền công của chủ nghĩa Mac Lenin https://xemtailieu.com/tailieu/tien-cong-cua-chu-nghia-mac-lenin-554337.html (2/8/2017)
8. Vì sao tiền lương công nhân trong các doanh nghiệp tư nhân thấp
http://www.molisa.gov.vn/vi/Pages/chitiettin.aspx?IDNews=20867
(3/12/2018)

Page12

PHỤ LỤC


Page13

PHỤ LỤC 1

Lương tối thiểu vùng của người lao động theo hợp đồng


Page14

Tiền lương cao hơn năng suất lao động

Mức lương trung bình ở một số thành phố



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×